Trong hệ sinh thái tự nhiên nói chung và KBTTN Xuân Nha nói riêng các loài bướm đêm có vai trò hết sức quan trọng chúng là một phần không thể thiếu trong chuỗi thức ăn giúp cân bằng hệ s
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về bướm đêm tại nước ngoài
Các loài bướm đêm (Heterocera) hay còn gọi là Ngài đêm, là nhóm có số lượng loài lớn chiếm khoảng 9/10 tổng số loài trong bộ Cánh vảy (Lepidoptera) Hiện nay trên thế giới có khoảng 112000 loài thuộc bộ Cánh vảy trong đó Bướm ngày khoảng 10% còn lại là bướm đêm Các loài bướm đêm có đặc điểm hình thái bên ngoài biến đổi rất lớn nên rất khó để mô tả, đa số các loài bướm đêm hoạt động vào ban đêm, có màu sắc cơ thể hơi tối, một số ít loài hoạt động vào ban ngày
Côn trùng hoạt động ban đêm là những loài hoạt động chủ yếu về đêm khi này chúng bắt đầu hoạt động chính của mình trong nhóm này có rất nhiều loài thuộc nhiều bộ và họ khác nhau như một số loài bộ Cánh cứng (Coleoptera) và bộ Cánh vẩy (Lepidoptera)
Giai đoạn những năm đầu thế kỷ 20, công trình nghiên cứu về Bộ Cánh vảy (Lepidoptera) có công trình nghiên cứu của J.de Joannis mang tên
“Lepidopteres du Tonkin” xuất bản ở Paris năm 1930 Tác giả đã thống kê được 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ trong đó phần đa là bướm đêm
Năm 1920 – 1940, các nhà thu thập mẫu côn trùng nghiệp dư đã xuất bản một số tài liệu về phân loài bướm gồm 53 tập ở Niderlan
Năm 1955, viện khoa học Liên Xô (cũ) xuất bản sách tra cứu sâu hại rừng Năm 1962, nhà xuất bản báo tạp chí và tài liệu Nông nghiệp Mastscova đã xuất bản cuốn phân loại trứng, sâu non và nhộng sâu hại rừng của A.I.hinski Năm 1965, ở Trung Quốc có xuất bản cuốn phân loại côn trùng của Charles-Brues.A.L Melander thuộc đại học tổng hợp Harvard
Trong một số tài liệu đều có đề cập đến việc phân loại và phân biệt các loài côn trùng thuộc bộ Cánh vảy, nhưng đó mới chỉ đề cập đến các họ cơ bản, một số loài chưa thật phù hợp với Việt Nam
Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu đề cập đến nhận biết các loài côn trùng như:
- Mô tả một số loài Ngài và Bướm của Manfred koch (7/1953);
- Mô tả các loài côn trùng thường gặp của giáo sư Wolfgang Dierl (Đức,1959);
- Mô tả các loài côn trùng thường gặp của giáo sư Gottricd Amannr Gần đây, những năm 1970-1978 Donaldi:Borror và Richard E White cho xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn về lĩnh vực côn trùng Bắc Mỹ thuộc Mexico” Trong đó cũng đề cập đến phân loại và nhận biết các họ trong bộ cánh vẩy (Lepidoptera) Do số lượng loài côn trùng rất phong phú hầu như khắp địa cầu, tới các giới hạn của thực vật hiểm họa (Spitzberg) Độ cao phân bố có thể lên tới 5000m (Hymalaya) Số lượng các loài giảm xuống ở các vùng lạnh và tăng lên đáng kể ở các vùng nóng ẩm và ẩm
“Quần thể các loài côn trùng quý hiếm Trung Quốc” của Hiệp hội Bảo vệ động vật hoang dã Trung Quốc (2005) Đã xác định được 24 loài Bướm đêm với 5 họ
Cũng một cuốn sách nữa là “Côn trùng rừng” của Lý Thành Đức được xuất bản vào năm 1992 đã mô tả rất chi tiết về hình thái của các họ côn trùng với 1368 loài trong đó riêng về bướm đêm (Heterocera) có 46 họ với 386 loài
Tập tranh về côn trùng thiên địch của Phòng Nghiên cứu động vật, Viện Khoa học Trung Quốc Với 600 ảnh về các loài côn trùng được xuất bản vào tháng 12 năm 2004 đã mô tả hình thái và đặc điểm của các họ côn trùng với bướm đêm thì đã mô tả được đặc điểm chung của 16 họ và 50 loài
Cuốn sách tiếng anh mang tên “Butterfilies and moths” của David
Carter đã xuất bản năm 1992 và được tái bản vào năm 2002 đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái sinh thái vùng phân bố của bộ Cánh vẩy (Lepidoptera) trong đó riêng bướm đêm (Moths) có 22 họ hơn 200 loài được mô tả
Tại Trung quốc, Đinh Kiến Vân và cs đã thông kê được 173 loài côn trùng có tính xu quang, trong đó côn trùng bộ Cánh vẩy có 110 loài, bộ Cánh cứng 45 loài, bộ Cánh không đều có 9 loài, bộ cánh đều có 6 loài, bộ Cánh thẳng, bộ Cánh lưới, bộ Chuồn chuồn và bộ Gián có 1 loài.
