Cho nên tài nguyên rừng và giá trị của các loài thực vật Hạt trần vẫn đang bị đe doạ nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà nguyên nhân trực tiếp suy giảm nguồn tài nguyên này l
Trang 1MAI VĂN CHUYÊN
”Nghiªn cøu hiÖn tr¹ng, LµM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT gi¶I ph¸p b¶o tån C¸c LOµi THUỘC NGµNH h¹t trÇn (GYMNOSPERMAE) T¹i khu b¶o tån thiªn
nhiªn xu©n liªn, tØnh Thanh Ho¸”
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
Trang 2MAI VĂN CHUYÊN
”Nghiªn cøu hiÖn tr¹ng, LµM CƠ SỞ ĐỀ XUẤT gi¶I ph¸p b¶o tån C¸c LOµi THUỘC NGµNH h¹t trÇn (GYMNOSPERMAE) T¹i khu b¶o tån thiªn
nhiªn xu©n liªn, tØnh Thanh Ho¸”
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
PGS.TS TRẦN MINH HỢI
HÀ NỘI - 2010
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Vùng Trường Sơn Bắc, hiện là một trong những khu vực có độ che phủ cao nhất của rừng tự nhiên trong toàn quốc Thanh Hóa là tỉnh phía Bắc của vùng này với độ che phủ của rừng đạt 46,7 % [50] Khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên với quy mô 26.303,6 ha, cách thành phố Thanh Hoá 70 km về phía Tây Nam được biết đến bởi giá trị lớn về đa dạng sinh học [2] Là khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, là nơi cư trú của rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm và đặc hữu; trong đó có nhiều loài đang đứng trước nguy cơ biến mất không chỉ Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Là nơi còn giữ được rừng thường xanh có sự phân
bố của 752 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 440 chi, 130 họ và 38 loài thực
vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và thế giới [54] như: Pơ mu (Fokienia hodginssi (Dunn) A Henry & Thomas), Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz), Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg.), Thông nàng (Dacrycarpus imbricartus (Blume) de Laub) , Các loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao, các loại gỗ như Pơ mu, Sa mu dầu, gỗ bền, ít mối
mọt, có hoa vân và màu sắc rất đẹp nên rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công
mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà
Do gỗ tốt, có giá trị kinh tế, thẩm mỹ cao nên chúng đang là đối tượng bị chú trọng khai thác Theo kết quả điều tra đánh giá đa dạng sinh học, nhu cầu bảo tồn từ năm 2000- 2009 của một số nhà khoa học và một số chương trình nghiên cứu của Khu BTTN Xuân Liên, thì số lượng cá thể của các loài không nhiều, chỉ có quần
thể Pơ mu (Fokienia hodginssi (Dunn) A Henry & Thomas), Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là loài có số lượng lớn hơn cả, với đường kính từ
1- 1,5 m, chúng tập trung phân bố từ độ cao 900 - 1500 m trên các sườn dông và đỉnh núi [2], một số cá thể đã và đang bị chết tự nhiên còn một số cá thể khác vẫn đang là đối tượng khai thác của người dân Hơn nữa, dưới tán rừng ít gặp các cá thể cây con của các loài tái sinh tự nhiên, đặc biệt là loài cây Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) Vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá đầy đủ các loài
Trang 4thuộc ngành hạt trần là vấn đề hết sức bức thiết, có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển nguồn gen thực vật quý hiếm ở nước ta cũng như góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng thực vật ở khu BTTN Xuân Liên
Mặt khác, sau khi khu BTTN Xuân Liên được thành lập và đi vào hoạt động, mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng tập thể, cán bộ khu bảo tồn mới chỉ dừng lại ở công tác bảo vệ nguyên vẹn, hạn chế sự thất thoát tài nguyên ra khỏi khu bảo tồn Cho nên tài nguyên rừng và giá trị của các loài thực vật Hạt trần vẫn đang bị
đe doạ nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà nguyên nhân trực tiếp suy giảm nguồn tài nguyên này là do khai thác các loài Pơ mu, Sa mộc dầu trong thập kỷ 90 phục vụ xuất khẩu; khai thác gỗ trái phép; cháy rừng; thu hái lâm sản ngoài gỗ; xây dựng hạ tầng (đập thuỷ lợi - thuỷ điện Cửa Đạt, đường giao thông miền núi); đường tuần tra biên giới kết hợp phát triển dân sinh kinh tế xã Bát Mọt Do địa bàn phức tạp, trình độ dân trí còn thấp, nghèo đói, lạc hậu đã dẫn đến một bộ phận không nhỏ người dân địa phương vẫn lén lút vào rừng khai thác trộm gỗ của các loài hạt trần để bán kiếm sống Một nguyên nhân khác ảnh hưởng đến việc bảo tồn các loài Hạt trần là còn tồn tại nhiều bất cập từ công tác quản lý
và bảo tồn vẫn đang tồn tại ở Việt Nam, ví dụ như chưa có sự hiểu biết đầy đủ về các đặc điểm sinh thái, phân bố thực tế của các loài Hạt trần ở trong khu bảo tồn
… Chính vì thiếu các thông tin này, đã dẫn đến việc quy hoạch thiếu hoặc sai vùng bảo tồn thích hợp cho các loài Hạt trần hoặc chưa có các hoạt động bảo vệ thích hợp cho sự tồn tại của chúng
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài "Nghiên cứu hiện trạng, làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa" là cần thiết, có cơ sở khoa học, phù hợp với tình hình, điều kiện thực tiễn ở
địa phương, góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh Thanh Hóa nói riêng và trên bình diện quốc gia, quốc tế nói chung
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Ti ̀nh hình nghiên cứu trên thế giới
Thế giớ i thực vâ ̣t thâ ̣t phong phú và đa da ̣ng với khoảng 250.000 loài thực vâ ̣t bâ ̣c cao, trong đó thực vâ ̣t ha ̣t trần chỉ chiếm có trên 600 loài, mô ̣t con số đáng khiêm tố n [16], [37]
Cây hạt trần là những loài cây có nguồn gốc cổ xưa nhất, khoảng trên
300 triệu năm Các vùng rừng cây hạt trần tự nhiên nổi tiếng thường được
nhắc tới ở Châu Âu với các loài Vân sam (Picea), Thông (Pinus); Bắc Mỹ với
các loài Thông (Pinus), Cù tùng (Sequoia, Sequoiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga); Đông Á như Trung Quốc và Nhật Bản với các loài Tùng bách
(Cupressus, Juniperus) và Liễu sam (Cryptomeria) Các loài cây hạt trần đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của một số nước như Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan, New Zealand Lịch sử lâu dài của Trung Quốc cũng đã ghi lại nguồn gốc các cây hạt trần cổ thụ hiện còn tồn tại đến ngày nay mà
có thể dựa vào nó để đoán tuổi của chúng Chẳng hạn trên núi Thái Sơn (Sơn Đông) có cây Tùng ngũ đại phu do Tần Thủy Hoàng phong tặng tên; cây
Bách Hán tướng quân ở thư viện Tùng Dương (Hà Nam), cây Bạch quả đời
Hán trên núi Thanh Thành (Tứ Xuyên); cây Bách nước liêu (còn gọi là Liêu
bách) trong công viên Trung Sơn (Bắc Kinh) Đồng thời, nhiều nơi khác trên
thế giới cũng có một số cây cổ thụ nổi tiếng như cây Cù tùng (Sequoia) có tên
‘cụ già thế giới” ở California (Mỹ) đã trên 3000 năm tuổi, cây Tuyết tùng
(Cedrus deodata) trên đảo Ryukyu (Nhật Bản) qua máy đo đã 7200 năm tuổi
Tại Li băng hiện còn một đám rừng gồm 400 cây Bách libăng (Cedrus) nổi tiếng từ thời tiền sử, trong đó có 13 cây cổ địa có hàng nghìn năm tuổi [37]
Trang 6Cây hạt trần là một trong những nhóm cây quan trọng nhất trên thế giới Các khu rừng cây Hạt trần rộng lớn của Bắc bán cầu là nơi lọc khí Cacbon, giúp
làm điều hòa khí hậu thế giới Rất nhiều dãy núi trên thế giới gồm rừng các loài cây hạt trần chiếm ưu thế đóng một vai trò quyết định đối với việc điều hòa nước cho các hệ thống sông ngòi chính Những trận lụt lội khủng khiếp gần đây ở các vùng thấp như ở các nước Trung Quốc và Ấn Độ có quan hệ trực tiếp tới việc khai thác quá mức rừng cây hạt trần phòng hộ đầu nguồn Rất nhiều loài thực vật, động vật và nấm phụ thuộc vào cây hạt trần để tồn tại, do đó không có cây hạt trần thì những loài này sẽ bị tuyệt chủng Cây hạt trần cung cấp một phần chính gỗ cho xây dựng, ván ép, bột và các sản phẩm giấy của thế giới Nhiều loài còn cho gỗ quí với những công dụng đặc biệt như dùng đóng tàu hay làm đồ mỹ nghệ Phần
lớn cây hạt trần có gỗ dễ gia công, bền Ở Chi Lê cây Fitzroya cupressoides là
một loài cây hạt trần rừng ôn đới có chiều cao đạt tới trên 50 m và tuổi trên 3600 năm Thân cây này được tìm thấy từ các đầm lầy nơi chúng đã bị chôn vùi từ trên
5000 năm trước nhưng gỗ vẫn có giá trị sử dụng tốt Loài cây được dùng trồng
rừng nhiều nhất trên thế giới là Thông Pinus radiata, là nguyên liệu cơ bản cho
công nghiệp rừng của châu Úc, Nam Mỹ và Nam Phi, với tổng diện tích lớn hơn
cả diện tích Việt Nam Tại sinh cảnh nguyên sản của cây ở California loài chỉ có ở
