Trước tình hình thực tế tại địa phương, với vị trí công tác của bản thân để phát huy tốt thế mạnh về điều kiện đất đai, khí hậu, tận dụng tiềm năng, cơ hội thị trường của địa phương; khắ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, Ngày 05 tháng 10 năm 2016
Học viên thực hiện
Lục Thị Vƣợng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp, em đã nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan, tổ chức và các cá nhân; các Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp đã truyền đạt những kiến thức xã hội, kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá về lý luận, lý thuyết và kiến thức thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ luôn hỗ trợ em trong suốt quá trình công tác sau này
Với tất cả lòng tôn kính, em xin gửi đến Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học TS Nguyễn Văn Hà đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy; Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân; các Phòng, Ban chuyên môn; Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn Cảm ơn các Anh, Chị, Em trong cơ quan, bạn bè, gia đình và một số hộ nông dân trên địa bàn huyện Hàm Yên, đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài của tôi chắc hẳn không thể tránh khỏi những sơ suất, thiếu xót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể bạn đọc để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn./
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên thực hiện
Lục Thị Vượng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT KINH DOANH CAM SÀNH 4
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành 4
1.1.1 Một số khái niệm về phát triển, phát triển sản xuất kinh doanh 4
1.1.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế 5
1.1.3 Đặc điểm sản xuất, phát triển kinh doanh cây Cam sành 6
1.1.4 Nội dung phát triển sản xuất cây ăn quả Cam sành 8
1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất Cam sành 12
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Tình hình sản xuất, kinh doanh cam trên thế giới 15
1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh cam ở Việt Nam 17
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở tỉnh Tuyên Quang 26
1.2.4 Kinh nghiệm rút ra từ cơ sở luận và thực tiễn về phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành 27
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội 28
Trang 42.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 32
2.1.3 Đánh giá chung tình hình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và tình hình phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành nói riêng trên địa bàn huyện 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 41
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 43
2.2.3 Phương pháp tính toán và tổng hợp số liệu 43
2.2.4 Phương pháp phân tích 43
2.2.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 44
2.2.6 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 44
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Thực trạng sản xuất kinh doanh cam sành tại huyện Hàm Yên 46
3.1.1 Về tổ chức sản xuất 46
3.1.2 Về kỹ thuật canh tác và phòng trừ sâu bệnh 47
3.1.3 Về sử dụng giống và cơ cấu giống 48
3.1.4 Về tiêu thụ và thị trường tiêu thụ 49
3.1.5 Về chính sách hỗ trợ của chính quyền địa phương 50
3.1.6 Kết quả phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn trong 5 năm 2010-2015 53
3.1.7 Phân tích hiệu quả kinh tế của các hộ trồng cam 56
3.1.8 Phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế của cây cam sành tại vùng nghiên cứu 60 3.1.9 Hiệu quả từ việc trồng cam so với các loại cây trồng khác 62
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất Cam sành huyện Hàm Yên 62
3.2.1 Điều kiện tự nhiên 62
3.2.2 Giống 62
3.2.3 Kỹ thuật thâm canh 63
Trang 53.2.4 Chi phí đầu tư sản xuất 63
3.2.5 Thị trường 64
3.2.6 Cơ chế chính sách 67
3.2.7 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển sản xuất KD cam sành Hàm Yên 67
3.3 Một số giải pháp chủ yếu phát triển sản xuất cam sành giai đoạn 2016-2020 72
3.3.1 Về quy hoạch 72
3.3.2 Về đất đai 73
3.3.3 Về giống 75
3.3.4 Về kỹ thuật và khoa học công nghệ 75
3.3.5 Nhóm giải pháp về tiêu thụ sản phẩm 80
3.3.6 Về cơ sở hạ tầng 83
3.3.7 Về cơ chế chính sách 83
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TTg Thủ tướng chính phủ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cam trên thế giới năm 2013 16 1.2 Diện tích cam ở các vùng trên thế giới năm 2008-2013 17 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt giai đoạn 2008 - 2013 19 1.4 Giá trị xuất khẩu của cây có múi tại Việt Nam (2001-2008) 25 2.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 33 2.2 Một số chỉ tiêu so sánh của huyện Hàm Yên với tỉnh Tuyên Quang 34 2.3 Kết quả sản xuất ngành nông nghiệp huyện Hàm Yên giai đoạn
2008 - 2015
36
2.4 Tình hình biến động dân số qua một số năm 38 3.1 Số liêu cơ bản của các hộ điều tra tại 3 điểm điều tra 57 3.2 Chi phí bình quân tích cho 1 ha cam sành giai đoạn trồng mới và
kiến thiết cơ bản
58
3.3 Biểu chi tiết chi phí cho vườn cam kinh doanh tại vùng điều tra
năm 2014 (Tính cho 1,0 ha/1 năm)
59
3.4 Kết quả và hiệu quả kinh tế của cây cam sành năm 2015 60 3.5 Hiệu quả sản xuất cam so với 3 loại cây trồng khác 62
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hàm Yên là một huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang, có tổng diện tích đất tự nhiên 90.054,60 ha và 121.634 nhân khẩu, có điều kiện
tự nhiên thuận lợi cho phát triển cây ăn quả đặc biệt là cây cam sành, đây là loại cây bản địa đã được trồng từ nhiều đời nay tại huyện Hàm Yên và là một trong những loài cây trồng thế mạnh của huyện, có giá trị kinh tế, mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người dân, giúp xoá đói giảm nghèo, giải quyết được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế của huyện
Năm 2007, huyện Hàm Yên đã lập các thủ tục trình Cục sở hữu trí tuệ,
Bộ Khoa học và công nghệ Việt Nam xác lập và xây dựng thành công thương hiệu “Cam Sành Hàm Yên” Sau khi được công nhận Cam Sành Hàm Yên đã dần khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, cụ thể năm 2012 đã công bố tiêu chuẩn cơ sở Cam Sành Hàm Yên và được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Quốc Gia TCVN 1973:2007 và sản phẩm Cam sành Hàm Yên được người tiêu dùng bình chọn là một trong 50 trái cây đặc sản Việt Nam; Năm 2013, Cam sành Hàm Yên được bình chọn trong Top 10 Thương hiệu - Nhãn hiệu nổi tiếng; Năm 2014, được tôn vinh là một trong những sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu; Năm 2015, được Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trao giải “Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam” Tính đến hết năm 2015, diện tích cam toàn huyện đạt trên 4.881 ha, tạo thành vùng sản xuất tập trung trên địa bàn 13 xã, thị trấn Có thể nói cây cam đã giúp nông dân của huyện chuyển đổi cơ cấu cây trồng và là một trong những cây chủ lực trong cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp về phát triển kinh tế và là một trong các giải pháp phát triển kinh tế rất quan trọng trong việc thực hiện định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của Chính phủ tại địa phương
Trang 10Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Hàm Yên lần thứ XX, nhiệm kỳ 2015
