Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn cho phù hợp với tình hình thực tế, tiếp cận các quan điểm mới trong quy hoạch nhằm g
Trang 1-
NGUYỄN VĂN HÀO
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG XÃ QUẢNG SƠN
HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG
GIAI ĐOẠN 2013 - 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, 2014
Trang 2
-
NGUYỄN VĂN HÀO
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG XÃ QUẢNG SƠN
HUYỆN ĐẮK GLONG TỈNH ĐẮK NÔNG
GIAI ĐOẠN 2013 - 2020
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ THẾ HỒNG
Đồng Nai, 2014
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và trải dài theo nhiều vĩ độ, với 2/3 diện tích đất đồi núi, do đó tài nguyên rừng có vai trò đặc biệt trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường ở nước ta Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như sức ép gia tăng dân số, du canh du cư, đốt nương làm rẫy, khai thác rừng không kiểm soát, cháy rừng, chiến tranh, nên diện tích và chất lượng rừng nước ta bị suy giảm liên tục trong thời gian dài, đặc biệt trong giai đoạn
1980 - 1985 trung bình mỗi năm chúng ta mất đi khoảng 235.000 ha rừng
Từ năm 1990 trở lại đây, diện tích và độ che phủ rừng đã tăng lên liên tục nhờ công tác trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên, đặc biệt là chương trình 327 (phủ xanh đất trống đối núi trọc); Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng; Chỉ thị số 286/TTg ngày 02/5/1997 cấm khai thác rừng tự nhiên của Chính phủ, cùng với sự
hỗ trợ của nhiều dự án quốc tế như PAM, KFW (Đức); JICA (Nhật Bản), Theo thống kê đến 31/12/2012, diện tích rừng toàn quốc là 13.862.043 ha với tỷ lệ che phủ của rừng đạt 40,7%
Mặc dù, diện tích rừng tăng nhưng trữ lượng và chất lượng rừng chưa được cải thiện rõ rệt, chủ yếu rừng tự nhiên hiện nay thuộc đối tượng rừng nghèo kiệt, giá trị kinh tế, phòng hộ, đa dạng sinh học, không cao Rừng trồng sản xuất mới chỉ là rừng trồng nguyên liệu, gỗ nhỏ Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng phương án quy hoạch phát triển lâm nghiệp hợp lý cho từng vùng, địa phương cụ thể đang được các nhà quản lý rất quan tâm đặc biệt từ khi thực hiện việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ
Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã là vấn đề cần thiết, được tiến hành theo từng giai đoạn nhằm phát huy vai trò chỉ đạo, tổ chức sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn xã Những năm qua, một số địa phương trong cả nước đã thực hiện công tác quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng song vẫn còn có những bất cập Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã chưa được thực hiện kịp thời và toàn diện trên cơ sở nhìn
Trang 4nhận cả 3 yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và sự thu hút được sự tham gia của người dân và cộng đồng còn hạn chế Ngoài ra, mục tiêu và nội dung của quy hoạch thường chưa quan tâm một cách thoả đáng tới những lợi thế và thách thức cũng như tiềm năng cung cấp các nguồn lực và nhu cầu lâm sản đầu ra của các hoạt động sản xuất nên vai trò của phương án quy hoạch còn nhiều hạn chế Hơn nữa, quá trình đổi mới của nền kinh tế, phương thức quản lý sử dụng đối với các nguồn tài nguyên trong đó có tài nguyên đất và rừng cũng có nhiều thay đổi
Quảng Sơn là xã miền núi của huyện Đăk Glong, cách trung tâm huyện 55
km về phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên là 45.176,3 ha, trong đó diện tích đất quy hoạch cho Lâm nghiệp 37.985,78 ha, chiếm 84,08% tổng diện tích toàn xã Diện tích rừng của xã Quảng Sơn có nhiều kiểu loại khác nhau, có tính đa dạng sinh học cao, giữ vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của xã nói riêng và của huyện Đắk Glong nói chung, đồng thời đảm bảo năng lực phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ môi trường cảnh quan, điều hoà khí hậu, bảo vệ đất chống xói mòn
Sản xuất lâm nghiệp xã Quảng Sơn từng bước chuyển dịch theo hướng giảm khai thác, tăng cường quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng kinh tế, khai thác các tiềm năng giá trị môi trường rừng Hoạt động lâm nghiệp có nhiều đổi mới về cơ chế tổ chức quản lý để nâng cao trách nhiệm quản lý của các đơn vị chủ rừng Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngày càng được coi trọng đúng mức hơn, góp phần tạo công ăn, việc làm, cải thiện đời sống và nâng cao ý thức bảo
vệ rừng của người dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ
Tuy nhiên, hiện nay công tác lập quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng theo Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT vẫn chưa được triển khai thực hiện Việc điều chỉnh lại địa giới hành chính theo Nghị định 28/NĐ-CP ngày 06/7/2010 của Thủ tướng Chính Phủ đã làm thay đổi về quy
mô diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp của xã Quảng Sơn Tài nguyên rừng của xã chưa phát huy hết tiềm năng, trong nhiều năm qua đời sống của những người tham gia bảo vệ rừng và tái tạo rừng vẫn còn rất nghèo, thu nhập thấp
Trang 5hơn rất nhiều so với các khu vực khác, do chưa được hưởng lợi thỏa đáng từ các giá trị sử dụng của rừng Chất lượng rừng tự nhiên chưa được nâng cao; Công nghệ khai thác, chế biến gỗ chưa tiến triển kịp với các khu vực lân cận; Chưa tiếp cận triệt để và có hiệu quả các cơ hội nguồn lợi đầu tư vào rừng thông qua các thành phần kinh tế trong và ngoài nước
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần phải xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn cho phù hợp với tình hình thực tế, tiếp cận các quan điểm mới trong quy hoạch nhằm góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo và đưa kinh tế xã hội miền núi phát triển hoà nhập với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn là hết sức cần thiết
Xuất phát từ những yêu cầu trên, để xây dựng luận văn tốt nghiệp chúng tôi
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát
triển rừng tại xã Quảng Sơn huyện Đắk Glong tỉnh Đắk Nông, giai đoạn 2013 - 2020”
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nhận thức về quy hoạch
Thực chất của công tác quy hoạch nói chung là tổ chức không gian và thời gian phát triển chung cho kinh tế - xã hội, môi trường hoặc một ngành, một lĩnh vực sản xuất trong từng giai đoạn cụ thể Mỗi ngành kinh tế muốn tồn tại, phát triển thì nhất thiết phải tiến hành quy hoạch, sắp xếp một cách hợp lý, mà trong đó công tác điều tra cơ bản phục vụ cho quy hoạch phát triển phải được đi trước một bước Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn và thuộc phạm trù của quy hoạch vùng
1.1.1 Quy hoạch sử dụng đất đai
Quan niệm về QHSDĐĐ còn nhiều hướng khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại một số tác giả có nghiên cứu, như:
Theo Dent (1986) [28]: QHSDĐĐ như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự lựa chọn này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và tự đó hình thành nên chính sách và chương trình cho
sử dụng đất đai
Một định nghĩa khác của Fresco và ctv, (1993) [32], QHSDĐĐ như là dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu, và những cơ hội về môi trường, xã hội và những vấn đề hạn chế khác
Những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về QHSDĐĐ là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao Do đó QHSDĐĐ, trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì Trong phương pháp tổng hợp và người sử dụng đất đai là trung tâm [30] đã đổi lại định nghĩa về QHSDĐĐ như sau QHSDĐĐ là một tiến trình xây dựng những quyết định
Trang 7để đưa đến những hành động trong việc phân chia đất đai cho sử dụng để cung cấp những cái có lợi bền vững nhất Với cái nhìn về quan điểm khả năng bền vững thì chức năng của QHSDĐĐ là hướng dẫn sự quyết định trong sử dụng đất đai để làm sao trong nguồn tài nguyên đó được khai thác có lợi cho con người, nhưng đồng thời cũng được bảo vệ cho tương lai
Lê Quang Trí (2005) [22]: QHSDĐĐ là sự đánh giá tiềm năng đất nước có
hệ thống, tính thay đổi trong trong sử dụng đất đai và những điều kiện kinh tế xã hội
để chọn lọc và thực hiện các sự chọn lựa sử dụng đất đai tốt nhất Đồng thời QHSDĐĐ cũng là chọn lọc và đưa vào thực hành những sử dụng đất đai đó mà nó phải phù hợp với yêu cầu cần thiết của con người về bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai
Do đó trong quy hoạch cho thấy: Những sự cần thiết phải thay đổi; Những cần thiết cho việc cải thiện quản lý, hay những cần thiết cho kiểu sử dụng đất đai hoàn toàn khác nhau trong các trường hợp cụ thể khác nhau