5 đám nhỏ còn sót lại và đang bị đe dọa nghiêm trọng Cây hạt trần còn là nguồn cung cấp nhựa quan trọng trên toàn thế giới Hạt của nhiều loài còn là nguồn thức
ăn quan trọng cho dân địa phương ở các vùng xa như ở Chi Lê, Mexico, Úc và Trung Quốc Phần lớn các cây hạt trần có chứa các hoạt chất sinh hoá mà đang ngày càng được sử dụng làm thuốc chữa các căn bệnh thế kỷ như ung thư hay HIV Cây Hạt trần còn có vai trò quan trọng trong các nền văn hoá cả ở phương Đông và phương Tây Các dân tộc Xen-tơ và Bắc Âu ở châu Âu thờ cây Thông đỏ
Taxus baccata như một biểu tượng của cuộc sống vĩnh hằng Người Anh Điêng ở
Trang 7Pehuenche, Chi Lê tin rằng các cây đực và cây cái loài Bách tán (Araucaria araucana) mang các linh hồn tạo nên thế giới của họ [16],[37]
Hiện tại có trên 200 loài cây hạt trần được xếp là bị đe doạ tuyệt chủng ở mức toàn thế giới [37] Rất nhiều loài khác bị đe doạ trong một phần phân bố tự nhiên của loài Những đe dọa hay gặp nhất là việc khai thác quá mức lấy gỗ hay các sản phẩm khác, phá rừng làm bãi chăn thả gia súc, trồng trọt và làm nơi sinh sống cho con người cùng với sự gia tăng tần suất của các đám cháy rừng Tầm quan trọng đối với thế giới của cây Hạt trần làm cho việc bảo tồn chúng trở nên có ý nghĩa đặc biệt Sự phức tạp trong các yếu tố đe doạ gặp phải đòi hỏi cần có một loạt các chiến lược được thực hành để bảo tồn và sử dụng bền vững các loài cây này Bảo tồn tại chỗ thông qua các cơ chế như hình thành các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên là một giải pháp tốt, có hiệu quả đối với những khu vực lớn còn rừng nguyên sinh Công tác bảo tồn đòi hỏi sự cộng tác của mọi người từ các ngành nghề và tổ chức khác nhau Những nguời làm công tác này đều phụ thuộc vào việc định danh chính xác loài cây mục tiêu hay các sinh vật khác có liên quan và vào các thông tin cập nhật ở các mức độ địa phương, khu vực, quốc gia và quốc tế
1.2 Ti ̀nh hình nghiên cứu ta ̣i Việt Nam
Số lượng các loài cây hạt trần bản địa của nước ta ước tính khoảng 30 loài và khoảng trên 20 loài được nhập vào nước ta để trồng thử nghiệm, trồng rừng diện rộng hoặc làm cây cảnh [37] Mặc dù chỉ dưới 5% số loài cây hạt trần đã biết trên thế giới được tìm thấy ở Việt Nam nhưng cây Hạt trần Việt Nam lại chiếm đến 27% số các chi và 5 trong số 8 họ đã biết Tất cả các loài cây Hạt trần ở Việt Nam
đều có ý nghĩa lớn Hai chi đơn loài Bách vàng (Xanthocyparis) và Thuỷ tùng (Glyptostrobus) cũng là các chi đặc hữu của Việt Nam Chi Bách vàng mới chỉ được phát hiện vào năm 1999 trong khi chi Thuỷ tùng chỉ còn ở 2 quần thể nhỏ với tổng số cây ít hơn 250 cây thuộc tỉnh Đắc Lắc Loài này là đại diện cuối cùng cho một dòng giống các loài cây cổ Hoá thạch của những cây này đã được tìm thấy ở
Trang 8những nơi cách rất xa như ở nước Anh Năm 2001 một quần thể nhỏ gồm hơn 100
cây của chi đơn loài Bách tán đài loan (Taiwania cryptomerioides) được tìm thấy ở
tỉnh Lào Cai Trước đây chi này chỉ được biết có ở Đài Loan, Vân Nam và Đông
Bắc Myanma Những quần thể lớn loài Sa mộc dầu Cunninghamia konishii, một
chi cổ khác chỉ gồm 2 loài, vừa được tìm thấy ở Nghệ An và các vùng phụ cận của
Lào Bốn trong số 6 loài Dẻ tùng (Amentotaxus) được biết (họ Thông đỏ - Taxaceae) đã thấy có ở Việt Nam Hai loài trong số đó là cây đặc hữu (Dẻ tùng pô
lan A poilanei va ̀ Dẻ tùng sọc nâu A atuyenensis) và những quần thể chính của hai
loài khác cũng nằm ở Việt Nam (Dẻ tùng sọc trắng A argotaenia và Dẻ tùng vân nam A yunnanensis) Thậm chí những loài cây không phải là đặc hữu của Việt
Nam nhưng vẫn có ý nghĩa lớn Thông ba lá (Pinus kesiya) gặp từ Đông Bắc Ấn Độ
qua Philipin nhưng các xuất xứ ở Việt Nam lại cho thấy có năng suất cao nhất trong các khảo nghiệm ở châu Phi và châu Úc Những thực tế này thể hiện tầm quan trọng của các loài cây Hạt trần Việt Nam đối với thế giới [16],[37]
Ở Việt Nam, theo các nhà khoa học tầm quan trọng của cây hạt trần được xác định bởi tính ổn định tương đối về địa chất và khí hậu của Việt Nam trong vòng hàng triệu năm, kết hợp với địa mạo đa dạng hiện tại của đất nước và nhiều kiểu dạng sinh cảnh kèm theo Nhìn chung, khí hậu trái đất đã trở nên khô và lạnh hơn, nhiều loài cây hạt trần vốn thích nghi với điều kiện ấm và ẩm bị tuyệt chủng Tuy vậy, một số loài đã di cư được đến các vùng thích hợp hơn như ở Tây Nam
Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam Sa mộc (Cunninghamia), Bách tán đài loan (Taiwania) va ̀ Dẻ tùng (Amentotaxus) là những ví dụ của những chi trước đây có
phân bố rất rộng trên thế giới Phạm vi vĩ độ của Việt Nam (8o - 24o) gồm các nơi
từ gần xích đạo cho đến vùng cận nhiệt đới cùng với phạm vi độ cao của các hệ núi chính có nghĩa là các sinh cảnh thích hợp vẫn còn tồn tại và các loài như vậy
có khả năng sống sót Các thay đổi khí hậu trên Bắc bán cầu có ảnh hưởng đến các nhóm cây Hạt trần rất khác nhau Một số bị tuyệt chủng hay phải di cư tới các
Trang 9vùng mà còn có khí hậu thích hợp, trong khi đó một số loài khác tiến hoá và đã có thể sống được ở những sinh cảnh đã thay đổi trong điều kiện khí hậu mới Các loài
Thông ở Việt Nam là ví dụ cho cả hai hình thức này Loài Thông lá dẹt (Pinus krempfii) được coi là một loài cây cổ tàn dư còn lại mà không có loài nào có quan
hệ gần gũi còn sống sót, trong khi đó Thông ba lá (P kesiya) là loài mới tiến hóa
gần đây Trong những điều kiện môi trường khắc nghiệt với tầng đất mỏng, nước thoát nhanh và các thời kỳ mùa khô tương đối dài đòi hỏi các cây Hạt trần có khả năng cạnh tranh được với các loài cây Hạt kín và hình thành thảm thực vật ưu thế Khí hậu của vùng này thường là khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh và
mùa hè nóng Nhiều loài chỉ gặp ở vùng này như Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis), Thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis), Hoa ̀ng đàn (Cupressus funebris) va ̀ Dẻ tùng sọc nâu (Amentotaxus hatuyensis) Các cây hạt trần khác như Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Thông đỏ trung quốc (Taxus chinensis) và
Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia) còn thấy ở những đỉnh núi riêng biệt
khác nằm xa khu vực núi đá vôi chính của Đông Bắc (ví dụ như ở Mộc Châu) Những cây thuộc họ Thông (Pinaceae), thường là những loài cây có phân bố chính ở Trung Quốc, được gặp nhiều nhất ở vùng Đông Bắc Việt Nam cho dù các loài Dẻ tùng vân nam (Amentotaxus yunnanensis) và Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri) có thể là phổ biến ở một số địa phương, nhìn chung quần thể của tất cả các loài luôn rất nhỏ Kết quả nghiên cứu cho thấy các loài thông Viê ̣t Nam phân bố ở 4 vùng chính sau (hình 1.1)
Trang 10
(Nguồn: Cây lá kim Việt Nam)
Hầu như tất cả các loài Thông nói riêng và Hạt trần tự nhiên nói chung của Việt Nam đều bị đe doạ ở những mức độ nhất định Phần lớn các loài này
cho gỗ quí rất thích hợp cho sử dụng làm đồ mỹ nghệ (Pơ mu Fokienia, Bách
vàng Xanthocyparis) hay cho xây dựng (phần lớn các loài Thông Pinus, Du sam Keteleeria, Pơ mu Fokienia, Sa mộc dầu Cunninghamia), trong khi đó các loài
khác lại có giá trị làm hương liệu quí (Hoàng đàn Cupressus, Pơ mu Fokienia, Bách xanh Calocedrus) hoặc được dùng làm thuốc cả trong y học truyền thống (Kim giao Nageia) hay y học hiện đại (Thông đỏ Taxus) Một số loài chỉ được
sử dụng tại địa phương nhưng thường đây là những loài có phân bố hạn chế (ví
dụ nhu Bách vàng Xanthocyparis) Đe doạ do khai thác trực tiếp còn kèm theo
việc biến đổi những diện tích rừng lớn thành đất nông nghiệp, đặc biệt ở các vùng núi có độ cao khoảng 800 đến 1500 m nơi mà các loài cây Hạt trần như Du
sam (Keteleeria) va ̀ Bách xanh (Calocedrus) thường sinh sống Việc chia cắt rời
Hình 1.1: Các vùng phân bố chính của Thông ở Việt Nam
1: Đông Bắc 2: Hoàng Liên Sơn 3: Tây Bắc và Bắc Trung bộ 4: Tây Nguyên
1
2
3
4
Trang 11rạc các cánh rừng là một vấn đề có liên quan khác Các đám rừng nhỏ còn sót lại
dễ bị cháy hơn và dễ bị ảnh hưởng do tính di truyền suy giảm, các loài có các quần thể tự nhiên nhỏ đặc biệt rất nhạy cảm với những đe doạ này Những loài
có các quần thể phân bố rộng (ví dụ như phần lớn các loài thuộc họ Kim giao - Podocarpaceae), trong một số trường hợp còn phân bố cả ở nước khác (như Du
sam Keteleeria), có thể tạo ra cảm tưởng rằng loài ít bị đe doạ hơn so với thực tế