Nghiên cứu bướm đêm tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về các loài bướm có tính xu quang còn ít, hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, cụ thể về chúng Các kết quả nghiên cứu về bướm đêm chủ yếu được các nhà khoa học thông kê cùng với các loài côn trùng khác, với các mục đích khác nhau Ở Việt Nam còn tồn tại các khu rừng tự nhiên, có số lượng phong phú về chủng loài của bộ Lepidoptera, các nhà khoa học trên thế giới và khu vực châu Á cũng như Việt Nam, đã có nhiều đoàn nghiên cứu đi sâu vào điều tra khảo sát giám định các loài côn trùng, như đoàn nghiên cứu tổng hợp mang tên “Mission pavie” đã tiến hành khảo sát ở Đông Dương trong vòng 16 năm (1879-1895) đã xác định được 8 bộ, 85 họ và 1040 loài Năm 1921, Vitalisde salvara đã cho ra đời cuốn sách về “Khu hệ côn trùng đông dương” công bố với 3612 loài Về bộ Cánh vảy có công trình của Jde Joannis “Lepidopteres heteroceres dutondin” xuất bản tại Paris năm 1930 Trong đó tác giả đã thống kê được 1789 loài thuộc 746 giống của 45 họ
Những tài liệu chi tiết cụ thể về phân loại côn trùng về bướm đêm thì chưa có, mà chỉ được thể hiện ở giáo trình chung như “Côn trùng Lâm Nghiệp” (1989) của Trần Quốc Loanh, “Côn trùng rừng” (1997) của Trần
Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã với 11 họ ngài đêm và một số loài hại nông nghiệp chính
Tuy vậy việc định tên khoa học cho các mẫu vật côn trùng chủ yếu dựa vào các tài liệu nước ngoài, cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia Tất cả các tài liệu trên đã giúp tôi trong việc tham khảo và lựa chọn để thực hiện đề tài này.
Nghiên cứu tại khu Bảo tồn Xuân Nha
Nghiên cứu về côn trùng nói chung bộ Cánh vẩy nói riêng tại khu Bảo tồn Xuân Nha mới chỉ có khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Lam Hồng năm 2010 viết về bộ Cánh vảy (Lepidoptera) các loài Bướm ngày
(Rhopalocera) đã liệt kê được 63 loài trong nhóm này với 7 họ
Cho đến nay chưa có nghiên cứu về bướm đêm tại KBTTN Xuân Nha.
MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được sự đa dạng phong phú và đưa ra được biện pháp quản lý loài bướm đêm tại KBTTN Xuân nha, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Các loài bướm đêm thu bắt được bằng bẫy ánh sáng; Địa điểm: KBTTN Xuân nha, Vân hồ, Mộc châu;
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2014 đến tháng 8/2014.
