1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp góp phần ổn định và nâng cao mức sống cho các hộ nông dân thuộc diện tái định cư trên địa bàn huyện kinh môn tỉnh hải dương

124 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Dân hoang mang vì sạt lở ở khu tái định cư

    • Do mưa liên tục trong nhiều ngày qua, điểm TĐC Huồi Siu, Huồi Lạn thuộc địa phận xã Tiền Phong, huyện Quế Phong, Nghệ An đã bị sạt lở nghiêm trong, đe dọa tính mạng người dân nơi đây.

    • Phước Thuận

    • Khu tái định cư Đồng Sam thông Quảng Vân xã Phước Thuận này được chính quyền địa phương cấp đất từ năm 2010 để di dời 61 hộ gia đình tại các vùng có nguy cơ sạt lở, vùng bị lũ lụt uy hiếp.

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁI ĐỊNH CƯ

Cơ sở lý luận về tái định cư

1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến di dân, tái định cư

Di dân là một quá trình diễn ra liên tục trong lịch sử nhân loại, phản ánh sự thay đổi trong các hình thái kinh tế và xã hội Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, hiện tượng di dân từ nông thôn ra thành phố ngày càng gia tăng, không chỉ do đô thị hóa mà còn nhờ vào sự phát triển của cơ sở hạ tầng, bao gồm cầu đường và các khu công nghiệp Những yếu tố này đã tạo ra động lực mạnh mẽ cho việc di chuyển của người dân trong bối cảnh phát triển hiện đại.

Di dân không chỉ là một hiện tượng sinh học như sinh đẻ, mà là một quá trình lặp đi lặp lại trong vòng đời con người Đây là yếu tố cơ bản để phân biệt di dân với các hiện tượng dân số khác Trong bối cảnh mức sinh thấp và già hóa dân số, nhu cầu về nguồn nhân lực trẻ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội trở nên cấp thiết Do đó, di dân và dịch chuyển dân số đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội.

Lý thuyết di dân của Ravenstein (1889) chỉ ra rằng hầu hết di dân di chuyển trong phạm vi ngắn, với một số ít di chuyển đến các thành phố lớn Quá trình đô thị hóa và sự phát triển của các khu công nghiệp thu hút dân cư từ vùng ngoại ô vào trung tâm, trong khi cư dân từ các trung tâm nhỏ chuyển đến các trung tâm lớn hơn Điều này tạo ra một chuỗi di chuyển liên tục hướng về các đô thị lớn, nơi các trung tâm thương mại và công nghiệp lớn thu hút dân cư từ các vùng lân cận và xa hơn Mặc dù di dân từ nông thôn thường cao hơn so với đô thị, chính phủ đang thực hiện các chính sách phát triển nông thôn nhằm thu hút đầu tư và cải thiện điều kiện sống, dẫn đến hiện tượng di dân nông thôn diễn ra mạnh mẽ.

Lý thuyết di dân của Hawley (1950) cho rằng áp lực về đất nông nghiệp là yếu tố chính thúc đẩy di cư Trong thời đại công nghiệp hiện nay, việc tìm kiếm đất sản xuất nông nghiệp vẫn là nguyên nhân hàng đầu của di cư Mật độ dân số cao dẫn đến việc giảm đất nông nghiệp bình quân đầu người, từ đó làm giảm cung cấp lương thực và việc làm Ngược lại, mật độ dân số thấp tạo ra nhiều cơ hội kinh tế và lợi ích cho cư dân, tạo ra yếu tố “hút” và “đẩy”, thúc đẩy di cư từ khu vực đông dân đến khu vực thưa dân.

Lý thuyết của Lee (1966) cho rằng quyết định di dân được dựa trên bốn nhóm nhân tố - Các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc

- Các yếu tố gắn với nơi sẽ đến

- Các trở ngại di cư

Các nhân tố liên quan đến người di cư bao gồm những ưu điểm và hạn chế của cả nơi gốc và nơi đến, như thu nhập, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và khí hậu Người định cư thường cân nhắc các điều kiện kinh tế khó khăn ở nơi gốc khi quyết định di chuyển.

Việc xuất cư chủ yếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố "đẩy", trong khi điều kiện kinh tế cải thiện tại nơi đến là yếu tố "hút" quan trọng nhất cho việc nhập cư Quyết định định cư được xem xét dựa trên chi phí vật chất và tinh thần, trong đó khoảng cách địa lý là yếu tố then chốt, làm tăng chi phí vận chuyển và các chi phí vô hình do phải thích nghi với môi trường mới Cuối cùng, di cư còn phụ thuộc vào phẩm chất cá nhân của mỗi người, được gọi là tính chọn lọc di cư Lý thuyết của Lee cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố vĩ mô và vi mô liên quan đến di cư.

Di dân đang trở thành một lĩnh vực được chú trọng trong nghiên cứu phát triển xã hội Những người di cư được xem là một trong những nhóm dễ bị tổn thương và cần được hỗ trợ tốt hơn Các lý thuyết về di dân nhấn mạnh tầm quan trọng của các hình thức di chuyển khác nhau, phản ánh sự phát triển của xã hội.

