1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình sử dụng gây trồng cây thuốc nam và thử nghiệm nhân giống bằng hom một số loài cây thuốc có giá trị ở thôn yên sơn xã ba vì huyện ba vì hà nội

100 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CAM ĐOAN

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Chương 1

  • TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

  • 1.1. Trên thế giới

  • 1.1.1. Nghiên cứu về cây Luồng

  • 1.1.2. Nghiên cứu về sinh khối và tích tụ carbon của rừng

  • 1.1.3. Nghiên cứu về hàm lượng carbon trong sinh khối khô

  • 1.2. Ở Việt Nam

  • 1.2.1. Nghiên cứu về cây Luồng

  • 1.2.2. Nghiên cứu về sinh khối và tích tụ carbon của rừng

  • 1.2.3. Nghiên cứu xác định hàm lượng carbon trong mẫu sinh khối

  • 1.3. Nhận xét chung

  • Chương 2

  • MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

  • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

  • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát

  • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể

  • 2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • 2.3. Nội dung nghiên cứu

  • 2.3.1. Nghiên cứu tình hình sinh trưởng của Luồng tại khu vực nghiên cứu

  • 2.3.2. Nghiên cứu cấu trúc sinh khối cây Luồng

  • 2.3.3. Xác định hàm lượng carbon trong các bộ phận cây Luồng

  • 2.3.4. Ước tính trữ lượng carbon trong rừng Luồng

  • 2.4. Phương pháp nghiên cứu

  • 2.4.1. Phương pháp ngoại nghiệp

  • - Chuẩn bị dụng cụ:

  • + Thước dây

  • + Địa bàn

  • + Thước kẹp kính

  • + Thước đo cao Blumeleiss

  • + Bản đồ

  • + Sổ ghi chép và bảng biểu

  • + Dao, cuốc, xẻng…

  • 2.4.2. Phương pháp nội nghiệp

  • Chương 3

    • ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

  • 3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xă hội tại Lương Sơn, Hòa Bình

  • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên

  • 3.1.1.1. Vị trí địa lý

  • 3.1.1.3. Địa chất thổ nhưỡng

  • 3.1.1.4. Khí hậu thủy văn

  • 3.1.1.5. Tình hình sản xuất Lâm nghiệp

  • 3.1.2. Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội

  • 3.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại Lang Chánh, Thanh Hóa

  • - Địa hình đồi núi thấp, chia cắt khá phức tạp.

  • - Do sự chia cắt phức tạp mà ở đây không có cao nguyên và sơn nguyên.

  • - Các dãy núi đều nghiêng dốc và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

  • - Trên địa bàn Lang Chánh có các dãy núi chính sau: Dãy núi phía Bắc sông Âm, dãy núi trung tâm, dãy núi phía Nam.

  • Nhìn chung địa hình bị chia cắt bởi sông suối, địa thế thấp dần từ Tây sang Đông. Đặc điểm địa hình, địa thế gây không ít trở ngại cho sự phát triển kinh tế, xã hội đặc biệt trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển ngành công nghiệp. Nhưng vẫn c...

  • Chương 4

  • KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

  • 4.1. Tình hình sinh trưởng của Luồng tại khu vực nghiên cứu

  • Sinh trưởng và phát triển là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng, có ảnh hưởng tới mục tiêu kinh doanh. Rừng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật đó được chi phối bởi đặc điểm di truyền và điều kiện...

    • 4.2.1. Cấu trúc sinh khối tươi cây Luồng (trừ rễ)

  • Bảng 4.4: Sinh khối tươi của cây Luồng (trừ rễ)

  • tại Lương Sơn, Hòa Bình

  • Bảng 4.5: Sinh khối tươi của cây Luồng (trừ rễ) tại Lang Chánh

  • Hình 4.6: Cấu trúc sinh khối tươi các bộ phận cây Luồng (trừ rễ)

  • tại Lương Sơn, Hòa Bình

  • Hình 4.7: Cấu trúc sinh khối tươi các bộ phận cây Luồng (trừ rễ)

  • tại Lang Chánh, Thanh Hóa

    • 4.2.2. Cấu trúc sinh khối khô của cây Luồng (trừ rễ)

  • Bảng 4.6: Kết quả xác định sinh khối khô cây Luồng

  • Hình 4.9: Cấu trúc sinh khối khô các bộ phận cây Luồng (trừ rễ) tại Lương Sơn, Hòa Bình

    • Tại khu vực nghiên cứu Lang Chánh, Thanh Hóa, do điều kiện về thời gian cũng như kinh phí tài chính có hạn nên chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc tiến hành lấy mẫu thân ngầm của 12 cây mẫu ở 3 OTC về phòng phân tích để xác định sinh khối khô. Kết quả ...

  • Bảng 4.7: Kết quả xác định sinh khối khô trong thân ngầm của cây Luồng tại Lang Chánh, Thanh Hóa

  • 4.3. Xác định hàm lượng carbon trong các bộ phận cây Luồng

  • Bảng 4.8: Hàm lượng carbon trong các bộ phận cây Luồng

  • Hình 4.10: Hàm lượng Carbon trong sinh khối khô

  • các bộ phận cây Luồng (%)

  • Bảng 4.9: Hàm lượng carbon trong Thân ngầm của cây Luồng

  • 4.4. Ước tính trữ lượng carbon trong rừng Luồng

  • 4.4.1. Kết quả tính toán lượng sinh khối khô của rừng Luồng

  • Bảng 4.10: Kết quả tính toán sinh khối khô của rừng Luồng

  • theo từng bộ phận

  • Bảng 4.11: Kết quả tính toán sinh khối khô của rừng Luồng

  • Hình 4.11: Sinh khối khô rừng Luồng tại khu vực nghiên cứu

  • 4.4.2. Kết quả ước tính trữ lượng carbon tích lũy

    • - Ước tính trữ lượng carbon tích lũy theo hệ số quy chuẩn quốc tế

  • Bảng 4.12: Tổng Carbon tích lũy tính theo 50% SKK (tấn/ha)

  • Bảng 4.13: Tổng Carbon tích lũy tính theo kết quả phân tích

  • Bảng 4.14: Kết quả tính toán tổng lượng carbon tích lũy trong rừng Luồng

  • KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ

  • 1. Kết luận

  • 2. Tồn tại

  • 3. Kiến nghị

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

Trên thế giới cũng như trong nước đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về tích lũy sinh khối, hấp thụ carbon của cây rừng tự nhiên, rừng trồng và cũng có nhiều công trình nghiên cứu

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cư ́ u về cây Luồng

Luồng (Dendrocalamuss membranaceus Munro) (hay theo cách định danh mới là Dendrocalamus barbatus) thuộc họ hòa thảo (Poaceae), họ phụ tre nứa (Bambusoideae), mọc cụm phân bố chủ yếu ở rừng nhiệt đới châu Á và châu Phi Đây là loài cây có thân ngầm dạng củ, thân khí sinh mọc cụm, chiều cao thân 15m-18m, đường kính 10cm-15cm, ngọn cong hay hơi rủ, một số đốt gốc có vòng rễ khí sinh; lóng màu lục xẫm, chiều dài 26cm-32cm, phần phẳng dẹt một phía không lông, phần trên có ít phấn trắng, bề dày vách thân 2cm-2,5cm; vòng thân không nổi lên, chiều dài đốt 15cm, ở đốt và phía dưới vòng mo đều có một vòng lông nhung màu trắng

Luồng có phân bố tự nhiên ở Myanma, Trung Quốc và Đài Loan, thường mọc ở những khu rừng ẩm, đất thấp, độ cao so với mặt nước biển dưới 1000m Luồng cũng chịu được điều kiện đất xấu và khô hạn Đất thích hợp là đất mùn trên núi đá hoặc đất giàu nhôm và ô xít sắt hình thành ở khu vực nhiệt đới nóng ẩm

Luồng là loài cây lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước vùng phía Nam và Đông Nam Á Ở các nước này người dân đã biết sử dụng Luồng từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm cho đời sống hàng ngày Ở Myanma và Thái Lan, Luồng được dùng để xây dựng nhà cửa và là một trong những loài triển vọng cho bột giấy Kennard và Freyre (1957) sau khi nghiên cứu 27 loài tre trúc trong 10 chi có măng ăn được đã coi Luồng là loài tốt nhất cho chế biến măng vì măng non nhẵn và dễ cầm Ở Trung Quốc, nó được dùng để làm đũa, dăm hoặc giấy Nhận thấy những giá trị mà cây Luồng đem lại, nhiều nhà khoa học đã thực hiện các nghiên cứu liên quan như: Chọn giống, gây trồng, khai thác, sử dụng, nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo muc đích sử dụng nhất định

Từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu về tre trúc nói chung và cây Luồng nói riêng Công trình nghiên cứu của I.J.Haig, M.A.Huberman, U.Aung.Dig với tên “Rừng tre nứa” được FAO (Food and Agriculture Organization) xuất bản năm 1959, công trình đã cung cấp một lượng lớn thông tin về tre nứa tuy nhiên công trình này chỉ công bố về các thuộc tính tự nhiên của chúng