Các loại sử dụng đất đai bao gồm: Đất ở, nông nghiệp (thuỷ sản, chăn nuôi
…) đồng cỏ, rừng, bảo vệ thiên nhiên và du lịch đều phải được phân chia một cách
cụ thể theo thời gian được quy định Do đó trong QHSDĐĐ phải cung cấp những hướng dẫn cụ thể để có thể giúp cho các nhà quyết định có thể chọn lựa trong các trường hợp có sự mâu thuẫn giữa đất nông nghiệp và phát triển đo thị hay công nghiệp hoá bằng cách chỉ ra các vùng đất đai nào có giá trị nhất cho đất nông nghiệp và nông thôn mà không nên sử dụng cho các mục đích khác
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất (cả nước hoặc trong phạm vi một đơn vị, đối tượng sử dụng đất cụ thể), tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hiệu quả sản xuất xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường [26]
Trang 81.1.2 Quy hoạch vùng lãnh thổ
Theo Nguyễn Nhật Tân - Nguyễn Thị Vòng (1995)[18] Quy hoạch vùng lãnh thổ là hệ thống các biện pháp xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý gắn liền với cơ cấu đất đai và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, các công trình kinh tế - văn hoá - xã hội, nguồn lao động, tăng cương xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển lực lượng sản xuất để phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới và xã hội mới
Quy hoạch vùng lãnh thổ là khoa học về quản lý tài nguyên mang cả 3 tính chất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp lý Là cơ sở để lập dự án đầu tư phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới Sự phát triển của khoa học quy hoạch vùng lãnh thổ liên quan đến sự phát triển của các quản lý phát triển kinh tế và phân bổ lực lượng sản xuất trên địa bàn lãnh thổ
Đặc điểm của quy hoạch là quy hoạch thường mang tính định hướng về tương lai, vì vậy quy hoạch phải có mục tiêu rõ rệt Mục tiêu không thể hình thành
do ý nghĩ chủ quan của một số người làm quy hoạch, cũng không thể hình thành chóng vánh trong ngày một ngày hai mà nó phải trải qua một quá trình tìm tòi, cân nhắc lâu dài từ tổng quát đến chi tiết, từ cục bộ đến toàn diện Mục tiêu phải có tính khả thi, nếu quy hoạch không hướng về tương lai thì chỉ là một việc làm tốn kém, một bức tranh không có lợi ích
1.1.3 Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm tất cả các hoạt động gắn liền với sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ rừng như các hoạt động bảo vệ, gây trồng, khai thác, vận chuyển, sản xuất, chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường có liên quan đến rừng; đồng thời ngành lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt cho người dân miền núi, góp phần ổn định xã hội và an ninh quốc phòng
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính pháp lý của hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội Thực chất đó là quá trình ra quyết định sử dụng rừng và đất rừng như một tư liệu sản xuất đặc biệt, nhằm mục tiêu sử dụng rừng và đất rừng một cách hiệu quả Công tác quy
Trang 9hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp luôn được trú trọng và coi là nhiệm vụ chiến lược trong quản lý rừng và đất rừng
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp là một bộ phận cấu thành của quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn Do đó công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp cần
có sự phối hợp chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nhằm tránh sự chồng chéo, hạn chế lẫn nhau giữa các ngành Nếu công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp được chú ý quan tâm đúng mức thì sự phát triển của ngành lâm nghiệp sẽ mang lại tính bền vững, trong điều kiện ngược lại sẽ gặp những trở ngại, khó khăn Ngày nay khi nhu cầu của xã hội về lâm sản đáp ứng cho nguyên liệu, gỗ, củi … ngày càng cao, tạo áp lực ngày càng lớn vào tài nguyên rừng
và đất rừng thì vấn đề quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp một cách bền vững càng trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết, và đã trở thành một nguyên tắc hàng đầu trong chiến lược phát triển lâm nghiệp của mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo
vệ môi trường, bảo vệ các hệ sinh thái đa dạng sinh học và các đặc điểm xã hội, nhân văn Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng đất trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển xã hội loài người
1.2 Trên thế giới
Chúng ta biết rằng việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững nói chung và tài nguyên rừng nói riêng đã và đang được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch phát triển lâm nghiệp sao cho hợp lý được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng phải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững
Trang 10Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo
vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, các đặc điểm xã hội và nhân văn Quá trình phát triển của việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên thế giới luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người Quy hoạch phát triển lâm nghiệp luôn phụ thuộc vào Quy hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch
1.2.1 Quy hoạch vùng
Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ở Liên Xô trước đây: Nguyễn Nhật Tân - Nguyễn Thị Vòng (1995) [18]: Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính - nông nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế quốc dân trong vùng Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hoá tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của vùng, là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hoá một cách hợp lý, là biện pháp thiết kế và đưa vào nề nếp việc sử dụng đất đai trên từng khu vực cụ thể của vùng, là biện pháp xác định sự phân bố đúng đắn các cơ quan y tế và phục vụ sinh hoạt văn hoá cho nhân dân, là biện pháp xây dựng các tiền đề tổ chức lãnh thổ nhằm sử dụng hợp lý các của cải tự nhiên, các thành tựu khoa học kỹ thuật, các nguồn lao động nhằm phát triển với tốc
độ nhanh kinh tế của tất cả các xí nghiệp đồng thời cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân trong vùng lao động nông nghiệp đó
Trần Hữu Viên (2005) [26]: Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ
và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Các Mác và Ăng Ghen đã chỉ ra “Mức độ phát triển lực lượng sản xuất của một dân tộc thể hiện rõ nét hơn hết ở sự phân công lao động của dân tộc đó được phát triển đến mức độ nào”
Lê Nin đã chỉ ra “Sự nghiên cứu tổng hợp tất cả các đặc điểm tự nhiên kinh
tế xã hội của mỗi vùng là nguyên tắc quan trọng để phân bố sản xuất” Vì vậy,
Trang 11nghiên cứu các đặc điểm đặc trưng cho sự phân bố lực lượng sản xuất cho một vùng trong quá khứ và hiện tại để xác định khả năng và tương lai phát triển của vùng đó
Dựa trên cơ sở học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hoá phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa
Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari trước đây: Nhằm sử dụng hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước Bố trí hợp lý các hoạt động của con người nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng Xây dựng đồng bộ môi trường sống
Quy hoạch lãnh thổ đất nước được phân thành các vùng: Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên phải bảo vệ; Lãnh thổ thiên nhiên không có nông thôn, sự tác động của con người vào đây rất ít; Lãnh thổ là môi trường thiên nhiên có mạng lưới nông thôn, có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho nghỉ mát; Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp không có mạng lưới nông thôn nhưng có tác động đặc biệt của con người; Lãnh thổ là môi trường nông nghiệp có mạng lưới nông thôn và có sự can thiệp vừa phải của con người, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp; Lãnh thổ là môi trường công nghiệp với sự can thiệp tích cực của con người
Trên cơ sở quy hoạch vùng lãnh thổ cả nước tiến hành quy hoạch lãnh thổ vùng và quy hoạch lãnh thổ địa phương
Quy hoạch vùng ở Pháp: Theo quan niệm chung của hệ thống các mô hình quy hoạch vùng lãnh thổ M Thénevin (M Pierre Thénevin), một chuyên gia thống
kê đã giới thiệu một số mô hình quy hoạch vùng được áp dụng thành công ở miền Tây nam nước Cộng hoà Côte D’ivoire Trong mô hình quy hoạch vùng này, người
ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các giàng buộc trong nội vùng, có quan hệ với các vùng khác và với nước ngoài Thực chất mô hình là một bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc:
- Các hoạt động sản xuất:
+ Sản xuất nông nghiệp theo các phương thức trồng trọt gia đình và trồng trọt công nghiệp với các mức thâm canh cao độ, thâm canh trung bình và cổ điển (truyền thống)
Trang 12+ Hoạt động khai thác rừng
+ Hoạt động đô thị: Chế biến gỗ, bột giấy, vận chuyển, dịch vụ, thương mại
- Nhân lực phân theo các dạng thuế thời vụ, các loại lao động nông nghiệp, lâm nghiệp
- Cân đối xuất nhập, thu chii và các cân đối khác vào giàng buộc về diện tích đất, về nhân lực, về tiêu thụ lương thực …
Tóm lại: Quy hoạch vùng nhằm đạt mục đích khai thác lãnh thổ theo hướng tăng thêm giá trị sản phẩm của xã hội theo phương pháp mô hình hoá trong điều kiện thực tiễn của vùng, so sánh với vùng xung quanh và nước ngoài
Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan: Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, á vùng hay địa phương)
Vùng (Region) được coi như một á miền (Subdivision) của đất nước Đó là điều cần thiết để phân chia quốc gia thành các á miền theo các phương diện khác nhau như phân bố dân cư, khí hậu, địa hình… Đồng thời vì lý do quản lý hay chính trị, đất nước được chia thành các miền như đơn vị hành chính hay đơn vị bầu cử Quy mô diện tích của một vùng phụ thuộc vào kích thước, diện tích của đất nước Thông thường vùng nằm trên một diện tích lớn hơn đơn vị hành chính lớn nhất Sự phân chia các vùng theo mục đích của quy hoạch, theo đặc điểm của lãnh thổ
Quy hoạch phát triển vùng tiến hành ở cấp á miền được xây dựng theo 2 cách:
Thứ nhất: Sư bổ sung của kế hoạch Nhà nước được giao cho vùng, những mục tiêu và hoạt động được xác định theo cơ sở vùng, sau đó kế hoạch vùng được giải quyết trong kế hoạch quốc gia
Thứ hai: Quy hoạch vùng được giải quyết căn cứ vào đặc điểm của vùng, các
kế hoạch vùng đóng góp vào việc xây dựng kế hoạch quốc gia
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với Chính phủ và chính quyền địa phương
Trang 13Dự án phát triển của Hoàng gia Thái Lan đã xác định được vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và chính trị ở Thái Lan và tập trung xây dựng ở 2 vùng: Trung tâm và Đông Bắc Trong 30 năm (1961 - 1988 đến 1992
- 1996), tổng dân cư nông thôn trong các vùng nông nghiệp từ 80% giảm xuống 66,6%, các dự án tập trung vào mấy vấn đề quan trọng: Nước, đất đai, vốn đầu tư
kỹ thuật, nông nghiệp, thị trường
1.2.2 Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Thuật ngữ “cảnh quan - Landscape” là tổng thể lãnh thổ tự nhiên của bất kỳ một quy mô nào, có sự đồng nhất tương đối về một số hợp phần tự nhiên nào đó, chúng mang tính chất kiểu loại và được phân loại theo các chỉ tiêu dấu hiệu của sự đồng nhất đó Cảnh quan được các nhà cảnh quan học Trung Quốc lý giải 3 cách:
- Theo phương diện mỹ học, thì cảnh quan đồng nghĩa với từ “phong cảnh” Cảnh quan là đối tượng thẩm mỹ, mà rừng được xem là phong cảnh (rừng phong cảnh)
- Theo phương diện địa lý thì cảnh quan là tổng hợp các thành phần sinh vật, địa mạo, thổ nhưỡng, khí hậu trên bề mặt địa cầu Khái niệm cảnh quan này rất gần gũi với thuật ngữ hệ sinh thái hoặc quần lạc sinh địa
- Cảnh quan sinh thái học Cảnh quan là sự tổ hợp các hệ sinh thái khác nhau trong một không gian Một cảnh quan bao gồm sự tụ họp của một số hệ sinh thái ở liền kề nhau có sự ảnh hưởng lẫn nhau, có chức năng liên quan hỗ trợ và phát sinh đặc điểm nhất định trong một không gian
- Cảnh quan có thể thay đổi phụ thuộc vào hình dáng vật lý và vị trí như đỉnh núi, hồ, biển hay đất liền Cảnh quan cũng có thể chia thành cảnh quan nông thôn hay thành thị tùy thuộc vào mức độ “nhân tạo” của cảnh quan đó
- Các nghiên cứu làm cơ sở cho quy hoạch cảnh quan sinh thái
Tính đa dạng sinh học đối với môi trường sống của con người có tầm quan trọng đặc biệt, sự đa dạng sinh học có quan hệ chặt chẽ tới đa dạng cảnh quan, Vì vậy, các nhà sinh học ở Mỹ (California), Nam phi, Chi lê, Australia (Mayer, Lugo, Wilson) đã tiến hành nghiên cứu sự đa dạng sinh học để làm cơ sở cho quy hoạch
Trang 14cảnh quan các khu vực rừng nguyên sinh Duy trì tính đa dạng cảnh quan, đa dạng loài và tính đa dạng di truyền là một trong những mục tiêu chủ yếu của quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung, quản lý rừng nói riêng
Để làm cơ sở quy hoạch cảnh quan sinh thái cho các khu bảo tồn, các nhà khoa học gồm Simpson, Shannnon-Weiner, Richness đã tập trung nghiên cứu về chỉ
số đa dạng sinh học Chỉ số đa dạng sinh học là cơ sở đánh giá đa dạng cảnh quan sinh thái khi tiến hành quy hoạch cảnh quan
1.2.3 Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ XIX phương thức kinh doanh rừng chồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kỳ khai thác dài
Và phương thức “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức
“chia đều” của Hartig Hartig đã chia chu kỳ khai thác thành nhiều thời kỳ lợi dụng
và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm Đến năm 1816 xuất hiện phương pháp phân kỳ lợi dụng của H.Cotta Cotta chia chu kỳ khai thác thành 20 thời kỳ lợi dụng và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm
Sau đó phương pháp “Bình quân thu hoạch” ra đời Quan điểm phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong chu kỳ khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kỳ sau Và đến cuối thế kỳ XIX xuất hiện phương pháp “Lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp này khác với phương pháp “Bình quân thu hoạch” về căn bản Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ đưa vào diện khai thác Hai phương pháp
“Bình quân thu hoạch” và “Lâm phần kinh tế” chính là tiền đề của hai phương pháp
tổ chức kinh doanh và tổ chức rừng khác nhau Phương pháp “Bình quân thu hoạch”
và sau này là phương pháp “Cấp tuổi” chịu ảnh hưởng của “Lý luận rừng tiêu chuẩn”, có nghĩa là rừng phải có kết cấu tiêu chuẩn về tuổi cũng như về diện tích, trữ lượng, vị trí và đưa các cấp tuổi cao vào diện tích khai thác Hiện nay, phương pháp kinh doanh rừng này được dùng phổ biến ở các nước có tài nguyên rừng phong phú Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp
“Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm
Trang 15phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh Cũng từ phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra”
Năm 1929 bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai trong đó có quy định nguyên tắc sử dụng đất lâm nghiệp, tiếp theo xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xây định các diện tích cho sử dụng đất lâm nghiệp, nông nghiệp và nghỉ ngơi giải trí
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và 40 thế kỷ XX, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm 1946, Jack G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên “phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất” Đây cũng là tài liệu đầu tiên đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất Tại vùng Rhodesia trước đây, nay là cộng hoà Zimbabwe, Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng Vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX, Tạp chí “East African Journal for Agriculture Forestry” đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi Năm 1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong qui hoạch sử dụng đất
1.3 Ở Việt Nam
1.3.1 Quy hoạch vùng chuyên canh
1.3.1.1 Quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng Sông Hồng và đồng bằng Sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng bông Thuận Hải, vùng đay Hải Hưng, vùng thuốc lá Quảng An (Cao Bằng), Ba vì (Hà Sơn Bình nay là Hà Nội), Hữu lũng (Lạng Sơn), Nho Quan (Hà Nam Ninh nay
là Ninh Bình), vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi,… Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ
Trang 16(Đắc Lắc), Chư Pả, Ninh Đức (Gia lai, Kon Tum), vùng chè ở Hoàng Liên Sơn, Mộc Châu, Thái Nguyên, Lâm Đồng, Gia Lai Kon Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc (Lâm Đồng),…
Quy hoạch vùng chuyên canh có tác dụng: Xác địng phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và những vùng có khả năng hợp tác quốc tế; Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp nhà nước tập trung đầu tư vốn đúng đắn; Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và sản phẩm hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động; Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển, nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh dã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung,
để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng, đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất
Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau: Xác định quy
mô, ranh giới vùng; Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất; Bố trí sử dụng đất đai; Xác định quy mô, ranh giới nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp; Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống; Tổ chức và sử dụng lao động; Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế; Dự tính tiến độ thực hiện quy hoạch
1.3.1.2 Quy hoạch cảnh quan sinh thái
Quy hoạch cảnh quan là một quá trình xây dựng kế hoạch quản lý đất đai cho một vùng đất trên cơ sở nghiên cứu sinh thái cảnh quan, nghiên cứu đến thế giới sinh vật, vật chất và năng lượng có thể tồn tại và lưu thông ngay trong Cảnh quan
đó
Con người là một thành phần của thiên nhiên, tác động của con người tới thiên nhiên là một yếu tố then chốt ảnh hưởng tới các chức năng của Cảnh quan Sinh thái cảnh quan giúp xác định những khiếm khuyết của chúng ta trong quá khứ,
Trang 17và cũng như vậy giúp ta xác định cách tiếp cận tốt hơn để có thể đáp ứng nhu cầu của con người mà không gây ảnh hưởng không bền vững tới các hệ sinh thái tự nhiên Mục tiêu của quy hoạch cảnh quan là để bảo vệ các thành phần chủ yếu của
hệ sinh thái cảnh quan và giữ lại các dòng chuyển động sống và … Một mục tiêu khác là hướng các hoạt động của con người khỏi những nơi dễ bị tổn hại sinh thái
Một Cảnh quan không có một kích thước cố định, do vậy quy hoạch cảnh quan có thể thực hiện ở những quy mô khác nhau
Thành phần chính của cảnh quan có thể chia thành 2 loại là tự nhiên/ sinh thái, như rừng, sông hồ và nhân tạo như đất canh tác, thôn bản vv Các yếu tố cảnh quan nhân tạo lại có thể chia thành các yếu tố sản xuất, văn hóa, lịch sử vv
Mối tương quan tỷ lệ về thành phần cùng quan hệ tương hỗ giữa hai thành phần này luôn biến đổi theo thời gian, điều này làm cho cảnh quan kiến trúc luôn vận động và phát triển
Theo Nguyễn Thế Thôn “Cảnh quan sinh thái là tổng thể lãnh thổ hiện tại, có cấu trúc cảnh quan địa lý và có chức năng sinh thái của các hệ sinh thái đang tồn tại
và phát triển trên đó Các cảnh quan sinh thái được phân biệt với nhau theo cấu trúc cảnh quan và theo chức năng sinh thái khác nhau trên các phần lãnh thổ khác nhau”
- Việc nghiên cứu cảnh quan trong lâm nghiệp đã được Nguyễn Văn Khánh vận dụng trong đề tài “Góp phần nghiên cứu phân vùng lập địa lâm nghiệp Việt Nam” (luận văn PTS) Tác giả xác lập cho toàn quốc theo 6 cấp phân vị: Miền - á miền - vùng - tiểu vùng - dạng đất đai - dạng lập địa Trong đó 4 cấp phân vị đầu áp dụng cho vùng lớn, 2 cấp sau là đơn vị phân loại cơ bản (vi mô) thường được sử dụng trong điều tra đánh giá ở phạm vi hẹp (xã, lâm trường, tiểu khu, khoảnh) Đề tài mới dừng lại nghiên cứu ở 4 cấp phân vị đầu, căn cứ vào các yếu tố: chế độ nhiệt mùa đông, chế độ mưa, địa mạo, kiểu khí hậu, kiểu địa hình và nhóm đất để chia toàn quốc thành: 2 miền, 4 á miền, 12 vùng lập địa, 407 tiểu vùng lập địa Dựa vào kết quả đạt được, tác giả đề xuất những định hướng lớn trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp như về chọn loài cây trồng rừng, xác định các tiểu vùng phòng hộ đầu
Trang 18nguồn, lập kế hoạch sản xuất lâm nghiệp trong năm theo á miền, lập các trạm trại nghiên cứu lâm nghiệp
- Các tác giả Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình chủ biên công trình “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Việt Nam” (2001) Trong công trình các tác giả đã tiến hành đánh giá đất lâm nghiệp trong phạm vi toàn quốc trên 8 vùng kinh
tế sinh thái lâm nghiệp, ở trên 4 đối tượng chính: đất vùng đồi núi, đất cát biển, đất ngập mặn sú vẹt, đất chua phèn Qua nghiên cứu các tác giả đã đề xuất được các vùng thích hợp đối với một số loài cây trồng [27]
- Trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam căn cứ vào phân vùng kinh tế - sinh thái để xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp cho từng vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải Nam Trung bộ, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Nam bộ [21]
- Gần đây (tháng 10/2009), với sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), tại Thừa Thiên Huế đã tiến hành hội thảo quy hoạch cảnh quan cho 7 xã thuộc 3 huyện Các vấn đề nêu ra tại hội thảo đang còn là bước đi đầu tiên trong việc tiếp cận một cách nhìn mới trong quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp (QHSDĐLN), thậm chí mới dừng lại ở phương pháp QHSDĐLN có sự tham gia của cộng đồng dân cư và cấp chính quyền sở tại
Vì vậy, nghiên cứu và ứng dụng phương pháp quy hoạch cảnh quan vào trong QHSDĐLN là vấn đề tương đối mới lạ, mặc dù công tác QHSDĐLN đã và đang thực hiện đều trên cơ sở đề cập và phân tích đầy đủ các yếu tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội
1.3.2 Quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp áp dụng ở nước ta từ thời kỳ pháp thuộc Như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi, điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều …
Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Đầu thế kỷ 18, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ giải quyết việc “khoanh khu chặt luân chuyển” có nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kỳ khai
Trang 19thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc diện tích Phương thức này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kỳ khai thác ngắn
Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám mô tả để ước lượng tài nguyên rừng Năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc Cho đến năm 1960-1964 công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng ở Miền Bắc Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng
Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các sở Lâm nghiệp (nay là sở nông nghiệp và phát triển nông thôn) các tỉnh, không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của các nước cho phù hợp với điều kiện, trình độ tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn rất nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh
tế, xã hội, và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác quy hoạch lâm nghiệp chưa được giải quyết triệt để, nên công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [25]
Trong công trình “Đất rừng Việt Nam”, Nguyễn Ngọc Bình (1996) [1] đã đưa ra những quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam
Năm 1997, Đặng Văn Phụ, Hà Quang Khải [16] trong chương trình tập huấn
hỗ trợ lâm nghiệp xã hội của Trường đại học lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam Trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích về: Quan điểm về tính bền vững; Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững; Hệ thống sử dụng đất bền vững; Kỹ thuật sử dụng đất bền vững; Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất
Tài liệu tập huấn về quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân, tác giả Trần Hữu Viên (1997) [24] đã kết hợp phương pháp quy hoạch sử dụng đất trong nước và của một số dự án Quốc tế đang áp dụng tại
Trang 20một số vùng có dự án ở Việt Nam Trong đó tác giả đã trình bầy về khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia
Theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020 một trong những tồn tại mà Bộ NN&PTNT đánh giá là: “ Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa…” Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành lâm nghiệp ở nước ta hiện nay [21]
Trong thời gian qua, công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ với những quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu trong mỗi giai đoạn cụ thể trong từng thời điểm, nguồn vốn và yêu cầu về mức độ kỹ thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch dự án đầu tư được điều chỉnh cho phù hợp
1.3.2.1 Đặc điểm của quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Theo Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Địa bàn quy hoạch phát triển lâm nghiệp rất đa dạng, phức tạp (bao gồm cả vùng ven biển, trung du, núi cao và biên giới, hải đảo), thường có địa hình cao, dốc, chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn và có nhiều ngành kinh tế hoạt động
Là địa bàn cư trú của đồng bào các dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn
Đối tượng của công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp là rừng và đất lâm nghiệp, từ bao đời nay là “của chung” của đồng bào các dân tộc, nhưng thực chất là
vô chủ
Cây lâm nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài (ngắn 8-10 năm, dài từ 40-100 năm) Người dân chỉ tự giác bỏ vốn tham gia trồng rừng nếu biết chắc chắn sẽ có lợi