Từ những lý thuyết về di dân của các Nhà Khoa học nghiên cứu ta có thể hiểu đơn giản khái niệm di dân

Di dân, theo nghĩa rộng, được hiểu là sự di chuyển của con người trong một không gian và thời gian nhất định, dẫn đến việc thay đổi nơi cư trú, có thể là tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Di dân, theo nghĩa hẹp, được hiểu là quá trình di chuyển của cư dân từ một lãnh thổ này sang lãnh thổ khác để thiết lập nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định.

Di dân là hiện tượng xã hội thể hiện sự di chuyển của dân cư từ một địa điểm này sang địa điểm khác, diễn ra xuyên suốt lịch sử nhân loại Hiện tượng này chịu ảnh hưởng bởi nhiều nguyên nhân kinh tế và xã hội khác nhau qua các thời kỳ phát triển.

Di dân có ảnh hưởng sâu rộng đến các vấn đề dân số, kinh tế, xã hội và môi trường Mặc dù trên toàn cầu di dân không làm thay đổi tổng số lượng dân số, nhưng ở từng quốc gia và khu vực, nó lại có tác động đáng kể Di dân trực tiếp ảnh hưởng đến quy mô dân số, làm giảm áp lực dân số tại nơi tiếp nhận, đồng thời cũng góp phần phân bổ lại lực lượng sản xuất và nguồn lao động theo từng lãnh thổ và khu vực kinh tế.

Di dân có nhiều loại hình, nhưng theo tính chất, có thể chia thành hai loại chính: di dân tự nguyện và di dân ép buộc.

Di dân tự nguyện là trường hợp người dân di chuyển tự nguyện theo đúng mong muốn và yêu cầu của mình

Di dân ép buộc diễn ra trái với nguyện vọng của dân, không như mình mong muốn xảy ra

Theo đặc trưng thì cũng có 2 loại là di dân tự phát và di dân có tổ chức

Di dân tự phát là hình thức di cư cá nhân, do chính người di chuyển hoặc một phần gia đình quyết định, không phụ thuộc vào kế hoạch hay sự hỗ trợ của nhà nước và các cấp chính quyền.

Di dân có tổ chức là quá trình di chuyển cư dân được thực hiện theo kế hoạch và chương trình do nhà nước và các cấp chính quyền thiết lập Quá trình này được tổ chức và chỉ đạo thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội.

Tại Việt Nam, công tác di dân được xây dựng dựa trên các chính sách của Nhà Nước thông qua các chương trình nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Bài nghiên cứu này sẽ tập trung vào tình trạng di dân có tổ chức, cụ thể là di dân phục vụ cho việc xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Hải Dương, nhằm hỗ trợ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Chính sách về tái định cư không tự nguyện của Ngân hàng Thế giới

Chính sách an toàn xã hội của NHTG bao gồm OP 4.12 về Tái định cư không tự nguyện và OP 4.10 về Người bản địa, nhằm hướng dẫn và đảm bảo tuân thủ trong các trường hợp thu hồi đất không tự nguyện và bảo vệ quyền lợi của người dân tộc thiểu số Mục tiêu của OP 4.12 là giảm thiểu tái định cư không tự nguyện và các tác động tiêu cực về xã hội, kinh tế, đồng thời khuyến khích sự tham gia của những người bị ảnh hưởng trong quá trình lập kế hoạch Chính sách này còn hỗ trợ cải thiện hoặc khôi phục thu nhập và mức sống của họ sau di dời, quy định bồi thường và các biện pháp tái định cư phù hợp Để thực hiện các hoạt động thu hồi đất, bồi thường và tái định cư, NHTG yêu cầu tham vấn chặt chẽ với người bị ảnh hưởng, chú trọng đến các vấn đề về dân tộc, giới và nhóm dễ bị tổn thương, đồng thời đảm bảo thông tin được phổ biến và giám sát việc thực hiện bồi thường.

Sự cần thiết của tái định cư trong việc ổn định và nâng cao mức sống

Tái định cư giúp cho người dân ổn định nơi ăn chỗ ở, An cư mới lập nghiệp

Khi mất đất, người dân buộc phải thay đổi môi trường sống mà họ đã gắn bó lâu dài, chấp nhận di dời để tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn với hy vọng chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp – dịch vụ Điều kiện chỗ ở mới là yếu tố thiết yếu để họ ổn định cuộc sống và tập trung vào công việc Để đảm bảo sự phát triển bền vững, các điều kiện kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế tại nơi tái định cư cần được đáp ứng đầy đủ và kịp thời, giúp con cái họ không bị bỏ bê học hành và được chăm sóc bởi các dịch vụ y tế cộng đồng tốt nhất.

