1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng tài nguyên cây thuốc tại khu bảo tồn thiên nhiên pù luông huyện bá thước tỉnh thanh hóa

143 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 2,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới (10)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam (17)
    • 1.3. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông (22)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (24)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (24)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (24)
    • 2.3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu (24)
      • 2.3.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.3.2. Phạm vi nghiên cứu (24)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (25)
      • 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu (25)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu (29)
      • 2.4.3. Phương pháp xây dựng đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu (32)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (34)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (34)
      • 3.1.2. Đặc điểm địa hình (34)
      • 3.1.3. Khí hậu thuỷ văn (34)
      • 3.1.4. Đặc điểm đất đai (35)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế xã hội (36)
      • 3.2.1. Dân số, dân tộc và lao động tại các xã vùng đệm (36)
      • 3.2.2. Tình hình sản xuất, đời sống, thu nhập (36)
      • 3.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng (39)
  • Chương 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN (34)
    • 4.1. Đa dạng tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Pù Luông (42)
      • 4.1.1. Đa dạng taxon thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu (42)
      • 4.1.2. Đa dạng về dạng sống của cây thuốc tại khu vực nghiên cứu (47)
      • 4.1.3. Cây thuốc quý hiếm tại khu vực nghiên cứu (47)
    • 4.2. Hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông (66)
      • 4.2.1. Tình hình khai thác cây thuốc trong khu vực nghiên cứu (66)
      • 4.2.2. Đa dạng về bộ phận sử dụng làm thuốc (68)
      • 4.2.3. Công dụng của tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu (70)
      • 4.3.4. Một số loài và nhóm loài cây thuốc có tiềm năng tại khu vực nghiên cứu (85)
    • 4.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc ở Khu BTTN Pù Luông (87)
      • 4.3.1. Giải pháp kỹ thuật (87)
      • 4.3.2. Giải pháp xã hội (91)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Song song với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác được đặt ra đó là việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng với những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cá

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên Thế giới

Từ khi con người ra đời, loài người đã biết dựa vào rừng để sống Không chỉ lấy ra từ rừng lương thực, thực phẩm cho cuộc sống hàng ngày, con người còn biết lấy cây rừng làm rau ăn, nấu nước uống, lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng người trên khắp thế giới đã phát triển những phương thuốc cổ truyền của họ, làm cho các loài cây thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa Các kinh nghiệm dân gian về sử dụng cây thuốc chữa bệnh đƣợc nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trƣng riêng

Nghiên cứu lịch sử dùng các cây làm thuốc của các dân tộc vùng lãnh thổ đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đƣa ra nhiều bằng chứng xác thực Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN) người dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa, v.v.) để làm lương thực và chữa bệnh

Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B (1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các cây làm thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh

Châu Úc đƣợc mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xƣa nhất trên thế giới Người ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn 60.000 năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây thuốc bản xứ Nhiều loài trong số này nhƣ cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dƣợc thảo của thổ dân đã bị mất đi khi người châu Âu đến định cư Ngày nay, đa phần các dược thảo ở châu Úc bắt nguồn từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng ven Thái Bình Dương

Dƣợc thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách dƣợc thảo có tên “De material Medica” Quyển sách này bao gồm

600 loại thảo mộc, gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến y học phương Tây và là sách tham khảo chính đƣợc dùng ở châu Âu cho đến thế kỷ XVII Cuốn sách còn đƣợc dịch ra nhiều ngôn ngữ nhƣ: tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tƣ và tiếng Hebrew Vào thời Trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh”- và công dụng y học của chúng Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây Cỏ phổi (Pulmonaria officinalis) giống nhƣ các mô của phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh về phổi

Cũng trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotlan các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver omnirierum) và cây Cần sa (Cannabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê Sau này, Nicholas Culpeper