Nội dung điều tra nghiên cứu
1 Xác định được thành phần loài bướm đêm tại khu vực nghiên cứu;
2 Đánh giá tính đa dạng theo họ bướm đêm;
+ Theo sinh cảnh + Theo thời gian (tháng nghiên cứu, Khoảng thời gian)
3 Ảnh hưởng của ánh sáng đến hoạt động của bướm đêm;
+ Số loài theo họ bướm đêm xuất hiện theo loại đèn + Mức độ xu quang các loài theo họ vào đèn
4 Mô tả hình thái, phân loại, nhận xét đặc tính sinh học để của một số loài chủ yếu;
5 Đề xuất biện pháp quản lý bướm đêm.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập, đánh giá thông tin, kế thừa tài liệu
Kế thừa các tài liệu về quá trình hình thành và xây dựng KBTTN Xuân Nha, kết quả điều tra khu hệ động thực vật bổ sung trong thời gian gần đây, thu thập bản đồ hiện trạng, địa hình của KBT
2.4.2 Phương pháp điều tra thực địa
2.4.2.1 Thiết lập các tuyến khảo sát và các điểm điều tra
1, Xác định sinh cảnh trong khu vực Điều tra Khu hệ Bướm đêm tại khu vực do điều kiện điều tra ban đêm vì vậy cần có nguồn điện cho đèn vì vây đề tài được thực hiện đặt đèn tại nơi có sẵn nguồn điện tại nhà dân hay trung tâm vườn trạm kiểm lâm nơi tiếp giáp gần nhất với những sinh cảnh cần điều tra nên để có thể so sánh được thành phần loài xuất hiện tại các dạng sinh cảnh cụ thể gồm 3 địa điểm như sau:
Sinh cảnh 01: Khu dân cư tiếp giáp với khu vực trồng và canh tác Nông nghiệp (Nhà tiếp giáp và sát đồng ruộng để có thể kéo dây đèn đặt tại nơi canh tác trồng lúa, ngô);
Sinh cảnh 02: Khu dân cư tiếp giáp với khu vực rừng tự nhiên (Nhà tiếp giáp hoặc gần rừng tự nhiên có thể đưa đèn đặt vào bìa rừng tại đây chủ yếu cây bụi và cây gỗ lớn cây tái sinh);
Sinh cảnh 03: Trung tâm khu dân cư (Đặt đèn tại nhà dân cư nơi chủ yếu là trồng rau và các cây ăn quả)
2, Thiết lập các tuyến khảo sát và điểm điều tra
Qua quá trình khảo sát và xác định được sinh cảnh chủ yếu tại khu vực điều tra Và để xác định được thành phần loài và so sánh được các loài bướm đêm tại nhiều sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu tôi thực hiện lập tuyến điều tra đi qua nhiều sinh cảnh khác nhau Tôi đã lựa chon được 4 tuyến đại diện cho 3 sinh cảnh trên: Khu vực xã Chiềng Sơn (Huyện Mộc Châu) có 1 tuyến điều tra, xã Chiềng Xuân (Huyện Vân Hồ) có 1 tuyến điều tra, xã Xuân Nha (Huyện Vân hồ) có 2 tuyến điều tra, thông tin cụ thể từng tuyến như sau:
- Tuyến 1: Tại xã Chiềng Sơn xuất phát từ UBND xã tới bản Khò Hồng sau đó tới bản Pha Luông với chiều dài 2 km sinh cảnh chủ yếu là: Trảng cỏ cây bụi, khu vực dân cư sinh sống và canh tác nông nghiệp Bố trí 2 điểm điều tra;
- Tuyến 2: Tại xã Chiềng Xuân xuất phát từ bản Khò Hồng tới bản Chiềng Hin với chiều dài 6 km đi qua hầu hết các sinh cảnh nhưng chủ yếu là rừng lá rộng Bố trí 5 điểm điều tra;
- Tuyến 3: Tại xã Xuân Nha xuất phát từ bản Thín tới Tây Tà Lào chiều dài 4 km cũng đi qua hầu hết các sinh cảnh Bố trí 4 điểm điều tra;
- Tuyến 4: Cũng tại xã Xuân Nha xuất phát từ Bản Ngà tới bản Cọc Mốc chiều dài 6,5 km sinh cảnh chủ yếu ở đây là rừng tre nứa Bố trí 5 điểm điều tra;