Việt Nam vẫn chủ yếu là một quốc gia nông nghiệp với 70% dân số sinh sống tại nông thôn, tuy nhiên diện tích đất nông nghiệp đang giảm dần Đời sống của nông dân gặp nhiều khó khăn và bấp bênh Cần có giải pháp cụ thể để giúp họ ổn định cuộc sống và vươn lên làm giàu, đặc biệt là ở những khu vực có đông nông dân bị thu hồi đất phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Việt Nam sở hữu hơn 9 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó có hơn 4 triệu ha đất trồng lúa, với bình quân mỗi nông dân có khoảng 480m2 đất canh tác Trong những năm qua, khoảng 80% diện tích đất chuyển đổi thành khu công nghiệp là đất nông nghiệp, và 50% trong số đó là những khu vực màu mỡ, có khả năng trồng hai vụ lúa và một vụ màu hàng năm, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Gần đây, tình trạng các tỉnh đua nhau xây dựng sân golf đã gia tăng, hiện cả nước có 141 sân golf tại 39 tỉnh, thành phố, chiếm tới 49.268ha đất, trong đó có 2.625ha đất trồng lúa Việc thu hồi đất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến đời sống của gần một triệu hộ gia đình, tương đương với hơn 3 triệu người.

Kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và Trường Đại học Copenhagen cho thấy, 6% hộ nông dân tại 12 tỉnh không có đất nông nghiệp, với các tỉnh như Đắk Lắk (9%), Long An (9,4%) và Khánh Hòa (18,4%) có tỷ lệ cao hơn Mặc dù tỷ lệ hộ nông dân không có đất thấp hơn so với 14% hộ mất đất, nhưng đây vẫn là một thực tế đáng lo ngại.

Quá trình thu hồi đất nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước hỗ trợ thông qua nhiều chính sách cho nông dân như bồi thường, hỗ trợ việc làm và đào tạo nghề Tuy nhiên, 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nghề cũ, trong khi 13% chuyển sang nghề mới, và 25-30% không có việc làm hoặc việc làm không ổn định Hệ quả là 53% hộ nông dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm, chỉ 13% có thu nhập cải thiện Trung bình mỗi hộ bị thu hồi có 1,5 lao động thất nghiệp, và mỗi ha đất thu hồi làm mất việc của 13 lao động Trong số lao động bị thu hồi, chỉ 27% đã tốt nghiệp phổ thông và 14% được đào tạo nghề ngắn hạn, đặc biệt là nhiều lao động đã quá tuổi tuyển dụng.

Người lao động từ 35 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ lớn trong số những người thất nghiệp, gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm Bên cạnh đó, một số nông dân vẫn còn phụ thuộc vào chính sách đền bù và chưa nỗ lực tự tìm kiếm cơ hội việc làm cho bản thân.

Nhiều người dân tin rằng việc nhường đất cho các khu công nghiệp sẽ cải thiện đời sống con cháu, nhưng thực tế lại trái ngược Việc mất đất dẫn đến thất nghiệp, đói nghèo và gia tăng tệ nạn xã hội, khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khốn khó và phải rời bỏ quê hương để kiếm sống Nhiều hộ nông dân nhận tiền đền bù nhưng không biết sử dụng, dẫn đến tình trạng sống cầm chừng khi khoản tiền ấy dần cạn kiệt Sự phát triển của các khu công nghiệp không chỉ làm mất đất mà còn gây ra những vấn đề xã hội phức tạp, đặc biệt là thanh niên dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn.

Làm thế nào để người nông dân sau khi bị thu hồi đất có cuộc sống ổn định và từng bước vươn lên làm giàu?

Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của nông dân, tăng thu nhập và giúp họ thoát nghèo thông qua đào tạo kỹ năng và cung ứng dịch vụ Nhà nước sẽ bồi thường và tập huấn cho nông dân về chính sách, pháp luật, tổ chức các lớp học ngắn hạn, mô hình trình diễn, và sử dụng các phương tiện truyền thông để phổ biến kiến thức Việc đào tạo được thực hiện bởi các giảng viên có trình độ cao và nông dân giỏi, đồng thời cung cấp tư vấn về chính sách, ứng dụng khoa học - công nghệ, quản lý sản xuất, và tìm kiếm thị trường Nông dân cũng được hỗ trợ trong lập dự án đầu tư, huy động vốn, tuyển dụng lao động, và các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

Nghị định đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nông dân tiếp cận các lớp bồi dưỡng và tập huấn về chính sách, pháp luật, cũng như truyền nghề trong lĩnh vực khuyến nông Tuy nhiên, để chính sách của Nhà nước thực sự được triển khai hiệu quả trong đời sống, cần có sự năng động và tích cực tham gia từ các cấp, ngành và địa phương.

Vai trò của các công ty và chính quyền địa phương trong việc di dân, tái định cư

Công ty và doanh nghiệp đóng vai trò là chủ đầu tư trong các dự án thu hồi đất nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng và giải phóng mặt bằng Trước khi triển khai các dự án liên quan đến việc thu hồi đất ở của các hộ dân, chủ đầu tư cần lập phương án tái định cư cho những hộ phải di dời, đảm bảo đầy đủ nội dung cần thiết cho việc hỗ trợ người dân.

Số hộ gia đình và cá nhân được bố trí đất tái định cư được phân loại theo từng đối tượng, bao gồm số hộ tái định cư trên phần đất còn lại và số hộ tự tìm đất để xây dựng nhà ở.

