1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông cầu

127 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRẦN THỊ THANH HƯƠNG NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC HỒI RỪNG PHÒNG HỘ VEN BỜ TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC LƯU VỰC SÔNG CẦU Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng Mã số: 60.62.68 LUẬN VĂN THẠ

Trang 1

TRẦN THỊ THANH HƯƠNG

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỤC HỒI RỪNG PHÒNG HỘ VEN BỜ TẠI MỘT SỐ XÃ THUỘC

LƯU VỰC SÔNG CẦU

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng

Mã số: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHÙNG VĂN KHOA

Hà Nội, 2010

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Có thể nói, chưa khi nào vai trò của rừng lại được “tôn vinh” như hiện nay - trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu Điều này chứng tỏ rằng, ngoài các giá trị về kinh tế, văn hóa, khoa học,… thì rừng có vai trò vô cùng quan trọng trong bảo vệ môi trường, điều hòa khí hậu góp phần nuôi dưỡng sự sống trên trái đất Quả không sai, câu tục ngữ “Rừng vàng, biển bạc” Bởi trên trái đất này, liệu còn có gì quý hơn “vàng, bạc” ấy? Song những năm gần đây, sự bùng nổ dân số, nhu cầu phát triển kinh tế, con người đang gia tăng sức ép vào rừng và tàn phá tài nguyên rừng ngày càng nghiêm trọng

Việt Nam được đánh giá là đất nước có tài nguyên rừng nhiệt đới vô cùng phong phú và đa dạng nhưng đồng thời cũng là một trong những quốc gia có tốc

độ phục hồi rừng nhanh trên thế giới Tuy nhiên, điều đáng quan ngại hiện nay là

sự suy thoái rừng tự nhiên, nhất là rừng tự nhiên phòng hộ đầu nguồn và ven bờ sông suối lại đang ở mức báo động

Lưu vực sông Cầu là một điển hình về sự mất rừng phòng hộ đầu nguồn trong số đó với tốc độ mất rừng là 1 - 2%/năm, độ che phủ rừng của các tỉnh thuộc vùng đầu nguồn lưu vực sông Cầu chưa đạt 30%, trong khi độ che phủ của

vùng cần thiết phải là trên 50% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ Ban sông

Cầu, 2000) Thêm vào đó là sự khai thác không hợp lý các nguồn tài nguyên:

đất, nước, khoáng sản,… để phục vụ phát triển dân sinh kinh tế của hàng triệu dân trên toàn lưu vực đã gây ra các hiện tượng ô nhiễm, xói lở, bồi lấp thuỷ vực Bên cạnh đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan hai bên bờ sông cũng đang bị xuống cấp nghiêm trọng, gây ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của người dân vùng ven bờ cũng như sự phát triển bền vững của toàn lưu vực sông Cầu Do vậy, việc khôi phục lại các đặc điểm tự nhiên của dòng sông và tiến hành các giải pháp quản lý, đầu tư, bảo vệ lưu vực sông Cầu một cách bền vững đang là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay Một trong những giải pháp đó là phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu Đây là giải pháp được áp dụng phổ biến trong phục hồi sông và quản lý lưu vực trên thế giới do có tính ưu việt rõ nét khi

so sánh với các giải pháp công trình truyền thống (làm kè đá, đổ bê tông, …) như: là giải pháp phi công trình (non – structure); kinh phí thấp; gần với tự nhiên

Trang 3

(close - to - nature), thân thiện với môi trường; dễ thực hiện; đặc biệt là gần gũi với người dân và góp phần làm đẹp cảnh quan sinh thái Tuy nhiên, giải pháp này lại ít được đề cập tới ở Việt Nam và gần như nó chưa được quan tâm đúng mức

Kết quả khảo sát sơ bộ ở hầu hết vùng ven bờ sông Cầu hiện nay đều cho thấy, rừng phòng hộ ven bờ hay thảm thực vật ven bờ đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng, không còn khả năng phòng hộ hay bảo vệ môi trường như đúng nghĩa của nó, tình trạng lũ lụt, xói mòn, sạt lở hai bên bờ sông đang ở mức báo động Vậy, thực trạng cụ thể của vấn đề ra sao? Khả năng phục hồi rừng phòng

hộ ven bờ sông Cầu như thế nào? Cấu trúc không gian và tổ thành loài cây như thế nào cho phù hợp với các điều kiện đặc thù của địa phương?… đang là những

câu hỏi chưa có câu trả lời bằng các căn cứ khoa học Do vậy, đề tài: “Nghiên

cứu đề xuất giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông Cầu” được thực hiện với mong muốn sẽ trả lời được các câu hỏi trên