(1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phương, ông đã cho xuất bản cuốn dược thảo “The English Physitian” Đây là cuốn sách bán chạy nhất và đƣợc tái bản nhiều lần Ở châu Phi, sự đa dạng của ngành dƣợc thảo cổ truyền lớn hơn bất kỳ châu lục nào khác Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi đã có từ thời xa xƣa Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 TCN) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng Trong bản giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700 loài dƣợc thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến các vết thương do cá Sấu cắn Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước Từ thế kỷ V đến thế kỷ XIII SCN, các thầy thuốc Ả Rập là những người có công đầu trong sự tiến bộ của ngành y Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở Bắc Phi

Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Đông Nam Á đã đƣợc kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia”

Nói đến dƣợc thảo của châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ Lịch sử nền Y học Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ để chữa bệnh như: sử dụng nước cây Chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết thương và tắm ghẻ Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản 1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh nhƣ: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sƣng tấy, đau khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ Từ những kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc, về các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách

“Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây cỏ Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê đƣợc 12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” được NXB Y học trích dẫn 1963 Và gần đây nhất cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc được biết từ trước tới nay

Văn minh của người Ấn Độ cổ đại đã phát triển cách đây 5.000 năm dọc theo bờ sông Indus ở miền Nam Ấn Độ Trong bộ sử thi Vedas đƣợc viết vào năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về dƣợc thảo thời kỳ đó Trong đó, nhiều loài cây đƣợc xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc biệt, chẳng hạn nhƣ cây Trái nấm (Aegle marmelos) là cây dành cho thánh thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây đƣợc trồng gần các đền thờ Những công dụng của cây thuốc này đƣợc ghi lại trong cuốn sách dƣợc thảo “Charaka Samhita”, viết năm 400 TCN Sau này, vào khoảng 100 năm SCN, một học giả người Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dược thảo cũng nhƣ những loại thuốc có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật

Ngoài ra, Y học dân tộc Bungari “Đất nước của hoa hồng” đã coi Hoa hồng là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng Ngày nay, người ta đã chứng minh rằng trong cánh Hoa hồng có một lƣợng tanin, glycosid, tinh dầu đáng kể Tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh

Việc phát hiện ra các hoá chất chữa trị bệnh ung thƣ hiệu nghiệm trong cây Thuỷ tùng vùng Thái Bình Dương, một loài cây bản địa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mang lại lợi nhuận kinh tế cao Trong vòng hai mươi năm qua ngành công nghiệp chế biến Thuỷ tùng thành thuốc chữa ung thƣ đã mang lại lợi nhuận là 500 triệu USD/năm, những cây thuốc này đang đƣợc sử dụng rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á Hãng dƣợc phẩm danh tiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên cứu sàng lọc 1.500 đến 2.000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới

Cùng với phương thức dùng cây thuốc chữa bệnh theo lối cổ truyền và dân gian, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh Vào thế kỷ XVIII, một bác sĩ người Anh tên là William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), mở ra sự phát triển trong lịch sử y dƣợc học Trong nhiều loài Ba gạc (Rauwfolia sp.) chiết đƣợc chất resecpin, serpentin làm thuốc hạ huyết áp Chất vinblastin, vincristin đƣợc chiết xuất từ cây Dừa cạn (Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa làm thuốc chống ung thƣ máu Vài chục năm gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên, bằng con đường tổng hợp hoặc bán tổng hợp hoá học, một số loài thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao lần lƣợt ra đời

Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam

Việt Nam có nền Y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc Cùng với 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích luỹ đƣợc kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc Nền Y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hưởng rất lớn của Y học cổ truyền Trung Quốc

Ngay từ thời Vua Hùng dựng nước (2900 năm TCN), qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện, Long Uý bí thƣ ) và qua các truyền thuyết, tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vị kích thích sự ngon miệng và chữa bệnh

Tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt Nam là “Nam Dƣợc Thần Hiệu” và

“Hồng nghĩa giác tƣ y thƣ” của Tuệ Tĩnh Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 13 đơn thuốc chữa các loại bệnh và 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Ông được coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử y học nước ta, là “Vị thánh thuốc Nam” Ông đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau nhƣ: “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng pháp” Tới thế kỷ XVIII, Hải Thƣợng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn thứ hai “Y tông Tâm tĩnh” cho nước ta Bộ sách gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết về thực vật, các đặc tính chữa bệnh