- 2020 xác định cây cam sành là cây kinh tế chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp của huyện Tuy nhiên hiện nay, việc phát triển vùng cam chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của huyện, sản phẩm chưa theo tiêu chuẩn, quy chuẩn nên giá trị sản phẩm mang lại chưa cao; khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn hạn chế, chưa có sự gắn kết bền vững giữa sản xuất và tiêu thụ Đó chính là thách thức trong giữ gìn thương hiệu Cam Sành Hàm Yên
Trước tình hình thực tế tại địa phương, với vị trí công tác của bản thân để phát huy tốt thế mạnh về điều kiện đất đai, khí hậu, tận dụng tiềm năng, cơ hội thị trường của địa phương; khắc phục những hạn chế trong quá trình phát triển và giữ vững thương hiệu Cam Sành Hàm Yên trong thời gian tới tôi lựa
chọn “Một số giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh cây Cam sành tại huyện Hàm Yên giai đoạn 2010- 2015, trên cơ sở đó xác định các yếu tố hạn chế và đề
xuất các giải pháp phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành cho giai đoạn
2016-2020 trên địa bàn địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
Trang 113 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hoạt động sản xuất kinh doanh Cam sành trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi nội dung: Hoạt động sản xuất Cam sành
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng sản xuất Cam sành trong 5 năm từ 2010-2015 để đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016-2020
4 Nội dung nghiên cứu
- Hệ thống hóa các nội dung về sản xuất, phát triển sản xuất kinh doanh, những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành Hàm Yên
- Đánh giá thực trạng phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang
- Chỉ ra một số nội dung cụ thể cần thực hiện trong quá trình sản xuất
và phát triển sản xuất kinh doanh
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất, phát triển sản xuất kinh doanh trong thời gian tới
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiển về phát triển sản xuất kinh doanh Cam Sành
Chương 2: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
SẢN XUẤT KINH DOANH CAM SÀNH
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành
1.1.1 Một số khái niệm về phát triển, phát triển sản xuất kinh doanh
Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia đều có chiến lược phát triển kinh tế khác nhau phù hợp với điều kiện, tận dụng hiệu quả lợi thế so sánh về vùng, tạo ra nhiều của cải vật chất, đất nước phồn vinh, mức thu nhập của người dân tăng cao Phát triển sản xuất có hai hướng đó là phát triển sản xuất theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu
Phát triển sản xuất là một quá trình lớn lên (tăng tiến) về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về mặt cơ cấu Phát triển sản xuất bao gồm phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu
Phát triển theo chiều rộng như việc tăng lên về diện tích, sản lượng, giá trị (sản phẩm hàng hóa) muốn vậy ta phải tăng diện tích đất cho sản xuất, đầu
tư thêm về giống, khoa học kỹ thuật, tập huấn kỹ thuật, tăng cường đội ngũ lao động
Phát triển theo chiều sâu như việc tăng đầu tư thâm canh, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời giá thành của sản phẩm ngày càng hợp lý, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu của thị trường trong nước tương lai hướng tới xuất khẩu, thu hút được nhiều việc làm cho người lao động (chú ý đến đội ngũ lao động có trình độ), chống suy thoái các nguồn tài nguyên, đảm bảo phát triển bền vững
Phát triển bền vững là quan điểm mới của sự phát triển, nó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đảm
Trang 13bảo thỏa mãn những nhu cầu mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai Thế hệ hiện tại khai thác tài nguyên cho sản xuất ra của cải vật chất không thể để lại cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm môi trường, tài nguyên kiệt quệ và nghèo đói Chúng ta cần phải để cho thế hệ sau thừa hưởng những thành quả lao động kỹ thuật và các nguồn lợi khác Tăng thu nhập kết hợp với các chính sách môi trường để tạo cơ sở cho việc giải quyết hai vấn đề là môi trường và sự phát triển Điều quan trọng của sự phát triển bền vững không phải là sản xuất ra hàng hóa ít đi mà là sản xuất khác đi, sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm các nguồn tài nguyên và bảo
vệ môi trường, các chính sách môi trường có thể tăng cường hiệu suất trong
sử dụng tài nguyên để tạo ra những đòn bẩy để tăng cường những công nghệ, phương pháp sản xuất ít ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường
1.1.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác vốn, kỹ thuật, các nguồn lực và các phương pháp quản lý sản xuất Nó được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu phản ánh các mục tiêu cụ thể của ngành sản xuất
Hiệu quả kinh tế là việc so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra, khi nói về hiệu quả kinh tế các nhà kinh tế học có những quan điểm khác nhau:
+ Quan điểm thứ nhất cho rằng: Xem xét hiệu quả kinh tế đạt được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được hiệu quả kinh tế
+ Quan điểm thứ hai cho rằng: Xem xét hiệu quả kinh tế trong phần biến động giữa chi phí và kết quả sản xuất Theo quan điểm này hiệu quả kinh
tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng thêm của kết quả và phần tăng lên của chi phí hay quan hệ tỷ lệ giữa mức độ tăng trưởng kết quả sản xuất với mức độ tăng trưởng chi phí của nền sản xuất xã hội đó là:
Trang 14Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
+ Quan điểm thứ ba cho rằng: Hiệu quả kinh tế được đo bằng hiệu số giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Hiệu quả kinh tế = Q – C
Trong nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây với mục tiêu đáp ứng nhu cầu vật chất cho xã hội thì hiệu quả sản xuất trước hết là năng lực sản xuất và cung cấp vật chất cho xã hội từ cơ sở sản xuất
Như vậy ở mỗi chế độ khác nhau thì lại có khái niệm khác nhau tùy theo điều kiện và mục đích của từng đơn vị sản xuất cũng như yêu cầu đặt ra của xã hội
1.1.3 Đặc điểm sản xuất, phát triển kinh doanh cây Cam sành
1.1.3.1 Giá trị kinh tế của cây Cam sành
Những năm gần đây, trong công cuộc đổi mới, Đảng rất chú trọng phát triển nông nghiệp, khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn, ưu tiên phát triển những ngành nghề như chăn nuôi, trồng trọt ứng dụng các giống mới, cây mới, con mới vào sản xuất cho năng suất cao tạo nên sự cân đối hài hòa giữa ngành nông, lâm, ngư nghiệp phát triển hết khả năng và thế mạnh về điều kiện
Trang 15tự nhiên của từng vùng Do đó ở khắp mọi nơi, mọi người đều tìm cách khai thác triệt để tiềm năng đất đai, lao động, vốn một cách tối đa nhằm tăng quy
mô sản lượng và lợi nhuận Đã có nhiều hộ, nhiều vùng trở nên giàu có nhờ lợi thế và sự khai thác tài nguyên một cách hợp lý
Trong giai đoạn hiện nay nghề trồng cây ăn quả được xác định là một ngành kinh tế quan trọng trong ngành kinh tế nông nghiệp nước ta đặc biệt là trong nông thôn, nó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tăng thu nhập cho hộ, tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động dư thừa
Nhiều địa phương pháp triển sản xuất cây cam đã trở thành nghề chính, được duy trì từ lâu, các hộ trồng cam huyện Hàm Yên coi đây là 1 nghề, sản phẩm của nghề trồng cây ăn quả đã trở thành nguồn thu nhập chính của nông dân trong vùng