Năm 1960 giáo sư Koichiro Ueda xuất bản cuốn “Sinh lý tre trúc” Theo giáo sư người Nhật Bản này thì trên thế giới có khoảng 1250 loài thuộc 47 giống họ Bambusaceae, trong đó Châu Á có 37 chi, Châu Mỹ có 10 chi, Châu phi có 10 chi Tác giả củng cho biết Đông Nam Á là vùng trung tâm phân bố của tre trúc Một trong những trung tâm nghiên cứu về tre trúc điển hình trên thế giới là trường đại học Kyoto Nhật Bản, các mẫu đưa vào nghiên cứu ở đây được thu thập từ khắp nơi trên lãnh thổ Nhật Bản Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đặc điểm sinh thái, sinh lý và cách thức nhân giống của các loài tre trúc Ngoài ra trung tâm còn có những công trình nghiên cứu vượt qua lãnh thổ quốc gia, điển hình là tiến sĩ Koichiro, ông đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái các loài tre trúc ở Ấn Độ và các vùng lân cận, công trình nghiên cứu của tiến sĩ Kyamashta, Yinamori về mặt di truyền tế bào học của tre trúc Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học Munro (1868) có công trình “Nghiên cứu về Bambusaceae” được coi là công trình nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó đã khái quát được một cách tổng quát về họ phụ tre trúc Năm 1994, tổ chức

PROSEA (Plant Resourcer of South - East Asia) đưa ra công trình nghiên cứu

“Tre nứa khu vực Đông Nam Á” tại Indonesia Trong công trình nghiên cứu tác giả đã đặt ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng các loài tre nứa trong khu vực và một số loài của Việt Nam Tuy nhiên, công trình vẫn chưa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực cũng như ở Việt Nam Công trình “Các loài tre trúc” của Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianma, Malayxia và Indonexia Công trình

“Bamboo rediscovered” của Victor Cusack (1997) đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Dr.Dn.Tewari (1997) về phân bố và cách nhận biết các loài tre trúc, tác giả đã chỉ ra được giá trị sử dụng hiện tại, chiến lược và dự kiến các chương trình nghiên cứu, đưa ra đánh giá tài nguyên tre trúc cho từng nước về số lượng loài và tiềm năng phát triển Một số tác giả nghiên cứu về tác động của chính sách và bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xã hội từ Luồng

1.1.2 Nghiên cư ́ u về sinh khối và tích tụ carbon của rừng

Các nghiên cứu về tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm và khả năng hấp thụ carbon của rừng cho ta thấy được những ảnh hưởng của cây rừ ng đến phát thải khí nhà kính

- Canell, M.G.R (1982) đã công bố công trình "Sinh khối và năng suất sơ cấp rừng thế giới - World forest biomass and primary production data" trong đó tập hợp 600 công trình đã được xuất bản về sinh khối khô thân, cành, lá và một số thành phần, sản phẩm sơ cấp của hơn 1.200 lâm phần thuộc 46 nước trên thế giới

- Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng carbon tích luỹ của rừng được thực hiện bởi Mc Kenzie (2001) Theo Mc

Kenzie carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập trung ở bốn bộ phận chính: thảm thực vật còn sống trên mặt đất, vật rơi rụng, rễ cây và đất rừng Việc xác định lượng carbon trong rừng thường được thực hiện thông qua xác định sinh khối rừng Tuỳ thuộc vào yêu cầu chi tiết của việc kiểm kê hay dự án thương mại carbon mà việc lựa chọn các bể chứa carbon được đề xuất Các bể chứa carbon chủ yếu trong rừng gồm: trong sinh khối cây rừng (trên mặt đất và dưới mặt đất); trong sinh khối cây bụi thảm tươi (trên mặt đất và dưới mặt đất); trong sinh khối thảm mục và cây chết và trong đất

Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đến nghiên cứu sự khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái Tuy nhiên, việc xác định đầy đủ sinh khối rừng không dễ dàng, đặc biệt là sinh khối của hệ rễ, trong đất rừng, nên việc làm sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn liệu mang tính thực tiễn và có sức thuyết phục cao Nghiên cứu lượng carbon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy, Romain Pirard (2005) đã tính lượng carbon lưu trữ dựa trên tổng sinh khối tươi trên mặt đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy tổng sinh khối tươi nhân với hệ số 0,49 sau đó nhân sinh khối khô với hệ số 0,5 để xác định lượng carbon lưu trữ trong cây

Dựa trên nghiên cứu về sinh khối rừng, các tính toán về trữ lượng carbon trong sinh khối được tiến hành Việc nghiên cứu trữ lượng carbon trong sinh khối thường được tiến hành bằng cách rút mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm

Có thể nói nghiên cứu về sinh khối và trữ lượng carbon của rừng rất phong phú và đa dạng Để hỗ trợ các nước thực hiện kiểm kê khí nhà kinh IPCC đã tiến hành tổng hợp và đưa ra các số liệu về sinh khối và trữ lượng carbon cho một số loại rừng

1.1.3 Nghiên cứu về hàm lượng carbon trong sinh khối khô

Phân tích hàm lượng carbon được thực hiện theo phương pháp ô xy hóa ướt (Wakley Black 1934) hoặc phương pháp đốt cháy

Phương pháp xác định Carbon bằng máy Multi N/C 3000: Máy Multi N/C 3000 có buồng đốt với nhiệt độ tối đa lên đến 1500 0 C Nguyên lý hoạt động của nó là thông qua chất xúc tác (CeO2)và ôxy phân giải mẫu (thân, cành, lá, rễ ) ở thể khí thành CO2 sau đó thông qua buồng phân tích Carbon (NDIR) rồi hiển thị trị số nồng độ Carbon qua phần mềm Mutilwin cài đặt trên máy tính Mẫu sau khi sấy khô rồi nghiền thành bột, dùng cân điện tử có độ chính xác cao cân 50mg mẫu để vào khay xứ nhỏ (1cm x 5cm x 1cm), rải một lớp bột thạch anh lên bề mặt mẫu rồi cho vào lò đốt, khí đốt chạy vào buồng phân giải CO2 sau đó qua buồng phân tích Carbon (và hiển thị kết quả (ug/ml hoặc mg/l) thông qua phần mềm Mutilwin 3.04 được cài đặt trên máy tính.

Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cư ́ u về cây Luồng

Luồng được gây trồng rộng rãi và là loài cây có giá trị kinh tế cao Thân Luồng dùng trong xây dựng nhà cửa, làm bàn ghế, giường, máng nước, đồ gia dụng hoặc làm nguyên liệu giấy Măng Luồng rất ngon, dùng ăn tươi hoặc phơi khô, đây là nguồn thực phẩm cung cấp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu Trước đây, Luồng chỉ được trồng ở Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hòa Bình nhưng hiện nay hầu hết các tỉnh phía Bắc đều trồng Luồng thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, đất sâu, tốt, đủ ẩm, thoát nước Khu vực Ngọc Lặc, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa có lẽ là vùng Luồng sinh trưởng tốt nhất (Ngô Quang Đê, Lê Xuân Trường, 2003) Ở Việt Nam những nghiên cứu về Luồng được bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 60 Nghiên cứu của Phạm Văn Tích (năm 1963) về “Kinh nghiệm trồng Luồng” đã tổng kết được những kinh nghiệm trong nhân dân về trồng Luồng, những hiểu biết về Luồng mà nhân dân các vùng có Luồng đã tích lũy được, có thể coi đây là tài liệu bắt đầu, là cơ sở về nghiên cứu Luồng Năm 1964 Nguyễn Ngọc Bình mở đường cho nghiên cứu về đất trồng Luồng qua công trình “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng” Tiếp theo là nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Anh (năm 1967) “Bước đầu nghiên cứu về đặc điểm đất trồng Luồng ở Cầu Hai - Phú Thọ” Năm 1972 Phạm Bá Minh “Nghiên cứu nhân giống cây Luồng bằng phương pháp ươm cành trong bầu dinh dưỡng” Công trình nghiên cứu tổng hợp có nhiều nội dung khoa học đã được thực hiện 5 năm liên tục từ năm 1976 - 1980 là đề tài nghiên cứu

“Kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng Luồng tập trung có năng suất cao, chất lượng tốt và bền vững” do Trần Nguyên Giảng, chủ nhiệm bộ môn Lâm học, Viện khoa học Lâm nghiệp chủ trì, đã được tổng kết và công bố vào năm

1981 Từ năm 1986-1990, Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Lâm sinh Cầu Hai (Viện KHLN Việt Nam) thực hiện đề tài “Nghiên cứu di thực cây Luồng Thanh Hóa ra vùng trung tâm” do kỹ sư Lê Quang Liên phụ trách, trong kết quả của đề tài, đáng quan tâm là kỹ thuật tạo giống Luồng bằng hom cành Nghiên cứu của Nguyễn Trường Thành (2002) Lê Xuân Trường (2002,

2009) cũng chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt, có chất lượng sản phẩm cao hơn nếu trồng hỗn giao với cây thân gỗ với độ tàn che thích hợp Luồng được thâm canh sẽ cho năng suất và chất lượng cao hơn hẳn so với các phương thức canh tác khác Việc bón phân trong thời gian ngắn chưa cho thấy sự khác biệt rõ rệt về sinh trưởng của Luồng (Lê Xuân Trường, 2009)

Nghiên cứu của Phạm Thị Quyên (2003) "Ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng rừng Luồng tại trạm Lâm nghiệp – Ngọc Lặc – Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất biện pháp thâm canh rừng Luồng", nghiên cứu đã cho thấy địa hình và công thức bón phân ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của rừng Luồng

Nguyễn Đức Hạnh (2005) trong đề tài tốt nghiệp, đã nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện hoàn cảnh đến sinh trưởng và phát triển của rừng Luồng thuần loài tại lâm trường Đoan Hùng, Phú Thọ Kết quả đã cho thấy ở vị trí chân đồi cây Luồng sinh trưởng tốt hơn sườn đồi và đỉnh đồi

Một số tác giả đã nghiên cứu lập biểu cấp đất cho rừng trồng Luồng như ở khu vực Lương Sơn, Hòa Bình (Đỗ Như Chiến, 2000), hay ở Lang Chánh, Thanh Hóa (Cao Danh Thịnh, 2009) Kết quả cho thấy rằng có thể dùng một số phân bố lý thuyết để mô tả tương quan của một số đại lượng sinh trưởng của lâm phần Luồng, từ đó có thể xây dựng được biểu tra thể tích cho Luồng cho các cấp đất khác nhau