Trong thời kỳ thực dân pháp xâm lƣợc có một số nhà thực vật học, dƣợc học người Pháp đã đến nước ta nghiên cứu Điển hình là các nhà dược học Crévost, Pétélot đã xuất bản bộ “Catalogue des produit de L’Indochine” (1928-

1935), trong đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa Đến năm 1952, Pétélot bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm

4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông Dương

Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc đƣợc giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc Đỗ Tất Lợi- người đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bản đƣợc nhiều tài liệu về việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc Đáng chú ý nhất là năm 1957, ông đã biên soạn bộ “Dƣợc liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình đƣợc tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001, 2003 Lần tái bản thứ 7

(1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại

Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ

“Cây cỏ Việt Nam” Tuy chƣa giới thiệu đƣợc hết hệ thực vật Việt Nam, nhƣng phần nào cũng đƣa ra đƣợc công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và đƣợc tái bản vào năm 2000 Công trình liệt kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố, thu hái và chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng

Năm 1966, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc dƣợc sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” và đƣợc in lần thứ hai vào năm 1976 Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam”, với 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện

Liên quan đến vấn đề cây thuốc, tập thể các nhà khoa học Viện Dƣợc liệu đã xuất bản cuốn “Dƣợc điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc trong những năm qua Viện Dƣợc liệu, Bộ Y tế cùng với hệ thống trạm nghiên cứu dược liệu, điều tra ở 2795 xã, phường, thuộc 35 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả nước, đã có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học cổ truyền dân gian

Có rất nhiều công trình về cây thuốc ở Việt Nam với quy mô lớn nhỏ khác nhau đã được công bố như: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và cộng sự đã cho ra đời cuốn “Tài nguyên cây thuốc Việt Nam” (1993) với khoảng 300 loài cây thuốc đƣợc khai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc Trình Đình Lý (1995) đã xuất bản cuốn “1900 loài cây có ích”, cho biết trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam, có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứa tanin,

50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây

Võ Văn Chi (1997) đã biên soạn “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, gồm khoảng 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa có 2.500 loài thuộc

1050 chi, đƣợc xếp vào 230 họ thực vật theo hệ thống A L Takhtajan Tác giả đã giới thiệu sơ bộ về nhận dạng, bộ phận sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hoá học, tính vị và tác dụng, công dụng của từng loài thực vật

Nhóm tác giả của Viện Dƣợc liệu (2003) đã tiến hành biên soạn bộ sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài, trong đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật đƣợc sử dụng làm thuốc

Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan tới cây thuốc: Đáng chú ý là hai tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đây là bộ sách có ý nghĩa quan trọng trong tra cứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thành phần cây thuốc nói riêng Tập sách đã đề cập tới các tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống- sinh thái và công dụng, rất tiện lợi cho các nhà nghiên cứu về thực vật làm thuốc

Tình hình nghiên cứu về cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông

Năm 1998, Viện điều tra quy hoạch rừng trong chuyên đề “Báo cáo chuyên đề thảm thực vật Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa” cho thấy ở Pù Luông có 552 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 413 chi và 139 họ

Công trình “Điều tra tình hình săn bắt động vật hoang dã và thu hái lâm sản ngoài gỗ tại Khu BTTN Pù Luông và các vùng rừng lân cận” của Hoàng Liên Sơn và cộng sự (2003) đã tập trung việc điều tra các loài Phong lan và một số lâm sản phụ có giá trị kinh tế bị buôn bán

Theo kết quả nghiên cứu của L.Averyanov và cộng sự, 2005, về hệ thực vật Khu BTTN Pù Luông đã xác định đƣợc 1.109 loài thuộc 477 chi và