Phát triển sản xuất cam thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn, phát triển triển nền sản xuất tự cung tự cấp sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa, thúc đẩy cuộc vận động ”Xóa đói giảm nghèo” trong nông thôn hiện nay, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân sống ở nông thôn Phát triển sản xuất cam tận dụng diện tích phát triển mô hình kinh tế kết hợp VAC nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao
Phát triển sản xuất cây cam là một khâu quan trọng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong nền sản xuất nông nghiệp Sản phẩm sản xuất có giá trị cao và có thể xuất khẩu ra nước ngoài thu ngoại tệ về cho đất nước, đồng thời sản phẩm cam đang ngày càng có nhu cầu tiêu thụ cao
Qua đây có thể nhìn thấy phát triển sản xuất cam ở khu vực nông thôn nói riêng đối với phát triển kinh tế đang đi lên của đất nước nói chung là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế ở địa phương phát triển từng bước giúp người dân
có công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hộ, xóa đói giảm nghèo
Trang 161.1.3.2 Đặc điểm sản xuất, phát triển kinh doanh cây cam sành
- Cam đưa vào tiêu thụ phải đảm bảo các yếu tố tươi, ngon, hình thức mẫu mã đẹp, an toàn thực phẩm
- Cam có tính mùa vụ cao, ra quả tập trung và trong một thời gian ngắn, điều này đòi hỏi công tác bảo quản và tiêu thụ một cách hợp lý
- Sản phẩm cam sau khi thu hoạch có 85 - 90% sản lượng trở thành hàng hóa trao đổi trên thị trường Do đó, sự thay đổi về sản xuất cũng kéo theo sự thay đổi của công tác thu mua, vận chuyển và lưu thông phân phối
- Cam chứa hàm lượng nước lớn nên dễ bị dập nát, dễ bị héo, tỉ lệ hao hụt về khối lượng và chất lượng cao, kho vận chuyển và bảo quản
- Sau khi thu hoạch, phần lớn cam được tiêu thụ dưới dạng cam tươi; Một phần đưa cam để chế biến thành nước cam hoặc dầu cam, ở nước ta mới chỉ chế biến thành nước cam
1.1.4 Nội dung phát triển sản xuất cây ăn quả Cam sành
- Khái niệm về sản xuất: Là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố
đầu vào (Tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra các sản phẩm hàng hóa dịch vụ (đầu ra)
Có hai phương thức sản xuất là:
+ Sản xuất mang tính tự cung, tự cấp, phản ánh trình độ còn thấp của các chủ thể sản xuất, sản phẩm sản xuất ra chủ yếu phục vụ nhu cầu của bản thân hạ là chính, không có sản phẩm dư thừa cung cấp ra thị trường
+ Sản xuất cho thị trường là sản xuất phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, sản phẩn sản xuất ra chủ yếu dùng để trao đổi trên thị trường, sản phẩm sản xuất ra với quy mô và số lượng nhiều Sản phẩm này sản xuất theo hướng tập chung chuyên canh, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao
Tóm lại sản xuất là quá trình tác động con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống của con người
Trang 17vụ Cả hai quá trình này đề nhằm mục đích phục vụ đời sống của con người
Phát triển sản xuất là yêu cầu tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trên thế giới Phát triển sản xuất càng có vai trò hơn nữa khi nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa dịch vụ ngày càng được nâng cao, đặc biệt hiện nay với xu thế tăng mạnh nhu cầu về chất lượng sản phẩm hàng hóa
Phát triển sản xuất cây ăn quả chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm tất cả những yếu tố tác động đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, ta có thể nhóm yếu tố sau:
+ Điều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên là yếu tố tạo
cơ sở cho việc phát triển các ngành, cho quá trình tích luỹ vốn; đồng thời cũng là đối tượng sản xuất nông nghiệp Cây trồng, vật nuôi có quá trình sinh trưởng và phát triển theo quy luật tự nhiên, trải rộng trên một phạm vi không gian rộng lớn Cho nên chúng gắn bó chặt chẽ và phụ thuộc lớn vào điều kiện
tự nhiên
+ Lao động: Lao động là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, đồng thời nó cũng là yếu tố đầu vào không thể thiếu được trong phát triển kinh tế Mặt khác, lao động là một bộ phận của dân số, cũng là những người được
Trang 18hưởng lợi ích của sự phát triển Suy cho cùng là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người Nói đến nhân tố lao động thì phải quan tâm đến cả hai mặt số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực
+ Kinh tế (vốn đầu tư): Vốn đầu tư là một trong những yếu tố cơ bản, quan trọng đối với mọi hoạt động của một nền kinh tế Vốn là chìa khoá đối với sự phát triển bởi lẽ phát triển về bản chất được coi là vấn đề bảo đảm đủ các nguồn vốn đầu tư để đạt được một mục tiêu tăng trưởng Thiếu vốn, sử dụng vốn kém hiệu quả được đánh giá là một cản trở quan trọng nhất đối với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển và bố trí kế hoạch sản xuất kinh doanh Tích luỹ vốn là điều mấu chốt của sự phát triển song tỷ lệ tích luỹ cao có thể không
có tác dụng lớn đối với tăng trưởng, tạo ta ít công ăn việc làm và không cải thiện được phân phối thu nhập khi nguồn vốn đó bị phân tán vào những dự án
có năng suất lao động thấp Một cơ cấu sản xuất thiếu vốn sẽ không có điều kiện để phát triển Trần Đình Tuấn (2002) [24]
+ Khoa học và công nghệ: Sự phát triển kinh tế luôn gắn liền với những thành tựu khoa học kỹ thuật Những phát minh, sáng chế khi được ứng dụng vào sản xuất đã giảm thiểu lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho người lao động; tăng năng suất lao động, tạo sự tăng trưởng nhanh, góp phần tác động mạnh mẽ vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện tại
Trong những năm gần đây, nông nghiệp được quan tâm ứng dụng nhiều tiến bộ tiến bộ khoa hoặc công nghệ vào sản xuất như: công nghệ sinh học, di truyền học, biến đổi gien… Những thành tựu khoa học công nghệ mới đã giúp sản xuất nông nghiệp có được những bước nhẩy vọt về hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ đổi mới
+ Chính sách pháp luật của Nhà nước: Ở mỗi thời kỳ, nền kinh tế của mỗi nước đều vận hành theo một cơ chế nhất định Sau đại hội lần thứ VI của Đảng, nền kinh tế nước ta đã từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
Trang 19hoá tập trung sang nền kinh tế hỗn hợp “nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng XHCN” Trên thực tế, qua 20 năm đổi mới, nền kinh
tế nước ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế Điều đó
đã khẳng định chính sách pháp luật của Nhà nước có một vai trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển của nền kinh tế, sự đặc biệt đó thể hiện bằng các chính sách vĩ mô, tạo hành lang pháp lý cho các thành phần kinh tế hiệu chỉnh khối lượng, phương hướng sản xuất một cách phù hợp với sức cạnh tranh của sản phẩm và mức cung, cầu của thị trường Hoặc các chính sách vi mô điều tiết,
hỗ trợ của chính phủ nhằm tạo cơ hội và điều kiện phát triển một cách cân đối giữa các vùng miền, các ngành thiết yếu [24]
Ngoài ra còn một số yếu tố khác: các hình thức tổ chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành, các thành phần kinh
tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu thụ sản phẩm, các chủ trương chính sách cử Đảng và nhà nước liên quan đến pháy triển sản xuất cũng có quyết định đến quá trình sản xuất
- Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm
Một là, quá trình sản xuất: muốn tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi thì khâu sản xuất phải đảm bảo số lượng một cách hợp lý, chất lượng sản phẩm cao, giá thành hạ và được cung ứng đúng thời gian