1.2.2 Nghiên cứu về sinh khối và tích tụ carbon của rừng

So với những vấn đề nghiên cứu khác trong lĩnh vực lâm nghiệp, nghiên cứu về sinh khối rừng ở nước ta được tiến hành khá muộn (cuối thập kỷ 80), tản mạn và không có hệ thống Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu bước đầu đã đem lại những thành tựu quan trọng và có ý nghĩa trong việc áp dụng các phương pháp xác định sinh khối của các dạng rừng hiện nay

- Nguyễn Hoàng Trí (1986): với công trình “Sinh khối và năng suất rừng Đước” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng Đước đôi (Zhizophora apiculata) rừng ngập mặn ven biển Minh Hải là đóng góp có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển nước ta Hà Văn Tuế (1994) cũng trên cơ sở phương pháp “cây mẫu” của Newboul, P.J (1967) nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phúc

- Công trình “Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng suất rừng Thông ba lá (Pinus keysia Royle ex Gordon) vùng Đà Lạt - Lâm Đồng” của Lê Hồng Phúc (1996) đã tìm ra quy luật tăng trưởng sinh khối, cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây Tỷ lệ sinh khối tươi, khô của các bộ phận thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng sinh khối cá thể và quần thể rừng Thông

- Đỗ Như Chiến (2000) với công trình “Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và sinh khối rừng Luồng (Dendrocalamus membranaceus Munro) tại Lương Sơn, Hòa Bình” đã xây dựng một số biểu chuyên dụng phục vụ công tác điều tra và kinh doanh rừng Luồng Tác giả cũng kết luận rằng tổng lượng sinh khối của thân cây có mối quan hệ chặt chẽ với các nhân tố điều tra (D, H)

- Vũ Tấn Phương (2006) khi nghiên cứu về sinh khối cây bụi thảm tươi tại Đà Bắc - Hòa Bình; Hà Trung, Thạch Thành, Ngọc Lặc - Thanh Hóa cho kết quả về lượng sinh khối tươi biến động rất khác nhau giữa các loại thảm tươi cây bụi: Lau lách có sinh khối tươi cao nhất, khoảng 104 tấn/ha, tiếp đến là trảng cây bụi cao 2m-3m có sinh khối tươi đạt khoảng 61 tấn/ha Các loại cỏ như cỏ lá tre, cỏ tranh và cỏ chỉ (hoặc cỏ lông lợn) có sinh khối biến động khoảng 22- 31 tấn/ha Về sinh khối khô: Lau lách có sinh khối khô cao nhất,

40 tấn/ha; cây bụi cao 2-3 m là 27 tấn/ha; cây bụi cao dưới 2 m và tế guột là

20 tấn/ha; cỏ lá tre 13 tấn/ha; cỏ tranh 10 tấn/ha; cỏ chỉ 8 tấn/ha

- Đối với rừng tự nhiên: Nghiên cứu của Bảo Huy (2009) sử dụng phương pháp chặt hạ để đo đếm sinh khối và thiết lập mô hình toán cho ước tính sinh khối và trữ lượng carbon của rừng lá rộng thường xanh theo các trạng thái: non, nghèo, trung bình và giàu ở Tây Nguyên Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác lập các mô hình tính toán sinh khối và trữ lượng carbon phần trên mặt đất Các bể chứa carbon khác như trong đất, thảm mục và cây chết, tầng thảm tươi cây bụi không được đề cập trong nghiên cứu

“Nghiên cứu khả năng hấp thụ các bon của rừng tự nhiên lá rộng thường xanh, bán thường xanh và rụng lá ở Tây Nguyên”(2012) của GS Võ Đại Hải đã thu được những kết quả về sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng ở Tây Nguyên Từ đó đã đề xuất được phương pháp xây dựng hướng dẫn cách xác đi ̣nh và xây dựng phần mềm xác định lươ ̣ng carbon tích lũy của rừng tự nhiên lá rô ̣ng thường xanh, bán thường xanh và ru ̣ng lá ở Tây Nguyên Đối với rừng ngập mặn: Một số nghiên cứu về sinh khối và trữ lượng carbon cũng đã bước đầu được thực hiện cho một số loài cây như Mắm trắng,

Dà quánh, Đước đôi, Dà vôi, Cóc trắng

- Với thảm tươi và cây bụi: Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu sinh thái và môi trường rừng và cơ quan tư vấn lâm nghiệp quốc tế Nhật Bản (JOFCA) đã tiến hành xác định sinh khối thảm tươi cây bụi cho nhằm xây dựng đường carbon cơ sở cho các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch Nghiên cứu thực hiện tại Thanh Hóa và Hòa Bình và xác định sinh khối cho 5 loại thảm tươi cây bụi: cây bụi cao trên 2 m, cây bụi cao dưới 2 m, cỏ chỉ, cỏ lá tre, cỏ tranh, lau lách và tế guột Ngoài ra, nghiên cứu xác định đường carbon cơ sở phục vụ cho dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch tại Cao Phong – Hòa Bình, Phạm Xuân Hoàn và cộng sự (2008) đã tiến hành điều tra xác định sinh khối tươi trên mặt đất (thân, cành, lá, thảm tươi, thảm mục) cho 30 ô dạng bản (diện tích 4m 2 ) trên mỗi trạng thái Kết quả nghiên cứu cho thấy trữ lượng carbon tích luỹ trong 1ha tương ứng của trạng thái cây bụi và lau lách là 4,845 và 9,245 tấn/ha Trong đó, 54,90% (ở trạng thái cây bụi) và 57,43% (ở trạng thái lau lách) được tích luỹ trong các bể chứa sinh khối trên bề mặt đất Nghiên cứu cũng dự đoán lượng carbon có thể tích luỹ được của hai loài Keo lá tràm và Keo tai tượng nếu được lựa chọn để trồng trên đất cây bụi và đất lau lách Sau chu kỳ kinh doanh 15 năm, rừng trồng của 2 loài cây này dự tính sẽ tích luỹ được 75 và 88,2 tấn C/ha

Nhận xét chung

Qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới đề tài nghiên cứu cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về sinh khối và khả năng tích lũy carbon của cây rừng tự nhiên, rừng trồng, và cũng đã có những nghiên cứu về khả năng tích lũy carbon của rừng Luồng Tuy nhiên khi nghiên cứu về khả năng tích lũy carbon vẫn dùng hệ số chung của cây thân gỗ mà chưa có nghiên cứu nào về hệ số carbon/sinh khối khô của cây Luồng

Vì vậy việc thực hiện, đề tài này sẽ đóng góp những kết quả đáng kể, góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết về sinh khối của loài cây Luồng, qua đó có thể xác định được khả năng hấp thụ carbonic trong từng bộ phận của cây Luồng chính xác hơn, giúp cho việc tính toán tín chỉ carbon đạt độ tin cậy cao, sát với thực tế và có độ chính xác hơn.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định được hàm lượng carbon có trong sinh khối khô các bộ phận của cây Luồng nhằm góp phần hoàn thiện phương pháp xác định trữ lượng carbon tích lũy của rừng Luồng.

Mục tiêu cụ thể

- Xác định được hàm lượng carbon trong từng bộ phận của cây cá lẻ

Luồng ở các tuổi khác nhau (tuổi 1, 2, 3 và tuổi 4 trở lên)

- Xác định được trữ lượng carbon trong 1 hecta rừng Luồng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là hàm lượng (tỷ lệ) carbon tích lũy trong các mẫu sinh khối thuộc các bộ phận (thân khí sinh, cành, lá, rễ, thân ngầm) của cây Luồng

- Phạm vi nghiên cứu: Các mẫu sinh khối được thu thập trên cây Luồng tại thời điểm năm 2015 thuộc 2 khu vực:

+ Rừng trồng tại Lâm trường Lương Sơn, thuộc Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình

+ Rừng trồng tại Công ty Lâm nghiệp Lang Chánh, Thanh Hóa

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu tình hình sinh trưởng của Luồng tại khu vực nghiên cứu 2.3.2 Nghiên cứu cấu trúc sinh khối cây Luồng

2.3.3 Xác định hàm lượng carbon trong các bộ phận cây Luồng

2.3.4 Ước tính trữ lượng carbon trong rừng Luồng

Phương pháp nghiên cứu

- Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu, tài liệu thứ cấp

- Thu thập số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu

- Các tài liệu liên quan đến phương pháp xác định sinh khối, lượng tích lũy carbon

+ Sổ ghi chép và bảng biểu

Sinh trưởng và phát triển là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng, có ảnh hưởng tới mục tiêu kinh doanh Rừng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật đó được chi phối bởi đặc điểm di truyền và điều kiện tự nhiên

Việc điều tra sinh trưởng tại hai khu vực nghiên cứu được tiến hành trên các ô tiêu chuẩn (OTC) Tại mỗi khu vực thực hiện, tiến hành sơ thám để lựa chọn vị trí lập OTC Lập 3 OTC điển hình tạm thời, mỗi ô có diện tích 1000m 2 , (25m x 40m) cho 3 dạng lập địa tốt, trung bình và xấu

+ Đo đường kính D1.3 của cây Luồng: Dùng thước kẹp kính hoặc thước dây có độ chính xác đến mm

+ Đo đường kính bụi Luồng (D1.3 bụi): Dùng thước dây vòng quanh bụi đúng vị trí 1,3m đo được chu vi của bụi (C1.3 bụi) sau đó tính D1.3 bụi như sau:

+ Đo chiều cao vút ngọn của cây Luồng (Hvn): Dùng thước Bume Leiss để xác đinh chiều cao vút ngọn tới điểm cong của cây Luồng

Phân cấp tuổi của Luồng căn cứ theo tài liệu “ nghiên cứu tre trúc” và qua thu thập số liệu Tuổi của Luồng được xác định dựa vào màu sắc của thân khí sinh và lá

Cây tuổi 1: Thân non màu xanh nhạt, bóng, có ít phấn trắng, các đốt có vòng lông trắng mịn, chưa phân cành, rễ khí sinh tại các đốt gốc màu vàng nhạt

Cây tuổi 2: Thân màu xanh nhạt, có phấn phớt trắng, phân cành thứ cấp, rễ khí sinh có màu vàng hơi nâu Bên ngoài thân thường xuất hiện các đốm trắng cộng sinh, thân khí sinh có màu xanh hơi vàng

Cây tuổi 3: Thân cây chắc, có màu xanh sẫm, không còn lớp phấn trắng Cây tuổi 4 trở lên: Thân chắc, vỏ có nhiều rêu xanh, mốc trắng, thân vàng bóng

+ Điều tra chất lượng Luồng Đánh giá chất lượng các cây trong lâm phần theo 3 cấp:

Cây sinh trưởng tốt (A): Là cây sinh trưởng khỏe mạnh, không bị sâu bệnh, không cong queo, không cụt ngọn

Cây sinh trưởng trung bình (B): Là cây có hình thái trung gian, sinh trưởng trung bình

Cây sinh trưởng xấu (C): Là cây cong queo, sâu bệnh cụt ngọn

Việc đánh giá tình hình sinh trưởng và sinh khối của rừng Luồng giúp xác định được lượng các carbon tích lũy trong rừng Luồng bằng phương trình xác định sinh khối cây Luồng của Cao Danh Thịnh (2009)

Số liệu được ghi theo mẫu biểu dưới đây:

Biểu điều tra rừng Luồng

STT OTC: Vị trí: Độ dốc: Hướng phơi:

Người điều tra: Ngày điều tra:

Năm trồng: Đường kính bụi trung bình:

… Để xác định được lượng carbon tích lũy trong lâm phần Luồng ta cần xác định được sinh khối của lâm phần Luồng thông qua xác định sinh khối cây tiêu chuẩn:

Trên các ô tiêu chuẩn điển hình, tiến hành thu thập mẫu sinh khối của Luồng Lựa chọn cây trung bình cho từng tuổi 1, 2, 3 và 4 Điều tra các cây trong OTC rồi xác định cây trung bình, việc chọn cây mẫu là hết sức quan trọng vì cây mẫu được lấy mang tính chất điển hình đại diện cho lâm phần về các chỉ tiêu sinh trưởng và nó quyết định tới tính khả thi của công tác nghiên cứu Chọn cây mẫu phải là những cây sinh trưởng đồng đều, các chỉ tiêu sinh trưởng xấp xỉ các chỉ tiêu sinh trưởng của lâm phần, không sâu bệnh

Mỗi tuổi chọn một cây điển hình trên 1 ô tiêu chuẩn , tổng số 3 cây cho mỗi tuổi, 12 cây cho toàn khu vực

Tiến hành chặt hạ các cây tiêu chuẩn đã lựa chọn, điều tra sinh khối ở từng bộ phận khác nhau của cây (thân khí sinh, cành, lá, thân ngầm, rễ) Sử dụng phương pháp chặt hạ và cân để xác định sinh khối tươi cho từng bộ phận, sau đó thu thập mẫu vật để xác định tỷ lệ sinh khối khô/sinh khối tươi và phân tích hàm lượng carbon Kết quả thu được ghi vào mẫu biểu điều tra sinh khối dưới đây:

Biểu điều tra sinh khối tươi của các bộ phận cây Luồng

Khối lượng sinh khối tươi (kg)

Thân khí sinh Cành Lá Thân ngầm Rễ

- Cách lấy mẫu sinh khối tươi: Để đảm bảo lượng mẫu đủ cho quá trình phân tích mỗi mẫu thân khí sinh, thân ngầm, cành, cân lấy khoảng 0,5 kg

Mẫu lá và rễ lấy khoảng 0,3kg - 0,5kg Mẫu sau khi được lấy bảo quản trong các túi nilon buộc kín để tránh mất nước và phải được ghi nhãn cẩn thận

Mẫu thân khí sinh được lấy theo phương pháp chẻ dọc thân từ gốc đến ngọn Chú ý vị trí chặt cây phải chặt càng sát mặt đất càng tốt

Thân ngầm của các cây trung bình được đào, cắt sát gốc cây mẹ và cắt bỏ gốc các cây con và măng (chỉ lấy phần gốc của cây trung bình), loại bỏ sạch đất, cân tổng sinh khối tươi Lấy mẫu về phân tích sinh khối khô

Do hệ rễ của Luồng là rễ chùm, ăn rộng nên không thể đào toàn bộ hệ rễ của cây tiêu chuẩn Do vậy để xác định lượng rễ tươi cần tiến hành bố trí bốn ô dạng bản 0,5m x 0,5m trên đường thẳng xuyên tâm theo hướng vuông góc và song song với đường đồng mức bụi trung bình tại trung điểm của các đoạn thẳng nối tâm với điểm ngoài cùng có rễ Luồng phân bố Điểm ngoài cùng được xác định bằng phương pháp đào thăm dò Tiến hành đào sâu đến 30cm, thu thập toàn bộ rễ Luồng để cân Kết quả ghi vào mẫu biểu điều tra Sau đó lấy khoảng 0,5 kg rễ làm mẫu phân tích xác định sinh khối khô

Biểu điều tra sinh khối rễ Luồng

STT OTC: Người điều tra: Ngày điều tra:

Khoảng cách từ tâm bụi đến điểm ngoài cùng xa nhất R (m) Ghi chú

Các mẫu sinh khối tươi sau khi lấy được ngoài hiện trường về sẽ được đem sấy trong lò sấy với nhiệt độ khoảng 105 0 C và định kỳ đem ra cân, tới khi trọng lượng giữa lần cân trước và cân sau không đổi

Sau đó dùng cân điện tử có độ chính xác đến 0,1% để xác định sinh khối khô cho từng bộ phận của cây Luồng (lá, thân khí sinh, cành, thân ngầm, rễ) Kết quả được ghi vào biểu mẫu sinh khối khô của các bộ phận cây Luồng Sau đó các mẫu sinh khối đã được sấy khô này tiếp tục được gói kín trong các túi nilon và được chuyển đến phân tích trong phòng thí nghiệm Đất và Môi trường của Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng

Biểu khối lượng sinh khối khô của các bộ phận cây Luồng

Khối lượng sinh khối khô (kg)

Thân khí sinh Cành Lá Thân ngầm Rễ

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại Lang Chánh, Thanh Hóa

Lang Chánh là huyện miền núi cao nằm ở phía Tây -Tây bắc của tỉnh Thanh Hóa, có diện tích tự nhiên là 58.659,18 ha chiếm 5,3% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh Tọa độ địa lý, từ 20°09′18″ Bắc đến 105°14′26″ Đông

+ Phía Bắc giáp huyện Bá Thước, Quan Sơn

+ Phía Nam giáp huyện Thường Xuân

+ Phía Đông giáp huyện Ngọc Lặc

+ Phía Tây giáp huyện Quan Sơn và Piềng Xây Sầm Tớ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào

Huyện Lang Chánh gồm Thị trấn Lang Chánh và 10 xã, trong đó có 4 xã vùng núi cao, Thị trấn Lang Chánh nằm cách thành Phố Thanh Hoá 100

Km về phía Tây bắc Quốc lộ 15A là con đường tạo mối liên hệ giữa huyện với các huyện khác

Lang Chánh có địa hình đa dạng và phức tạp với độ cao tăng dần từ 400m - 500m ở phía Đông lên 700m - 900m ở phía Tây Đỉnh cao nhất là núi

Pù Rinh 1.291m, địa hình thấp dần từ phía Tây Bắc huyện Lang Chánh với độ dốc trung bình từ 20 -30 0 , có nơi tới 40 – 50 0 Theo số liệu nghiên cứu, đo đạc thực tế trong nhiều năm qua của cơ quan chức năng huyện Lang Chánh có một số đặc điểm địa hình như sau:

- Địa hình đồi núi thấp, chia cắt khá phức tạp

- Do sự chia cắt phức tạp mà ở đây không có cao nguyên và sơn nguyên

- Các dãy núi đều nghiêng dốc và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

- Trên địa bàn Lang Chánh có các dãy núi chính sau: Dãy núi phía Bắc sông Âm, dãy núi trung tâm, dãy núi phía Nam

Nhìn chung địa hình bị chia cắt bởi sông suối, địa thế thấp dần từ Tây sang Đông Đặc điểm địa hình, địa thế gây không ít trở ngại cho sự phát triển kinh tế, xã hội đặc biệt trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng phát triển ngành công nghiệp Nhưng vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh theo hướng tập trung lâu dài và liên tục (Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa, 2009)

Huyện Lang Chánh có tổng diện tích đất tự nhiên là: 58.659,18 ha, đất ở đây có 3 nhóm đá mẹ chính là cơ sở để hình thành lớp vỏ phong hóa và cùng với các nhân tố tự nhiên khác (khí hậu, sinh vật, thủy văn, địa hình…) để hình thành các loại đất khác nhau

Nhóm đá Macma: Gồm đá Gabro, Granit, Foocphirit,…phân bố ở các xã Trí Nang, Tam Văn, Giao An, Giao Thiện, Yên Khương và Đồng Lương