Trang 21Mục tiêu của quy hoạch phát triển lâm nghiệp cũng rất đa dạng: Quy hoạch rừng phòng hộ (phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường); Quy hoạch rừng đặc dụng (các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu
di tích văn hoá - lịch sử - danh lam thắng cảnh) và quy hoạch phát triển các loại rừng sản xuất
Quy mô của công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp bao gồm cả tầm vĩ mô
và vi mô: Quy hoạch toàn quốc, từng vùng lãnh thổ, từng tỉnh, từng huyện, xí nghiệp, lâm trường, quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã và làng lâm nghiệp
Lực lượng tham gia công tác quy hoạch phát triển lâm nghiệp thường luôn phải lưu động, điều kiện sinh hoạt khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thổn về mọi mặt
… Đội ngũ cán bộ xây dựng phương án quy hoạch cũng rất đa dạng, bao gồm cả lực lượng của trung ương và địa phương, thậm chí các ngành khác cũng tham gia làm quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp (nông nghiệp, công an, quân đội …); Trong đó, có một bộ phận được đào tạo bài bản qua các trường lớp, song phần lớn chỉ dựa vào kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong ngành lâm nghiệp
1.3.2.2 Đối tượng của quy hoạch phát triển lâm nghiệp
Theo Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999) [23]: Tuỳ theo phạm vi của công tác quy hoạch mà đối tượng của công tác quy hoạch có thể lớn nhỏ khác nhau được phân ra hai hệ thống tổ chức khác nhau
* Quy hoạch cho các cấp quản lý lãnh thổ: Bao gồm diện tích quản lý theo các đơn vị quản lý hành chính như quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng toàn quốc, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp huyện và quy hoạch phát triển rừng cấp xã Nội dung quy hoạch chủ yếu xuất phát từ toàn bộ, chiếu cố mọi mặt phát triển kinh tế, đề ra phương hướng và nhiệm
vụ sản xuất, kinh doanh có tính nguyên tắc nhằm phát triển kinh tế lâm nghiệp trong phạm vi cấp quản lý đó
Ở nước ta, các cấp quản lý lãnh thổ bao gồm các cấp đơn vị quản lý hành chính: Từ toàn quốc tới Tỉnh (Thành phố trực thuộc trung ương), huyện (Thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận) và xã (phường) Để phát phát triển, mỗi đơn vị đều phải
Trang 22xây dựng phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển các ngành sản xuất và quy hoạch dân cư, phát triển văn hoá xã hội …
Ở những đối tượng có tiềm năng phát triển lâm nghiệp thì quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng là một vấn đề quan trọng, làm cơ sở cho việc phát triển sản xuất nghề rừng nói riêng và góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung trên địa bàn
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp toàn quốc
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp toàn quốc là quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp trên phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm giải quyết một số vấn đề cơ bản, bao gồm: Xác định phương hướng nhiệm vụ chiến lược phát triển lâm nghiệp toàn quốc Quy hoạch đất đai tài nguyên rừng theo các chức năng (sản xuất, phòng hộ và đặc dụng) Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm tái sinh tự nhiên và trồng rừng), thực hiện nông lâm kết hợp Quy hoạch lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất, phát triển nghề rừng, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dung cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải Xác định tiến độ thực hiện
Do đặc thù khác với những nghành kinh tế khác, cho nên thời hạn quy hoạch lâm nghiệp thường thực hiện trong thời gian 10 năm và các nội dung quy hoạch được thực hiện tuỳ theo các vùng kinh tế lâm nghiệp
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp tỉnh
Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp tỉnh giải quyết những vấn đề: Xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trong phạm vi tỉnh, trên cơ sở căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, căn cứ quy hoạch lâm nghiệp toàn quốc đồng thời căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp của tỉnh, điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh theo ba chức năng: Rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển tài nguyên rừng hiện có Quy hoạch tái sinh rừng (bao gồm trồng rừng và tái sinh tự nhiên) và nông lâm kết hợp Quy hoạch khai thác lợi dụng rừng, chế biến lâm sản gắn với thị
Trang 23trường tiêu thụ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế, phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải phục vụ sản xuất lâm nghiệp, lưu thông hàng hoá và đời sống Xác định tiến độ thực hiện
- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp huyện
Quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện về cơ bản các nội dung quy hoạch lâm nghiệp cũng tương tự như quy hoạch lâm nghiệp cấp tỉnh, tuy nhiên nó được triển khai cụ thể, chi tiết hơn và được tiến hành trên phạm vi địa bàn huyện Quy hoạch lâm nghiệp huyện đề cập giải quyết các vấn đề sau:
+ Căn cứ vào phương hướng, nhiệm vụ phát triển tổng thể kinh tế xã hội của huyện, căn cứ vào phương án phát triển lâm nghiệp của tỉnh và điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, đặc biệt là điều kiện tài nguyên rừng của huyện để xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển trên địa bàn huyện
+ Căn cứ phương hướng phát triển lâm nghiệp huyện và điều kiện đất đai tài nguyên rừng, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác, tiến hành quy hoạch đất lâm nghiệp trong huyện theo 3 chức năng: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
+ Quy hoạch bảo vệ, nuôi dưỡng, phát triển rừng hiện có
+ Quy hoạch các phát triển rừng: Trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên Quy hoạch thực hiện nông lâm kết hợp và sản xuất hỗ trợ trên đất lâm nghiệp
+ Quy hoạch khai thác lợi dụng lâm đặc sản, chế biến lâm sản gắn liền với thị trường tiêu thụ
+ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch đất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong huyện, tổ chức phát triển lâm nghiệp xã hội
+ Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải
+ Xác định tiến độ thực hiện
Thời gian quy hoạch cấp huyện thường 5 năm Các quy hoạch lâm nghiệp cũng cần phải phù hợp với phương hướng phát triển kinh tế, xã hội chung của từng tiểu vùng trong huyện
Trang 24- Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã
Xã được coi là đơn vị quản lý hành chính nhỏ nhất, là đơn vị cơ bản quản lý
và tổ chức sản xuất lâm nghiệp trong các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân Quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã thường tiến hành các nội dung sau: Điều tra các điều kiện cơ bản của xã có liên quan đến sản xuất lâm nghiệp: Điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tài nguyên rừng Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội xã, căn cứ vào quy hoạch lâm nghiệp cấp huyện và các điều kiện
cơ bản của xã, xác định phương hướng nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên địa bàn
xã Quy hoạch đất đai trong xã theo ngành và theo đơn vị sử dụng, xác định rõ mối quan hệ giữa các ngành sử dụng đất đai trên địa bàn xã Căn cứ vào phương hướng phát triển, các điều kiện cơ bản, nhu cầu phòng hộ và các nhu cầu đặc biệt khác (nếu có) phân chia đất lâm nghiệp theo ba chức năng sử dụng: Sản xuất, phòng hộ
và đặc dụng Quy hoạch các nội dung sản xuất kinh doanh lợi dụng rừng, bố trí không gian và thời gian, tổ chức các biện pháp kinh doanh lợi dụng rừng: Bảo vệ
và nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng và tái sinh phục hồi rừng, nông lâm kết hợp, khai thác, chế biến các loại lâm sản, đặc sản phục vụ nhu cầu của địa phương và thị trường, quy hoạch các nội dung sản xuất hỗ trợ Quy hoạch tổ chức sản xuất lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế trong xã gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống Dự tính đầu tư lao động, tiền vốn, vật tư thiết bị Hiệu quả đầu tư cần được đánh giá đầy đủ trên các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường Xác định tiến
độ thực hiện
Về cơ bản nội dung quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý lãnh thổ từ toàn quốc đến tỉnh, huyện, xã là tương tự nhau Tuy nhiên, mức độ giải quyết khác nhau về chiều sâu và chiều rộng tuỳ theo các cấp
* Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất, kinh doanh Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất, kinh doanh bao gồm: Quy hoạch tổng công ty lâm nghiệp, công ty lâm nghiệp; Quy hoạch lâm trường; Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các đối tượng khác (quy hoạch cho
Trang 25các khu rừng đặc dụng, quy hoạch cho các khu rừng phòng hộ và quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp cho các cộng đồng làng bản và trang trại lâm nghiệp hộ gia đình) Các nội dung quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản lý sản xuất kinh doanh là khác nhau tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị và thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất lâm nghiệp mà lựa chọn các nội dung quy hoạch cho phù hợp
1.3.3 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam
và Thế giới
Tuy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, thử nghiệm về QHSDĐĐ, quy hoạch nông lâm nghiệp nhưng trên thế giới và cả Việt Nam đều chưa có phương pháp luận, lý thuyết hoàn chỉnh chính thống cho quy hoạch nông lâm nghiệp đặc biệt là ở cấp cơ sở
Trên thế giới cùng với sự phát triển đi lên của kinh tế xã hội thì quy hoạch luôn phải đi trước một bước Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cũng vậy, nó luôn đi theo phát triển kinh tế xã hội, nó đảm bảo và thể hiện được tầm nhìn của các nhà lãnh đạo trong việc phân vùng kinh tế và sử dụng một cách tối đa có hiệu quả nhưng hài hoà giữa các vùng trong chiến lược phát triển lâm nghiệp chung của đất nước
Ở Việt Nam đã tiến hành quy hoạch phát triển lâm nghiệp cho các cấp quản
lý, kinh doanh và các cấp quản lý lãnh thổ ở tầm vĩ mô, vi mô Trên cơ sở quy hoạch phát triển lâm nghiệp trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia, xác định phương hướng, nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp trên toàn quốc, xác định tiến độ thực hiện từng hạng mục làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển lâm nghiệp của các tỉnh Quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp huyện phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, huyện và định hướng quy hoạch phát triển lâm nghiệp toàn tỉnh, vùng
Trong những năm qua xã Quảng Sơn đã xây dựng được quy hoạch sử dụng đất đai, hàng năm đều tiến hành thống kê, theo dõi biến động các loại đất Đã có một số dự án, chương trình lâm nghiệp được triển khai thực hiện trên địa bàn xã:
Dự án đầu tư sản xuất nông lâm nghiệp; Dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất
Trang 26theo Quyết định 147/2007/QĐ-TTg ngày 10/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ; Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng
Năm 2006, thực hiện Chỉ thị 38/2005/CT-TTg, của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Đắk Nông đã tiến hành rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất) và trong năm 2013 tiếp tục được rà soát, điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay Tuy nhiên, hiện nay công tác lập quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14/01/2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT vẫn chưa được triển khai thực hiện làm hạn chế không nhỏ đến quá trình quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp trong thực tiễn khách quan và quy luật phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã Quảng Sơn trong thời gian qua Do đó, việc xây dựng phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng phù hợp làm cơ sở nhằm tổ chức thực hiện quản lý bảo vệ chặt chẽ diện tích đất có rừng và sử dụng hợp lý diện tích đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp trong thời gian tới cho các đơn vị chủ rừng trên địa bàn xã Quảng Sơn là vô cùng cấp thiết
Trang 27Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Rừng và đất lâm nghiệp của xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
b) Phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Quảng Sơn, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
Các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển sản xuất kinh doanh lâm nghiệp,
cơ chế chính sách, luật pháp liên quan
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
2.3.1.1 Cơ sở pháp lý: Tìm hiểu các luật, văn bản dưới luật và các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
2.3.1.2 Phân tích cơ sở về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên đất, rừng
Trang 282.3.1.3 Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ và phát triển rừng và các hoạt động sản xuất lâm nghiệp trước đây của xã Quảng Sơn
2.3.1.4 Đánh giá chung điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã Quảng Sơn
2.3.1.5 Những dự báo cơ bản đến năm 2020: Dân số và lao động; nhu cầu gỗ, củi, lâm
sản và thị trường tiêu thụ; môi trường; nhu cầu sử dụng đất; phát triển khoa học công nghệ trong lâm nghiệp
2.3.2 Đề xuất các nội dung cơ bản quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
2.3.2.1 Quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
a) Quan điểm phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
b) Mục tiêu phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
c) Nhiệm vụ phát triển lâm nghiệp xã Quảng Sơn đến năm 2020
2.3.2.2 Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch 3 loại rừng xã Quảng Sơn đến năm
2020
a) Quy hoạch sử dụng đất xã Quảng Sơn đến năm 2020
b) Quy hoạch 3 loại rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
c) Quy hoạch 3 loại rừng theo chủ quản lý đến năm 2020
2.3.2.3 Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
a) Quy hoạch bảo vệ rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
b) Quy hoạch phát triển rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
c) Quy hoạch sử dụng rừng xã Quảng Sơn đến năm 2020
2.3.2.4 Phân kỳ quy hoạch và tiến độ thực hiện
a) Phân kỳ quy hoạch
Trang 292.3.2.6 Các giải pháp thực hiện
a) Về tổ chức quản lý, bảo vệ rừng, sử dụng và phát triển rừng
b) Về phát triển nguồn nhân lực
c) Về cơ chế chính sách
d) Về khoa học công nghệ và đào tạo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm phương pháp luận
Quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý
và có hiệu quả cao nhằm khai thác các tiềm năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, nguồn lao động sẵn có Để đặt được mục đích đó cần phải thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất của cả nước, cần phải tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả đối với đất, sản xuất, tạo điều kiện bảo vệ đất, bảo vệ môi trường Vì vậy công tác quy hoạch phải đảm bảo những đặc tính của công tác quy hoạch: Tính ưu tiên, tính tiết kiệm, tính tích cực và phải có tính chất chỉ đạo trong thực tiễn
Công tác quy hoạch cấp vĩ mô phải đảm bảo tính tham gia của cộng đồng địa phương và sự chỉ đạo của cấp trên ở một mức độ hợp lý Phù hợp với chính sách, quy hoạch cấp trên (cấp tỉnh) và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của cộng đồng, tận dụng được lợi thế của địa phương và có tính địa phương nhất định
Trên quan điểm quy hoạch là công tác hoạch định cho tương lai dựa trên phân tích quá khứ và đánh giá hiện tại Cụ thể là quy hoạch bảo vệ và phát triển lâm nghiệp tại cấp xã nên vừa phải đảm bảo phát triển ngành tuân theo quy hoạch tổng thể phát triển nông thôn, vừa phải đảm bảo phát triển các ngành khác Phát triển lâm nghiệp phải cùng với các ngành khác để bảo đảm phát triển chung trên quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn miền núi
Ngoài ra quy hoạch phải đảm bảo sự phát triển bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trường trong đó phát triển phải nằm trong tổng thể các yếu tố bên ngoài
Trang 30(chính sách, quy hoạch cấp trên, các chương trình dự án ) với mối quan hệ với các yếu tố bên trong (sinh thái, nhân văn)
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Kế thừa các số liệu, tài liệu có liên quan với yêu cầu tài liệu phải mới nhất,
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp, đảm bảo độ chính xác theo yêu cầu của chủ đề nghiên cứu Thu thập tài liệu theo 3 kênh thông tin:
+ Tham vấn các cơ quan quản lý: Chi cục lâm nghiệp, Hạt Kiểm lâm huyện Đắk Glong, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng TN&MT, Phòng Thống kê huyện nhằm thu thập các văn bản, tài liệu, số liệu có liên quan
+ Phỏng vấn các chủ rừng và người dân: Khu BTTN Nam Nung, Công ty TNHH MTV LN Quảng Sơn, Công ty TNHH MTV LN Đắk N’Tao, Công ty TNHH MTV Cà phê 15 và một số hộ dân Nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng đất của các chủ rừng, các mô hình trồng rừng và năng suất rừng
+ Khảo sát thực địa: Một số trạng thái rừng có thay đổi trong thời gian gần đây (trồng rừng mới, phá rừng), cần kiểm tra kiểm chứng lại cho phù hợp