Diện tích đất được phân bổ cho từng hộ gia đình và cá nhân bao gồm: diện tích đất ở (đất tái định cư) và diện tích đất ở được bồi thường nhằm thay thế cho đất sản xuất nông nghiệp, đất vườn, ao liền kề với đất ở bị thu hồi.

Giá đất tái định cư, giá bán và cho thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, cùng với mức hỗ trợ chênh lệch tiền sử dụng đất tái định cư, đều được xác định để hỗ trợ từng hộ gia đình và tổng hợp cho toàn bộ dự án.

Người được giao đất cần nộp số tiền sử dụng đất theo quy định, bao gồm cả số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai Ngoài ra, cần dự kiến số thu từ tiền sử dụng đất tái định cư và tiền bán nhà tái định cư (nếu có).

+ Chính sách hỗ trợ tại nơi ở mới (nơi tái định cư)

Cần xây dựng phương án giao đất sản xuất nông nghiệp cho các hộ tái định cư theo quỹ đất địa phương, đặc biệt ở vùng dự án thủy lợi và thủy điện, cần có kế hoạch định canh, định cư Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập và triển khai các dự án tái định cư nhằm đảm bảo hỗ trợ người bị thu hồi đất di chuyển chỗ ở.

Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về luật pháp cho người dân, đồng thời giải quyết và hòa giải các xung đột giữa cộng đồng và các nhà đầu tư Điều này giúp người dân nắm rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, từ đó tạo ra môi trường sống hài hòa và bền vững.

- Đăng ký đến ở nơi tái định cư bằng văn bản;

Người đăng ký hộ khẩu sẽ được ưu tiên cho bản thân và các thành viên trong gia đình chuyển đến nơi ở mới, đồng thời cũng được ưu tiên chuyển trường cho các thành viên trong gia đình đang trong độ tuổi đi học.

- Được từ chối vào khu tái định cư nếu khu tái định cư không đảm bảo các điều kiện như đã thông báo và niêm yết công khai;

- Được cung cấp mẫu thiết kế nhà miễn phí

Bên cạnh đó phải thực hiện Nghĩa vụ:

- Thực hiện di chuyển vào khu tái định cư theo đúng thời gian theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Xây dựng nhà, công trình theo đúng quy hoạch và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật;

- Nộp tiền mua nhà ở hoặc tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Tình hình nghiên cứu, giải quyết các vấn đề tái định cư

Các công trình đã nghiên cứu về vấn đề liên quan đến luận văn

Trong những năm gần đây, nhu cầu từ lý luận và thực tiễn đã dẫn đến nhiều nghiên cứu về di dời, giải tỏa và tái định cư Một số công trình tiêu biểu đã được thực hiện trong lĩnh vực này.

Tái định cư trong các dự án phát triển là một vấn đề quan trọng, liên quan đến cả chính sách và thực tiễn, được phân tích bởi TS Phạm Mộng Hoa và TS Lâm Mai Lan trong cuốn sách do Nxb Khoa học xã hội phát hành Nội dung của nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách tái định cư hiệu quả nhằm bảo đảm quyền lợi cho người dân bị ảnh hưởng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững trong các dự án Các tác giả cũng đề cập đến những thách thức và giải pháp cần thiết để cải thiện quy trình tái định cư, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

Các tác giả đã trình bày nội dung các Nghị định, Thông tư liên quan đến pháp lý về đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất Họ cũng chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành bằng cách so sánh với chính sách TĐC của các tổ chức quốc tế Ngoài ra, tác giả đề xuất và kiến nghị điều chỉnh các chính sách hiện tại để phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn.

Chính sách di dân châu Á (Dự án VIE/95/2004, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, 1998) đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của việc di dời, giải tỏa và di dân tái định cư (TĐC) Tác giả phân tích thực trạng công tác TĐC hiện nay tại Việt Nam và trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù và TĐC.

Bài viết "Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành phố Hồ Chí Minh" của tác giả Lê Văn Thành nêu rõ những khó khăn và thiệt thòi mà người dân tái định cư (TĐC) phải đối mặt trong việc tìm kiếm việc làm.

Tình hình thực hiện chính sách đền bù, tái định cư (TĐC) và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại đô thị và khu công nghiệp đã được đánh giá khá thành công Công trình của Trần Xuân Quang, thực hiện tại Hà Nội vào tháng 8 năm 1997, đã đưa ra những nhận định khái quát về việc thực hiện các chính sách này, giúp cải thiện đời sống cho người dân bị ảnh hưởng.

Tái định cư bắt buộc, theo Ngân hàng Phát triển châu Á (1995), là chính sách nhằm đảm bảo đền bù và hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống sau khi bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển.

Mục tiêu của việc tái định cư là đảm bảo rằng những người bị ảnh hưởng bởi dự án sẽ đạt được mức sống tối thiểu tương đương với những gì họ lẽ ra có được nếu dự án không diễn ra.