152 họ thực vật bậc cao có mạch

Năm 2013, Kết quả điều tra lập danh lục hệ động thực vật tại Khu BTTN Pù Luông hiện có 2.487 loài thuộc 476 họ và 1.329 chi, gồm có 908 động vật; 1.579 loài thực vật Đậu Bá Thìn (2013) và cộng sự đã thực hiện luận án tiến sĩ sinh học

“Nghiên cứu đa dạng thực vật bậc cao có mạch ở Khu BTTN Pù Luông, Thanh Hóa” trong đó tác giả có đề cập tới nhóm tài nguyên cây thuốc

Từ những công trình nghiên cứu trên cho thấy cho đến nay chƣa có công trình điều tra, nghiên cứu tổng thể và chi tiết, cụ thể về nhóm tài nguyên cây thuốc ở đây Mặc dù, nằm trong Khu bảo tồn, đƣợc biết có vùng “Son Bá Mười” vốn được ngành Y tế coi là nơi có tiềm năng về cây thuốc tự nhiên và cây thuốc trồng ở tỉnh Thanh Hóa Theo khảo sát sơ bộ thì có khoảng 48 loài cây thuốc đang bị các thương lái đến để thu mua tại cộng đồng trong và quanh

Khu BTTN Pù Luông, tuy nhiên số lƣợng thực tế còn cao hơn nhiều, trong đó có khoảng 33 loài cây thuốc quý hiếm, nguy cấp có tên trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về Quản lý Thực vật; Sách Đỏ Việt Nam, phần II – Thực vật, NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, năm 2007 và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (năm

2007) Việc khai thác cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông đang diễn ra ở mức độ cao là một thách thức đối với công tác quản lý bảo tồn Đây là nguyên nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lƣợng và mức độ phong phú của các loài cây thuốc, thậm chí dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng một số loài ngoài tự nhiên.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng cơ sở dữ liệu nhằm quản lý, bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông

- Xác định đƣợc hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu vực nghiên cứu nhƣ: thành phần loài, dạng sống, công dụng, mức độ quý hiếm, các tác động đến cây thuốc

- Đề xuất đƣợc các giải pháp quản lý và phát triển cây thuốc, góp phần cải thiện về đời sống cho người dân sinh sống xung quanh Khu BTTN Pù Luông.

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông Nghiên cứu hiện trạng sử dụng cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông Đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển tài nguyên cây thuốc cho khu vực nghiên cứu.

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các loài cây có công dụng làm thuốc, thuộc các ngành thực vật bậc cao có mạch, mọc tự nhiên ở cả vùng đệm lẫn vùng lõi của Khu BTTN Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi về nội dung gồm 3 nội dung nghiên cứu chính: Hiện trạng tài nguyên cây thuốc; Tình hình khai thác, sử dụng và Giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi về không gian: vùng lõi và vùng đệm Khu BTTN Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi về thời gian: Từ ngày 20/10/2016 đến 30/4/2017.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc tại Khu

Trong thiên nhiên các loài thực vật nói chung hay các loài cây cho lâm sản ngoài gỗ nói riêng luôn có quan hệ qua lại với các nhân tố môi trường đồng thời giữa chúng cũng có mối quan hệ thân thuộc với nhau ở mức độ nhất định đó là mối quan hệ tiến hóa Mối quan hệ đó không những thể hiện qua sự tương đồng về hình thái cấu tạo mà còn thể hiện qua sự giống nhau về nguồn gien hữu ích trong cơ thể chúng Vì vậy các taxon cùng bậc thường có giá trị sử dụng giống nhau Lợi dụng đặc tính này người ta đã và đang đi tìm các loài cây đáp ứng yêu cầu nguyên liệu công nghiệp, y dƣợc, thực phẩm đặc biệt là nguyên liệu thay thế các loài cây quen dùng nhƣng đã cạn kiệt

Bước đi trong phương pháp này là: Nghiên cứu phân loại, đánh giá tính đa dạng thành phần loài thực vật làm thuốc, đƣa ra các biện pháp bảo tồn a) Chuẩn bị

- Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đã và đang nghiên cứu về nhóm tài nguyên cây thuốc

- Chuẩn bị đầy đủ các loại bảng biểu, sổ ghi chép để ghi lại những kết quả điều tra đƣợc