Tổng 4 tuyến điều tra lập được 16 điểm điều tra để đặt đèn
Sau khi đã xác định được điểm điều tra trên tuyến, để có dữ liệu cho công tác xử lý so sánh đa dạng bướm đêm tôi ghi lại đặc điểm của điểm điều tra cụ thể là:
- Địa hình (Độ cao, hướng phơi, độ dốc)
1, Điều tra thu thập mẫu vật Để điều tra thu thập mẫu vật về đêm, dựa vào đặc tính xu quang của loài bị thu hút bởi ánh sáng tôi sử dụng bẫy đèn được bố trí đặt ở điểm điều tra để thu hút và bắt Cụ thể tôi sử dụng các loại đèn sau:
+ Đèn tử ngoại: Do Italy sản xuất trọng lượng 8,6 kg công xuất tiêu thụ 65w, dùng điện 220v tần số 50Hz, gồm 2 bóng phát ánh sáng tím;
+ Đèn neon: Phát ánh sáng đỏ công xuất tiêu thụ là 60w, sử dụng điện 220v tần số 50Hz;
+ Đèn compact: Phát ánh sáng trắng công xuất tiêu thụ 60w, sử dụng điện 220v với tần số 50Hz;
Các đèn được đặt cách mặt đất 1,5m, khoảng cách đèn cách đèn là 50 m để đảm bảo giảm sự ảnh hưởng giữa các đèn, cùng một dạng sinh cảnh và thời gian điều tra
2, Cách thu bắt mẫu vật
Vì mức độ xu quang của các loài bướm đêm không giống nhau khi chúng tới đèn vì vậy để bắt mẫu vật đã sử dụng hai phương pháp sau:
+ Sử dụng màn trắng căng sau đèn để thu bắt;
+ Với một số loài khác không đậu thì sử dụng vợt để bắt
3, Xử lý và bảo quản mẫu vật
Sau khi bắt được mẫu giết bằng cách dùng tay bóp vào phần ngực còn các cá thể to dung kim tiêm bơm thuốc độc cho tới chết rồi cho vào bao gói (Bao gói được làm bằng giấy) Sau đó xử lý mẫu vật khi còn tươi bằng cách dùng kim để có định mẫu vật lên miếng gỗ mềm hoặc miếng xốp rồi đem phơi khô cho vào hộp đựng mẫu (Trong hộp có băng phiến tránh mối mọt kiến)
Nhưng hầu hết các loài bướm đêm có cơ thể to và nhiều mỡ rất dễ gây hư hỏng, ngoài ra còn các loài có kích thước cơ thể quá nhỏ không thể xử lý mẫu vì vậy sử dụng máy ảnh để chụp và ghi lại mã số ảnh ngày điều tra
4 Điều tra thành phần loài và mức độ xu quang
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
Điều kiện tự nhiên
KBTTN Xuân Nha nằm trong địa bàn huyện Mộc Châu và huyện Vân
Hồ, bao gồm các xã Chiềng Sơn, Xuân Nha, Tân Xuân, Chiềng Xuân, Lóng Sập Có tọa độ địa lý là: 20 0 34’ đến 20 0 54’ Vĩ độ Bắc; 104 0 28’ đến 104 0 50’ Kinh độ Đông Ranh giới khu rừng đặc dụng nằm tiếp giáp giữa 3 tỉnh Sơn
La, Hòa Bình và Thanh Hóa thuộc địa phận huyện Mộc Châu, cách thành phố Sơn La 120 km
+ Phía Bắc giáp xã Mường Sang, Vân Hồ, Lóng Luông, huyện Mộc Châu; + Phía Tây giáp nước CHDCND Lào;
+ Phía Nam giáp tỉnh Thanh Hoá;
+ Phía Đông giáp KBT Hang Kia Pà Cò, tỉnh Hoà Bình
KBTTN Xuân Nha có địa thế hiểm trở, độ dốc cao, địa hình bị chia cắt mạnh, đỉnh núi cao nhất trong KBT là đỉnh Pha Luông cao 1969m Với đặc điểm địa hình đã tạo nên sự đa dạng về các loài động, thực vật và đây có thể được coi là khu vực điển hình đại diện cho những đặc thù của khu hệ động thực vật hoang dã thuộc khu vực Tây Bắc của Việt Nam
- Nhiệt độ: Chia hai mùa rõ rệt: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 có nhiệt độ trung bình 20 - 25 0 C Độ ẩm không khí trung bình 80 - 85% Từ tháng 10 đến tháng 04 năm sau nhiệt độ thường thấp hơn 20 0 C Mùa đông nhiệt độ xuống dưới 13 0 C và cá biệt có khi xuống tới 3- 5 0 C