vì việc khai thác quá mức và nạn phá rừng là những vấn đề của tất cả các nước ở Đông Nam Á, hiện tại trong vòng 5 năm qua mới chỉ tìm thấy được 1 cây còn lại trong tự nhiên Các cây khác đều đã bị chặt lấy gỗ và bị đào rễ làm hương Thuỷ
tùng (Glyptostrobus pensilis) là loài chỉ được biết ở hai khu bảo tồn nhỏ của tỉnh
Đắc Lắc Phần lớn những cây còn lại (số này ít hơn 250 cây) đều đã bị ảnh hưởng của lửa rừng Hầu như toàn bộ sinh cảnh của loài trên đầm lầy đã bị chuyển thành vườn cà phê và không thấy có cây tái sinh, hai loài này đang nằm đứng trước sự tuyệt chủng Tình trạng của một loạt các loài khác (như Bách tán
đài loan Taiwania cryptomerioides và Bách vàng Xanthocyparis vietnamensis)
có thể sẽ trở nên ở mức tương tự nếu không có những hành động bảo tồn toàn diện được tiến hành Trong vòng 15 năm qua có nhiều Vườn quốc gia và khu bảo tồn đã được thiết lập ở Việt Nam Một số nơi này có các quần thể cây hạt trần bị đe doạ Bên ngoài các khu vực này các qui định pháp luật được ban hành nhằm ngăn chặn việc khai thác trái phép Mặc dù vậy, việc khai thác tại địa phương, cả hợp pháp và trái phép vẫn còn là vấn đề nan giải Các loài có giá trị kinh tế cao hay có công dụng đặc biệt thường là những loài có nguy cơ lớn Vì vậy, bảo tồn tại chỗ cần được bổ sung bởi bảo tồn chuyển vị và các chương trình lâm sinh chung Những chương trình này cần gồm cả kế hoạch về giáo dục cũng như thu hái và bảo quản hạt giống, trồng phục hồi và làm giàu rừng trong và xung quanh các khu bảo tồn Các loài cây dẫn nhập có thể có vai trò trong việc
hỗ trợ cho bảo tồn tại chỗ Như vậy đã có 2 loài cây hạt trần đang trên bờ vực
Trang 12tuyệt chủng và việc ngăn chặn những loài cây khác tiếp tục nhập vào danh sách
này là mối quan tâm của tất cả mọi người
Việc nghiên cứu hiện trạng các loài hạt trần ở Việt Nam trong các năm qua đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế quan tâm nghiên cứu, hỗ trợ Điển hình là các nhà khoa học như Phan Kế Lộc, Nguyễn Tiến Hiệp, Tiến sỹ Leonid Averyanov, Jacinto Regalado các tổ chức như Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật (Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam), Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế (FFI) đã góp phần thực thi các chương trình bảo tồn các loài thuộc ngành hạt trần, giảm áp lực đến nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này
Nhiều loài Thông có ý nghĩa kinh tế và khoa học đã được nghiên cứu phục vụ công tác bảo tồn và trồng rừng Trong số 30 loài Thông được biết ở Việt Nam đã có hơn một nửa số loài được thử nghiệm nhân giống bằng giâm hom Kỹ thuật giâm hom cành đã được sử dụng tích cực trong việc bảo tồn ngoại vi các loài Thông quí hiếm, đặc biệt là các loài thuộc họ Hoàng đàn
(Cupressaceae) và Thông đỏ (Taxaceae) Phần lớn các thử nghiệm được tiến
hành vào thời gian từ mùa thu đến đầu mùa xuân trước khi các loài Thông kết thúc giai đoạn ngừng sinh trưởng và nhú chồi mới [10]
Hai tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa, Trần Văn Tiến cho thấy tại Lâm Đồng
đã tiến hành thử nghiệm nhân giống bằng hom cho các loài Bách xanh
(Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii) và Thông đỏ (Taxus wallichiana) với vật liệu hom Bách xanh thu hái từ cây 2 tuổi và 7-8 tuổi, Pơ mu
cây non 1 tuổi và Thông đỏ từ cây lớn tuổi trong rừng tự nhiên và các hom được
xử lý với nhiều loại chất điều hòa sinh trưởng với các nồng độ khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bách xanh có khả năng nhân giống bằng hom, tỷ lệ ra
rễ có công thức đạt tới 85% ở cây 7-8 tuổi, 95% ở cây 2 tuổi và chất điều hòa sinh trưởng phù hợp là IBA và ABT; Pơ mu tỷ lệ ra rễ cao nhất đạt 90%, chất
Trang 13điều hòa sinh trưởng phù hợp là ANA, ABT; Thông đỏ tỷ lệ ra rễ cũng rất cao (85-90%) phù hợp với cả 4 loại chất điều hòa sinh trưởng là IBA, ABT, IAA và ANA Các hom sau khi giâm đã được gây trồng tại Lâm Đồng cho thấy sinh trưởng khá tốt [33] Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích cũng đã nghiên cứu nhân
giống từ hom loài Bách xanh (Calocedrus macrolepis) tại Ba Vì cho thấy hom
thu hái từ cây càng trẻ thì tỷ lệ ra rễ cao hơn cây già, chất điều hòa sinh trưởng thích hợp nhất là IBA nồng độ 1,0%, thời gian ra rễ kéo dài 4 tháng [23]
Loài Phỉ ba mũi (Cephalotaxus manii) đã được tiến hành nghiên cứu nhân
giống bằng hom tại Vườn Quốc gia Ba Vì cho thấy có thể nhân giống bằng hom (tỷ lệ ra rễ cao nhất đối với 1 công thức đạt tới 90,9%), đối với loài này với thời gian ra rễ của hom giâm kéo rất dài (trên 5 tháng) và mức độ thành công (tỷ lệ ra
rễ của hom) phụ thuộc rất lớn vào vị trí lấy hom, tuổi cây mẹ lấy hom, loại chất điều hòa sinh trưởng và nồng độ khi xử lý hom, đặc biệt tỷ lệ ra rễ cao hơn khi hom được thu hái từ cây mẹ còn trẻ và hom từ chồi thân có khả năng ra rễ tốt nhất ngay cả khi không có xử lý chất điều hòa sinh trưởng [46]
Huỳnh Văn Kéo, Lương Viết Hùng, Trương Văn Lung đã nghiên cứu
giâm hom loài Hoàng đàn giả (Dacrydium elatum) đã sử dụng IBA với các
nồng độ khác nhau làm chất điều hòa sinh trưởng cho thấy với loài Hoàng đàn giả có khả năng nhân giống bằng hom và tỷ lệ ra rễ của hom thu hái từ cây trưởng thành thấp hơn cây non [22]
Nguyễn Đức Cảnh, khi nghiên cứu khả năng nhân giống vô tính (giâm
hom) Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) tại khu BTTN Bát
Đại Sơn, tỉnh Hà Giang cho biết sau 4 tháng giâm hom Bách vàng có khả năng nhân giống từ các cây trưởng thành mọc trong tự nhiên Khả năng ra rễ của hom Bách vàng giảm theo kích thước đường kính của cây Hai cấp đường kính chính
có số cá thể nhiều trong quần thể là từ 6-14 cm có tỷ lệ ra rễ 35% và 30-38 cm có
tỷ lệ ra rễ 11% Kết quả giâm hom 26 dòng Bách vàng cũng như phân tích thí
Trang 14nghiệm giâm hom cho 4 dòng ở độ tuổi có đường kính 7-15 cm đều cho thấy tỷ
lệ ra rễ biến động theo dòng, kể cả đối với các dòng có đường kính tương tự nhau Đối với những cây ở độ tuổi này khả năng ra rễ không nhất thiết phụ thuộc vào dạng lá của hom giâm [7]
Nói chung, để phục vụ cho công tác bảo tồn, các nhà khoa học đã cố gắng nghiên cứu các biện pháp nhân giống và gây trồng và đã có kết quả tương đối khả quan đối với các loài Bách xanh, Bách vàng, Thông đỏ, Phỉ ba mũi, Du sam, Các chất điều hòa sinh trưởng sử dụng chủ yếu và có hiệu quả đối với các loài Thông là ABT, IBA
Bên cạnh những nghiên cứu khoa học nhằm bảo tồn cho các loài cây có nguy cơ bị đe dọa thì hàng loạt các Chính sách có liên quan đến công tác bảo tồn cũng đã được Nhà nước công bố thông qua các Bộ luật, Nghị định, Quyết định, như Luật bảo vệ và phát triển rừng, Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam và gần đây nhất là Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Trong Nghị định này có công bố danh sách các loài động, thực vật rừng nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, trong đó
có 7 loài Thông trên tổng số 15 loài thực vật, chiếm tới 46,67%, đó là các loài: Hoàng đàn, Bách đài loan, Bách vàng, Vân sam phan xi păng, Thông pà cò, Thông đỏ nam và Thông nước Nhóm hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại có 9 loài Thông trong tổng số 37 loài thực vật, chiếm 24,32%, đó là các loài: Đỉnh tùng (Phỉ ba mũi), Bách xanh, Bách xanh đá, Pơ mu, Du sam,
Thông đà lạt -Thông 5 lá, Thông hai lá dẹt, Thông đỏ bắc và Sa mô ̣c dầu
1.3 Ti ̀nh hình nghiên cứu tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
Năm 1998, Viện Điều tra quy hoạch rừng phối hợp với tổ chức bảo tồn Chim quốc tế (Birdlife International) tiến hành nghiên cứu, đánh giá bước đầu
đa dạng sinh học khu BTTN Xuân Liên
Trang 15Năm 1999, Viện Điều tra quy hoạch rừng phối hợp với Chi cục Kiểm lâm Thanh Hóa tiếp tục tổ chức khảo sát đa dạng sinh học và kinh tế xã hội ở khu vực này, kết quả nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh vật tại khu BTTN Xuân Liên chỉ ra hệ thực vật Xuân Liên gồm 752 loài, 440 chi, 130 họ thuộc 3 ngành [50] Gần đây nhất, năm 2008 chương trình điều tra, đánh giá sơ bộ phân bố 2 loài Pơ
mu (Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et Thomas) và Sa mộc dầu
(Cunninghamia konishii Hayata) với sự hỗ trợ của các chuyên gia thực vật thuộc
Trường Đại học Lâm nghiệp đã thu thập được mẫu vật của 7 loài thực vật hạt trần lưu giữa tài phòng Khoa học - Kỹ thuật, khu BTTN Xuân Liên đó là
- Bách xanh (Calocedrus macrolepis (Kurz) Benth.&Hook.)
- Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg)
- Sa mô ̣c dầu (Cunninghamia konishii Hayata)
- Thông nàng (Dacrycarpus imbricatus (Blume) D Laub)
- Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) Henry et Thomas)
- Kim giao nu ́ i đất (Nageia wallichiana (C.Presl) O.Kuntze)
- Thông tre lá dài (Podocarpus neriifolius D Don)
Sau mười năm được thành lập, mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng công tác quản
lý, nghiên cứu thực vật ở khu BTTN Xuân Liên mới chỉ dừng lại ở việc bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên rừng hiện có với các hoạt động chủ yếu: tham mưu cho cấp
uỷ, chính quyền địa phương thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nội dung quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp theo Quyết định 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; phối hợp với các ngành, các đoàn thể trên địa bàn triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý bảo vệ rừng, bảo vệ an toàn diện tích rừng đặc dụng; thực hiện dự
án 661 với các hạng mục lâm sinh như bảo vệ rừng 15.000 ha, khoanh nuôi tái sinh 2.500 ha, trồng mới và chăm sóc rừng trồng 150 ha; xây dựng, hoàn thiện 32 hồ sơ quản lý bảo vệ rừng theo tiểu khu, tổ chức giao cho cán bộ, kiểm lâm viên khu bảo tồn tổ chức quản lý, theo dõi và nghiên cứu lâu dài [1],[2]
Trang 16Công tác nghiên cứu thực vật luôn là mục tiêu hàng đầu trong công tác bảo tồn thiên nhiên, tuy nhiên kết quả chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có Hoạt động nghiên cứu mới dừng lại ở một số nội dung như: thu thập được 100 mẫu thực vật; liên kết với Trung tâm nghiên cứu lâm đặc sản (Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) quy hoạch, điều tra bảo tồn 120 cá thể Giổi xanh gắn với phát triển nguồn giống; nghiên cứu, chuyển hoá 10 ha rừng giống Keo lai phục vụ trồng rừng tập trung và phân tán trên địa bàn Trên thực tế cho thấy các nghiên cứu mới dừng lại ở mức phát hiện loài, hiện chưa có công trình cụ thể nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái và tình trạng bảo tồn các loài cây quý hiếm này tại khu BTTN Xuân Liên, để từ đó có một hành động cụ thể bảo tồn chúng
Trang 17Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài thuộc ngành Hạt trần hiện có tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
2.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Cung cấp thông tin, cơ sở dữ liệu về hiện trạng các loài thuộc ngành Hạt trần tại khu BTTN Xuân Liên
- Trên cơ sở hiện trạng, đề xuất các biện pháp bảo tồn, phát triển các loài thuộc ngành Hạt trần hiện có
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cư ́ u đặc điểm phân bố, sinh thái, khả năng tái sinh của các loài cây hạt trần (Gymnospermae) ở khu BTTN Xuân Liên
- Xác định vùng phân bố của các loài hạt trần
+ Thiết lập các tuyến điều tra
+ Thành phần các loài hạt trần phân bố trên các khu vực
- Đặc điểm phân bố của các loài hạt trần
- Đặc điểm sinh thái của các loài hạt trần
- Đặc điểm tái sinh và khả năng tái sinh tự nhiên của các loài hạt trần hiện có
- Xác định tính cạnh tranh của các loài đối với từng loài hạt trần
2.3.2 Xác định sự phân bố của các loài hạt trần (Gymnospermae) theo đai cao 1515 2.3.3 Xác định diện tích và trữ lượng của các loài Hạt trần hiện có trong khu bảo tồn 2.3.4 Thư ̉ nghiệm khả năng nhân giống loài Pơ mu (Fokienia hodginssi (Dunn) Henry et Thomas) va ̀ Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) bằng phương pha ́ p nhân giống vô tính
2.3.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thuộc ngành hạt trần 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 182.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Những tư liệu về điều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn, đất đai, địa hình, tài nguyên rừng
- Thông tin, tư liệu về điều kiện kinh tế, điều kiện xã hội: dân số, lao động, thành phần dân tộc, tập quán canh tác
- Những kết quả nghiên cứu, những văn bản có liên quan đến các loài cây thuộc ngành Hạt trần ở Việt Nam
2.4.2 Phương pháp thu thập, điều tra, khảo sát thực địa
2.4.2.1.Phương pháp điều tra thu thập số liệu theo tuyến
- Điều tra theo tuyến vạch sẵn trên bản đồ địa hình, tuyến cần được lựa chọn dựa trên các đường mòn có sẵn để dễ tiếp cận khu vực hơn
- Các tuyến điều tra có chiều dài không giống nhau được xác định đảm bảo đi qua tất cả các trạng thái rừng Tuyến điều tra được đánh dấu trên bản
đồ và đánh dấu trên thực địa bằng sơn hoặc dây nilon có màu dễ nhận biết
a/ Thiết lập các tuyến điều tra:
Căn cứ vào điều kiện thời gian cùng như về nhân lực, vật lực cần thiết phục vụ công tác điều tra, nhằm thực hiện hiệu quả các nội dung của đề tài đề ra nhưng vẫn đảm bảo về mặt thời gian và các điều kiện cần thiết khác Công tác chuẩn bị nội nghiệp đóng góp một phần rất quan trọng, sau khi xem xét tất cả các yếu tố có liên quan như: hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp khu BTTN Xuân Liên, điều kiện địa hình và ý kiến góp ý của lãnh đạo, cán bộ khoa học-kỹ thuật
đã nhiều năm làm công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu BTTN Xuân Liên, chúng tôi xác lập các tuyến điều tra chính và một số tuyến điều tra phụ
Yêu cầu tuyến điều tra chính là phải điều tra xác định tất cả các loài cây hạt trần (Gymnospermae) theo các nội dung đề ra
Trang 19Đối với tuyến phụ là chỉ điều tra xác định các loài chỉ định nhờ thực hiện công tác thu thập nội nghiệp qua tài liệu và tập trung vào việc xác định vùng
phân bố, diện tích, trữ lượng của các loài hạt trần hiện có trong khu vực
b/ Các tuyến điều tra chính
- Tuyến số 1: Bản Vịn - Sườn Huối Pà, chiều dài 0,800 km
- Tuyến số 2: Sườn Huối Pà-Huối Pà, chiều dài 2,100 km
- Tuyến số 3: Huối Pà - Đỉnh Trại Keo, chiều dài 1,234 km
- Tuyến số 4: Đỉnh Trại Keo - Trại Keo, chiều dài 1,957 km
- Tuyến số 5: Huối Pà - Đỉnh Huối Cò - Huối Cò, chiều dài 1,131 km
- Tuyến số 6: Yên Ngựa Huối Cò - Bản Vịn, chiều dài 0,61 km
- Tuyến số 7: Huối Pà - Đỉnh Hang Ong, chiều dài 1,871 km
- Tuyến số 8: Đỉnh Hang Ong - Pù Nậm Mua, chiều dài 1,863 km
- Tuyến số 9: Thác Tiên - Hang Ong, chiều dài 1,643 km
- Tuyến số 10: Pù Nậm Mua - Đỉnh Hón Cà, chiều dài 2,707 km
- Tuyến số 11: Đỉnh Đại Bàng - Thác Đàn Bà, chiều dài 2,8 km
- Tuyến số 12: Thác Tà ản - Đỉnh Pù Gió, chiều dài 4,706 km
- Tuyến số 13: Đỉnh Pù Gió - Lán Hai O, chiều dài 1,100 km
- Tuyến số 14: Lán Hai O - Hón Yên, chiều dài 5,700 km
- Tuyến số 15: Lán Hai O - Ngã Ba suối Pựa, chiều dài 2,500 km
c/ Các tuyến điều tra phụ
- Tuyến 9a: Hang Ong - Sườn Hang Ong, chiều dài 0,6 km
- Tuyến 9b: Sườn Hang Ong - ngã ba suối Tiên, chiều dài 0,845 km
2.4.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu trong điều tra lâm học
a/ Điều tra cá thể tầng cây cao
- Điều tra, thu thập tiêu bản đo tính tất cả các cá thể loài hạt trần được tìm thấy có đường kính ngang ngực (D1.3) lớn hơn hoặc bằng 6cm
- Đo D1.3 bằng thước kẹp kính
Trang 20- Đo chiều cao vút ngọc (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước đo cao Blummleiss
- Đo đường kính tán (Dt) bằng thước dây theo hai chiều Đông Tây - Nam Bắc
Đối với những cây khó tới gần (do địa hình hiểm trở) sử dụng phương pháp mục trắc theo kinh nghiệm từ những cây đã đo
b/ Điều tra, đo đếm cây tái sinh
- Điều tra các loài hạt trần tái sinh tự nhiên theo tuyến
- Điều tra các loài hạt trần tái sinh tự nhiên quanh gốc cây mẹ
Thiết lập các ô dạng bản kích thước 4m2 (2m x 2m) quanh gốc cây mẹ theo bốn hướng, 04 ô trong tán, 04 ô ngoài tán
- Xác định 20 ô nhỏ (quadrat) 2x2m dọc theo đường chéo của ô tiêu chuẩn (đối với loài Pơ mu) Trong các ô nhỏ cần ghi các thông tin:
+ Số lượng cây mầm và cây con của các loài cây gỗ ở các tầng trên + Độ che phủ đất của tầng thực bì
Như vậy thuộc phạm vi đề tài này, chúng tôi đưa ra 03 phương pháp điều tra cây tái sinh khác nhau và căn cứ vào tình hình thực tế mà việc điều tra có thể
áp dụng một phương pháp hay áp dụng tổng hợp hai, ba phương pháp khác nhau cho một loài
c/ Xác định sự phân bố theo đai cao
Sử dụng định vị toàn cầu (GPS) để xác định độ cao phân bố của từng cá thể các loài hạt trần Căn cứ vào kết quả điều tra sự phân bố của các loài và bản đồ địa hình đã được số hoá theo các độ cao khác nhau để phân chia theo các đai cao phù hợp và chính xác
d/ Xác định loài cạnh tranh
Sử dụng công thức của Hegyi (1974) áp dụng để tính chỉ số cạnh trạnh cho cây trung tâm:
Trang 21Trong đó:
- CI là chỉ số cạnh tranh của loài cây j đối với cây trung tâm, CI càng lớn cạnh tranh với cây trung tâm càng mạnh
- Dj là các đường kính ngang ngực của cây cạnh tranh j
- Di là đường kính ngang ngực của cây trung tâm
- Lij là khoảng cách từ cây trung tâm đến cây cạnh tranh j
Bán kính của ô = đường kính tán lớn nhất có thể của cây trung tâm [9],[11]
2.4.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu được xử lý trên phần mềm Excel
- Tính trị số trung bình của các cá thể Pơ mu và Sa mu Các chỉ tiêu cần tính D1.3(cm), Hvn (m), Hdc (m), Dt (m)
- Xác định trữ lươ ̣ng loài theo công thức: Vi = Gi x Hivn x f
Trong đó: V: là trữ lươ ̣ng cây thứ i
Gi: tiết diện ngang của cây thứ i ta ̣i vi ̣ trí 1,3m Hivn: là chiều cao vú t ngo ̣n của cây thứ i
f: chỉ số đô ̣ thon (f=0,45)
- Dùng phương pháp so sánh cặp đôi để đánh giá kết quả
Sử dụng các cấp đánh giá của Sách đỏ Việt Nam, 2007 (Phần II-Thực vật), các tiêu chuẩn đánh giá của IUCN (2000), quy định của pháp luật Việt Nam tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ và Quyết định 74/2008/QĐ-BNN ngày 20/6/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; của Quốc
tế tại Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
(CITES)
2.4.2.4 Phương pháp chuyên gia
Trang 22Tham vấn các nhà lãnh đạo địa phương, các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học chuyên môn liên quan đến các vấn đề nghiên cứu
2.4.2.5 Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn thông qua phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp người dân địa phương
PRA (Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân), sử
dụng nhiều công cụ (cách) tiếp cận cho phép người dân cùng chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập
kế hoạch và hành động Cần phải kết hợp cả phương pháp này để phát huy tối
đa năng lực của cộng đồng thông qua sự tham gia tích cực của họ vào hoạt động điều tra trên thực địa, đồng thời phân tích những áp lực lên tài nguyên rừng và tìm các giải pháp bảo tồn và phát triển
RRA (Đánh giá nhanh nông thôn): là quá trình nghiên cứu được coi
như là điểm bắt đầu cho sự hiểu biết tình hình địa phương Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) với công cụ chính là bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc để phỏng vấn các đối tượng sau: lâm dân, dân sống sát rừng; cán bộ quản lý, bảo vệ rừng; cán bộ, lãnh đạo chính quyền địa phương; cán bộ quản lý khu BTTN Xuân Liên; kiểm lâm; cán bộ khoa học kỹ thuật
- Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý theo phương pháp thống kê, tên các loài được hiệu đính theo các tài liệu: Danh mục các loài thực vâ ̣t Viê ̣t Nam 2001, tập I và Tên cây rừng Việt Nam 2000
2.4.2.6 Phương pháp thống kê, phân tích đánh giá thực trạng tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu
2.4.2.7 Phương pháp thực hành trên mô hình thí điểm ở vùng nghiên cứu
2.4.2.8 Phương pháp bản đồ, sơ đồ
2.4.3 Phương pháp nhân giống vô tính 02 loài hạt trần Pơ mu (Fokienia hodginssi (Dunn) Henry et Thomas) và Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata)
Trang 23a/ Vật liệu giâm hom
- Dùng kéo kỹ thuật sắc thu hái hom ở những cây chưa đến tuổi thành thục tại khu vực nghiên cứu
- Chọn những hom không quá già, không quá non, không có biểu hiện sâu bệnh hại
- Hom sau khi cắt khỏi cây mẹ cho vào xô nước để giảm thoát hơi nước b/ Xử lý nền giâm hom
- Sử dụng cát mới cho vào bể để làm nền giâm hom
- Dùng dung dịch Benlate có nồng độ 15% tưới vào nền giâm vào thời gian trước khi cắm hom 8- 12 giờ để xử lý nấm bệnh của nền giâm
c/ Xử lý hom giâm
- Hom sau khi cắt khỏi cây mẹ, tiến hành chọn và cắt lại lần hai Khi cắt không làm giập phần gốc của hom (nếu giập hom sẽ bị thối và chết), tỉa bớt một ít lá ở phía trên rồi cho vào nước Khi số lượng đủ lớn thì vớt ra để ráo nước Sau đó nhúng hom vào dung dịch xử lý nấm bệnh
d/ Thuốc kích thích ra rễ: Sử dụng các loại thuốc dạng bột sau: ABT (Acid tri odobenzoic, là chất kích thích ra rễ thương phẩm của Trung Quốc, tổng hợp pha trộn giữa IAA và IBA), NAA (Acid naphtalen axetic) đối với Pơ mu và sử dụng thuốc
dạng bột TTG (Trung tâm giống cây rừng Trung ương, là sản phẩm thương phẩm có
nguồn gốc từ IBA - Indole -3-butyric acid 1% dạng bột) đối với Sa mộc dầu
e/ Phương pháp giâm hom: Cắt hom có chiều dài 10- 15cm Chấm phần gốc của hom vào thuốc kích thích ra rễ rồi cắm vào nền cát sạch, sau khi cắm hom dùng ni lông trong suốt phủ kín luống giâm
Dùng hệ thống phun sương mù điều chỉnh lượng nước phun cho phù hợp, luôn giữ chế độ cân bằng nước trong hom, làm cho hom không bị khô hoặc không quá ướt Nếu quá khô hoặc quá ướt hom sẽ bị chết
Trang 24Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An, xã Vạn Xuân, huyện Thường Xuân
- Phía Bắc giáp xã Lương Sơn, Yên Nhân, Bát Mọt
- Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An, xã Bát Mọt
- Phía Đông giáp xã Xuân Cẩm và Xuân Cao
Với vị trí địa lý tiếp giáp khu BTTN Pù Hoạt (Nghệ An) và khu BTTN Nậm Xam nước CHDCND Lào đã tạo ra một tam giác khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng
- Diện tích rừng đặc dụng là 26.303.6 ha thuộc địa bàn 5 xã (Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Lương Sơn), gồm có:
+ Diện tích đã quy hoạch giao quản lý sử dụng ổn định: 23.475.0 ha + Diện tích ngập nước lòng hồ đang đất tạm giao: 2.828.6 ha (Diện tích ngập nước hồ Cửa Đạt)
- Diện tích rừng sản xuất giao ổn định lâu dài: 819,6 ha
- Vùng đệm: quy hoạch với diện tích 36.420,59 thuộc diện tích còn lại
của 5 xã quy hoạch cho khu bảo tồn: Bát Mọt, Yên Nhân, Vạn Xuân, Xuân Cẩm, Lương Sơn
3.1.2 Địa hình, địa mạo 9
Trang 25Địa hình khu bảo tồn bị chia cắt mạnh do lịch sử kiến tạo địa chất và tạo sơn Toàn bộ khu vực thuộc vùng núi thấp miền Trung, nhưng có đặc thù: núi thấp, dốc ngắn, chia cắt sâu trong phạm vi hẹp có đại diện núi đá xen núi đất và thung lũng sâu, hẹp Dãy núi trung lưu sông Chu chạy từ Sầm Nưa
ở Nước CHDCND Lào qua huyện Thường Xuân về đến huyện Như Xuân, có khá nhiều đỉnh cao nổi trội như đỉnh Pù Ta Leo (1.400 m), núi Bù Gió (1.563 m), Bù Hòn Hàn (1.208 m) và một ngọn núi không có tên cao đến 1.605 ở phía nam Bản Vịn là đỉnh cao nhất trong khu bảo tồn thiên nhiên Phần lớn các dãy núi này đều được cấu tạo bằng đá Riolit, Granit với đỉnh nhọn, đường dông sắc và sườn dốc hơn các dãy núi xung quanh [54]
Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên có các kiểu địa hình chính sau:
- Vùng núi trung bình: có độ cao 800-1700m Phân bố giữa hai thung lũng sông Khao và Nậm Boong Đây là vùng bị chia cắt mạnh, độ dốc phổ biến > 350 Xen vào giữa dãy núi là các thung lũng hẹp, sâu, dốc lòng theo chiều nước chảy (gần như từ Tây sang Đông) Tổng diện tích khoảng 4.000 ha chiếm 15,2% tổng diện tích khu vực
- Vùng núi thấp và đồi cao: dưới 800m, tập trung về phía Đông (hạ lưu sông Khao và phía Nam giáp tỉnh Nghệ An Độ cao, độ dốc địa hình có giảm, mức độ chia cắt đỡ phức tạp hơn vùng trên Độ dốc trung bình từ 200 - 250 Vùng đồi núi cao địa hình thoải hơn, độ dốc bình quân từ 150 - 200, tổng diện tích khoảng 17.000 ha chiếm 64,6 % tổng diện tích tự nhiên khu bảo tồn
Ngoài 2 kiểu địa hình chính đã mô tả ở trên, trong khu vực còn phân bố giải rác các kiểu địa hình có diện tích nhỏ, phân tán, xen kẽ với vùng đồi núi trong vùng chiếm 20,2% tổng diện tích tự nhiên, đó là:
+ Địa hình núi đá vôi (Karst) khá hiểm trở, rất khó đi lại Độ cao từ 700-1000m, độ dốc có thể lên tới 600 - 700, nhiều chỗ vách núi dựng đứng
Trang 26+ Địa hình thung lũng: phân bố dọc theo các sông, suối trong vùng Lòng thung lũng hẹp, vùng thượng nguồn khá dốc, giảm dần độ dốc và độ cao theo dòng chảy của các con sông Phần hạ lưu sông Khao, sông Đặt và sông Chu có nhiều bãi bồi ven sông khá bằng phẳng và màu mỡ [1],[54]
3.1.3 Khí hậu, thủy văn
Miền núi trung du Thanh Hóa nói chung và khu BTTN Xuân Liên nói riêng nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt Khí hậu khu vực có đặc trưng: tháng lạnh nhất là tháng 1, nóng nhất là tháng 6 và 7;
có 6 tháng mùa khô (từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau), 4 tháng kiệt