- Chuẩn bị các dụng cụ cần thiết như: Thước dây, máy GPS, Máy ảnh, địa bàn

- Chuẩn bị các tƣ trang cá nhân phục vụ cho quá trình điều tra ngoài thực địa b) Điều tra thu thập số liệu

- Kế thừa chọn lọc các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên rừng của khu vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đã có, các báo cáo khoa học…

- Phương pháp điều tra ngoại nghiệp:

+ Điều tra sơ thám: Trước khi quyết định các tuyến điều tra, dựa vào bản đồ, chúng tôi tiến hành khảo sát sơ bộ khu vực nghiên cứu, đánh giá nhanh hiện trạng rừng, xác định các tuyến điều tra trên bản đồ và lập kế hoạch điều tra cụ thể

+ Điều tra theo tuyến điển hình: trong khu vực điều tra, dựa vào đặc điểm địa hình cụ thể để xác định các tuyến điều tra và số lƣợng tuyến điều tra Trong đó các tuyến điều tra phải đại diện cho các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu Cụ thể mỗi sinh cảnh đại diện thiết lập 3 tuyến điều tra, chiều dài tuyến 1 -1,5 km; trên các tuyến chính mở thêm 1-2 tuyến phụ rồi tiến hành điều tra trong phạm vi 10m dọc hai bên tuyến Trên các tuyến tiến hành điều tra, thu mẫu, thống kê các loài cây thuốc; ghi chép đặc điểm các tác động tự nhiên hay do con người tác động lên hệ thực vật, quan sát sự thay đổi của sinh cảnh trên tuyến Kết quả điều tra trên 09 tuyến điều tra đi qua các hệ sinh thái đặc trƣng (đƣợc ghi theo biểu mẫu 01)

Mẫu biểu 01 ĐIỀU TRA CÂY THUỐC TRÊN TUYẾN

Tên tuyến: Số hiệu tuyến Người điều tra Tọa độ bắt đầu Tọa độ kết thúc Ngày điều tra

Số cây, nhánh, chồi/bụi, khóm

Chiều cao hoặc độ dài dây leo (theo cấp)

Tất cả các thông tin khác có liên quan đến các loài cây thuốc khi bắt gặp chúng như: màu sắc, kích thước, vị trí mọc, mật độ, sinh trưởng đều được ghi lại bên cạnh phiếu điều tra để phục vụ công tác nghiên cứu chi tiết Ngoài ra, sử dụng máy ảnh để ghi lại những thông tin cần thiết

+ Điều tra, thu mẫu cây thuốc: Mẫu các loài cây thuốc thu đƣợc tại khu vực nghiên cứu đều đƣợc làm tiêu bản, các nội dung ghi chép lý lịch mẫu theo mẫu biểu 02

Mẫu biểu 02: PHIẾU ĐIỀU TRA THU MẪU CÂY THUỐC

1 Số hiệu mẫu: ; Tên địa phương:

2 Thời gian thu mẫu, ngày tháng năm

3 Địa điểm: Thôn xã ; Tọa độ

5 Đặc điểm sinh cảnh (thảm thực vật, đất đai, độ ẩm, độ cao ):

6 Đặc điểm đặc trƣng của cây thu mẫu:

Các tiêu bản phải đảm bảo có đầy đủ các bộ phận, đặc biệt là cành, lá cùng với hoa, quả (đối với cây lớn) hay cả cây (đối với cây thân thảo nhỏ hay dương xỉ), các cây lớn thu từ 3-5 mẫu trên cùng cây; các cây thảo nhỏ và các cây dương xỉ thu từ 3-5 cây (mẫu) sống gần nhau Các mẫu thu thập phải có tỷ lệ tương đối phù hợp với kích thước chuẩn của mẫu tiêu bản 41x29cm Tuy nhiên trong điều tra, các mẫu tiêu bản thường không đầy đủ các tiêu chuẩn trên Trong trường hợp này, chúng tôi tiến hành thu thập và làm mẫu tiêu bản nhỏ Mẫu tiêu bản nhỏ là mẫu tiêu bản thực vật không đủ tiêu chuẩn phân loại với kích thước nhỏ, thuận tiện cho việc mang theo để so sánh, đối chiếu trong các đợt điều tra, kích thước khoảng 20-30cm, nhưng có những đặc điểm dễ nhận biết