Nhóm đá trầm tích: đá vôi, Sa thạch, Phiến thạch, Sét,…phân bố ở khu vực các xã Giao Thiện, Giao An, Yên Khương, Yên Thắng, Tân Phúc, Đồng Lương

Nhóm đá biến chất gồm: Gnai, Phiến thach mica, phân bố ở xã Lâm Phú Nhờ sự tác động tổng hợp của các nhân tố: Đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật và cả sự tác động của con người mà Lang Chánh có nhiều loại đất khác nhau Theo nghiên cứu của Viện nông hóa thổ nhưỡng và Sở tài nguyên môi trường Thanh Hóa (2014) thì huyện Lang Chánh có 11 loại đất khác nhau và được phân thành ba nhóm: nhóm đất phù sa ven sông suốt, nhóm đất Feralit đồi núi và nhóm đất mùn trên núi

3.2.1.4 Khí hậu và thủy văn

Huyện Lang Chánh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhìn chung khí hậu ở đây không quá nóng, mưa nhiều, nhiều sương mù (bình quân mỗi năm có tới 70 - 80 ngày sương mù), mùa đông lạnh và tương đối khô, biên độ nhiệt tương đối lớn

Khí hậu có sự khác nhau giữa phía đông và phía tây, phía đông có tổng nhiệt độ năm là 7.500 o C -8.000 o C, lượng mưa trung bình năm là 2.200mm (có nơi 2.500mm); mùa mưa kéo dài 6 - 7 tháng, bắt đầu từ giữa tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 10 Hàng năm nơi đây còn ảnh hưởng bởi gió Tây – Nam (gió Lào) khô nóng thổi từ tháng 4 đến tháng 7 có từ 20 – 25 ngày có gió tây khô nóng, nhiệt độ có thể lên trên 40 o C gây ảnh hưởng lớn tới mùa màng do lượng bốc hơi mạnh, đất giữ nước kém ảnh hưởng xấu tới nông nghiệp

Hệ thống sông suối của huyện khá đa dạng, với ba con sông lớn là: Sông Cảy, sông Sạo, sông Âm Ngoài ra, huyện còn có thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy Lang chánh rất có tiềm năng phát triển thuỷ điện và du lịch sinh thái

Huyện Lang Chánh hiện có 11.632,6 ha rừng tự nhiên và 9.732,7 ha rừng trồng Rừng tự nhiên phân bố chủ yếu ở phía tây (Các xã Lâm Phú, Yên Thắng, Yên Khương, Trí Nang) cây lâm nghiệp nổi tiếng của Lang Chánh là cây Luồng, với diện tích hơn 10.000 ha Luồng Lang Chánh dài, thẳng và ít mọt, được vùng đồng bằng Thanh Hoá và các tỉnh Bắc bộ ưa chuộng Các sản phẩm chủ yếu của lâm nghiệp ở huyện là gỗ tròn, gỗ nguyên liệu, củi, Luồng, Tre, Nứa, Măng, Mộc nhĩ, Nấm hương Rừng Lang Chánh có nhiều loại gỗ quý như Lim, Lát hoa, Pơ mu, Dỗi, Vàng Tâm, Luồng,

3.2.2 Điều kiện dân sinh kinh tế xã hội

Tính đến năm 2014 toàn huyện có 11.150 hộ với 47.485 nhân khẩu, mật độ khoảng 81 người/km 2 bao gồm một số nhóm dân tộc chủ yếu sinh sống trên địa bàn như: Dân tộc Thái chiếm khoảng khoảng 53% dân số toàn huyện; Dân tộc Kinh chiếm khoảng 13%; Dân tộc Mường chiếm khoảng 33% và các dân tộc khác chiếm 1% Toàn huyện có hơn 25.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 51,7% tổng dân số Tuy nhiên tŕnh độ lao động chưa cao và chủ yếu là lao động về nông lâm nghiệp

Trong những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã từng bước phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao Trong năm 2014 tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 14,3%, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện đạt 1.854 tỷ đồng Thu nhập bình quân trên đầu người năm 2014 ước tính khoảng 13,5 triệu đồng/người/năm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tình hình sinh trưởng của Luồng tại khu vực nghiên cứu

Sinh trưởng và phát triển là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng, có ảnh hưởng tới mục tiêu kinh doanh Rừng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật đó được chi phối bởi đặc điểm di truyền và điều kiện hoàn cảnh sống Ngoài ra sinh trưởng và phát triển của rừng trồng Luồng còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp quản lý, và phương thức canh tác của người trồng rừng (phương pháp tác động)

Hình 4.1: Rừng trồng Luồng thuần loài

4.1.1 Sinh trưởng đường kính D1.3 và chiều cao Hvn của Luồng

Luồng thuộc họ tre trúc, là loài cây có sinh trưởng nhanh, sinh trưởng đường kính chủ yếu ở giai đoạn măng Chiều cao của cây tỷ lệ thuận với sinh khối của cây, cây càng cao sinh khối càng lớn Chiều cao của Luồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Điều kiện lập địa, kỹ thuật trồng, chăm sóc và bảo vệ

Hình 4.2: Xác định tuổi và đo sinh trưởng cây Luồng

Sau khi thu thập số liệu và xử lý số liệu ta thu được bảng kết quả 4.1:

Từ bảng kết quả 4.1 cho thấy sinh trưởng đường kính và chiều cao của Luồng tại hai khu vực nghiên cứu có sự chênh lệch khá lớn Tại Lương Sơn,

Hòa Bình đường kính ngang ngực trung bình đạt 5,80cm, chiều cao trung bình là 9,08 m Tương ứng với đó, ở Lang Chánh là 7,66cm và 10,17m Sự chênh lệch này có thể do sự tác động các biện pháp kỹ thuật lâm sinh khác nhau trong quá trình chăm sóc rừng Luồng ở từng nơi

Bảng 4.1: Sinh trưởng D1.3 và Hvn của rừng Luồng

LANG CHÁNH, THANH HÓA D1.3 (cm) Hvn (m) D1.3 (cm) Hvn (m)

Tại Hòa Bình trong 3 OTC có OTC 2, tuổi 1 có đường kính trung bình lớn nhất với 5,99cm; OTC 3, tuổi 4 có đường kính trung bình nhỏ nhất là 5,43cm và chiều cao trung bình thấp nhất là 8,25m

Tại Thanh Hóa đường kính trung bình lớn nhất và chiều cao trung bình lớn nhất tại OTC 1, tuổi 4 tương ứng là 8,57cm và 11,93m; đường kính trung bình nhỏ nhất là 6,69cm; chiều cao trung bình thấp nhất tại OTC 2, tuổi

Luồng trồng trên các khu vực khác nhau thì sinh trưởng khác nhau ứng với từng cấp tuổi

Luồng trồng tại những nơi có độ dốc thấp thì sẽ sinh trưởng tốt hơn nơi có độ dốc cao Độ dốc càng cao thì xói mòn xảy ra càng mạnh làm xói mòn lượng đất bề mặt và hàm lượng mùn có trong đất từ đó làm giảm khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất, vì vậy trồng Luồng ở nơi có độ dốc cao thường sinh trưởng kém hơn ở nơi có độ dốc thấp Khi so sánh sinh trưởng của Luồng tại hai điểm nghiên cứu, ta thấy rằng Luồng trồng tại Thanh Hóa sinh trưởng tốt hơn ở Hòa Bình Nhưng nhìn chung Luồng tại hai khu vực nghiên cứu đều có sinh trưởng về đường kính và chiều cao còn thấp, nguyên nhân có thể do người dân chỉ tập trung chăm sóc và thu hoạch măng mà không có biện pháp chăm sóc thâm canh (bón phân, vun gốc ) nên cây sinh trưởng kém

4.1.2 Đánh giá chất lượng sinh trưởng của rừng Luồng

Chất lượng sinh trưởng của Luồng là một yếu tố phản ánh mức độ sinh trưởng của Luồng, sự thích nghi của Luồng đối với điều kiện lập địa nơi trồng rừng Đối với Luồng để đánh giá chất lượng sinh trưởng của một cây cần dựa vào các tiêu chí như đường kính, chiều cao (cây cụt ngọn hay không), cây bị sâu bệnh hay không, thân cong queo hay thẳng…

Sau khi điều tra thu thập số liệu về chất lượng sinh trưởng của rừng trồng thuần loài tại Lương Sơn - Hòa Bình và Lang Chánh - Thanh Hóa, ta có bảng kết quả 4.2 và 4.3:

Bảng 4.2: Chất lượng sinh trưởng rừng Luồng tại Lương Sơn, Hòa Bình

TỔNG Tốt Trung bình Xấu

Qua bảng 4.2 ta thấy rằng:

Tại điểm nghiên cứu Lương Sơn, Hòa Bình tỷ lệ cây có chất lượng sinh trưởng tốt chiếm nhiều nhất ở cả 3 OTC Tỷ lệ cây tốt cao nhất là ở OTC 2 với 124 cây chiếm 46,62% tổng số cây trong OTC Tỷ lệ cây tốt thấp nhất tại OTC 1 với 42,74% tổng số cây trong OTC Cũng tại OTC 1 số cây Luồng có chất lượng sinh trưởng xấu (C) chiếm tỷ lệ cao nhất trong các OTC với 16,53% Các cây xấu tại các OTC chủ yếu là do cụt ngọn và sâu bệnh phá hoại Số lượng cây Luồng có chất lượng sinh trưởng trung bình cao nhất là tại OTC 1 với 101 cây chiếm 40,72%

Sử dụng tiêu chuẩn χ 2 để so sánh chất lượng cây giữa các OTC ta thu được kết quả tính toán tiêu chuẩn χ 2 n = 1,44 < χ 2 05(k=4) = 9,49 Điều này chứng tỏ chất lượng của rừng trồng Luồng tại các vị trí của khu vực nghiên cứu không có sự khác nhau rõ rệt về chất lượng