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.700-2.000mm Mưa to thường tập trung vào mùa nóng Mùa mưa thường gây ra ngập úng cục bộ trong thời gian ngắn ở các thung, khe hoặc quanh các lỗ hút xuống sông suối ngầm
- Gió: Hướng gió thịnh hành của KBT là Đông Bắc, Đông Nam Hằng năm và các tháng 4 - 8 đôi khi có gió Tây nam khô nóng xuất hiện hiện mỗi đợt 2 - 4 ngày với tốc độ gió 10 - 15 m/g
- Sương mù: Tháng 1 và 2, mùa lạnh thường có sương mù
Khu vực có 3 hệ thống suối lớn là: Suối Quanh, Suối Con chảy ra Sông
Mã và Suối Sập chảy về Yên Châu và đổ ra Sông Đà Ngoài ra có nhiều suối ngầm, suối cụt, các mó nước, hang nước Hệ thống suối có nước quanh năm
Trong KBTTN Xuân Nha có 6 loại đất chính:
- Đất Feralit màu vàng sẫm phát triển trên đá sét hoặc biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình (Phân bố ở độ cao 700 - 1.700m);
- Đất Feralit màu vàng nâu phát triển trên sản phẩm đá vôi hoặc đá vôi biến chất, tầng đất mỏng, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình (Phân bố ở độ cao 700 - 1.700m);
- Đất Feralit màu vàng nhạt phát triển trên đá sét hoặc biến chất, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình (Phân bố ở độ cao 700 – 1.700m);
- Đất Feralit màu vàng nhạt hoặc vàng xám phát triển trên phiến thạch sét, phấn sa, đá cát, sa thạch, sỏi cuội kết, tầng đất dày, thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ thường ở vùng đồi núi thấp (Phân bố ở độ cao 300 – 1.000m);
- Đất Feralit màu vàng xám biến đổi do trồng lúa, có thành phần cơ giới trung bình, phân bố quanh làng bản;
- Đất dốc tụ phân bố ven chân núi, ven sông, suối.
Kinh tế - Xã hội
Theo kết quả điều tra tháng 5 năm 2013, dân số của 62 thôn của 5 xã vùng đệm có 5.309 hộ với 23.405 người và có 12.620 lao động Trên địa bàn
6 dân tộc khác nhau cùng sinh sống (Thái, Mường, Mông, Kinh, Tày, Khơ mú) Trong đó dân tộc Thái chiếm đa số 34%, Mông chiếm 15% Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,05%
Trong khu vực có 6 dân tộc sinh sống là: Kinh, Thái, Mường, Mông, Tày, Khơ mú Hiện tại trong KBT có 9 thôn có 795 hộ và 4.0794 khẩu, bằng 17,4% tổng dân số toàn vùng (05 thôn bản nằm trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và 04 thôn nằm trong Phân khu phục hồi sinh thái) Mật độ dân số bình quân 43 người/km 2 , cao nhất là xã Chiềng Sơn với 98 người/km 2 , thấp nhất là xã Tân Xuân 26 người/km 2 Sự phân bố dân cư không đều, dân tộc Mông sống trên các triền núi cao; dân tộc Kinh, Mường, Thái sinh sống ở vùng thấp, ven đường, có điều kiện canh tác lúa nước Phân bố dân cư KBTTN Xuân Nha cụ thể như sau:
Bảng 3.1 Dân số, lao động, nhân khẩu KBTTN Xuân Nha
TT Tên xã Số Bản,
T.Khu Số hộ Nhân khẩu Lao động
(Nguồn: Số liệu điều tra ngoại nghiệp tháng 05/2013)