Hai là, thị trường tiêu thụ: Mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận, để đạt được mục đích đó thì các doanh nghiệp phải tiêu thụ được mặt hàng của mình sản xuất ra trên thị trường Do đó thị trường tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và còn ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ ba là, giá cả các mặt hàng: giá cả được coi như một tín hiệu đáng tin cây phản ánh tình hình biến động của thị trường Trong nền kinh tế thị trường giá cả là một tín hiệu phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người mua và người bán, giữa các nhà sản xuất kinh doanh và thị trường xã hội
Trang 20Thứ tư là, Chất lượng sản phẩm hàng hóa: chất lượng sản phẩm hàng hóa là một trong những yếu tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp [11]
Thứ năm là, hành vi của người tiêu dùng: Mục đích của người tiêu dùng là tối đa hóa độ thỏa dụng, vì thế trên thị trường người mua lụa chọn sản phẩm hàng hóa xuất phát từ sở thích, quy luật cầu và nhiều nhân tố khác Trong quá trình tiêu thụ sản phẩm thì hành vi người tiêu dùng có ảnh hưởng rất lớn [24]
Thứ sáu là, chính sách của nhà nước trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm: Các chính sách trong hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm cũng tác động trực tiếp hặc gián tiếp đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ bảy là, sự cạnh tranh của các đối thủ trên thị trường: mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào số lượng doanh nghiệp tham gia vào sản xuất kinh doanh mặt hàng đó Vì vậy, doanh nghiệp phải có đối sách phù hợp trong cạnh tranh
để tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm của chính mình
1.1.5 Nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất Cam sành
Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên: Là một loại cây trồng, sinh trưởng
phát triển của nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, bao gồm: khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai, môi trường, sinh thái,…trong đó yếu tố đất đai đóng vai trò hết sức quan trọng trong sản xuất cam; các nhân tố này ảnh hưởng rất lớn đến các thời kỳ sinh trưởng, năng suất
và chất lượng của cam
Nhóm nhân tố kinh tế xã hội: Thói quen tiêu dùng: Đó là sự hình
thành tập quán của người tiêu dùng, nó phụ thuộc vào đặc điểm vủa vùng, mỗi quốc gia, cũng như trình độ dân trí của vùng đó Ví dụ như khi tiêu thụ cam ở thị trường các thành phố lớn thì san phẩm phải đẹp về mẫu mã, chất lượng còn thị trường ven đô hay các khu công nghiệp có thể không nhất thiết
Trang 21đẹp về mẫu, chất lượng quả nhưng giá phải hạ hơn mới được người tiêu dùng
dễ chấp nhận
- Tập quán sản xuất: Liên quan tới chủng loại cam, giống, kỹ thuật canh tác, thu hoạch Đây cũng là nhân tố ảnh hưởng tới năng suất, chất lượng, giá trị thu hoạch được trên một đơn vị diện tích
- Thị trường và các chính sách của Nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường, cầu- cung là yếu tố quyết định đến sự ra đời và phát triển một ngành sản xuất, hay một hàng hóa, dịch vụ nào đó Người sản xuất chỉ sản xuất những hành hóa, dịch vụ mà thị trường có nhu cầu và xác định khả năng của mình khi đầu tư vào lĩnh vực, hàng hóa, dịch vụ nào đó mang lại lợi nhuận cao nhất, thông qua các thông tin và các tín hiệu giá cả phát ra từ thị trường Thị trường với các quy luật cầu – cung, cạnh tranh và quy luật giá trị, nó có tác động rất lớn đến các nhà sản xuất Thị trường cam ở đây được đề cập đến
cả hai yếu tố cầu- cung, có nghĩa là sức mua và sức sản xuất đều ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất cam, mất cân bằng một trong hai yếu tố đó thì sản xuất sẽ bất ổn
- Vai trò của Nhà nước: Thể hiện qua các chính sách về đất đai, vốn tín dụng, đầu tư cơ sở hạ tầng và hàng loạt các chính sách khác liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong đó có sản xuất cam Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sản xuất cam, các chính sách thích hợp, đủ mạnh của Nhà nước sẽ gắn kết cá yếu tố trong sản xuất với nhau để sản xuất phát triển Bao gồm: Quy hoạch vùng sản xuất chính xác, sẽ phát huy được lợi thế so sánh của vùng; Xây dựng được các quy mô sản xuất phù hợp, tổ chức các đầu vào theo đúng các quá trình tiên tiến; …
- Trình độ, năng lực của các chủ thể trong sản xuất kinh doanh, có tác dụng quyết định trực tiếp việc tổ chức và hiệu quả kinh tế cây cam Năng lực của các chủ thế sản xuất được thể hiện qua: trình độ tổ chức quản lý và khả
Trang 22năng áp dụng các tiến độ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới; Khả năng ứng
xử trước các biến động của thị trường, moi trường sản xuất kinh doanh; khả năng vốn và trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, Nếu trình độ, năng lực của các chủ thể sẽ có ảnh hưởng tích cực tới sản xuất cam và ngược lai
- Quy mô sản xuất: các hộ nông dân khác nhau có diện tích trồng cam khác nhau Có một số hộ gia đình ngoài phần diện tích của gia đình được chi theo số khẩu còn có diện tích nhận đấu thầu Diện tích càng lớn thì công tác quản lý giảm đi và mọi công việc như tổ chức chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm và ngược lại Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, tiêu thụ sản phẩm
Nhóm nhân tố các biện pháp kỹ thuật canh tác: Biện pháp kỹ thuật
canh tác là sự tác động của con người vào cây trồng (như chọn giống cam đưa vào trồng, kỹ thuật chăm sóc: tỉa cành, tạo tán, phòng trừ sâu bệnh, phương thức trồng) tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế cao Cụ thể:
- Giống cam: Từ trước đến nay, giống cam chủ yếu được sản xuất bằng phương pháp chiết cành và hầu hết được các hộ gia đình tự sản xuất nên chất lượng cây giống không được kiểm soát, đảm bảo chất lượng Do tâm lý sợ ảnh hưởng và tiếc những cây mẹ tốt nên hầu hết cây giống đều được chiết từ những cây kém phát triển, những cành thải loại không đủ tiêu chuẩn, đã làm giảm khả năng phát triển, sinh trưởng của cây trồng khi trồng mới, sâu bệnh lan rộng, chất lượng giảm sút
- Kỹ thuật chăm sóc: là khâu tác động ảnh hưởng không những năm đó
mà còn ảnh hưởng đến nhiều năm về sau Quan sát thực tế trên vườn trong nhiều năm cho thấy gia đình nào thực hiện công tác tỉa cành, tạo tán đúng kỹ thuật, đúng thời điểm thì số cành cho quả tăng đều nhau giữa các cành, tán có diện tích bề mặt rộng không có phần bị che lấp
Trang 23- Phòng trừ sâu bệnh: Cam là loại cây trồng dễ mắc nhiều loại bệnh, do vậy phòng trừ sâu bệnh và kịp thời cây sẽ sinh trưởng và phát triển tốt, là cơ
sở cho cây ra hoa và nuôi quả trong suốt thời gian mang quả Nếu không làm tốt khâu này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc ra hoa, đậu quả và tới năng suất, sản lượng cam
- Phương thức trồng: Trên cơ sở đặc tính sinh vật học và quy luật phát triển của cây cam để lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn một cách hợp lý giữa các biện pháp nhằm đạt mục tiêu kinh tế song việc áp dụng các tiến bộ
kỹ thuật trong canh tác phụ thuộc rất lớn vào mức độ đầu tư
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình sản xuất, kinh doanh cam trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, diện tích, năng suất và sản lượng cây có múi trên thế giới không ngừng tăng lên Tuy nhiên trong sản xuất cây có múi hiện nay đang gặp phải những khó khăn nhất định do không kiểm soát được một số loại dịch bệnh hại phổ biến như: Bệnh Greening, Tristeza.vv Các loại dịch bệnh này đã làm cho diện tích cây có múi bị thu hẹp lại