- Thứ năm: “Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường sống của người nghèo đô thị - trường hơp Thành phố Hồ Chí Minh”

Dưới sự chủ trì của GS Tương Lai vào năm 1994, một nghiên cứu xã hội học đã được thực hiện, qua đó các tác giả đã thành công trong việc mô tả và đánh giá mức sống của nhóm người nghèo đô thị.

Bài viết "Giải pháp để phát triển sản xuất cho bản Vân Kiều ở khu TĐC xã Xuân Lộc-huyện Phú Lộc" của Trần Hữu Toàn và Mai Văn Xuân, đăng trên tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nêu bật thực trạng khó khăn mà người dân tại khu TĐC gặp phải trong việc phát triển sản xuất Các tác giả đã đưa ra những khuyến nghị thiết thực nhằm giải quyết vấn đề này, giúp cải thiện đời sống và tăng cường năng lực sản xuất cho cộng đồng Vân Kiều.

Tình hình thực tế trên thế giới và trong nước

Mục tiêu chính của chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ở Trung Quốc là giảm thiểu tối đa việc thu hồi đất và số lượng người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư Khi việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi, cần chuẩn bị kỹ lưỡng phương án bồi thường, đảm bảo tính toán đầy đủ lợi ích cho nhà nước, tập thể và cá nhân, nhằm giúp những người bị thu hồi đất có khả năng khôi phục hoặc cải thiện mức sống so với trước đây.

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất nhận ba loại tiền: bồi thường đất đai, trợ cấp tái định cư và trợ cấp cho hoa màu trên đất Tiền bồi thường đất đai và trợ cấp tái định cư được tính dựa trên tổng giá trị sản lượng của đất trong những năm trước, nhân với một hệ số Trong khi đó, tiền bồi thường cho hoa màu và tài sản trên đất được xác định theo giá hiện tại.

Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng đảm bảo người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ, với quản lý do các cục quản lý tài nguyên đất đai địa phương đảm nhận Các tổ chức, cá nhân sử dụng thửa đất sẽ trả tiền thuê cho đơn vị xây dựng giải tỏa mặt bằng Trung Quốc chủ yếu hỗ trợ người dân thông qua ba khoản: giá xây dựng lại (chênh lệch giữa nhà mới và cũ), giá đất tiêu chuẩn, và trợ cấp về giá cả Tổng cộng ba khoản này sẽ là tiền bồi thường về nhà ở.

Việc bồi thường nhà ở cho dân thành phố và nông thôn có sự khác biệt rõ rệt do hình thức sở hữu đất đai Tại thành phố, nhà nước chủ yếu bồi thường bằng tiền, với mức giá được xác định dựa trên thị trường bất động sản thông qua các tổ chức trung gian Ngược lại, ở nông thôn, phương thức bồi thường linh hoạt hơn, với từng đối tượng nhận bồi thường theo cách riêng: bao gồm tiền bồi thường cho sử dụng đất, tiền bồi thường cho hoa màu, và bồi thường tài sản tập thể.

Theo các chuyên gia tái định cư, Trung Quốc đạt được thành công trong bồi thường và hỗ trợ tái định cư nhờ vào ba yếu tố chính Thứ nhất, họ đã xây dựng các chính sách và thủ tục chi tiết, ràng buộc, tạo cơ hội phát triển cho người dân và nguồn lực sản xuất cho người tái định cư Thứ hai, năng lực thể chế của chính quyền địa phương mạnh mẽ, với chính quyền cấp tỉnh hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc thực hiện chương trình bồi thường Thứ ba, quyền sở hữu đất tập thể tạo thuận lợi cho bồi thường, đặc biệt ở nông thôn, nơi tiền đền bù không trả cho từng hộ mà được sử dụng bởi cộng đồng để phát triển đất mới hoặc cải thiện hạ tầng, với chính quyền thôn, xã phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng.

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đặc điểm cơ bản của Huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương

2.1.1 Khái quát chung về Huyện Kinh Môn

Kinh Môn, huyện thuộc tỉnh Hải Dương, giáp ranh với Hải Phòng và Quảng Ninh, nổi bật với dãy núi đất trong hệ thống núi vòng cung Đông Triều Kinh Môn có cảnh quan tương tự Chí Linh nhưng đặc biệt hơn với những ngọn núi đá xanh rải rác, sông ngòi bao quanh và cánh đồng rộng lớn Mặc dù thường được phân loại là huyện bán sơn địa, nhưng để cảm nhận vẻ đẹp độc đáo của thiên nhiên Kinh Môn, du khách cần phải đặt chân đến đây.

Với diện tích: 1662 Km 2 Dân số hơn 1.703.492 người (theo điều tra dân số năm 2009).Trong đó:

+ Mật độ dân số trung bình: 1.044,26 người/km 2

+ Dân số thành thị: 324.930 người

+ Dân số nông thôn: 1.378.562 người

Giao thông & cơ sở hạ tầng:

Tỉnh Hải Dương có hệ thống cơ sở hạ tầng khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển

+ Hệ thống giao thông: gồm đường bộ, đường thuỷ, đường sắt; Phân bố hợp lý, giao lưu rất thuận lợi tới các tỉnh

- Đường bộ: có 4 tuyến đường quốc lộ qua tỉnh dài 99 km, đều là đường cấp I, cho 4 làn xe đi lại thuận tiện:

- Đường sắt: Tuyến Hà Nội - Hải Phòng chạy song song với quốc lộ 5, đáp ứng vận chuyển hàng hoá, hành khách qua 7 ga trong tỉnh

Tuyến Kép - Bãi Cháy, đi qua huyện Chí Linh, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hàng lâm nông thủy sản từ các tỉnh miền núi phía Bắc ra nước ngoài qua cảng Cái Lân, đồng thời cũng là tuyến đường cho hàng nhập khẩu và than cho các tỉnh.