Các xã nằm trong KBT thuộc các xã vùng sâu - vùng xa, và biên giới nên điều kiện kinh tế - xã hội nhìn chung còn nhiều khó khăn Trong khu vực chủ yếu có 5 dân tộc sinh sống là: Mông, Mường, Dao, Thái, Kinh trong đó dân tộc Thái chiếm số lượng nhiều nhất Sự phân bố dân cư không đều, người Mông, Dao thì sống trên núi cao, người Mường, Thái, Kinh sống ở vùng thấp, ven đường, sông suối thuận lợi cho việc canh tác lúa nước Tỷ lệ hộ nghèo chiếm trên 40% số hộ gia đình trong toàn khu Người dân sống ở đây chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, dựa vào rừng, phụ thuộc vào tài nguyên rừng Sản xuất nông nghiệp chủ yếu là làm nương rẫy, diện tích đất canh tác rộng nhưng độ dốc lớn, cùng với quá trình phá rừng làm nương diễn ra từ lâu nên lớp đất đã bị rửa trôi mạnh mẽ nên việc canh tác hết sức khó khăn, hiệu quả thấp Hiện nay có chính sách hỗ trợ người dân của Nhà nước đã đưa các giống lúa, ngô có năng suất cao vào sản xuất từ đó năng suất nông nghiệp ngày càng được cải thiện, sản lượng năm sau cao hơn năm trước
Bảng 3.2 Diện tích, năng suất các loại cây trồng chính
Cây trồng Lúa nước Ngô Sắn
Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt 12.820,4 tấn, bình quân lương thực đầu người là 550 kg/năm
Tổng đàn gia súc, gia cầm của khu vực là 132.439 con Bình quân mỗi hộ có từ 1 đến 3 con Trâu, 1 con Bò, 2 - 3 con Lợn, 20 - 30 con gia cầm Ngoài việc cung cấp sức kéo, thực phẩm cho tiêu dùng cho gia đình, một số hộ đã có thu nhập khá từ chăn nuôi Chăn nuôi là nguồn thu nhập quan trọng sau trồng trọt của hầu hết các gia đình trong khu vực
Nhân dân sản xuất lâm nghiệp chủ yếu thông qua các hoạt động khoanh nuôi, bảo vệ rừng cho khu bảo tổn và thu hái lâm sản ngoài gỗ dưới tán rừng Tình trạng khai thác, thu hái trong vùng lõi rừng đặc dụng và đặc biệt là việc khai thác, thu hái thiếu bền vững đã và đang làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Mặc dù đã có nhiều cố gắng của Ban quản lý rừng đặc dụng, nhưng với lực lượng mỏng và lợi ích kinh tế cao trong việc khai thác, thu hái các sản phẩm từ rừng nên các hiện tượng đốt nương làm rẫy, săn bắn, đặt bẫy, khai thác trái phép vẫn diễn ra, đòi hỏi cần phải có các giải pháp tổng hợp và hữu hiệu để giảm thiểu tối đa các tác động một cách lâu dài và bền vững
3.2.4 Cơ sở hạ tầng, giao thông
Hiện tại KBTTN Xuân Nha có tuyến đường 43b chạy từ Mộc Châu qua Lóng Sập sang Lào, đường từ quốc lộ 6 vào UBND xã Xuân Nha, đường từ UBND xã Chiềng Sơn nối vào các bản Co Phương đến trạm kiểm lâm Chiềng Xuân, hiện tại đang thi công cầu bắc qua Suối quanh từ trạm Kiểm lâm Chiềng Xuân nối vào đường bản Khò Hồng và các bản giáp biên giới Việt –
Lào Trong KBTTN Xuân Nha có nhiều đường mòn đi tắt giao lưu với các khu vực lân cận là chính
Hiện tại hệ thống đường liên thôn, bản trong khu vực đã được mở rộng, nhưng chưa được bê tông hóa mặt đường, vì vậy đi lại vẫn còn khó khăn đặc biệt vào mùa mưa
Hệ thống thủy lợi trong vùng hiện đã xây được 16 Phai, Đập nhỏ để chứa nước và 8,2 km mương tưới tiêu phục vụ sản xuất, nhưng chưa đảm bảo được nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nguồn nước vẫn phụ thuộc chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên.