Mặc dù nguồn gốc cam quýt xuất phát từ vùng Đông Nam Á nhưng hiện nay cam, quýt được trồng ở nhiều vùng trên thế giới với tổng số hơn 100 quốc gia Quá trình sản xuất và tiêu thụ cam, quýt được ghi nhận phát triển từ giữa thập niên 1980 đến nay gồm nhiều chủng loại quả cam, chanh, quýt, bưởi có lượng gia tăng rất nhanh
Châu Á được xác định là trung tâm khởi nguyên của cây có múi, là khu vực sản xuất cam lớn trên thế giới, năm 2012 với diện tích cho thu hoạch quả
là 1.483.833 ha, năng suất 134,76 tạ/ha, sản lượng đạt được là 19.996.359 tấn Là khu vực có sản lượng cao trên thế giới nhưng do điều kiện kinh tế xã hội cho nên nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng Công tác chọn tạo giống, kỹ thuật canh tác (trừ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) còn rất nhiều hạn chế so với các vùng trồng cây có múi khác trên thế giới
Trang 24Theo thống kê của FAO năm 2013 tình hình xuất nhập khẩu cam, quýt trên thế giới như sau: Nhập khẩu 37,13 nghìn tấn có giá trị 31.272,38 nghìn USD, xuất khẩu 63,71 nghìn tấn có giá trị 38.112,3 nghìn USD Như vậy sản
phẩm cam, quýt có giá trị thương mại rất lớn trong nền kinh tế thế giới
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng cam trên thế giới năm 2013 Chỉ tiêu Năm
(1000 tấn) 69.551 67.995 69.045 71.241 68.817 71.445
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2014)
Năm 2013 diện tích cam của toàn thế giới là 4.078,88 nghìn ha và sản lượng đạt cao hơn 71.445 nghìn tấn vì vậy năng suất trung bình là 178,75 tạ/ha So sánh về diện tích của 5 châu lục, châu Mỹ có tổng diện tích lớn nhất sau đó đến châu Á, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 22,165 nghìn ha Diện tích cam mặc dù có xu hướng giảm nhẹ nhưng sản lượng hàng năm vẫn tăng cao, nguyên nhân chủ yếu do năng suất được tăng lên bởi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất cam
- Vùng châu Mỹ: Các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mêxico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kỳ đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất cam năm 2010 đạt 196,24 tạ/ha, đến năm 2013 năng suất trung bình đạt 212,03 tạ/ha
- Vùng châu Á gồm các nước (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêia, Philippin, Thái Lan…) được khẳng định là quê hương của cam, quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Tuy nhiên năng suất bình quân vẫn còn đang ở mức thấp, đó là do điều kiện kinh tế, xã hội của các nước này có
Trang 25những hạn chế nhất định, nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều và đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại (Nhật Bản, Hàn Quốc) và sự canh tác truyền thống của Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin tình trạng sâu bệnh hại nhiều nghiêm trọng; năm 2013 diện tích của vùng là 1.712,87 ha
Bảng 1.2 Diện tích cam ở các vùng trên thế giới năm 2008-2013
Năm Chỉ tiêu ĐVT
Các châu lục
Thế giới Châu
2010
Diện tích 1000 ha 393,86 1.738,23 1.656,76 313,87 22,19 4.059,11 Năng suất tạ/ha 180,96 196,24 127,92 211,13 181,86 170,10 Sản lượng 1000 tấn 7.127 34.111 21.194 6.627 404 69.045
2013
Diện tích 1000 ha 440,25 1.608,33 1.712,87 294,32 24,21 4.078,88 Năng suất tạ/ha 189,80 212,03 130,83 209,52 70,69 175,11 Sản lượng 1000 tấn 8.356 34.101 22.409 6.167 413 71.445
(Nguồn: FASTAT/FAO Statistics - năm 2014) Theo FAO Statistics - năm 2014 tình hình xuất nhập khẩu cam, quýt
trên thế giới năm 2012 như sau: Nhập khẩu 37,13 nghìn tấn có giá trị 31.272,38 nghìn USD, xuất khẩu 63,71 nghìn tấn có giá trị 38.112,3 nghìn USD Như vậy sản phẩm cam, quýt có giá trị thương mại rất lớn trong nền kinh tế thế giới
1.2.2 Tình hình sản xuất kinh doanh cam ở Việt Nam
Cam, quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta, cho đến nay cam quýt đã được nhiều nhà quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước Theo tác giả Trần Như Ý
và các cộng sự (năm 2000) cho thấy cây ăn quả có diện tích, sản lượng cao đó là: Chuối, cam, quýt, dứa, xoài trong đó cam, quýt đứng vị trí thứ 2 sau chuối [26]
Trang 26Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả, đặc biệt là các loại cam quýt Theo sử sách “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn có viết: nước Việt Nam cũng có nhiều thứ cam: cam Sen (Liên Cam), cam Vú (Nhũ Cam) loại quả có vỏ mọng
và mỡ, vừa chua vừa ngọt; cam Sành (Sinh Cam) vỏ dày, vị chua; cam Mật (Mật Cam) vỏ mỏng, vị chua; cam Động Đình quả to, vỏ dày, vị chua; cam Giấy (Chỉ Cam) tức là Kim Quýt vỏ rất mỏng, sắc hồng, trông mã đẹp, vị chua; quất Trục (cây quýt) ghi trong Thiên Vũ Cống và sách Thu Thư là tài sản rất quý của Nam Phương đem sang Trung Quốc trước tiên [8]
Việt Nam là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây
có múi (Trung tâm Đông Nam Á), nên cây có múi đã được trồng rất lâu đời
và phân bố rộng khắp từ Bắc đến Nam Việt Nam Hiện nay, sản lượng và diện tích trồng cây có múi đang có xu hướng gia tăng do mang lại hiêu quả kinh tế cao hơn so với các loại cây trồng khác Điều này đã kích thích nhà vườn mạnh dạn đầu tư vào việc trồng cây có múi [20]
Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như Sông Lô, Cao Phong, Sông Bồi, Thanh Hà, Sông Con Diện tích ở một số vùng trồng cam chính ở nước ta như: vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha và các vùng còn lại khác 500 ha Thời kỳ này có khoảng 3000 ha cam quýt và phát triển khá mạnh, sản lượng hàng năm đã đạt vài nghìn tấn; năng suất bình quân những năm đó vào khoảng 135 - 140 tạ/ha Thời kỳ này vùng cam đất đỏ bazan Phủ Quỳ (Nghệ An) đạt bình quân toàn nông trường 220 tạ/ha [7]
Những năm đầu của thế kỷ 21 trở lại đây diện tích, năng suất và sản lượng của cam được tăng lên rất mạnh và dần ổn định Số liệu thống kê cho thấy, hiện nay, cả nước có khoảng 832 nghìn ha cây ăn quả, sản lượng đạt hơn
Trang 277 triệu tấn Trong đó, diện tích cây ăn quả có múi cả nước là 138,2 nghìn ha (năm 2011), chiếm khoảng 18% diện tích cây ăn quả cả nước với sản lượng hàng năm là 1,35 triệu tấn Diện tích cây có múi các tỉnh phía Bắc là 35,8 nghìn ha, chiếm khoảng 25,9% diện tích cây có múi cả nước, sản lượng đạt 274,9 nghìn tấn/năm, chỉ bằng 20,4% sản lượng cây ăn quả có múi cả nước Tuy những năm gần đây, cây ăn quả tăng nhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng nhưng tiềm năng chưa được khai thác vẫn còn rất lớn
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy tổng diện tích sản xuất cam, quýt có xu hướng giảm dần năm 2008 với 80,10 nghìn ha giảm dần đến năm 2012 xuống còn 67,5 nghìn ha, năm 2013 diện tích trồng cam quýt tăng 2.300 ha lên 69,8 nghìn ha
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất cam quýt giai đoạn 2008 - 2013
Năm
Diện tích cam hiện có (1.000 ha)
Diện tích cho thu hoạch ( 1.000 ha)
Năng suất (Tấn/ha)
Sản lượng (1.000 tấn)
(Nguồn Cơ sở dữ liệu Tổng cục thống kê năm 2014)
Về diện tích cam quýt cho thu hoạch: cả nước bình quân 6 năm 2008 -
2013 giảm 0,69 % tương đương 7.300 ha; tuy nhiên năm 2013 so với năm
2012 diện tích đã tăng 1.000 ha
Trang 28Năng suất trung bình năm 2008 rất thấp chỉ đạt 10,62 tấn/ha và tăng dần đến năm 2013 đạt năng suất 12,52 tấn/ha Tuy Diện tích cho thu hoạch của cây cam quýt trong giai đoạn 2008-2013 có giảm nhưng năng suất lại tăng nhanh do vậy mà sản lượng bình quân 6 năm qua đã tăng 2,31 %