Đường thuỷ tại khu vực này có 400 km sông, cho phép tàu thuyền 500 tấn di chuyển dễ dàng Cảng Cống Câu có công suất 300.000 tấn mỗi năm và hệ thống bến bãi được trang bị đầy đủ, đảm bảo vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ diễn ra thuận lợi.

Hệ thống giao thông trên bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi

Kinh Môn nổi bật với khu công nghiệp Nhị Chiểu, nhưng cũng đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng do ô nhiễm môi trường Hàng chục nhà máy xi măng hoạt động trong không gian hạn hẹp của bốn xã “khu đảo” đã biến nơi đây thành đô thị phát triển, tuy nhiên, điều này đã dẫn đến sự hủy hoại môi trường nghiêm trọng Khu vực Minh Tân và Phú Thứ bị che phủ bởi bụi vàng, gây ra nguy cơ bệnh tật cho người dân Mặt trái của sự phát triển này đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

Sự phát triển sản xuất xi măng đã gây ra tác động tiêu cực đến cảnh quan, đặc biệt là khu Nhị Chiểu, nơi từng được gọi là “Hạ Long cạn” Sau hai mươi năm khai thác, nhiều ngọn núi đã bị xói mòn và biến mất, dẫn đến dự đoán rằng chỉ trong 50 năm nữa, khu vực này sẽ trở thành đồng bằng Việc phá hủy những dãy núi hình thành hàng triệu năm chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, và có thể trong tương lai, lợi ích từ sản xuất xi măng sẽ không còn so với giá trị địa chính trị, lịch sử và tiềm năng du lịch của khu vực Con cháu chúng ta sẽ là những người đánh giá những quyết định của chúng ta hôm nay.

Kinh Môn có tiềm năng lớn để phát triển du lịch với những điểm nhấn độc đáo như quần thể núi An Phụ và tượng Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn Gần đó, quần thể Động Kính Chủ với nhiều di tích quý giá, đặc biệt là bài thơ nổi tiếng của Phạm Sư Mạnh, là những tài sản văn hóa đáng trân trọng Tuy nhiên, sự xâm hại tài nguyên như việc khai thác đá ở núi Lĩnh Đông đã làm mai một di sản Dù vậy, vẫn có hy vọng cho huyện Kinh Môn trong việc phát triển bền vững và bảo tồn những giá trị văn hóa lịch sử.

Đường 188 và cầu Hoàng Thạch sẽ kết nối Hải Phòng với Quảng Ninh, giúp rút ngắn thời gian di chuyển và thúc đẩy sự phát triển của thị trấn Nhị Chiểu, Phú Thứ Tuy nhiên, sự gia tăng hoạt động này cũng đồng nghĩa với việc bụi bặm sẽ tràn ngập, và những cảnh quan đá núi tuyệt đẹp của khu vực có thể bị ảnh hưởng, khiến cho sự phồn thịnh trở nên kém phần hấp dẫn, như một người con gái đã mất đi vẻ đẹp quyến rũ của mình.

Kinh Môn, một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, mang trong mình niềm kiêu hãnh của vùng đất này Tuy nhiên, nếu Hải Dương hiểu rõ hơn về Kinh Môn, huyện này sẽ phát triển mạnh mẽ, trở nên rực rỡ và bền vững hơn như một đứa con được nuôi dưỡng chu đáo.

Huyện Kinh Môn nổi bật với điều kiện tự nhiên và đất đai thổ nhưỡng lý tưởng cho việc trồng lúa nếp cái hoa vàng Gạo nếp tại Kinh Môn không chỉ thơm ngon mà còn đậm đà, mang lại hương vị đặc trưng.

Hình 2.1 ảnh về toàn cảnh cánh đồng rộng lớn bao quanh sông kinh Thày

2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên của huyện Kinh Môn

Huyện Kinh Môn tọa lạc ở phía đông tỉnh Hải Dương, giáp ranh với tỉnh Quảng Ninh ở phía bắc, thành phố Hải Phòng ở phía đông, huyện Kim Thành ở phía tây nam, và huyện Nam Sách cùng Chí Linh ở phía tây bắc Huyện nằm cạnh hai tuyến quốc lộ 5A và 18, là những trục giao thông quan trọng của quốc gia và vùng kinh tế trọng điểm phía bắc Ngoài ra, huyện còn được bao bọc và chia cắt bởi bốn con sông lớn, trong đó có sông Kinh Môn.