là tháng 12, 1, 2 và 3; có 6 tháng mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) cường độ lớn, nhiều trận mưa > 350mm/ngày Khu vực có gió Lào (khô nóng), xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 Lượng mưa trung bình năm khoảng 1700-2000mm, lượng mưa cao nhất từ 2000-2500mm, có năm lên đến 3.000mm Lượng mưa thấp nhất 1400mm, cá biệt có năm thấp đến 1.060mm; mỗi năm có khoảng 90-130 ngày mưa, số giờ nắng bình quân khoảng 1600-1800 giờ, nhiệt độ trung bình 230C - 240C Độ ẩm bình quân từ 85% đến 87%, có ngày thấp tới 16% Vào mùa Đông thường có thời tiết khô hanh với gió mùa Đông Bắc khá mạnh, sương muối thường xuất hiện ở mùa này [1], [2], [54]
Hướng gió phổ biến là Đông Bắc vào mùa đông và Đông Nam vào mùa
hè Tuy nhiên vẫn có xen kẽ các loại gió khác Ví dụ mùa đông vẫn có gió Tây Nam, Đông Nam Gió Tây khô nóng thường xuất hiện vào tháng 5, 6, 7, 8
Thủy văn khu bảo tồn có các hệ thủy chính sau:
- Lưu vực sông Chu: đây là một nhánh lớn của sông Mã, chạy gần song song với sông Mã và gặp nhau tại ngã ba Bông Sông Chu là con sông lớn thứ 2 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, lòng sông hẹp, chảy qua nhiều địa hình cao, dốc, có dòng chảy xiết Hiện nay việc ngăn dòng sông Chu để xây dựng đập thủy lợi,
Trang 27thủy điện Cửa Đạt với dung tích chứa 1,3 tỷ m3 nước đang trong giai đoạn hoàn thành, đã tạo ra trong lòng khu bảo tồn mặt hồ có diện tích trên 2.800 ha [1]
- Lưu vực sông Khao: là chi lớn nhất của sông Chu, bắt nguồn từ vùng núi cao thuộc xã Bát Mọt Vùng thượng nguồn sông Khao rất hẹp, dốc và có nhiều thác ngềnh (thác Tiên cao trên 60m), tổng lượng chảy trung bình năm là 285.836 x 106 m3/năm
- Lưu vực sông Đặt: bắt nguồn từ đỉnh Pù Gió, chảy qua 4 xã thuộc huyện Thường Xuân gặp sông Chu ở Cửa Đặt, tổng lượng chảy trung bình năm là 285.289 x 106 m3/năm
Ngoài ra trong lưu vực còn khá nhiều dòng suối lớn chảy vào sông Chu như suối Khuê, hón Yên, Nậm Ruộng, Nậm Poóng chảy vào sông Khao Nhìn chung hệ thống thủy văn trong khu vực khá phong phú với thảm thực vật còn khá tốt nên các dòng sông, suối có nước chảy quanh năm
3.1.4 Địa chất, thổ nhưỡng 9
Khu BTTN Xuân Liên nằm ở vùng rìa ngoài của miền Tây Bắc đang được nâng lên, tiếp giáp với một miền sụt võng là đồng bằng châu thổ sông
Mã, sông Chu Vùng núi uốn nếp được cấu tạo bằng các loại đá khác nhau, từ
đá trầm tích (đá phiến, đá vôi, cát kết, cuội kết, phiến thạch sét) đến đá phun trào spilite, aldezit và các đá biến chất như đá hoa, phiến mica, chúng nằm xen kẽ với nhau làm cho ngoại hình khu vực luôn thay đổi [54]
Phần với các dãy núi cao trung bình phía Tây giáp biên giới Việt - Lào đều được cấu tạo bằng đá macma acid kết tinh chua, Riolit, Granit chúng có đỉnh nhọn và sườn dốc hơn các vùng đồi núi xung quanh
Vùng đồi núi thấp trung tâm chỉ cao < 800m (trung bình 400-500m) có đỉnh bằng, sườn thoải, được cấu tạo bằng các loại đá trầm tích màu đỏ kỷ Jura không phân chia như phiến thạch sét, sa thạch, Alorolit, cuội kết và một ít đá vôi
Trang 28Thổ nhưỡng được hình thành trên một nền địa chất phức tạp (có nhiều đứt gãy và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau), kết hợp với sự phân chia khí hậu, thủy văn đa dạng nên đã có nhiều loại đất được tạo thành Các loại đất chính hiện có trong khu bảo tồn:
- Đất Feralit có mùn trên núi trung bình (FH): chiếm khoảng 15% diện tích khu bảo tồn, được hình thành trong điều kiện nóng ẩm, rất dốc, không có nước đọng, không kết von, nhiều mùn, đất màu vàng đỏ phát triển trên đá Granit, Riolit còn rừng che phủ Đất có tỷ lệ đá lẫn cao, thành phần cơ giới thô, nhẹ, phân bố từ độ cao 800-1600m, tập trung trên đỉnh Pù Nậm Mua, Pù Hòn Hàn, Pù Gió
- Nhóm đất Feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (F): chiếm khoảng 75% diện tích khu bảo tồn, đây là loại đất có quá trình Feralit điển hình, màu sắc đất phụ thuộc vào từng loại đá mẹ, phân bố ở độ cao dưới 800m, điển hình là các loại đất:
+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét (Fs): thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, đất tốt, không có đá lẫn
+ Đất Feralit vàng nhạt phát triển trên đá sa thạch (Fq): thành phần cơ giới thô nhẹ, tầng đất mỏng đến trung bình, có đá lẫn
+ Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên đá macma acid kết tinh chua (Fa): thành phần cơ giới thô to, kết cấu rời rạc, tầng đất mỏng, nhiều lá nỗi, đá lẫn trong tầng đất
+ Đất dốc tụ và đất phù sa sông suối trong các thung lũng (Dl): là loại phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha với thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng, hàng năm vẫn bồi thêm một lớp phù sa mới rất màu mỡ
3.1.5 Thảm thực vật rừng 9
Dựa trên "Hệ phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới ở Việt Nam" của Thái Văn Trừng (1998), kết quả điều tra của Nguyễn Quốc Dụng (1999) và
Trang 29kết quả cập nhật diễn biến rừng và đất lâm nghiệp năm 2009 cho thấy thảm thực vật rừng khu BTTN Xuân Liên với các kiểu rừng chính và phụ như sau:
- Rừng kín thường xanh chủ yếu cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp: phân
bố từ độ cao 800m đến 1600m, tập trung chủ yếu ở Pù Nậm Mua, Pù Ban, Pà Pắn ở phía nam Bản Vịn và Pù Gió, Pù Ta Leo ở Quặn, Hang Cáu thuộc xã Vạn Xuân, có diện tích 1.050,50 ha, chiếm 4,0 % tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn
Kiểu rừng này ít bị tác động, còn giữ được tính nguyên sinh, độ tàn che đạt 0,7-0,8, có lâm phần có độ tàn che đạt 0,9 Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng thuộc các họ Dẻ, họ Long Não, họ Thầu Dầu, họ Đậu, họ Ngọc Lan, họ
Sến Ở độ cao này, có sự phân bố của các loài hạt trần như Pơ mu (Fokienia hodginssi (Dunn) A Henry & Thomas), Bách xanh (Calocedrus macrolepis Kurz),
Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), Dẻ tùng sọc trắng (Amentotaxus argotaenia (Hance) Pilg.), Thông nàng (Dacrycarpus imbricartus (Blume) de
Laub.) tạo ra một số lâm phần có kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng và lá kim
Các loài cây gỗ của kiểu rừng này có đường kính tương đối lớn, trung bình từ 25-30 cm, chiều cao bình quân từ 18-20m; tái sinh dưới tán rừng khá tốt, đạt từ 3.000-4.000 cây/ha, thành phần cây tái sinh cơ bản phù hợp với tầng cây mẹ, nên diễn thế rừng ổn định
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp sau khai thác: Kiểu rừng này có nguồn gốc từ kiểu rừng đã nêu ở trên nhưng
đã bị khai thác chọn các loài cây có giá trị kinh tế cao, diện tích của kiểu rừng này là 1.589,40 ha chiếm 6,0% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn Tầng cây gỗ vượt tán gần như bị khai thác gần hết, chỉ còn lác đác số lượng rất ít cây Pơ mu, Thông nàng Tuy nhiên tầng tán chính vẫn chưa bị phá vỡ hoàn toàn, độ tàn che của rừng vẫn còn đạt 0,6-0,7 Trong tầng tán vẫn tồn tại một
số loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao như Giổi, Vàng tâm; đường kính bình
Trang 30quân của các loài cây gỗ đạt 20-25cm, chiều cao bình quân đạt 16-18m, vẫn
có thể gặp các cây gỗ lớn trên 50cm của loài Sao mặt quỷ, hay loài Sến đứng riêng biệt, Cà lồ, một số loài Giổi… Tái sinh rừng tương đối tốt, đạt trên 6.000 cây/ha, trong đó cây có triển vọng đạt 2.000 cây/ha; các cây tái sinh chủ yếu cùng với loài cây mẹ
- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp trên đất xương xẩu núi đá vôi: có diện tích 1.092,50 ha chiếm 4,2% tổng diện tích
tự nhiên của khu bảo tồn nằm ở phía Nam, một phần ở phía Tây Nam của Bản Vịn và một diện tích nhỏ ở đỉnh Pù Ta Leo, xã Vạn Xuân; kiểu rừng này đã qua tác động của con người thông qua các hoạt động săn bẫy bắt động vật rừng, thu hái các loại đặc sản và các loài cây gỗ có giá trị kinh tế như Chò chỉ, Đinh… Tuy nhiên, do địa hình hiểm trở nên tác động của con người tới quần thụ này phần đã được hạn chế; rừng vẫn đảm bảo độ tàn che 0,5-0,6; thành phần thực vật vẫn thể hiện tính đặc trưng cho vùng núi đá vôi cao trên 800m với sự ưu thế của các loài thuộc họ Long não, họ Dâu tằm, họ Ô rô, họ Thầu dầu, họ Chè trong đó phải kể đến các loài như: Bời lời xanh, Re lá bời lời, Rè, Sụ, Sồi lá bạc, Sâng, Dâu da các loài cây hạt trần xuất hiện ở kiểu rừng này là Thông nàng với số lượng cá thể không nhiều Tái sinh dưới tán rừng rất kém, thường chỉ gặp rất ít cây tái sinh dưới dạng cây mạ trong các hốc đá thuộc các loài trong họ Đa si, họ Chè, họ Thầu dầu; nguyên nhân tái sinh không tốt có lẽ do tầng đất mỏng, bị rửa trôi mạnh, cây mạ gieo hạt thường chỉ giữ được ở các hốc
đá có đất bồi tụ, còn lại bị trôi theo dòng nước vào mùa mưa