Ở nước ta nhóm cây ăn quả có múi nói chung, cây cam nói riêng được coi là một trong 4 loại các cây ăn quả chủ lực
Nước ta có 3 vùng trồng cây có múi chủ yếu là:
Theo Trần Thế Tục (1980), các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí từ 9015’ đến 10030’ vĩ bắc và 1050 đến 106045’ kinh đông, địa hình rất bằng phẳng, có độ cao từ 3 - 5 m so với mực nước biển Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ, ẩm độ, lượng mưa và ánh sáng ở vùng này rất phù hợp với việc phát triển sản xuất cây có múi Lịch sử trồng cam quýt ở Đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời nên người dân ở đây rất có kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc các loại cây
ăn quả có múi Cam quýt được trồng chủ yếu ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu có nước ngọt quanh năm, nơi đây có tập đoàn giống cam quýt rất phong phú như: Cam Chanh, Cam Sành, Chanh Giấy, quýt [20]
- Vùng khu bốn cũ:
Gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ 180 đến 20030’vĩ bắc, trọng điểm trồng cam quýt vùng này là Phủ Quỳ - Nghệ An gồm một cụm các Nông trường chuyên trồng cam với diện tích năm 1990 là
600 ha Các giống cam ở Phủ Quỳ có khả năng sinh trưởng tốt và năng suất tương đối ổn định Hai giống Sunkiss và Xã Đoài có ưu thế về tiềm năng, năng suất và sức chống chịu sâu bệnh hại nặng trên cả cây và quả [27]
Huyện Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh ở đây đã có tập quán trồng bưởi lâu đời, đặc biệt là bưởi Phúc Trạch, một trong những giống bưởi đặc sản ngon
Trang 29nhất hiện nay Ngoài bưởi Phúc Trạch ở vùng này còn có một giống cam quýt rất nổi tiếng là cam Bù Cam Bù có quả to, ngon, màu sắc hấp dẫn, chín muộn nên có thể đưa vào cơ cấu cam quýt chín muộn ở nước ta hiện nay Cam Bù
có năng suất cao nhờ có bộ lá quanh hợp tốt và số lượng lá trên cây lớn, có tính chịu hạn tốt Cam Bù thường được trồng với mật độ cao (600 đến 1000 cây/ha) để cho cây chóng giao tán, che phủ đất chống xói mòn và hạn chế ánh sáng trực xạ ở vùng núi thấp [5]
- Vùng miền núi phía Bắc:
Vùng này có các tỉnh trồng cam với diện tích lớn đó là: Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên với điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với hai vùng trên, cam quýt được trồng
ở các vùng đất ven sông, suối như: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Thương, Sông Chảy Cam quýt được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc trên 1.000
ha như ở Bắc Sơn - Lạng Sơn, Bạch Thông - Bắc Cạn, Hàm Yên, Chiêm Hoá
- Tuyên Quang, Bắc Quang - Hà Giang, tại những vùng này cam quýt trở thành thu nhập chính của hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất Do địa hình sinh thái phong phú dẫn đến có nhiều loại cam quýt, đặc biệt ở vùng núi phía bắc là nơi chứa đựng tập đoàn giống cam quýt đa dạng
Khu vực huyện Bắc Quang - Hà Giang hiện nay là một vùng sản xuất cam quýt lớn của miền bắc với giống cam Sành chất lượng ngon, màu sắc đẹp, cung cấp một lượng cam lớn cho miền bắc vào dịp tết và sau tết [5]
Người ta tiến hành phân tích khí hậu vùng Bắc Quang, so sánh với các vùng trồng cam quýt lớn ở miền bắc trước đây như Phủ Quỳ, Sông Bôi, Bố
Hạ và một số vùng cam quýt nổi tiếng trên thế giới như Califocnia, Floria Các chỉ tiêu phân tích như chế độ nhiệt, chế độ mưa, ẩm và những điều kiện thời tiết đặc biệt như: bão, sương muối, mưa đá và đi đến kết luận rằng vùng
Trang 30này có các yếu tố thời tiết đặc biệt có lợi cho cam phát triển, hoàn toàn phù hợp với yêu cầu sinh thái và có thể hình thành nên vùng trồng cam quýt xuất khẩu Tại Bắc Quang có 4 giống quýt là quýt Chum, quýt Chun, quýt Đỏ và quýt Vàng có triển vọng phát triển với thời gian cho năng suất cao, kéo dài và
có giá trị thương phẩm cao [14]
Kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu, Lê Thị Thu Hồng thì năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh ta 88 tạ/ha; bưởi 74 tạ/ha
Cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha, chanh 128 tạ/ha, quýt
240 tạ/ha, bưởi 177 tạ/ha Lãi thuần đối với 1 ha trồng cam là 82,4 triệu đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lớn nhất toàn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so với nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha) Tuy nhiên đã
có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ tới 400 - 500 tạ/ha [15]
Nhìn chung, tập quán tiêu thụ quả tươi của nhân dân từ xưa đã thành truyền thống Quả là nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của người dân đô thị; trong các ngày giỗ chạp, ngày hội, ngày tết, thăm hỏi lẫn nhau nhân dân cũng dùng đến quả tươi, với mức sản xuất hiện tại đạt mức 48 kg quả các loại cho 1 đầu người [27] Mặt khác, phát triển quả có múi (trong đó có cam) ở nước ta là phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước là chủ yếu và một phần cho xuất khẩu Trong những năm trước mắt xuất khẩu quả có múi chủ yếu là bưởi, cam
Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, trong những năm 1990-1994 mức tiêu thụ bình quân ở vùng nông thôn khoảng 20-25 kg/người/năm, ở các vùng thành phố lớn là 40-45 kg/người/năm Hiện nay với trên 80 triệu dân mức tiêu thụ đang có xu hướng tăng lên điều tra tiêu dùng riêng về quả của thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 đã lên tới 750 nghìn tấn/năm quả tươi các loại [20]
Trang 31Nhờ có nhu cầu ngày càng tăng nên diện tích cây ăn quả trong thời gian qua tăng mạnh Trong các loại cây ăn quả, diện tích cây có múi cũng tăng mạnh bình quân 18%/năm
Nhìn chung sản xuất cây ăn quả mới nhắm vào phục vụ thị trường trong nước, một thị trường dễ tính, đang tăng nhanh nhưng sẽ bị cạnh tranh mạnh trong tương lai Triển vọng của ngành sản xuất này là rất lớn với điều kiện đầu tư thích đáng và đồng bộ từ nghiên cứu, tổ chức sản xuất giống, chế biến, đóng gói, vận chuyển, tiêu chuẩn chất lượng, nhãn hiệu, tiếp thị,…những lĩnh vực Việt Nam còn rất kém Hiện nay, xu hướng phát triển sản xuất hàng hóa ngày càng tăng Tuy nhiên mức độ thương mại hóa khác nhau giữa các vùng Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ trọng hàng hóa quả cao nhất với gần 70% sản lượng được bán ra trên thị trường Tiếp theo là Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ với tương ứng là 60% và 58% Các vùng còn lại tỷ suất hàng hóa đạt từ 30 - 40% Mức độ thương mại hóa cao ở Miền Nam cho thấy xu hướng tập trung chuyên canh với quy mô lớn hơn so với các vùng khác trong
cả nước Sản xuất nhỏ lẻ, vườn tạp vẫn tồn tại nhiều, đây chính là hạn chế của quá trình thương mại hóa, phát triển vùng chuyên canh có chất lượng cao Sự khác nhau không chỉ thể hiện rõ giữa các vùng mà còn giữa các nhóm thu nhập Kết quả nghiên cứu cho thấy nông dân giàu bán nhiều sản phẩm hơn nông dân nghèo vì có quy mô sản xuất lớn hơn và khả năng tiếp cận thị trường dễ dàng hơn so với nông dân nghèo Những người sản xuất giàu nhất bán 83% trong năm 2002 so với 76 % những hộ ở nhóm nghèo
Trước đây cam ở Việt Nam chủ yếu sử dụng ăn tươi và sản lượng cam chỉ đủ để cung cấp cho thị trường trong nước Trong những năm gần đây khi Việt Nam ra nhập (WTO), các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam muốn gia nhập thị trường thế giới đòi hỏi phải đảm bảo chất lượng nông sản, áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn (GAP); những năm gần đây
Trang 32do đã áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biện pháp kéo dài thời gian