Kinh thầy, sông Đá vách, sông Hàn mấu)

Huyện có vị trí địa lý lý tưởng, cách Hà Nội khoảng 80 km, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và gần hai trung tâm kinh tế lớn là Quảng Ninh và Hải Phòng Giao thông thủy bộ thuận lợi tạo điều kiện cho huyện giao lưu kinh tế và thu hút cơ hội đầu tư.

Huyện có địa hình đồi núi xen kẽ đồng bằng, với nhiều sông ngòi chia cắt tạo nên sự phân hóa giữa nơi cao và nơi thấp Hiện tại, huyện còn khoảng 300 ha đất canh tác ven đồi ở khu vực cao và 700 ha đất ruộng trũng thường bị ngập úng vào mùa mưa Địa hình đa dạng này tạo điều kiện thuận lợi cho huyện phát triển nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa phong phú và toàn diện.

Khí hậu và thủy văn của khu vực được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa ít, chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa hàng năm, và nhiệt độ thấp, đặc biệt là vào tháng 1 với nhiệt độ trung bình 13,8°C Ngược lại, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, thường có nhiệt độ cao, đặc biệt là tháng 7 với nhiệt độ trung bình đạt 32,4°C, và lượng mưa lớn, chiếm 85% tổng lượng mưa trong năm, chủ yếu tập trung vào tháng này.

7, 8 Tổng lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500 - 1700mm, nhiệt độ trung bình cả năm 23,5 0 C Thuỷ văn nước lên xuống trong ngày, hàng năm từ tháng

7 đến tháng 9 có từ 2-3 lần xuất hiện lũ ở mức báo động cấp 3

Khí hậu-thuỷ văn đã tạo cho Kinh Môn có tập đoàn cây trồng phong phú cả cây nhiệt đới, ôn đới

Kinh Môn có tổng diện tích tự nhiên 16.326,31 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 55% với 8.900 ha Diện tích đất trồng cây hàng năm là 7.300 ha, còn lại là đất trồng cây ăn quả lâu năm và nuôi trồng thủy sản Đất ở đây thuộc phù sa cổ sông Thái Bình, có độ pH từ 5,5 đến 6,5, với độ phì thấp.

Huyện có bốn dòng sông lớn, cung cấp nguồn nước mặt phong phú đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Tuy nhiên, nguồn nước ngầm tại đây bị nhiễm mặn và có hàm lượng sắt cao, không thể sử dụng.

Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát

Lý do chọn địa điểm nghiên cứu là để tiếp cận và hiểu rõ quá trình kinh tế - xã hội tại địa phương, từ đó rút ra những mặt tích cực nhằm phát huy tiềm lực kinh tế Nghiên cứu cũng nhằm hạn chế những khó khăn trong quá trình tái định cư, góp phần phát triển bền vững và nâng cao mức sống của các hộ dân tái định cư tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Cơ sở để chọn đại diện nghiên cứu bao gồm việc xem xét số liệu báo cáo từ các chủ đầu tư và các công ty liên quan đến dự án, cũng như kế hoạch phát triển của khu vực nghiên cứu.

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp:

Thu thập các báo cáo UBND liên quan đến dự án, đề tài

Tra cứu tài liệu văn bản, báo cáo và nghiên cứu từ các nguồn như diễn đàn quốc tế và internet giúp thu thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu Điều này tạo điều kiện để nắm bắt hiểu biết chung về các vấn đề quan tâm và mục tiêu của luận văn.

Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp:

Lựa chọn địa bàn điều tra dựa trên tính chất điển hình của các xã tái định cư tại Huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương Đối tượng điều tra bao gồm các hộ dân thuộc diện tái định cư trong khu vực này.

Mẫu điều tra được thiết kế dựa trên quy mô số hộ của các xã, với tổng số 120 hộ được lựa chọn, tất cả đều là những hộ tái định cư tại Huyện Kinh Môn.

Phỏng vấn, lập phiếu điều tra các hộ tái định cư, các công ty và các cán bộ chính quyền địa phương bao gồm:

 Các thông tin về chủ hộ

 Thông tin về các thành viên trong hộ

 Tình hình về bồi thường, hỗ trợ cho các hộ bị ảnh hưởng thu hồi đất, bồi thường về đất, chuyển đổi nghề,

 Những thông tin về hoạt động kinh tế, cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp: trồng trọt, chăn nuôi, và phi nông nghiệp

Phương pháp tổng hợp được áp dụng để phân tích và đánh giá tác động của hoạt động tái định cư đối với người dân bị ảnh hưởng Nghiên cứu dựa trên thông tin thu thập từ khảo sát một nhóm dân cư chịu ảnh hưởng từ quá trình xây dựng nhà máy và các khu dân cư mới Kết quả nghiên cứu sẽ giúp đưa ra nhận xét về tác động đến tài sản, thu nhập và việc làm của các hộ dân tái định cư.

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Phân tích kinh tế tập trung vào việc đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của các yếu tố đến việc làm, thu nhập và mức sống của cộng đồng dân cư trong khu vực tái định cư Nghiên cứu này nhằm làm rõ những thách thức và cơ hội mà người dân phải đối mặt, từ đó đưa ra các giải pháp cải thiện điều kiện sống và phát triển bền vững cho các cụm dân cư tái định cư.