Hình 4.3: Biểu đồ thể hiện phẩm chất Luồng của 3 OTC tại Lương Sơn, Hòa Bình

Bảng 4.3: Chất lượng sinh trưởng rừng Luồng tại Lang Chánh, Thanh Hóa

OTC TUỔI Tốt Trung bình Xấu TỔNG

Tại Lang Chánh, Thanh Hóa, trong 3 OTC, OTC 1 có số cây sinh trưởng tốt và cây sinh trưởng trung bình đạt cao nhất và số cây sinh trưởng xấu trong ô là thấp nhất (20%) Tỷ lệ cây xấu cao nhất là ở OTC 2 với 85 cây chiếm 37,44% tổng số cây trong OTC Tỷ lệ cây tốt thấp nhất tại OTC 3 với

27,91% tổng số cây trong OTC Các cây xấu tại các OTC chủ yếu là do cụt ngọn và sâu bệnh phá hoại

Sử dụng tiêu chuẩn χ 2 để so sánh chất lượng cây giữa các OTC ta thu được kết quả tính toán tiêu chuẩn χ 2 n = 17,21 > χ 2 05(k=4) = 9,49

Nhý vậy, chất lýợng Luồng trên 3 vị trí ðịa hình có sự khác nhau rõ rệt

Sự khác nhau về chất lượng của rừng Luồng giữa các OTC được thể hiện rõ hơn ở hình dưới đây:

Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện phẩm chất Luồng của 3 OTC tại Lang Chánh, Thanh Hóa

Nhận xét: Mặc dù Hòa Bình và Thanh Hóa được mệnh danh là đất Luồng nhưng chất lượng sinh trưởng của cây Luồng hiện nay lại không cao Nguyên nhân có thể do người dân quá tập trung vào thu hoạch măng, không chú trọng đến chăm sóc, bảo vệ và áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh vào rừng

4.2 Cấu trúc sinh khối cây Luồng

Sinh khối rừng chính là kết quả của quá trình sinh trưởng và phát triển của các cá thể cây riêng lẻ trong quần thể cây rừng, cây sinh trưởng nhanh thì sinh khối tạo ra càng lớn, hàm lượng CO2 hấp thụ, tích lũy được càng nhiều theo thời gian Dựa vào sinh khối của rừng và quá trình sinh trưởng mà nhiều nhà khoa học đã phân loại, quản lý và quy hoạch rừng Hiện nay, khi toàn cầu đang phải đối mặt với một vấn đề cấp bách đó là hiện tượng biến đổi khí hậu thì sinh khối của rừng lại là cơ sở chính để tính toán lượng carbon, hiệu quả và lợi ích về môi trường mà rừng đem lại

4.2.1 Cấu trúc sinh khối tươi cây Luồng (trừ rễ)

Sau quá trình điều tra lựa chọn cây mẫu cho từng tuổi ở các OTC, tiến hành chặt ngả và cân đo các bộ phận của cây Luồng (trừ rễ)

Hình 4.5: Thu hái sinh khối tươi các bộ phận của cây Luồng

Sinh khối tươi của cây Luồng tại hai khu vực nghiên cứu được tổng hợp trong bảng số liệu 4.4 và 4.5

Sinh khối tươi trung bình của cây Luồng (trừ rễ) tại Lang Chánh (22,68kg/cây) cao hơn so với tại Lương Sơn (19,95kg/cây) Tuy nhiên, mức sinh khối này vẫn thấp so với trung bình của cây Luồng do Luồng tại hai địa điểm nghiên cứu sinh trưởng kém, các giá trị đường kính, chiều cao đều nhỏ Thực tế quan sát tại hiện trường cho thấy rừng Luồng đang bước vào giai đoạn thoái hóa do không được chăm sóc đúng cách mà chỉ khai thác lấy sản phẩm

Xác định hàm lượng carbon trong các bộ phận cây Luồng

Các mẫu phân tích hàm lượng carbon được lựa chọn từ các mẫu phân tích sinh khối khô và gửi đi phân tích tại Phòng thí nghiệm Đất và môi trường của Viện nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng Kết quả phân tích được tổng hợp tại bảng 4.8:

Bảng 4.8: Hàm lượng carbon trong các bộ phận cây Luồng

Tỷ lệ Carbon (%) Thân khí sinh Cành Lá Thân ngầm Rễ

Từ bảng kết quả 4.8 ta thấy, mặc dù có sự chênh lệch về tỷ lệ carbon trong các bộ phận sinh khối của cây Luồng ở các tuổi khác nhau tuy nhiên chưa thể hiện quy luật rõ rệt

Trong 12 mẫu thân ngầm lấy ở 3 OTC với 4 cấp tuổi cho thấy hàm lượng carbon cao nhất ở tuổi 4 với tỷ lệ carbon trong sinh khối khô là 55,46%, thấp nhất là ở tuổi 1 với 50,39%, trung bình là 53,38 % cho cả 4 tuổi

Hàm lượng carbon đứng thứ 2 là ở thân khí sinh Kết quả phân tích và tính toán cho thấy hàm lượng carbon trong sinh khối khô của thân khí sinh cao nhất ở tuổi 2 với tỷ lệ C trong sinh khối khô là 54,2%, thấp nhất là ở tuổi

1 với 51,15%, trung bình là 52,99 % cho cả 4 tuổi

Hàm lượng carbon đứng thứ 3 là ở cành Hàm lượng carbon trong sinh khối khô của cành cao nhất ở tuổi 2 với tỷ lệ 53,11% carbon trong sinh khối khô, thấp nhất là ở tuổi 1 với 49,96%, trung bình là 51,47% cho cả 4 tuổi

Hàm lượng carbon trong lá là thấp nhất, trung bình là 42,26% cho cả 4 tuổi, cao nhất chỉ đạt 43,18% ở tuổi 4, thấp nhất là ở tuổi 3 với tỷ lệ 40,99% Hàm lượng carbon ở rễ được tính trên 03 mẫu với tỷ lệ carbon trong mẫu trung bình tương ứng là 45,90% trong sinh khối khô

Như vậy chúng ta thấy rừng có sự chênh lệch đáng kể về hàm lượng carbon trong sinh khối các bộ phận khác nhau của cây Luồng Khi tính toán lượng carbon lưu trữ trong rừng Luồng, nếu có được các số liệu điều tra sinh trưởng, sinh khối rừng Luồng và cấu trúc sinh khối cho các bộ phận của cây Luồng cũng như của rừng Luồng thì ta có thể xác định được trữ lượng carbon tích lũy trong rừng Luồng chính xác hơn, đảm bảo độ tin cậy, tránh được các sai số khi áp dụng công thức tính toán chung của cây thân gỗ như hiện nay

Hàm lượng carbon trong sinh khối khô của các bộ phận cây Luồng được minh họa bởi hình 4.10 dưới đây:

Hình 4.10: Hàm lượng Carbon trong sinh khối khô các bộ phận cây Luồng (%)

Tại điểm nghiên cứu Lang Chánh, Thanh Hóa, chúng tôi cũng tiến hành lấy mẫu thân ngầm để phân tích lượng carbon tích lũy Giữa các tuổi cây, hàm lượng carbon tích lũy trong thân ngầm cũng có sự khác nhau, tuy nhiên vẫn không theo quy luật nào Hàm lượng carbon cao nhất ở tuổi 2 với tỷ lệ carbon trong sinh khối khô là 54,48%, thấp nhất là ở tuổi 3 với 53,56%, trung bình là 53,91 % cho cả 4 tuổi

Kết quả được ghi trong bảng 4.9:

Thân KS Cành Lá Thân ngầm Rễ

Bảng 4.9: Hàm lượng carbon trong Thân ngầm của cây Luồng STT Tuổi Tỷ lệ C (%) trong thân ngầm

TB cho các tuổi 53,91 Đem so sánh kết quả phân tích hàm lượng carbon tích lũy trong sinh khối khô ở thân ngầm của Luồng ở Lương Sơn và Lang Chánh, ta có thể nhận thấy rằng lượng carbon tích lũy trong thân ngầm ở hai khu vực đều xấp xỉ nhau Ở Lang Chánh là 53,91%, ở Lương Sơn là 53,38%.