sử dụng, nên chất lượng sản phẩm quả được nâng lên một số giống cam, bưởi ngon của nước ta đã bắt đầu có thị trường tiêu thụ ra nước ngoài
+ Tổ chức tiêu thụ sản phẩm quả:
Tổng Công ty Rau quả nông sản Việt Nam và các công ty trực thuộc là đơn vị giữ vai trò chủ đạo trong lưu thông, phân phối mang tính chất Nhà nước, thông qua việc hướng dẫn sản xuất, giới thiệu sản phẩm, ký kết các hợp đồng xuất khẩu sản phẩm quả Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam đã tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Tuy vậy, thị trường tiêu thụ quả có chỗ, có nơi sôi động trong lúc đó có vùng lại bỏ ngỏ mang tính chất tự do thông qua chợ nông thôn và thành thị
Kênh tiêu thụ do tư nhân đảm nhận thu gom, vận chuyển và bán hàng cho các cửa hàng, đại lý, siêu thị Trong các kênh tiêu thụ thì tiêu thụ sản phẩm quả hiện nay do tư nhân, thương lái tiêu thụ là chủ yếu
Kim ngạch xuất khẩu có chiều hướng tăng trưởng tích cực, song so với tốc độ tăng về sản lượng xuất khẩu thì giá trị kim ngạch xuất khẩu chưa tương xứng Điều đó chứng tỏ rằng chất lượng hàng xuất khẩu của chúng ta chất lượng còn ở mức độ thấp, sản phẩm xuất thô và phải trải qua nhiều khâu trung gian mới đến được tay người tiêu dùng nên hiệu quả còn hạn chế Nếu rút ngắn được các khâu trung gian, xuất khẩu rau quả sẽ mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế
Trang 33Bảng 1.4 Giá trị xuất khẩu của cây có múi tại Việt Nam (2001-2008)
(Nguồn: Trung tâm thương mại quốc gia, 2009)
+ Thị trường xuất khẩu quả:
Trong bối cảnh nước ta đã là thành viên tổ chức thương mại Thế giới, ngành sản xuất và chế biến hoa quả của ta đang đứng trước những thách thức rất lớn về xuất khẩu và cả tiêu thụ nội địa, điều đó có thể thấy ở một số điểm chính như sau:
Thị trường Trung Quốc, hàng năm nhập khẩu 50-80% sản lượng quả tươi từ nước ta chủ yếu qua đường tiểu ngạch Trong thời gian tới rau quả nông sản Việt Nam xuất sang Trung Quốc phải chịu mức thuế cao hơn Thái Lan, Ấn Độ 22-25%, các đòi hỏi về chất lượng nghiêm ngặt hơn trước
Các thị trường tiêu thụ tiềm năng khó tính như Hoa Kỳ, EU ngày càng đòi hỏi chất lượng cao, an toàn, sạch bệnh, mẫu mã bao bì đẹp, thuận lợi cho tiêu dùng Sản xuất CAQ ở nước ta qui mô phân tán, việc cung ứng các giống tốt vào sản xuất đại trà cũng như việc điều tiết để có được sự hài hoà giữa sản xuất, tiêu thụ và chế biến vẫn còn là một khó khăn lớn, tính thương phẩm của quả tươi còn thấp, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường
Tuy nhiên, với điều kiện thuận lợi về đất đai, khí hậu, nước ta có nhiều
Trang 34chủng loại quả đặc trưng, do vậy sản phẩm quả của nước ta vẫn có nhiều lợi thế so sánh đối với các nước trong khu vực và trên thế giới
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở tỉnh Tuyên Quang
Tỉnh Tuyên Quang có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh trưởng
và phát triển của nhiều loại cây ăn quả, năm 2014 tỉnh Tuyên Quang có 6.560,86 ha cây ăn quả, trong đó: Diện tích cây cam quýt 5.276,9 ha, diện tích cây nhãn vải 1.980 ha, diện tích cây cam tập trung chủ yếu trong địa bàn
15 xã của 2 huyện Hàm Yên và Chiêm Hoá thuộc các xã Yên Thuận, Bạch
Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Tân Thành, Yên Lâm, Yên Phú và thị trấn Tân Yên, Minh Hương, Nhân Mục, Bằng Cốc, Thái Sơn, huyện Hàm Yên; xã Trung Hà, Hà Lang huyện Chiêm Hóa
Về cơ cấu giống: Các giống cam đang trồng phổ biến tại tỉnh Tuyên Quang như: Cam Sành, cam chanh, cam đường canh, cam Xã Đoài, cam Valencia, Nhìn chung cơ cấu giống cam đang sản xuất tại tỉnh Tuyên Quang tương đối phong phú, tuy nhiên 96,9 % diện tích cam hiện có trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang là giống Cam Sành, đối với một số giống cam khác như cam Chanh, cam Valencia, cam Xã Đoài đã được trồng nhỏ lẻ chiếm khoảng 3,1 % diện tích cam
Về tiêu thụ: Tỉnh Tuyên Quang có mạng lưới giao thông tương đối thuận lợi do nằm ở vùng trung tâm của các tỉnh phía Bắc cho nên việc tiêu thụ cam quả ở tỉnh Tuyên Quang rất thuận lợi đã khuyến khích được người dân phát triển cây có múi Theo báo cáo năm 2015 của Ủy ban nhân dân huyện Hàm Yên thu nhập từ sản xuất cam năm 2015 đạt giá trị trên 430 tỷ đồng, nhiều hộ có thu nhập từ 100 triệu đồng trở lên trong đó có trên 50 hộ có thu nhập trên 1 tỷ đồng, cá biệt có hộ thu nhập từ 1,8 đến 2 tỷ đồng
Tóm lại: Cây có múi nói chung và cam nói riêng là loại cây ăn quả quan trọng có giá trị dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế cao hơn các cây trồng
Trang 35khác Việc phát triển trồng cam ở những vùng có điều kiện sinh thái như huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang là rất cần thiết nhằm phát huy lợi thế; giúp xoá đói giảm nghèo, mang lại nguồn thu nhập cao và ổn định cho người dân; giải quyết được nhiều việc làm cho lao động nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế của tỉnh
1.2.4 Kinh nghiệm rút ra từ cơ sở luận và thực tiễn về phát triển sản xuất kinh doanh Cam sành
Nước ta có điều kiện sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây cam, hiện nay có rất nhiều giống cam đặc sản có triển vọng cho xuất khẩu Công tác nghiên cứu trong những năm gần đây về cây có múi cũng tạo
ra cho Việt Nam có sự đa dạng về giống Đã có rất nhiều những nghiên cứu
về cây cam ở Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này chỉ áp dụng cho từng vùng sản xuất nhất định
Tỉnh Tuyên Quang có diện tích trồng cây cam tương đối lớn có điều kiện sinh thái, thổ nhưỡng phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây cam; quỹ đất để phát triển cây ăn quả nói chung và cây cam nói riêng còn rất lớn Trong những năm gần đây phát triển cây cam hàng hóa đã có những đóng góp nhất định cho sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
Vấn đề đặt ra ở vùng sản xuất cam Hàm Yên là cần phải đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, để hạn chế được những tác hại do thời tiết, khí hậu sinh ra Mặt khác, việc thay đổi cơ cấu giống cũng rất cần thiết, bởi vì từ trước tới nay vùng Hàm Yên sản xuất cam sành là chính, ít chú ý tới các giống khác khác trong họ cam
Cam là cây trồng có thế mạnh ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang nhưng vùng sản xuất cam phát triển còn mang tính tự phát, chưa có những nghiên cứu đánh giá định hướng để phát triển vùng sản xuất cam phát triển bền vững Vì vậy những nghiên cứu, đánh giá đối với vùng sản xuất cam huyện Hàm Yên là hết sức cần thiết cho thực tiễn sản xuất cam của địa phương
Trang 36Chương 2 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Hàm Yên có diện tích tự nhiên 108.123,48 ha, nằm phía Tây Bắc của tỉnh Tuyên Quang, có Thị trấn Tân Yên là trung tâm hành chính thuộc huyện Hàm Yên, cách Thành phố Tuyên Quang 42 km (theo Quốc lộ 2) Huyện Hàm Yên nằm trong khoảng tọa độ địa lý: Từ 210
51' đến 22 023' Vĩ độ Bắc và từ 104 051' đến 1050
09' Kinh độ Đông Ranh giới hành chính của huyện được xác định: Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang Phía Nam giáp huyện Yên Sơn Phía Đông giáp huyện Chiêm Hóa Phía Tây giáp huyện Yên Bình và huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái
2.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
* Địa hình
Hàm Yên có địa hình, địa mạo phức tạp, hầu hết diện tích đất tự nhiên là đồi núi thấp Độ cao trung bình 500- 600 m, cao nhất là núi Cham Chu (xã Phù Lưu) có độ cao 1.591 m, thấp nhất ở khu vực phía Nam có độ cao 300 m so với mực nước biển Nhìn tổng thể, địa hình của vùng có hướng cao dần từ Tây Nam sang Đông Bắc