- Tìm hiểu và thu thập tình hình của xã về các mặt:
+ Diện tích các loại đất bao gồm: Đất Nông nghiệp, đất Lâm nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng
+ Tình hình dân sinh: Dân số, lao động, trình độ dân trí, phong tục tập quán,
hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng
+ Tình hình quản lý sử dụng đất, tài nguyên rừng trên địa bàn
+ Tình hình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel: Hệ thống bảng, biểu, phụ biểu kèm theo; phân tích các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
- Soạn thảo trình bày văn bản bằng Microsoft Word: Luận văn
- Xây dựng các loại bản đồ xã Quảng Sơn bằng phần mềm Mapinfo 10.5: Bản đồ hiện trạng rừng; Bản đồ quy hoạch 3 loại rừng và Bản đồ quy hoạch bảo vệ
và phát triển rừng
Trang 31- Phương pháp phân tích điểm mạnh, điểm yếu (SWOT): Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; hiện trạng rừng, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
- Sơ đồ Venn mối quan hệ giữa lâm nghiệp với các ngành khác
- Phương pháp chuyên gia tư vấn: Nhằm xây dựng các quan điểm, định hướng phát triển lâm nghiệp huyện; các nội dung và giải pháp thực hiện quy hoạch
- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế một số hình thức kinh doanh rừng
sử dụng phương pháp động Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, BPV, CPV, IRR, trong chương trình Excel
* Các tiêu chuẩn đánh giá:
- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: là hiệu số giữa giá trị thu nhập và giá trị chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
- Giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (Net present value) là tổng giá trị hiện tại của các khoản lợi nhuận đạt được trong cả chu kỳ kinh doanh của 1 chương trình đầu tư nào đó (hay còn gọi là giá trị đã được chiết khấu của lợi nhuận)
C B NPV
Bi: Thu nhập đạt được ở kỳ thứ i
Ci: Chi phí bỏ ra ở kỳ thứ i
(Bi –Ci): lợi nhuận đạt được ở kỳ thứ i
r: tỷ lệ lãi suất vốn đầu tư
(Nếu NPV >0: có lãi, NPV=0: hoà vốn, NPV<0: lỗ vốn)
- Tỉ lệ hoàn vốn nội tại IRR: Tỉ lệ hoàn vốn nội tại IRR (Internal Rate of Return) là
một hệ số mà nếu chương trình đầu tư vay vốn bằng đúng tỷ lệ đó sẽ hoà vốn Tức là nếu r = IRR thì : NPV(IRR) = 0 Hay:
IRR
C B NPV
Trang 32IRR
C IRR
B
IRR: là chỉ số cho biết khả năng sinh lời tối đa của 1 chương trình đầu tư Trong đó 1 phần lợi nhuận sẽ được trả cho ngân hàng, phần còn lại mới thuộc về người kinh doanh (Nếu IRR > r: có lãi, IRR = r: hoà vốn, IRR < r: lỗ vốn)
- Tỷ suất thu nhập so với chi phí (BCR): Tỷ suất thu nhập so với chi phí
BCR (Benefits to Costs ratio) là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của thu nhập so với giá trị
hiện tại của chi phí trong cả chu kỳ kinh doanh của 1 chương trình đầu tư
r C r B BCR
1
1
) 1 (
) 1 (
(Nếu BCR >1: có lãi, BCR =1: hoà vốn, BCR <1: lỗ vốn)
Trang 33Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Quảng Sơn nằm cách trung tâm huyện Đắk Glong khoảng 60km về phía Bắc Tọa độ địa lý: 1200’0’’ đến 12012’15’’ độ vĩ Bắc, từ 1070 45’0’’ đến 10800’0’’ độ kinh Đông
- Phía Đông Nam giáp xã Đắk Rmăng, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Phía Đông giáp xã Liêng SRônh, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng
- Phía Tây - Tây Nam giáp xã Đắk Ha, huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông
- Phía Tây Nam giáp với xã Quảng Thành, thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông
- Phía Tây giáp với xã Đắk Môl, huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông
- Phía Tây Bắc giáp với xã Nam Nung, huyện KRông Nô, tỉnh Đắk Nông
- Phía Bắc giáp xã Đức Xuyên, huyện KRông Nô, tỉnh Đắk Nông
- Phía Đông Bắc giáp với xã Quảng Phú, huyện KRông Nô, tỉnh Đắk Nông
3.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Do sự chi phối của điều kiện địa chất kiến tạo và lượng mưa lớn nên địa hình
bị chia cắt và có xu hướng cao dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, có thể chia địa hình thành các dạng chính:
Địa hình Cao nguyên bazan: Phân bố ở khu vực trung tâm, phần đỉnh của cao nguyên tương đối ít dốc, sườn cao nguyên dốc và chia cắt mạnh Đây là khu vực phân bổ chủ yếu các khu rừng lá rộng thường xanh, năng suất và tổng sinh khối cao
Địa hình thung lũng được bồi tụ: Phân bố ven các suối nhỏ, hẹp; các khu vực này rừng phát triển tốt và có các loài cây gỗ quý hiếm
Hầu hết trong khu vực có địa hình đồi núi cao, độ cao trung bình 600m – 750m so với mặt nước biển, có đỉnh núi cao tới 1.000m
Địa hình là những dãy dông chính trải dài từ hướng Bắc xuống hướng Nam
đổ dần từ hướng Đông sang hướng Tây
Trang 34Kiểu địa hình thung lũng, phân bố ven suối lớn chảy qua như: Đắk Rting, Đắk Rnal, Đắk Snao, tạo thành nhiều sình lầy, do địa hình thấp và tương đối bằng nên rất thuận lợi cho canh tác nông lâm nghiệp
3.1.3 Đất đai
- Đất Feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ ba zan Đây là nhóm đất chiếm tỷ lệ lớn nhất trong khu vực, thành phần cơ giới đất từ sét nhẹ đến thịt trung bình, cấu tượng dạng viên, độ mùn > 15%, độ sâu tầng đất >100cm, có 1 số khu vực có đá lộ đầu
- Đất bồi tụ ven sông suối và đầm lầy, phân bố chủ yếu dọc theo các suối lớn Thành phần cơ giới là thịt nhẹ, tơi xốp, nhiều dinh dưỡng, tầng đất sâu, phân bố thấp và bằng phẳng, độ dốc từ 6 – 150, thích hợp với nhiều loại cây trồng
Nhìn chung đất đai trên địa bàn xã còn tính chất đất rừng, thích hợp với nhiều loại cây trồng, tạo cho vùng có lợi thế về tập đoàn cây trồng phong phú, đa dạng, đặc biệt là cây công nghiệp có giá trị cao
3.1.4 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu: Quảng sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong một năm được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 đặc điểm của mùa này là nóng, ẩm, mưa nhiều Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa này thường
khô hanh và lạnh
b) Thời tiết: Xã nằm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Vào mùa khô thường có gió lớn, đặc biệt vào tháng 12
- Nhiệt độ bình quân năm là 23,70C, nhiệt độ cao bình quân 28,00C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 38,00C, nhiệt độ thấp trung bình là 19,00C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 7,00C
- Lượng mưa trung bình năm là 2.600mm, tập trung nhiều nhất vào tháng 7,
8, 9 và ít nhất vào tháng 1 và 2
- Độ ẩm không khí bình quân năm là 82,4%, trung bình cao là 95,5%, trung bình thấp là 88,6%
Trang 35- Gió: Hướng gió chính trong mùa mưa là gió mùa Tây Nam và trong mùa khô là gió mùa Đông Bắc Gió cũng là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến canh tác tại địa phương cũng như làm tang nhanh lượng bốc hơi, gió mạnh gây ngả đổ cây trồng, cây rừng
c) Hệ thống sông suối, thuỷ văn
Trên địa bàn xã gồm có các hệ thống sông suối chính như sau:
- Suối Đắk Rting, Đắk Đông Jang, chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc
- Suối Đắk Rnal, Đắk Man Nhung chảy theo hướng Đông - Tây
Do địa hình rất phức tạp có nhiều suối lớn, chảy theo nhiều hướng khác nhau, dòng suối bị uốn lượn tạo thành nhiều vùng sình lầy rất thuận lợi cho việc canh tác lúa nước
Ngoài các sông suối chính ở trên, trong địa bàn xã còn có hệ thống các khe suối nhỏ khá dày đặc cung cấp nước cho các suối lớn Đặc điểm chung của các dòng sông, suối chảy trên địa bàn xã là quanh co, lưu lượng dòng chảy không ổn định Chế độ dòng chảy trong năm phụ thuộc rõ rệt vào chế độ mưa theo mùa
3.2 Đặc điểm điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội và nhân văn
3.2.1 Dân tộc, dân số và lao động
- Theo số liệu niên giám thống kê năm 2013, trong toàn xã có 2.266 hộ gia đình với 9.922 nhân khẩu Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2013 là 1,94%, mật độ dân số bình quân là 21,9 người/km2
- Trên địa bàn xã có 16 dân tộc anh em đang sinh sống xen kẽ thành 10 thôn, bon, cơ cấu thành phần dân tộc như sau: Dân tộc Kinh có 1.469 hộ/6.348 người, chiếm 63,9%; Dân tộc H’Mông có 442 hộ/2.466 người, chiếm 24,8%; Dân tộc Nùng có 101 hộ/455 người, chiếm 4,5%; Dân tộc Dao có 110 hộ/467 người, chiếm 4,7%; còn lại là các dân tộc khác là M’Nông, Mạ Ê Đê, Khơ Me, Dao, Hoa, Thái, Mường, Sán Dìu chiếm tỷ lệ không đáng kể
- Số người trong độ tuổi lao động là 4.510 lao động, chiếm 52% dân số trong
đó chủ yếu là lao động nông nghiệp chiếm 95% tổng số lao động, toàn bộ lực lượng này đều có việc làm nhưng chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp theo thời vụ
Trang 36Đây là lực lượng lao động khá dồi dào, có khả năng huy động để tham gia xây dựng