Các thông tin liên quan đến mỗi mẫu vật phải đƣợc ghi chép ngay tại hiện trường Các thông tin về thực vật cần có như: dạng sống, đặc điểm thân, cành, lá, hoa, quả Trong đó đặc biệt lưu ý đến các thông tin không thể hiện đƣợc trên mẫu tiêu bản khô nhƣ màu sắc hoa, quả khi chín, màu của nhựa, dịch, mủ nếu có thể nhận biết đƣợc

Trong khi đi thực địa, các mẫu đƣợc cắt tỉa cho phù hợp sau đó kẹp vào giữa hai tờ báo (kích thước khoảng 45x30cm) và được ngâm trong dung dịch cồn 40-45 0 , sau đó đƣợc sấy khô tại phòng thí nghiệm

Mẫu tiêu bản thu thập trong quá trình điều tra đƣợc mang về và xử lý tại phòng Khoa học - Ban quản lý Khu BTTN Pù Luông Nội dung công việc gồm: Ép mẫu và sấy mẫu; Phân loại mẫu theo họ và chi

Phân tích mẫu: Dựa trên một số nguyên tắc: Phân tích từ tổng thể đến chi tiết, từ cái lớn đến cái nhỏ, phân tích phải đi đôi với nghi chép Định tên cây: Sử dụng theo phương pháp hình thái so sánh với sự hướng dẫn và giúp đỡ của các chuyên gia phân loại học Những tài liệu chủ yếu dùng để giám định loài gồm có: Cây cỏ Việt Nam, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Từ điển cây thuốc Việt Nam, Thực vật chí Việt Nam

(11 tập), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3) … c) Sử lý nội nghiệp

Thành phần loài cây thuốc quý hiếm: Các loài cây thuốc quý hiếm nằm trong diện bảo tồn ở Việt Nam là những loài có tên trong các tài liệu: (1) Phụ lục IA và IIA trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Thủ tướng chính phủ (30/3/2006), v/v Quản lý thực vật rừng, động vật rừng, nguy cấp, quý, hiếm

(2) Sách Đỏ Việt Nam, phần II-Thực vật, 2007 và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006 Danh lục loài cây thuốc quý hiếm đƣợc lập theo mẫu biểu

Mẫu biểu 03 Thành phần loài cây thuốc quý hiếm tại Khu vực nghiên cứu

2006 Địa điểm phát hiện tại khu vực nghiên cứu

Lập danh lục cây thuốc tại khu vƣc nghiên cứu, dựa trên các kết quả giám định các mẫu vật thu được của các đợt điều tra trên tuyến và phỏng vấn người dân Tên phổ thông và tên khoa học của các loài trong Danh lục cây thuốc căn cứ vào tài liệu: Danh lục các loài thực vật Việt Nam (tập 1, 2, 3), và trang web: IPNI, Theplantlist Danh lục cây thuốc đƣợc lập theo mẫu biểu 04

Mẫu biểu 04 DANH LỤC CÂY THUỐC TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Tên Việt Nam Dạng sống Công dụng chữa bệnh

Cơ sở thông tin Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần loài, phân bố, dạng sống, đặc tính sinh học của các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu dựa trên danh lục cây thuốc và tổng hợp từ mẫu biểu 01 và 02 ở trên

Điều kiện tự nhiên

Khu BTTN Pù Luông (20 0 21’–20 0 34’ vĩ độ Bắc, 105 0 02’–105 0 20’ kinh độ Đông) thuộc hai huyện Quan Hoá và Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá Pù Luông bao gồm các phần đất thuộc 5 xã huyện Quan Hoá: Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân, Phú Nghiêm và 4 xã huyện Bá Thước: Thành Sơn,