* Thổ nhưỡng: Kết quả nghiên cứu cho thấy trên địa bàn huyện Hàm Yên có các loại đất chủ yếu sau:
- Đất phù sa ngòi suối (Py): Phân bố chủ yếu ở các xã: Minh Hương,
Tân Thành, Đức Ninh, Hùng Đức Đất có thành phần cơ giới cát pha đến thịt nhẹ, độ dày tầng đất trên 120 cm Phần lớn loại đất này được sử dụng trồng 1 hoặc 2 vụ lúa, năng suất trung bình thấp
Trang 37- Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf): Phân bố ở xã Nhân Mục
Đất có thành phần cát pha, độ dày tầng đất trên 120 cm Do điều kiện tưới khó khăn nên loại đất này chỉ gieo trồng được 1 vụ lúa mùa
- Đất phù sa được bồi hàng năm (Pb): Phân bố ở các xã: Phù Lưu, Tân Thành và Bình Xa (dọc theo sông Lô) Đất có thành phần cơ giới cát pha, độ
dày tầng đất trên 120 cm Đất này thường bị ngập vào mùa mưa lũ; mùa khô không được tưới nên hàng năm chỉ gieo trồng các cây màu ngắn ngày như ngô, lạc, đậu, đỗ năng suất đạt ở mức trung bình
- Đất phù sa không được bồi hàng năm (P): Phân bố trên nền địa hình
cao ở xã Thái Sơn và Đức Ninh Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, độ dày tầng đất trên 120 cm Phần lớn trên đất này đã được trồng các loại cây ngắn ngày như lúa, hoa màu nhưng năng suất thấp
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Phân bố chủ yếu ở các xã: Thành
Long, Bằng Cốc, Bình Xa, Phù Lưu và Bạch Xa Đất được hình thành từ đá
mẹ sa thạch, có độ dày tầng đất từ dưới 50 cm đến trên 120 cm, có thành phần
cơ giới cát pha Trên loại đất này phần lớn còn rừng, nơi có độ dốc < 250
có thể khai thác trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp lâu năm
- Đất vàng đỏ trên đá Granit (Fa): Phân bố chủ yếu ở các xã: Yên Lâm,
Nhân Mục, Thành Long và Thái Hoà Đất được hình thành trên đá mẹ Granit, thành phần cơ giới cát pha, độ dày tầng đất có ở cả 3 cấp: Dưới 50 cm, từ 50 - 120
cm và trên 120 cm Đất có địa hình đồi dốc lớn, chia cắt xen kẽ với các đồi đá cát
và phiến sét, khả năng khai thác sử dụng cho sản xuất nông nghiệp bị hạn chế
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Phân bố chủ yếu ở các xã: Thái
Sơn, Bình Xa và thị trấn Tân Yên Đất được hình thành trên đá mẹ phù sa cổ,
có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày tầng đất trên 120 cm Loại đất này thường được sử dụng trồng các loại cây như chè, cây ăn quả, mía nhưng
do dễ bị mất nước nên đất chặt rắn
Trang 38- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (D): Phân bố chủ yếu ở các xã:
Phù Lưu, Tân Thành, Thái Sơn và Yên Thuận Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, độ dày tầng đất trên 120 cm Loại đất này thường được sử dụng trồng lúa và các cây trồng ngắn ngày khác, năng suất trung bình khá
- Đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất (Fs): Phân bố ở tất cả các xã, thị
trấn trên địa bàn huyện Đất được hình thành trên đá mẹ philit, gơnai và phiến thạch mica Thành phần cơ giới đất từ cát pha đến thịt trung bình, độ dày tầng đất có ở cả 3 mức: Dưới 50 cm, từ 50 - 120 cm và trên 120 cm Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp dài ngày (chè) và cây ăn quả, vùng đồi núi có độ dốc trên 250
cần phải được bảo vệ rừng và trồng rừng là chính Đất này cũng có ý nghĩa sử dụng lớn trong nhiều mục đích sử dụng khác
2.1.1.2 Khí hậu, thời tiết
Huyện Hàm Yên có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa Bắc Á- Trung Hoa và chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa
Hè nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9; mùa Đông khô, lạnh từ tháng
+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600- 1.800mm
Số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm Mưa nhiều nhất tập trung vào các tháng mùa hè (tháng 7; 8), có tháng lượng mưa đạt trên 300 mm Lượng mưa các tháng mùa đông (tháng 1; 2) thấp, chỉ đạt 10- 25 mm/tháng Với lượng mưa như trên rất thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cam Tuy nhiên
do mưa phân bố không đều trong những tháng khô hạn cần có biện pháp tưới cho cam mới có thể đạt năng suất và chất lượng tốt
Trang 39+ Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.500giờ Các
tháng mùa Đông có số giờ nắng thấp, khoảng 40- 60giờ/tháng Các tháng mùa
Hè có số giờ nắng cao, khoảng từ 140- 160giờ
+ Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí trung bình hàng năm từ 80-
82% Biến động về độ ẩm không khí không lớn giữa các tháng trong năm (từ 76- 82%)
- Thủy văn:
Hàm Yên có hệ thống sông suối dầy đặc, phân bố tương đối đồng đều
ở các xã, có sông Lô chạy dọc qua huyện dài 55 km chia huyện ra làm hai khu vực: Khu vực Tả ngạn gồm 8 xã (Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Tân Thành, Bình Xa, Minh Hương) và hữu ngạn gồm 10 xã: (Yên Lâm, Yên phú, thị trấn Tân Yên, Nhân Mục, Bằng Cốc, Thành Long, Thái Sơn, Thái Hoà, Đức Ninh, Hùng Đức) Hệ thống sông, suối thuận lợi cho các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện nhỏ
2.1.1.3 Tài nguyên nước
+ Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của vùng khá lớn với diện tích
mặt nước, sông suối chiếm 2,55% diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là nguồn nước mặt từ sông Lô Ngoài các sông, suối hiện có trên địa bàn, lượng mưa hàng năm cũng khá cao (từ 1.600- 1.800 mm) cùng với nhiều ao, hồ chứa nước đã tạo cho vùng có nguồn nước mặt khá phong phú
+ Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm dồi dào, có ở khắp lãnh thổ
huyện với chất lượng tốt đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt Mực nước ngầm không sâu và tương đối ổn định, thuận lợi cho khai thác, kể cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt của người dân
2.1.1.4 Tài nguyên rừng
Diện tích đất rừng của Hàm Yên tương đối lớn, theo số liệu thống kê đất đai năm 2015 diện tích đất lâm nghiệp của vùng có 80.784,87 ha, chiếm 74,72% diện tích tự nhiên của vùng
Trang 40Rừng là nguồn tài nguyên và được coi là thế mạnh của vùng, diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu sử dụng đất toàn vùng Trong vùng có khu bảo tồn thiên nhiên rừng Cham Chu nằm ở xã Yên Thuận và xã Phù Lưu, đặc biệt là có khu du lịch sinh thái Cao Đường được ví như Đà Lạt của Tuyên Quang, hàng năm thu hút đông đảo du khách đến thăm quan
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội
- Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Huyện Hàm Yên là một huyện miền núi nên nền kinh tế của vùng vẫn dựa chủ yếu vào phát triển nông lâm nghiệp Đồng thời từng bước hình thành những nền tảng cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các ngành nghề thủ công truyền thống, Tổng giá trị sản xuất năm 2015 đạt 1.624,98 tỷ đồng, trong đó:
Cơ cấu kinh tế năm 2015
37%
29%
34%
- G iá trị s ản xuất nông - lâm nghiệp - thủy s ản
- G iá trị s ản xuất công nghiệp - xây dựng
- G iá trị s ản xuất ngành dịch vụ - du lịch
Hình 3.1: Biểu đồ cơ cấu kinh tế năm 2015
- Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp - thủy sản năm 2015 đạt 601,56 tỷ đồng, so với năm 2014 tăng 8,3 %, chiếm 37,02 % trong cơ cấu kinh tế
- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng năm 2015 đạt 471,5 tỷ đồng,
so với năm 2014 tăng 8,3%, chiếm 29,02 % trong cơ cấu kinh tế
- Giá trị sản xuất ngành dịch vụ - du lịch năm 2015 đạt 551,92 tỷ đồng,
so với năm 2014 tăng 13,9%, chiếm 33,96 % trong cơ cấu kinh tế