và phát triển rừng trên địa bàn xã
3.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
- Về kinh tế: Nguồn thu nhập chính của người dân trong xã là từ sản xuất nông - lâm nghiệp, chiếm 90 – 95% tổng thu nhập của các hộ gia đình Trong những năm gần đây đã có những bước chuyển biến tích cực trong nông nghiệp với việc thay đổi cơ cấu cây trồng, đưa giống mới vào sản xuất, thâm canh tăng vụ nên năng suất cây trồng đã có chiều hướng tăng lên
- Về cơ sở hạ tầng: Trong xã có hệ thống giao thông liên tỉnh là tỉnh lộ 4 nối
liền thị xã Gia nghĩa với huyện Krông Nô, có tổng chiều dài chạy qua địa bàn xã là
60 km, hiện đang được cải tạo, nâng cấp nên chất lượng đường khá tốt
+ Hệ thống đường dân sinh đã đến được các bon, buôn vùng xa của xã nhưng chủ yếu là đường đất nên việc đi lại và vận chuyển hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn vào mùa mưa
+ Điện lưới quốc gia chạy qua địa bàn xã, hiện tại hầu hết các thôn, bon của
xã được dùng điện sinh hoạt
- Về văn hóa – xã hội:
+ Công tác y tế: Trong vùng có 01 trạm xá, 8 cán bộ, nhân viên, 11 y tá thôn bản Do vậy hiệu quả công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân ở các cấp cơ sở từng
bước được cải thiện
+ Giáo dục: Toàn xã có 05 trường học, 01 trường cấp 2, 03 trường cấp 1,
01 trường mẫu giáo với 63 lớp học, 81 giáo viên và 1.647 học sinh Chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ lệ học sinh được lên lớp và chuyển cấp đạt khá, đội ngũ giáo viên từng bước được chuẩn hóa Cơ sở vật chất cho giáo dục trong khu vực đã được cải thiện nhiều tuy nhiên vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn và lạc hậu đặc biệt là về trang thiết bị trực quan phục vụ giảng dạy nên đã làm ảnh hường không nhỏ đến chất lượng dạy và học Đầu năm học 2012 UBND tỉnh Đắk Nông đã cho đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động 01 trường cấp 2, 3 Lê Duẩn tại trung tâm xã Quảng Sơn
Trang 37+ Văn hóa, thông tin và truyền hình: Hầu hết các hộ gia đình trong toàn xã đã
có ti vi, hầu hết các hộ gia đình ở các thôn, bon có điện lưới quốc gia đã được xem chương trình ti vi thông qua các chảo thu từ vệ tinh nên đời sống tinh thần của người dân đã được cải thiện nhiều
3.2.3 Thực trạng tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp
Ngành nghề chủ yếu của người dân trong xã là sản xuất nông, lâm nghiệp, thu nhập thấp, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn Cộng đồng dân cư trong các thôn, bon nhiều năm gắn bó với rừng, trong đó rừng cũng là nguồn cung cấp nhiên liệu củi đốt, vật dụng đồ gia dụng và thu hái các loại lâm sản phụ để phục vụ cuộc sống hàng ngày
Trong xã, cây nông nghiệp chủ yếu là cây Lúa, Bắp, Mỳ Tổng sản lượng lương thực có hạt (Lúa, Bắp) là 3.332 tấn Bình quân lương thực đầu người: 371,08 kg/người/năm Trong đó, năng suất Lúa đạt 45,18 tạ/ha/năm, Bắp đạt 46,6 tạ/ha/năm, Khoai lang đạt 98 tạ/ha/năm, Mỳ đạt 180 tạ/ha/năm
Cây công nghiệp trồng trên địa bàn xã chủ yếu là cây Cà phê, cây Cao su và cây Hồ tiêu Trong đó, diện tích trồng Cà phê tương đối lớn Sản lượng Cà phê đạt 2.758 tấn/năm, sản lượng Cao su đạt 105 tấn/năm, sản lượng Hồ tiêu đạt 158,1 tấn/năm Đây là những cây công nghiệp lâu năm cho thu nhập cao và phù hợp với điều kiện khí hậu của vùng Hầu hết các hộ dân trong xã đều trồng cây Cà phê và đây là nguồn thu nhập chính của các hộ dân trong toàn xã
Đàn gia súc trong xã Quảng Sơn có khoảng 167 con trâu, 753 con bò và có 1.589 con lợn, và gia cầm có 20.878 con
Thu nhập bình quân trên đầu người trong năm của xã Quảng Sơn còn thấp (10,5 triệu đồng/người/năm), tỷ lệ hộ nghèo còn tương đối cao
Vì vậy, nâng cao thu nhập từ rừng là một trong những giải pháp quan trọng nhất để lồng ghép mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường
ở địa phương
Trang 38Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Cơ sở quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng xã Quảng Sơn
b) Luật Đất đai ( 2003)
Điều 6 quy định: “Quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất là một trong
13 nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai” Đây chính là căn cứ để Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất
Điều 21, khoản 1 nêu rõ: Quy hoạch đất đai là việc hoạch định hoặc điều chỉnh việc khoanh định đối với các loại đất phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của từng địa phương và trong phạm vi cả nước, là sự tính toán, phân bổ sử dụng đất đai cụ thể về số lượng, chất lượng, vị trí không gian
Điều 21, khoản 4 nhấn mạnh về vai trò của công tác quy hoạch sử dụng đất: Quy hoạch sử dụng đất là một trong những công cụ quan trọng để Nhà nước thống nhất quản lý đối với toàn bộ đất đai, đảm bảo cho đất được sử dụng hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả Thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt về đất đai, nắm được quỹ đất đai đến từng loại đất, bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển nhượng mục đích sử dụng đất, gắn quyền sử dụng đất với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, có cơ sở để điều chỉnh chính sách đất đai theo hướng sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả, đồng thời dự tính được nguồn thu từ ngân sách Nhà nước
Trang 39Điều 23, khoản 1 quy định cụ thể về các nội dung cần phải tiến hành trong công tác lập quy hoạch sử dụng đất, gồm 11 nội dung: (Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất đai, sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất so với tiềm năng của đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế xã hội )
c) Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004)
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) quy định cụ thể về nội dung quản lý Nhà nước về Bảo vệ và Phát triển rừng: Nhà nước có quyền giao, cho thuê, thu hồi rừng và đất để phát triển rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế theo đúng quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng đã được phê duyệt Việc lập quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng, giao rừng, cho thuê rừng phải đảm bảo công khai, dân chủ, phải đồng bộ và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất…
Điều 9 nêu rõ nguyên tắc Bảo vệ và Phát triển rừng rất chặt chẽ: Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế-xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của
cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Chính phủ quy định d) Luật Bảo vệ môi trường (2005)
Điều 14 khoản 1 nêu rõ: Trong quá trình xây dựng, lập quy hoạch và thực hiện cần phải báo cáo đánh giá môi trường Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển được lập phải bảo đảm hài hoà các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ môi trường; định hướng mục tiêu phát triển và mục tiêu bảo vệ môi trường phải tuân thủ theo tiêu chí phát triển bền vững
Việc khai thác sử dụng đất đai vào mục đích nông - lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản phải tuân theo quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch cải tạo đất nhằm đảm bảo cân bằng sinh thái Việc sử dụng chất hoá học, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật, các chế phẩm sinh học khác phải tuân theo quy định của Pháp luật
đ) Các văn bản pháp lý dưới luật
Trang 40e) Các văn bản Trung ương:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai năm 2003
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng và Thông tư số 99/2006/TT-BNN ngày 6/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn một số điều của Quy chế quản lý các loại rừng ban hành kèm theo Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược Phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn
2006 - 2020
- Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020
- Quyết định số 38/QĐ-BNN ngày 6 tháng 7 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp
& PTNT về việc ban hành Định mức Kinh tế kỹ thuật trồng rừng
- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 – 2015
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08 tháng 02 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng
- Thông tư số 05/2008/TT-BNN ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT về Hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng
- Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05 tháng 5 năm 2009 của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, rừng đặc dụng được quy hoạch sang rừng sản xuất và ngược lại từ rừng sản xuất được quy hoạch thành rừng phòng hộ, đặc dụng sau
rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