Ước tính trữ lượng carbon trong rừng Luồng

4.4.1 Kết quả tính toán lượng sinh khối khô của rừng Luồng

Lượng sinh khối khô của rừng Luồng tính riêng cho từng bộ phận được xác định thông qua cây tiêu chuẩn ở từng tuổi và số lượng cây trong 1 hecta

Sinh khối của rễ được xác định dựa vào lượng rễ thu được trên ODB sau đó quy đổi ra đơn vị 1ha

Bảng 4.10: Kết quả tính toán sinh khối khô của rừng Luồng theo từng bộ phận

Sinh khối khô các bộ phận cây Luồng Thân khí sinh (tấn/ha)

Từ kết quả tính toán trong bảng 4.10 ta thây rằng, trong rừng Luồng, khối lượng sinh khối khô lớn nhất là của thân khí sinh, điều này tỷ lệ thuận với chiều cao và đường kính của cây Khi cây Luồng sinh trưởng tốt sẽ cho lượng sinh khối khô lớn Sinh khối khô ở thân ngầm đứng thứ hai, tiếp đến là trong cành và lá Sinh khối khô của rễ có khối lượng thấp nhất (0,15 tấn/ha) Theo phương pháp tính toán hàm lượng carbon truyền thống từ trước tới nay vẫn sử dụng, sinh khối khô nhân với 0,5 thì bộ phận nào có sinh khối khô càng lớn thì lượng carbon tích lũy trong bộ phận đó càng cao Như vậy, ta có thể dự đoán rằng hàm lượng carbon tích lũy trong thân khí sinh lớn nhất sau đó là thân ngầm, cành, lá và cuối cùng là rễ cây

Sinh khối rừng Luồng là tổng sinh khối các bộ phận và sinh khối rễ của 1ha Để dễ dàng hơn cho việc xác định hàm lượng carbon tích lũy chung cho cả rừng Luồng ở các tuổi khác nhau và không cần phân ra các bộ phận, ta có bảng kết quả tính toán lượng sinh khối khô rừng Luồng được ghi trong bảng 4.11

Từ bảng kết quả 4.11 ta thấy tổng sinh khối khô của rừng Luồng (trừ rễ) cao nhất là ở OTC 01 với 20,03 tấn/ha, thấp nhất là ở OTC 03 với chỉ 11,80 tấn/ha Nếu tính cả rễ thì tổng sinh khối khô ở OTC 1 là 20,18 tấn/ha; ở OTC 2 là 18,45 tấn/ha và ở OTC 3 là 11,95 tấn/ha Lượng sinh khối này không cao nếu so với sinh khối rừng Luồng ở các khu vực khác đã được nghiên cứu và nhất là so với rừng cây thân gỗ Nguyên nhân do rừng Luồng tại khu vực nghiên cứu đang ở giai đoạn thoái hóa, ngưới dân không chú trọng khâu chăm sóc, phục hồi, bảo vệ chỉ tập trung vào khai thác nguồn lợi trước mắt như khai thác măng và thân cây Các hoạt động khai thác này đều không đảm bảo tính bền vững, chính vì vậy đã gây ảnh hưởng tới rừng Luồng

Bảng 4.11: Kết quả tính toán sinh khối khô của rừng Luồng

OTC Tuổi SKK trừ rễ/ha

Kết quả được minh họa bởi hình 4.11 dưới đây:

Hình 4.11: Sinh khối khô rừng Luồng tại khu vực nghiên cứu

Sinh khối khô rừng Luồng (tấn/ha)

4.4.2 Kết quả ước tính trữ lượng carbon tích lũy

- Ước tính trữ lượng carbon tích lũy theo hệ số quy chuẩn quốc tế

Sau khi tính toán, xử lý số liệu sinh khối khô bằng hệ số quy chuẩn quốc tế 0,5 ta thu được bảng số liệu sau:

Bảng 4.12: Tổng Carbon tích lũy tính theo 50% SKK (tấn/ha) OTC Tuổi

Tổng Carbon tích lũy trong rừng Luồng

Thân khí sinh (tấn/ha)

Việc xác định trữ lượng carbon trong rừng Luồng dựa vào hệ số quy ước 0,5 có độ chính xác chưa cao vì đây là hệ số chung được sử dụng khi tính toán cho cây gỗ

- Ước tính trữ lượng carbon tích lũy theo phân tích trong phòng thí nghiệm

Sau khi phân tích một số mẫu trong phòng thí nghiêm Đất và Môi trường của Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng, ta có phiếu kết quả phân tích carbon hữu cơ trong các bộ phận của cây Luồng ở các tuổi khác nhau Kết quả đó cho biết hệ số tỷ lệ hàm lượng carbon có trong từng bộ phận tương ứng của cây Luồng Vì hệ số có được từ kết quả phân tích cho từng bộ phận nên số liệu tính toán sẽ chính xác hơn rất nhiều so với dùng hệ số chung của quy ước

Bảng 4.13: Tổng Carbon tích lũy tính theo kết quả phân tích

Tổng carbon tích lũy trong rừng Luồng

Thân khí sinh (tấn/ha)

Từ kết quả tính toán hàm lượng carbon tích lũy trong các bộ phận khác nhau của cây Luồng cùng với cấu trúc sinh khối khô của các bộ phận cây Luồng ta tính được lượng carbon tích lũy trong từng cây Luồng và cho rừng

Luồng So sánh kết quả tính toán giữa hai phương pháp dựa vào hệ số quy ước (nhân sinh khối khô với hệ số 0,5) và dựa vào tỷ lệ carbon tích lũy trong từng bộ phận của cây Luồng qua phân tích, ta sẽ thấy có sự chênh lệch giữa hai phương pháp tính này Hàm lượng carbon tích lũy trong từng bộ phân của cây Luồng tính cho cả rừng Luồng được tính toán trong bảng 4.13 cao hơn trong bảng 4.12

Kết quả tính tổng lượng carbon trong rừng Luồng được ghi ở biểu 4.14 dưới đây

Bảng 4.14: Kết quả tính toán tổng lượng carbon tích lũy trong rừng Luồng

Tổng C (Theo kết quả phân tích) (tấn/ha)

Từ kết quả bảng trên cho thấy có sự sai khác trong kết quả tính toán lượng carbon tích lũy trong rừng Luồng Nếu áp dụng cách tính theo quy ước chung thì lượng các bon tích lũy trong rừng Luồng biến động từ 5,98 tấn/ha

(OTC 03) đến 10,09 tấn/ha (OTC 01) còn theo cách tính mới thì các giá trị này tương ứng sẽ là 6,14 tấn/ha (OTC 03) và 10,63 tấn/ha (OTC 01) Chênh lệch từ 0,16 tấn/ha đến 0,54tấn/ha, trung bình 0,37 tấn/ha; tương ứng với 4,19%

Việc dùng hệ số quy ước 0,5 cho tất cả các bộ phận và các loài cây sẽ có sai số lớn khi tính toán cho cả lâm phần Vì vậy, việc tính toán hàm lượng carbon tích lũy dựa vào tỷ lệ phần trăm carbon trong từng bộ phận của cây sẽ ý nghĩa hơn nếu như áp dụng cho một khu vực rộng lớn và tính thuyết phục các nhà đầu tư sẽ cao hơn do đây là đối tượng đặc biệt không phải là cây thân gỗ

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ

Kết luận

- Sinh trưởng của Luồng trồng thuần loài tại hai khu vực nghiên cứu có sự chênh lệch nhau về đường kính và chiều cao, Luồng trồng tại Thanh Hóa sinh trưởng tốt hơn ở Hòa Bình Tại Lương Sơn, Hòa Bình đường kính ngang ngực trung bình đạt 5,80cm, chiều cao trung bình là 9,08 m Tương ứng với đó, ở Lang Chánh là 7,66cm và 10,17m Nhìn chung Luồng tại hai khu vực nghiên cứu đều có sinh trưởng về đường kính và chiều cao còn thấp

- Tại Hòa Bình, chất lượng của rừng trồng Luồng ở các vị trí khác nhau của khu vực nghiên cứu không có sự khác nhau rõ rệt Nhưng tại Thanh Hóa các vị trí trồng khác nhau lại có sự ảnh hưởng đến chất lượng của cây Luồng

- Cấu trúc sinh khối tươi và sinh khối khô (trừ rễ) của cây cá lẻ Luồng có sự sai khác rõ rệt trong các bộ phận của cây Luồng trong đó thân khí sinh chiếm tỷ lệ cao nhất, sau đó đến cành, thân ngầm và lá là bộ phận chiếm tỷ lệ nhỏ nhất

- Tỷ lệ carbon trong các bộ phận cây Luồng có sự khác nhau Tỷ lệ carbon cao nhất là ở thân ngầm với tỷ lệ trung bình là 53,38 % cho cả 4 tuổi; thứ hai là ở thân khí sinh với tỷ lệ carbon trung bình là 52,99% cho cả 4 tuổi, thứ ba là ở cành với tỷ lệ carbon trung bình là 51,47%

Hàm lượng carbon trong lá là thấp nhất, trung bình là 42,26% cho cả 4 tuổi Hàm lượng carbon ở trong rễ được tính trên 03 mẫu với tỷ lệ carbon trong mẫu trung bình tương ứng là 45,90% trong sinh khối khô

- Khi tính toán lượng carbon tích lũy trong rừng Luồng theo hai phương pháp là phương pháp tính theo hệ số quy ước 0,5 và tính theo kết quả của phân tích dựa trên phương pháp đốt cháy đã xuất hiện sự chênh lệch Giữa hai phương pháp này, tổng lượng carbon tích lũy trong rừng Luồng tính được chênh lệch nhau từ 0,16 tấn/ha đến 0,54 tấn/ha, trung bình 0,37 tấn/ha; tương ứng với 4,19%.