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rẫy: có diện tích 1.670,70 ha chiếm 6,4% tổng diện tích tự
nhiên Kiểu quần thụ này cũng có nguồn gốc từ kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp, nhưng do quá trình làm nương rẫy đã mất đi tính nguyên thủy của nó Kiểu rừng này phân bố ở các khu vực gần làng bản hoặc chòi làm
Trang 31nương rẫy ở phía Nam Bản Vịn(xã Bát Mọt) và phía Nam Bản Khong (xã Yên Nhân) Đây là kiểu rừng non phục hồi lại trên đất đã mất hoàn toàn lớp phủ thực vật, đất vẫn còn tính chất đất rừng nên thực vật nhanh chóng xâm nhập sau khi đất bị bỏ hóa với các loài cây ưa sáng mọc nhanh với các loài cây như: Màng tang, Mò, Hu đay, Sau sau lào Dưới tán các loài cây ưu sáng này xuất hiện tái sinh của các loài cây gỗ khác như Sến, Cà lồ, các loài trong chi Re
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao giang hoặc nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới núi thấp: diện tích 1.325,20 ha chiếm 5,0%
tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn Đây cũng là kiểu phụ thứ sinh nhân tác sau nương rẫy có nguồn gốc từ kiểu rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp Diễn thế của kiểu này chiều hướng có khác đối với kiểu trên Cấu trúc rừng chủ
yếu là loài Giang (Dendrocalamus patellaris) và rãi rác các cây lá rộng còn sót
lại như Sến, Sao mặt quỷ, Dẻ, Bời lời mật độ Giang đạt 1.850 cây/ha, đường kính bình quân 3,7cm, chiều dài bình quân 18m Dưới tán rừng Giang tái sinh rất kém do Giang dày đặc, mặt đất thiếu ánh sáng, hạt giống cây gỗ khi rụng xuống bị mắc lại trên tán cây, không tiếp cận xuống mặt đất
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới: Kiểu rừng này có diện
tích 1.170,50ha chiếm 4,4% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn, phân bố ở
độ cao dưới 800m ở phía Tây Nam Bản Vịn và phía nam Pù Hòn Hàn Kiểu quần thụ này mới bị tác động nhẹ, căn bản vẫn còn giữ được tính nguyên sinh, thành phần thực vậy có mặt hầu hết các họ thực vật nhiệt đới ở Việt Nam Tuy nhiên sự ưu thế của các loài và các ưu hợp thực vật rất khó xác định Các họ thường gặp là họ Đậu, họ Thầu dầu, họ Long não, họ Cam, họ Hoa hồng, họ Xoan Ở đây có đại diện của thực vật di cư từ phía Nam lên, đó là loài Sao mặt quỷ, đồng thời có mặt của các đại diện của luồng thực vật phía Tây Nam đến như: Chò xanh (họ Bàng) và một số loài rụng lá như Săng lẻ (họ Tử vi, Thung (họ Thung) Lâm phần còn có các cây gỗ lớn, đường kính tới 80cm hoặc hơn,
Trang 32chiều cao tới 25-30m thuộc các loài Sấu, Giổi, Gội, Quyếch; tình hình tái sinh khá tốt với nhiều loài cây có giá trị, cây tái sinh thường cùng loài với cây mẹ
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt đới sau khai thác:
Kiểu rừng này có diện tích 2.219,25 ha chiếm 8,4% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn, phân bố ở phía Đông đỉnh Pù Hòn Hàn và sườn Đông đỉnh Pù Gió; rừng bị tác động mạnh qua việc khai thác gỗ của những năm thuộc thập kỷ 90 Các loài cây gỗ lớn có giá trị bị khai thác chọn đến cạn kiệt như Lim xanh, Giổi, Re, Vàng tâm trong lâm phần chỉ còn lại một số cây gỗ cong queo, sâu bệnh, các cây
gỗ chất lượng xấu, giá trị thấp như Ngát, Đa si, Ràng ràng, Quyếch, Chẹo Tán rừng bị phá vỡ nhiều nơi đã tạo điều kiện cho cây ưa sáng mọc nhanh như: Vạng, Lõi thọ, Ba soi, Ba bét ven suối có các loài cây chất lượng gỗ xấu như: Sổ, Lộc
mại loài cây có giá trị là Chò nước (Platanus kerri) là có giá trị Rừng vẫn có trữ
lượng trung bình, chiều cao bình quân lâm phần đạt 16-17m, đường kính bình quân cây gỗ 20-25cm Tái sinh dưới tán rừng tương đối tốt, đạt 6.000 - 7.000 cây/ha, số cây có chiều cao trên 3m đạt khoảng 2.000 cây/ha, nhìn chung khả năng tái tạo còn tốt
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phục hồi sau nương rẫy: có diện tích khá lớn 4.111,41 ha chiếm 15,6 % tổng
diện tích tự nhiên của khu bảo tồn, phân bố ở gần làng bản hoặc nương rẫy ven suối Kiểu rừng này có nguồn gốc từ rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, nhưng do quá trình đốt nương làm rẫy đã mất lớp thảm rừng nguyên sinh, sau
đó được bỏ hóa nhiều năm và rừng non đã xuất hiện Thảm thực vật rừng chủ yếu là các loài cây ưa sáng, mọc nhanh điển hình đó là Vạng, Màng tang, Bời lời giấy, Hu đay, ba soi Rừng chỉ có một tầng, độ tàn che đạt 0,8, đường kính cây dưới 10cm, chiều cao bình quân đạt 6-7m, rừng chưa có trữ lượng Dưới tán rừng thấy xuất hiện lác đác cây tái sinh của các loài cây gỗ tốt như Lim xanh, Gội, Trắc thối, Chua khế kiểu rừng này có xu thế trở thành rừng gỗ
Trang 33- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao giang hoặc nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt: có diện tích 2.051,15 ha chiếm 7,8
% tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn, phân bố rãi tác trên toàn khu vực nhưng tập trung chủ yếu ở xã Xuân Liên, Xuân Mỹ cũ (nay thuộc xã Yên Nhân, Vạn Xuân, Lương Sơn) Kiểu rừng này có nguồn gốc gián tiếp từ kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới là hậu quả của phát, đốt rừng làm nương rẫy hay khai thác kiệt Thành phần thực vật chủ yếu là 2 loài Giang
(Dendrocalamus patellaris) hoặc Nứa (Neohouzeana dilloa) và lác đác có cây
lá rộng (Dẻ, Vạng, Lim xẹt, Lõi thọ, Ba soi ) còn sót lại Giang có thể đạt tới mật độ 2.000 cây/ha, đường kính bình quân 3,5-4,0cm, chiều dài bình quân 18m; còn Nứa đạt tới mật độ 4.000 cây/ha, đường kính bình quân 5,5 cm, chiều dài bình quân 16 m Đất dưới tán rừng tương đối tốt nhưng tái sinh của cây gỗ rất kém, do mật độ Giang, Nứa quá dày, thiếu ánh sáng và các hạt giống cây gỗ mẹ không lọt được xuống đất
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác giang hoặc nứa thuần loại phục hồi sau nương rẫy: có diện tích 4.135,54 ha chiếm 15,7 % tổng diện tích tự nhiên của
khu bảo tồn, phân bố rãi rác toàn khu vực thành những mảng lớn ven suối hoặc những vị trí đất ẩm Đây là kiểu rừng hình thành của quá trình canh tác nương rẫy nhiều lần, cây gỗ không còn khả năng tái sinh nhanh như trước mà nhường chỗ cho Giang và Nứa thâm nhập, nhanh chóng lan rộng thành rừng kín thường xanh Giang hoặc Nứa thuần loài dày đặc Các loài cây gỗ không
có chỗ để tái sinh ở kiểu rừng này Nứa có đường kính bình quân 4 cm, chiều cao bình quân từ 8-10m, mật độ 400 bụi/ha; Giang có đường kính bình quân 3,5-4cm, chiều dài bình quân 18-20m và có khá nhiều nhánh, mật độ bình quân 5.000-6.000 cây/ha
- Rừng trồng: có diện tích 198,54 ha chiếm 0,8 % tổng diện tích tự nhiên
của khu bảo tồn; cơ cấu cây trồng chủ yếu Sến mật - Lát hoa - Keo tai tượng,
Trang 34một số khu vực thuộc xã Xuân Cẩm trồng thuần loài Keo tai tượng từ năm
1991 từ nguồn vốn 327 và 661
- Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác: có diện tích 2.860,31 ha chiếm 10,9 %
tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn, phân bố gần các làng bản, ven đường Đây
là hậu quả của quá trình canh tác nương rẫy lâu dài và chăn thả gia súc của người dân địa phương Đầu tiên là lớp thảm cây gỗ bị chặt trắng và đốt lấy đất canh tác nương rẫy; sau nhiều lần như thế đất bị rửa trôi mạnh, tầng đất nông và xương xẩu, các loài cây thân thảo (Lau, Cỏ tranh, Cỏ may, Cỏ gà ) cây bụi (Sim, Mua, Chè vè ), Dương xỉ (Guột) phát triển mạnh, cây gỗ tái sinh không thấy
- Đất ngập nước (tạm giao): có diện tích 2.828,60 ha nằm trọn trong
lòng khu bảo tồn và chiếm 10,8 % tổng diện tích tự nhiên; đây là hệ sinh thái mặt nước thuộc lòng hồ của đập thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt mà thành
3.1.6 Khu hệ thực vật 9
Theo Tổ chức bảo tồn chim quốc (Birdlife International), 1998 và Viện Điều tra quy hoạch rừng, 1999 bước đầu đã điều tra, xác định khu BTTN Xuân Liên có 752 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 440 chi, 130 họ Trong đó có 15
họ có số lượng loài lớn hơn 10, đó là họ Đậu (Leguminoisae) 67 loài, họ Long não (Lauraceae) 45 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 41 loài, họ Dẻ (Fagaceae)
29 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) 22 loài, họ Cà phê (Rubiaceae) 20 loài Có thể nói số liệu thành phần loài mới ở mức độ điều tra ban đầu đã khá đa dạng, tuy nhiên nếu được điều tra cụ thể hơn nữa thì số lượng loài còn tăng thêm