Thành Lâm, Cổ Lũng, Lũng Cao

Phía Đông giáp huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình;

Phía Bắc giáp huyện Mai Châu, Tân Lạc; tỉnh Hoà Bình;

Phía Tây giáp với phần đất còn lại của các xã Phú Lệ, Phú Xuân, Thanh Xuân, Hồi Xuân;

Phía Nam giáp với phần đất còn lại của các xã Thành Lâm, Phú Nghiêm

3.1.2 Đặc điểm địa hình Địa hình của Khu BTTN bao gồm 2 dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đƣợc “ngăn cách” với nhau bởi một thung lũng ở giữa Địa hình của KBT cao dốc, mức độ chia cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m, cao nhất là đỉnh Pù Luông có độ cao 1.700m Thấp nhất là khu vực xã Cổ Lũng có độ cao 60 m Địa thế khu vực nghiêng dần từ Tây Bắc sang Đông Nam Độ dốc bình quân 30 0 , nhiều nơi độ dốc trên 45 0 Với đặc điểm địa hình nhƣ vậy rất khó khăn cho công tác PCCCR nếu xảy ra

Khu BTTN Pù Luông có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng khía hậu của vùng Tây Bắc, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió Lào

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm 23 0 C; nhiệt độ trung bình cao nhất 38 0 C; nhiệt độ tối thấp trung bình: 0 0 C

Lƣợng mƣa bình quân năm biến động từ 1.500 mm đến 1.600 mm

Gió: Có 2 loại gió chính là gió mùa Đông Nam và gió mùa Đông Bắc, ngoài ra còn có gió Lào cũng xuất hiện Mùa Hè có gió Đông Nam, Tây Nam kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10; mùa Đông có gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Do lƣợng mƣa vào mùa khô rất thấp, đồng thời lượng bốc hơi lại cao, do đó khu vực này thường có mùa khô, nóng kéo dài, lại bị ảnh hưởng của gió Lào Đây cũng là thời điểm rất dễ xảy ra cháy rừng Bên canh đó, do thiếu nước vào mùa khô nên đã ảnh hưởng đến các loài thú lớn

Hệ thống thuỷ văn: Đặc điểm chủ yếu của hệ thống nước Khu BTTN Pù Luông là trong thung lũng có một đường yên ngựa tại vùng biên chung giữa các xã Phú Lệ và Thành Sơn Đặc điểm này tạo ra đường phân thủy giữa hai phụ lưu Pung (chảy theo hướng Tây Bắc) và Cham (chảy theo hướng Đông Nam) trước khi hợp dòng vào sông Mã Sông Mã bao quanh vùng đệm của Khu BTTN Pù Luông về phía Tây, phía Nam và Đông Nam Đây là điều kiện thuận lợi cho phát triển đường thủy phục vụ đi lại và đối với du lịch du khách cũng có thể du thuyền trên sông Mã vòng quanh Khu bảo tồn thăm rừng Pù Luông ven sông Mã

Do đặc điểm địa chất, địa mạo khá đa dạng nên lớp đất phủ ở Khu BTTN Pù Luông phong phú Theo các bảng phân loại của FAO, UNESCO, WRB và của Việt Nam, lớp đất phủ trong vùng hình thành từ các loại đá nêu trên có thể chia thành các kiểu loại chính sau: (1) Đất Renzit mầu nâu vàng, mầu đen, phát triển trên đá vôi; (2) Đất Luvisol mầu vàng xám, phát triển trên đá vôi; (3) Đất Leptosol mầu vàng xám, phát triển trên các sườn đá vôi; (4) Đất Cabisol mầu xám đen, mầu vàng xám, phát triển trên đá macma; (5) Đất

Acrisol mầu xám nâu, phát triển trên đá macma; (6) Đất Acrisol mầu vàng xám, xám nâu, phát triển trên đá lục nguyên và (7) Đất Fluvisol và Gleysol mầu vàng xẫm đến nâu xẫm, phát triển dọc các thung lũng (Trần Tân Văn và các cộng sự, 2003).

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w