Phân tích thống kê kinh tế: So sánh các số liệu năm nay với năm trước, giữa vùng miền, giữa các quốc gia

Phương pháp phân tích kết quả điều tra: Số liệu sau khi thu thập được tổng hợp và xử lý thông qua phần mềm tính toán Microsoft Excel…

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài

Tốc độ phát triển và các bảng biểu, biểu đồ hình ảnh liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống người dân trên địa bàn được phân tích và so sánh giữa các vùng miền trong cả nước.

*Các chỉ tiêu liên quan tới đặc điểm và nguồn lực của các hộ ảnh hưởng bởi dự án

- Tên, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa của chủ hộ

- Số khẩu, số lao động của hộ

- Tổng diện tích đất đai, đất nông nghiệp bị thu hồi

- Số tiền bồi thường bằng tiền ( nhà ở, cây trồng) bị ảnh hưởng

- Số tiền hỗ trợ di chuyển, sản xuất, ổn định, chuyển đổi nghề

- Diện tích đất canh tác, diện tích đất trồng lúa, đất trồng cây lâu năm, đất trồng cây hàng năm

- Năng suất bình quân, giá trị sản lượng cây trồng, vật nuôi

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 24/06/2021, 16:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng ủy xã Phúc Thành (2011), Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2011 phương hướng nhiệm vụ năm 2012, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2011 phương hướng nhiệm vụ năm 2012
Tác giả: Đảng ủy xã Phúc Thành
Năm: 2011
2. Đảng ủy xã Lê Ninh (2011), Báo cáo thành tích Đảng bộ trong sạch vững mạnh năm 2011 , Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thành tích Đảng bộ trong sạch vững mạnh năm 2011
Tác giả: Đảng ủy xã Lê Ninh
Năm: 2011
4. Nguyễn Thị Thanh Thảo ( 2006), “ Tái định cư khu đập Tam Hiệp kinh nghiệm Trung Quốc”, Kỷ yếu hội thảo khoa học tài chính đối với vấn đề tái định cư thực trạng và giải pháp, Viện Khoa học tài chính – Bộ Tài chính, 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tái định cư khu đập Tam Hiệp kinh nghiệm Trung Quốc”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học tài chính đối với vấn đề tái định cư thực trạng và giải pháp
5. Nguyễn Ngọc Tuấn (2004), “ Một số kinh nghiệm tái định cư trong các dự án phát triển tại một số nước trên thế giới”, Tạp chí Địa lý nhân văn, (số 7/12/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kinh nghiệm tái định cư trong các dự án phát triển tại một số nước trên thế giới”, "Tạp chí Địa lý nhân văn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Tuấn
Năm: 2004
7. Lê Văn Thành(2008), Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông Nghiệp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di dân nhập cư với vấn đề phát triển một đô thị mới như thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Lê Văn Thành
Năm: 2008
8. Phạm Thị Minh Thủy ( 2009), Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tại một số khu tái định cư dự án thủy điện Sơn La, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp phát triển sản xuất và ổn định đời sống của các hộ dân tại một số khu tái định cư dự án thủy điện Sơn La
10. Đỗ Văn Hòa (1999), Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu di dân ở Việt Nam, NXB Nông Nghiệp
Tác giả: Đỗ Văn Hòa
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp"
Năm: 1999
11. Tương Lai (1994), “Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường sống của người nghèo đô thị - trường hơp Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sỹ khoa học Nông Nghiệp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và triển vọng cải thiện nhà ở, mức sống, môi trường sống của người nghèo đô thị - trường hơp Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Tương Lai
Năm: 1994
12. UBND huyện Kinh Môn (2012), “ Quy hoạch chi tiết khu dân cư tái định cư xã Phúc Thành, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Quy hoạch chi tiết khu dân cư tái định cư xã Phúc Thành, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương
Tác giả: UBND huyện Kinh Môn
Năm: 2012
13. Trung tâm quy hoạch đô thị & Nông thôn Hải Dương (2010), “Quy hoạch chi tiết xây dựng Nhà Máy Nhiệt Điện Hải Dương” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch chi tiết xây dựng Nhà Máy Nhiệt Điện Hải Dương
Tác giả: Trung tâm quy hoạch đô thị & Nông thôn Hải Dương
Năm: 2010
3. UBND Tỉnh Hải Dương ( 2012), Về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất để GPMB xây dựng nhà máy Nhiệt điện BOT Hải Dương trên địa bàn xã Phúc Thành, huyện Kinh Môn Khác
6. Lâm Mai Lan, Phạm Mộng Hoa (2000), Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
9. Trần Hữu Toàn và Mai Văn Xuân(2010), ”Giải pháp để phát triển sản xuất cho bản Vân Kiều ở khu TĐC xã Xuân Lộc-huyện Phú Lộc”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khác
14. Trần Xuân Quang (1997), Tình hình thực hiện chính sách đền bù, TĐC và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu công nghiệp&#34 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w