- Về mặt khu hệ: là nơi giao thoa của các luồng thực vật khác nhau: Khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam và Nam Trung Hoa tiêu biểu là các loài cây trong họ Dẻ, Re, Xoan, Trôm, Mộc lan yếu tố bản địa này chiếm ưu thế trong khu hệ thực vật khu BTTN Xuân Liên Các họ này cũng như cá thể lớn nhất, sau đó là các luồng thực vật di cư khác
Trang 35+ Luồng di cư từ phía Nam lên mang yếu tố Malaixia-Indonesia: trong
đó họ Dầu là họ tiêu biểu với loài Sao mặt quỷ (Hopea mollisima) chiếm số
lượng cá thể lớn nhất
+ Luồng từ Tây Bắc xuống, mang yếu tố vùng ôn đới Vân Nam - Quý Châu
và dãy Himalaya: đặc trưng là các loài hạt trần: Pơ mu, Sa mu, Bách xanh…
+ Luồng từ phía Tây và Tây Nam lại, mang yếu tố Indonesia-Malaysia
của vùng khô hạn Ấn Độ - Miến Điện: tiêu biểu là loài Chò xanh (Terminalia meyriocarpa), và một số loài rụng lá như Săng lẻ, Thung…
- Về mặt khoa học: có 4 loài đặc hữu hẹp của Việt Nam là Vù hương
(Cinamomum balanseae), Chông (Colona poilanei), Cù đèn bon (Crofon boniana), Mã rạng Balansa (Macaranga balansae), 38 loài trong sách đỏ Việt
Nam và thế giới Kết quả điều tra của BirdLife 1999 như Pơ mu, Sa mộc dầu, Bách xanh, Dẻ tùng sọc trắng , tạo nên các ưu hợp có nhiều nét khác biệt với khu hệ thực vật của các Khu BTTN khác trong khu vực
- Về mặt giá trị sử dụng: có hơn 500 loài có giá trị kinh tế thuộc 6 nhóm công dụng, có 308 loài cây lấy gỗ như: Pơ mu, Sa mộc dầu, Vù hương, Lát hoa, Giổi ; 23 loài cây cho dầu nhựa (Trầm gió, Màng tang, Re hương, Bời lời );
156 loài cây làm thuốc (Lá khôi, Thổ phục linh, Hồi núi, Mã tiền lông ); 40 loài cây làm lương thực, thực phẩm (Trám, Sấu, Chay, Dọc, Bứa, Củ mài ); 23 loài lấy sợi phục vụ đan lát (Song, Mây, Cọ ); 80 loài cây có giá trị làm cảnh và cây bóng mát đẹp (các loài Lan, họ Thu hải đường, họ Bóng nước ) [54]
Nhìn chung khu hệ thực vật khu BTTN Xuân Liên đa dạng, phong phú
và có giá trị cao về khoa học và kinh tế Có thể nói đây là hệ thực vật tiêu biểu cho tỉnh Thanh Hóa và vùng núi miền Bắc Việt Nam
3.1.7 Khu hệ động vật 9
Với diện tích rừng nguyên sinh chưa bị tác động và ít bị tác động còn khá lớn và thảm thực vật có độ che phủ cao đã tạo điều kiện cho khu hệ động
Trang 36vật còn giữ lại được tương đối nguyên vẹn Qua số liệu thống kê tuy chưa đầy
đủ dưới đây nhưng phần nào đã nói lên sự đa dạng của hệ động vật có trong khu bảo tồn
Biểu 3.1 Khu hệ động vật tại Khu BTTN Xuân Liên
Điểm gây ấn tượng lớn nhất về khu hệ thú ở khu BTTN Xuân Liên mà không có hoặc rất ít khu bảo tồn hay VQG khác có được, đó là sự bắt gặp thường xuyên các cá thể trong tự nhiên như: Bò tót, Vượn đen má trắng, Voọc xám, Sơn dương, Gấu ngựa, Gấu chó, Tê tê, Cu li
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 1
3.2.1 Dân số, dân tộc 11
Để phục vụ xây dựng công trình Hồ thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, năm 2003 chính quyền tỉnh Thanh Hóa đã di dân của 3 xã Xuân Liên, Xuân Mỹ, Xuân Khao
và 1 thôn của xã Vạn Xuân đến nơi ở mới, vì thế trong khu bảo tồn không còn dân
4 Lớp Côn trùng (Insecta) (khu hệ bướm) 9 143
Trang 37sinh sống Tuy nhiên, hiện nay có 14 thôn/5 xã sinh sống giáp ranh khu BTTN Xuân Liên với 8.492 nhân khẩu/1.643 hộ gia đình, gồm các dân tộc:
+ Dân tộc Thái có 6.691 người, chiếm tỷ lệ 82,33%
+ Dân tộc Kinh có 1.482 người, chiếm tỷ lệ 17,45%
+ Dân tộc Mường có 319 người, chiếm tỷ lệ 0,22%
Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 2,01%, khu vực có 994 hộ gia đình thuộc diện đói, nghèo chiếm 60,5 tổng số hộ trong vùng
Lao động và phân bố lao động trong khu vực: trong các năm qua, với sự
di chuyển dân tái định cư đến vùng kinh tế mới, hiện nay các thôn vùng đệm khu bảo tồn có 3.267 lao động chiếm 38,5% dân số; trong đó lao động nam có 1.568lao động, chiếm 48% lực lượng lao động; nữ có 1.699 lao động, chiếm 52% lực lượng lao động Lao động chủ yếu tập trung ở khối nông lâm nghiệp, các ngành nghề khác chiếm tỷ lệ không đáng kể [51]
3.2.2 Các hoạt động kinh tế và sử dụng đất trong vùng
3.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp: Cơ cấu đất đai dành cho sản xuất nông nghiệp
như sau:
- Diện tích đất trồng lúa 1 vụ: 49,29 ha
- Diện tích đất trồng lúa 2 vụ: 246,45 ha
- Diện tích đất đang canh tác nương rẫy: 131,4 ha
Tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp đạt 618.911.000 đồng/năm, bình quân từ 73.000 đồng/người; có 181 hộ chưa có đất để sản xuất nông nghiệp Sản lượng lương thực qua các năm không đều do canh tác nông nghiệp chủ yếu bằng hình thức quảng canh, không chủ động tưới tiêu, đầu tư phân bón thấp Lúa rẫy thường chỉ gieo từ 2-3 năm, năng xuất thấp [1],[2],[52]
3.2.2.2 Sản xuất lâm nghiệp
Trang 38Diện tích đất lâm nghiệp đã giao ổn định, lâu dài theo Nghị định 02/NĐ-CP của Chính phủ là 7.264,69 ha cho 758 hộ gia đình trên địa bàn 14 thôn; riêng địa bàn còn có 6.450,32 ha đất lâm nghiệp hiện đang tạm giao cho UBND xã quản lý và có 885 hộ gia đình chưa được giao đất lâm nghiệp [52]
Hiện nay, mặc dù nhận thức của nhân dân trong canh tác lâm nghiệp được nâng lên, sự hỗ trợ đầu tư của các chương trình dự án như: 661, 147, 30A… nhưng công tác bảo vệ rừng, phát triển rừng vẫn còn nhiều hạn chế, người dân vẫn dựa vào khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên (khai thác nứa nan thanh, nứa tấn
và các loại dược liệu), chưa quan tâm đầu tư vào kinh doanh, lợi dụng rừng
3.2.2.3 Chăn nuôi, thủy sản
Chăn nuôi có nhiều tiềm năng phát triển do có nhiều đồng cỏ và diện tích rừng rộng lớn cỏ thể chăn thả đại gia súc Một mặt nhằm giải quyết sức kéo trong sản xuất nông lâm nghiệp, mặt khác cung cấp thực phẩm tại chỗ và xuất ra các vùng xung quanh, đồng thời tăng nguồn phân bón cho cây trồng Nhưng do khó khăn về nguồn vốn, công tác thú y chưa được quan tâm đúng mức nên gia súc dễ bị dịch bệnh, dẫn đến hạn chế sự phát triển chăn nuôi trong vùng Theo Ban QL khu BTTN Xuân Liên (2009) thì đàn gia súc trong vùng như sau: Trâu: 3.433 con; Dê: 250 con; Bò: 1.442 con; Lợn: 3.282 con; Gia cầm: 29.551 con Bình quân, mỗi hộ có 2 con trâu, 1con bò, 2 con lợn Ngoài ra còn khá nhiều gia cầm như gà, vịt, ngan [2]
3.2.2.4 Y tế, giáo dục
Công tác y tế phát triển chậm, người dân ốm đau thường phải cáng, vận chuyển ra tận huyện hoặc lên tuyến trên, còn lại ở địa phương thật sự thiếu thốn phương tiện y tế và thuốc men Toàn vùng có 2 y bác sỹ với 2 tủ thuốc y
tế Nhìn chung công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, công tác tiêm chủng cho trẻ sơ sinh, chương trình nước sạch nông thôn, kế hoạch hóa gia đình
Trang 39tuy đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao, đồng bào còn nhiều khó khăn, thiếu thốn
Công tác giáo dục: đã được quan tâm bước đầu, trên địa bàn 14 thôn giáp danh có 12 phòng học kiên cố, 7 phòng học tạm bợ với 24 lớp mầm non gồm 308 cháu, 46 lớp tiểu học với 718 học sinh và 121 học sinh thuộc cấp học trung học cơ
sở đang theo học tại trung tâm các xã Số học sinh đến tuổi đến trường ngày một tăng, phần lớn đồng bào đều biết đọc, biết viết Cơ sở hạ tầng cho trường học đã được cải thiện theo hình thức nhà nước và nhân dân cùng làm [1],[2]
3.2.2.5 Giao thông, đường điện
Những năm gần đây, hòa cùng tiến độ xây dựng đập thủy lợi, thủy điện Cửa Đạt, hệ thống giao thông đã được quan tâm đầu tư Ngoài 70 km đường quốc lộ 507 nối với nước bạn Lào, thì hệ thống đường liên xã, liên thôn từng bước được cải thiện Khu vực có 62,8 km đường đất, đường mòn liên thôn, 18
km đường nhựa, ngoài ra Bộ Quốc phòng đã và đang đầu tư trên 20 km đường cấp phối phục vụ công tác tuần tra biên giới gắn với phát triển dân sinh, kinh tế xã hội trên địa bàn [1]
Hệ thống đường điện đến các xã Vạn Xuân, Lương Sơn, Xuân Cẩm được đồng bộ hóa, riêng 2 xã Bát Mọt, Yên Nhân chưa có điện lưới quốc gia Người dân chủ yếu sử dụng máy tuabin thủy điện nhỏ của Trung Quốc phục
vụ sinh hoạt thiết yếu hàng ngày Trong tương lai nhà máy thủy điện Cửa Đạt với công suất 2 tổ máy là 97MW sẽ cung cấp lượng điện cho tỉnh, góp phần phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn [2]
Trang 40Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái, khả năng
tái sinh của các loài cây Hạt trần (Gymnospermae) trên toàn
khu BTTN Xuân Liên
4.1.1 Thành phần loài Hạt trần tại khu BTTN Xuân Liên
Tổng hợp kết quả điều tra đươ ̣c trình bày ở bảng 4.1
Bả ng 4.1 Thành phần các loài hạt trần (Gymnospermae) điều tra
được trên các khu vực tại khu BTTN Xuân Liên
TT Tuyến
điều tra
Tên phổ thông Tên khoa học
Tiểu khu