Văn hóa – xã hội, y tế, giáo dục
Khu vực rừng đặc dụng Xuân Nha là những xã vùng sâu, vùng xa của huyện Mộc Châu, đời sống văn hóa xã hội của người dân vẫn còn thấp Được sự quan tâm chính quyền các cấp và sự đóng góp của nhân dân đã tạo nguồn kinh phí để mua sắm trang thiết bị phục vụ các hoạt động văn hóa xã hội Hàng năm nhiều địa phương đã tổ chức các hoạt động thể thao, văn nghệ quần chúng dạt được nhiều kết quả
Tất cả đều có trạm y tế tại trung tâm xã, các thôn bản đều có cán bộ y tế Tuy nhiên trang thiết bị của các cơ sở y tế còn thiếu và nghèo nàn
Trong những năm vừa qua công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân đã được quan tâm Công tác phòng chống dịch bệnh cũng được tăng cường; việc kiểm tra, giám sát và khống chế các dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng cho trẻ em trong độ tuổi đạt 100% Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng ngày càng giảm Trẻ em dưới 6 tuổi đều được khám chữa bệnh và các đối tượng theo nghị quyết 139 của Thủ tướng Chính phủ Hàng năm thực hiện tuyên truyền, khuyến cáo phòng chống dịch chân tay miệng ở trẻ em tới các bản, tiểu khu, các nhà trường; tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm Đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình
Công tác giáo dục ngày càng được chính quyền và nhân dân các xã trong KBT quan tâm, chất lượng hiệu quả giáo dục ngày càng được nâng lên, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học , đuợc tăng cường, đội ngũ giáo viên liên tục được bổ sung Các xã đều có trường tiểu học và trung học cơ sở, phòng học nhà cấp III và cấp IV Trang thiết bị và đồ dùng học tập vẫn còn thiếu, tỷ lệ học sinh tới trường đạt 100% Tỷ lệ người mù chữ trong khu vực đã giảm, chỉ còn 1,18%.
Quốc phòng an ninh
Mặc dầu là khu vực biên giới nhưng an ninh quốc phòng trong khu vực luôn được giữ vững Đạt được kết quả trên nhờ có sự hỗ trợ từ đồn Biên phòng Xuân Nha và cán bộ công an huyện Mộc Châu về trực tiếp chỉ đạo và tham mưu cho các cấp chính quyền địa phương
* Nhận xét Điều kiện kinh tế xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống nhân nhân dân ngày được cải thiện hơn Trong thời gian qua, đã có những chương trình đang triển khai (chương trình đường giao thông, kéo điện lưới về các bản, làm ruộng cấy lúa nước, đầu tư các con giống, cây giống cho các hộ nghèo ) Việc mở mới và nâng cấp các tuyến đường giao thông trong vùng sẽ là sự khởi đầu cho những đầu tư tiếp theo nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương Song còn một số khó khăn sau:
- Người dân trong khu vực chủ yếu là làm nông nghiệp (lao động nông nghiệp chiếm trên 90%)
- Mặt khác, trình độ dân trí không cao, chất lượng lao động thấp, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế Đa số các hộ gia đình vẫn canh tác theo lối truyền thống, nặng về khai thác bóc lột tài nguyên đất, tài nguyên rừng
- Đời sống của các dân tộc sống trong khu vực còn rất khó khăn Đây là một trong những nguyên nhân chính làm cho người dân vào rừng khai thác gỗ Như vậy, những đặc điểm về dân số, lao động và tập quán canh tác còn lạc hậu Hiện nay có 40 hộ đói nghèo và 153 hộ thiếu ăn