Tồn tại

- Do hạn chế về thời gian và kinh phí tài chính nên đề tài mới dừng lại ở kết quả phân tích một số mẫu đặc trưng

- Dung lượng mẫu, nhất là dung lượng mẫu phân tích hàm lượng carbon của rễ còn ít nên phần nào ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả nghiên cứu

- Số lượng OTC chưa nhiều nên tính đại diện chưa cao

Kiến nghị 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Qua thực tế nghiên cứu chúng tôi thấy rằng, để xác định được chính xác lượng carbon tích lũy trong các bộ phận của cây Luồng trong lâm phần, cần tiến hành nghiên cứu thử nghiệm trên nhiều địa điểm hơn Vì sinh khối của cây phụ thuộc nhiều vào tình hình sinh trưởng và phát triển của cây

Do điều kiện về thời gian và kinh phí tài chính nên đề tài mới chỉ xác định được sinh khối và hàm lượng carbon trong các bộ phận của cây Luồng trong thời gian ngắn Bên cạnh đó điều kiện tự nhiên, thời tiết của huyện Lương Sơn, Hòa Bình và Lang Chánh, Thanh Hóa lại có bốn mùa rõ rệt nên trạng thái sinh lý, sinh trưởng phát triển của cây vào mỗi mùa và mỗi địa điểm là khác nhau Đây là kết quả nghiên cứu khảo nghiệm xác định hàm lượng carbon tích lũy trong các bộ phận của cây Luồng được trồng thuần loài tại Lương Sơn và Lang Chánh nên kết quả nghiên cứu chỉ áp dụng cho Luồng tại hai khu vực này Để có thể áp dụng rộng rãi hơn ngoài thực tế tại nhiều địa phương khác nhau cần tiếp tục các nghiên cứu về sinh khối và trữ lượng carbon trong các bộ phận của cây Luồng ở các khu vực khác Nên tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu để tăng độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, qua đó có thể áp dụng cho công tác lượng hóa carbon chứng chỉ rừng

TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt

1 Cao Lâm Anh, CDM- Cơ hội mới cho ngành lâm nghiệp Thông tin khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện khoa học lâm nghiệp, số 3/2005

2 Phạm Quỳnh Anh (2006), Nghiên cứu khả năng hấp thụ và giá trị thương mại Cacbon của rừng mỡ (Manglietia glauca) trồng thuần loài đều tuổi tại Tuyên Quang, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp

3 Phạm Tuấn Anh (2007), Đánh giá năng lực hấp thụ CO2 của rừng thường xanh làm cơ sở xây dựng chính sách về di ̣ch vụ môi trường tại tỉnh Đăk Nông, Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Lâm nghiệp

4 Lê Huy Bá, Nguyễn Thị Phú, Nguyễn Đức An, Môi trường khí hậu thay đổi mối hiểm hoạ của toàn cầu, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí

5 Đỗ Văn Bản (2005), Trồng thử nghiệm thâm canh các loại tre nhập nội lấy măng, NXB nông nghiệp Hà Nội

6 Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, NXB Nông nghiệp

7 Đỗ Như Chiến (2000), Bước đầu nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và sinh khối rừng Luồng (Dendrocalamus membranaceus Munro) tại Lương Sơn, Hòa Bình, Luận văn thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp

8 Nguyễn Văn Dũng (2005), Nghiên cứu sinh khối và lượng Carbon tích luỹ của một số trạng thái rừng trồng tại núi Luốt Trường Đại học lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Tây

9 Ngô Quang Đê, Lê Xuân Trường (2003), Tre trúc (gây trồng và sử dụng,

10 Phạm Văn Điển, Phạm Xuân Hoàn (2004), Một số phương pháp xác định sinh khối rừng, Bộ NN&PTNT

11 Phạm Văn Điển (2004), Phương pháp xác định sinh khối và carbon tích luỹ của hệ sinh thái rừng, tài liệu giảng dạy chuyên môn hoá kỹ thuật lâm sinh, Đại học Lâm nghiệp

12 Võ Đại Hải và cộng sự (2009), Nghiên cứu khả năng hấp thu các bon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp Bộ NN&PTNT Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội

13 Nguyên Công Hoan (2013), Nghiên cứu khả năng tích lũy Carbon ở rừng trồng Tếch thuần loài làm cơ sở cho việc chi trả dịch vụ môi trường rừng tại huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, NXB: ĐH Nông lâm

14 Phạm Xuân Hoàn (2005), Cơ chế phát triển sạch và cơ hội thương mại

Carbon trong Lâm nghiệp NXB nông nghiệp

15 Phạm Xuân Hoàn và cộng sự (2008), Nghiên cứu xây dựng đường các bon cơ sở của một số trạng thái thảm thực vật tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình, Trường đại học Lâm nghiệp Việt Nam

16 Bảo Huy (2005), "Bài giảng Lâm nghiệp nhiệt đới", Trường Đại học

17 Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan (2005) Sinh thái rừng, NXB Nông nghiệp

18 Vũ Tấn Phương (2006), Nghiên cứu trữ lượng các bon thảm tươi và cây bụi: cơ sở để xác định đường các bon cơ sở trong các dự án trồng rừng/tái trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở Việt Nam, Tạp chí

19 Ngô Đình Quế (2006), Khả năng hấp thụ CO 2 của một số loại rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT 7/2006

20 Vũ Đức Quỳnh (2006), Xác định sinh khối và tích luỹ carbon của rừng

Keo lá tràm (Acacia mangium Willd) tại trung tâm miền núi phía Bắc, Khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Lâm nghiệp

21 Phạm Minh Sang và cộng sự (2006): Chương Hấp thụ Carbon - Cẩm nang ngành Lâm nghiệp, Bộ NN và PTNT

22 Cao Danh Thịnh (2009), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho công tác điều tra và kinh doanh rừng Luồng trồng thuần loài tại tỉnh Thanh Hóa,

Luận án tiến sỹ khoa học Nông nghiệp

23 Lê Xuân Trường (2014), Nghiên cứu khả năng tích lũy các bon của một số mô hình rừng Luồng (Dendrocalamus membranaceus) gây trồng tại tỉnh Thanh Hóa, Nhiệm vụ đặc thù cấp Bộ, Trường ĐH Lâm nghiệp

24 Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (2006), Phân tích thông kê trong Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội

25 Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2005) Tre trúc Việt Nam, NXB

26 Brown, S and Lugo(1984), Biomass of tropical forest: anew estimate based on forest volume, Science 223

27 Brown, S(1997), Estimating biomass and biomass and biomass change of tropical forest: aprimer, FAO forestry paper 134

28 ICRAF(2001), Carbon stocks of tropical land use system as part of the global C balance: Effect of forest conservation and option for clean development activities, Borgor, Indonesia

29 IPCC (2003), Good practice guidance for land use, land use change and forestry, Institute for Global Environment Strategies, Kanagawa, Japan

30 IPCC (2007), Fourth Assessment Report of the Intergovernment Panel on Climate Change: WGI: “The Physical Science of Climate Change”, WGII: “Impacts, Adaptation & Vulnerability”, WGIII:

31 Rodel D Lasco (2003), Forest carbon budgét in Southeast Asia following harvesting and land cover change, Report to Asia Pacific Regional workshop on forest for Povety Reduction; opportunity with CDM, Environmental Services and Biodiversity, Seoul, South

Phụ biểu 01: Tính toán sinh trưởng rừng Luồng tại Lương Sơn Hòa Bình

Standard Deviation 0,8895721 Standard Deviation 1,95214 Sample Variance 0,7913386 Sample Variance 3,81086

Standard Deviation 0,8391041 Standard Deviation 1,96789 Sample Variance 0,7040956 Sample Variance 3,8726

Standard Deviation 0,6280311 Standard Deviation 1,66953 Sample Variance 0,394423 Sample Variance 2,78735

Standard Deviation 0,8736944 Standard Deviation 1,87692 Sample Variance 0,763342 Sample Variance 3,52283

Standard Deviation 0,762710556 Standard Deviation 2,12459 Sample Variance 0,581727393 Sample Variance 4,51387

Standard Deviation 0,817998933 Standard Deviation 1,97713 Sample Variance 0,669122254 Sample Variance 3,90903

Standard Deviation 0,810436996 Standard Deviation 1,81937 Sample Variance 0,656808125 Sample Variance 3,3101

Standard Deviation 0,71186875 Standard Deviation 1,67421 Sample Variance 0,506757117 Sample Variance 2,80299

Standard Deviation 1,08925 Standard Deviation 1,99153 Sample Variance 1,18647 Sample Variance 3,96619

Standard Deviation 0,74406 Standard Deviation 1,79601 Sample Variance 0,55363 Sample Variance 3,22564

Standard Deviation 0,70613 Standard Deviation 1,59631 Sample Variance 0,49862 Sample Variance 2,54821

Standard Deviation 0,62421 Standard Deviation 1,83333 Sample Variance 0,38963 Sample Variance 3,36111

Phụ biểu 02: Tính toán sinh trưởng rừng Luồng tại Lang Chánh, Thanh Hóa

Standard Deviation 1,481579 Standard Deviation 3,07467 Sample Variance 2,195076 Sample Variance 9,453598

Standard Deviation 1,670601 Standard Deviation 4,094342 Sample Variance 2,790909 Sample Variance 16,76364

Standard Deviation 1,153264 Standard Deviation 2,526376 Sample Variance 1,330019 Sample Variance 6,382576

Standard Deviation 1,132117 Standard Deviation 2,179229 Sample Variance 1,281689 Sample Variance 4,74904

Standard Deviation 1,578132 Standard Deviation 3,226466 Sample Variance 2,490501 Sample Variance 10,41008

Standard Deviation 1,514549 Standard Deviation 3,844948 Sample Variance 2,29386 Sample Variance 14,78363

Standard Deviation 0,894427 Standard Deviation 2,505783 Sample Variance 0,8 Sample Variance 6,278947

Standard Deviation 1,18668 Standard Deviation 2,14119 Sample Variance 1,40821 Sample Variance 4,584694

Standard Deviation 1,212854 Standard Deviation 2,736386 Sample Variance 1,471014 Sample Variance 7,487808

Standard Deviation 1,429545 Standard Deviation 3,776492 Sample Variance 2,043598 Sample Variance 14,26189

Standard Deviation 1,400515 Standard Deviation 3,054305 Sample Variance 1,961442 Sample Variance 9,32878

Standard Deviation 1,416471 Standard Deviation 2,587989 Sample Variance 2,006391 Sample Variance 6,697686

Phụ biểu 03: Khối lượng sinh khối tươi của cây trung bình tại Lương Sơn, Hòa Bình

Khối lượng sinh khối tươi

Tổng Thân khí sinh Cành Lá Thân ngầm

Phụ biểu 04: Khối lượng sinh khối tươi của cây trung bình tại Lang Chánh, Thanh Hóa

Khối lượng sinh khối tươi

Tổng Thân khí sinh Cành Lá Thân ngầm

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w