- Địa bàn rộng, địa hình phức tạp, các cụm dân cư sống rải rác, nhiều thôn bản sống ở nơi cao xa Đó là những điều kiện bất lợi cho việc đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng như cơ sở hạ tầng xã hội của khu vực
Trong thời gian tới cần nghiên cứu xây dựng các chương trình đầu tư, cơ chế chính sách và ưu tiên nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
Tài nguyên rừng
3.5 1 Hiện trạng tài nguyên rừng
Trên cơ sở bản đồ hiện trạng rừng đã xây dựng từ ảnh Spot 5 kết hợp điều tra ngoài thực địa cùng với kết quả rà soát 3 loại rừng, kết quả khu rừng đặc dụng Xuân Nha có những trạng thái rừng như sau:
Bảng 3.3 Hiện trạng rừng đặc dụng Xuân Nha, phân theo xã năm 2013
II Rừng hỗn giao gỗ nứa 483,2 483,2
1 Đất trống trảng cỏ (IA) 786,0 34,8 624,4 61,3 65,5
2 Đất trống cây bụi (IB) 334,0 9,1 243,4 26,2 55,3
3 Đất trống có cây gỗ rải rác (IC) 637,1 232,3 376,9 27,9
(Nguồn: Số liệu TNR năm 2010 và kết quả phúc tra: tháng 05 năm 2013) Đặc điểm các trạng thái rừng như sau:
- Rừng giàu: Rừng giàu trong khu đặc dụng có 7.821,4ha, chiếm 40,5% tổng diện tích đất có rừng, phần diện tích này tập trung chủ tại các tiểu khu trong phân khu bảo vệ nghiên ngặt (BVNN) Rừng có chiều cao cây gỗ đạt 18
- 25m; đường kính bình quân từ 25 - 30cm; M = 210 - 230m 3 /ha, cấu trúc rừng ổn định Đây là loại rừng có trữ lượng lớn, còn nhiều nguồn gen đặc hữu, quý hiếm, cần được bảo vệ tốt để rừng phát huy vai trò phòng hộ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phục vụ nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái
- Rừng trung bình: Diện tích rừng trung bình là 977,6ha, chiếm 5,1% diện tích đất có rừng, phân bố rải rác trên tất cả các phân khu chức năng của khu đặc dụng Độ tàn che của rừng từ 0,6 - 0,8; chiều cao trung bình của cây rừng đạt 16 - 18m; đường kính trung bình của cây rừng từ 20 - 25cm; trữ lượng bình quân của rừng từ 110 - 130m 3 /ha
- Rừng nghèo: Diện tích 1.378,9ha, chiếm 7,1% diện tích đất có rừng của Khu rừng đặc, phân bố chủ yếu tại phân khu phục hồi sinh thái (PHST) ở gần khu dân cư sinh sống như bản Khò Hồng và Chiềng Him Đây là hậu quả của quá trình khai thác quá mức trong một thời gian dài Độ tàn che từ 0,3 - 0,4; đường kính trung bình của cây rừng từ 20 - 24cm; trữ lượng bình quân của rừng < 100 m 3 /ha
- Rừng phục hồi: Diện tích 2.388,5ha, chiếm 12,4% diện tích đất có rừng, tập trung chủ yếu gần khu canh tác nông nghiệp Đây là kết quả của quá trình tái sinh sau canh tác nương rẫy và khai thác kiệt, trữ lượng rừng thấp từ
- Rừng hỗn giao: Diện tích 483,2ha, chiếm 2,5% diện tích đất có rừng Rừng hỗn giao phân tập trung chủ yếu tại tiểu khu 1007A Rừng có độ tàn che từ 0,7 - 0,8
- Rừng tre nứa: Diện tích 2.936,7ha, chiếm 15,2% tổng diện tích đất có rừng, phân bố tập trung tại các tiểu khu 1007A, 1017B, 1015A, 1015B, trên tuyến đường đi Thanh Hóa và đường vào bản Sa Lai Loài cây chủ yếu là Vầu (Lùng), cây có đường kính 4 – 6cm trong rừng có nhiều dây leo bụi rậm, mật độ dày