đây và góp phần cung cấp cho cộng đồng cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về vai trò quan trọng của rừng phòng hộ ven bờ trên các lưu vực sông, từ đó làm cơ

sở để đề xuất các giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ nhằm cố định bờ sông, ổn định dòng chảy và giảm ô nhiễm nguồn nước trong lưu vực sông Cầu

Những kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nghiên cứu khác có liên quan, cho quá trình giảng dạy về rừng phòng hộ

và các giải pháp phục hồi sông suối của các cơ sở đào tạo, cũng như cho công tác quản lý tổng hợp và bền vững các lưu vực sông ở Việt Nam

Trang 4

PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hiện nay, trong khoa học đã xuất hiện rất nhiều quan điểm, khái niệm khác

nhau về rừng phòng hộ ven bờ Song một số khái niệm phổ biến gắn liền với các

tổ chức, các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực này được ghi nhận như:

Rừng phòng hộ ven bờ được hiểu là khu vực có nhiều cây xanh, ở đó luôn

có cây bụi thảm tươi và các thảm thực vật khác trải dài, dọc theo hai bờ sông suối Hay đó là vùng đất nằm sát về hai phía bờ sông - nơi được quản lý bảo vệ

để duy trì tính nguyên vẹn của dòng nước và giảm tốc độ ô nhiễm đồng thời cung cấp thức ăn, môi trường sống, điều hoà nhiệt độ cho các loài thuỷ sinh và

động vật hoang dã (Theo NRCS Planning & Design Manual, 2005) Còn theo

Julia C Klapproth và James E Jonhson (2000) lại có quan điểm rộng hơn, chi tiết hơn và nhấn mạnh đến khía cạnh rừng phòng hộ ven bờ Theo đó, đây là khu đất trực tiếp nằm kề sát với sông suối, hồ hay các diện tích bề mặt nước Ranh giới giữa rừng phòng hộ ven bờ và vùng đất phía trên gần kề thường thoải và khó nhận biết rõ Dù vậy, nó được phân biệt bởi vị trí cao thấp khác nhau, vùng ven bờ ẩm hơn và dễ bị ngập lụt - nơi thu hút đặc biệt bởi sự tập hợp nhiều cây

và con ở đó Nhờ có sự tác động qua lại giữa các yếu tố đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và sự quan tâm của cộng đồng Rừng phòng hộ ven

bờ được nuôi dưỡng bởi nhiều quy luật tự nhiên quan trọng như: đặc điểm sinh vật học, các chức năng sinh thái học, và đặc biệt là các lợi ích của xã hội

Trang 5

cứu của Julia C Klapproth và James E Johnson (2000); PaulM Mayer, Steven K Reynolds Jr, Timothy J Canfield, US Environmental Protection Agency (2005) về chức năng của rừng phòng hộ ven bờ cho phép chúng ta rút ra một số chức năng

cơ bản sau:

+ Chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường: bảo vệ đất vùng ven bờ như giữ đất, giảm tình trạng xói mòn, sạt lở đất; làm tăng tính hiệu ích của nguồn nước như ổn định dòng chảy, giảm các nguy cơ lũ lụt, ô nhiễm môi trường nước,…

+ Chức năng bảo tồn: góp phần bảo tồn đa dạng sinh học nói chúng và tính đặc trưng hệ sinh thái vùng ven bờ

+ Chức năng cung cấp: rừng phòng hộ ven bờ là hệ sinh thái chuyển tiếp giữa hệ sinh thái dưới nước và trên cạn nên có tính đa dạng sinh vật khá cao

Do đó, đây là nơi cung cấp thức ăn, nơi ở của rất nhiều loài sinh vật trên cạn và dưới nước Đồng thời cũng là nơi cung cấp một phần lâm sản phục vụ nhu cầu của cộng đồng địa phương

+ Chức năng văn hóa, thẩm mỹ: góp phần làm đẹp sinh thái cảnh quan, như là hình ảnh một dòng sông trù phú, xanh mát tạo nguồn cảm hứng thi ca cho các văn, nghệ sỹ…

Trên đây là những chức năng đặc biệt quan trọng của rừng phòng hộ ven bờ Tuy nhiên, để có được vai trò trên, NRCS đã đưa ra một số khuyến nghị

về rừng phòng hộ ven bờ như sau:

- Không nên để nước chảy thành khe, rãnh qua rừng phòng hộ ven bờ

- Vùng phòng hộ ven bờ cần thiết phải được khoanh vùng bảo vệ, nghiêm cấm việc chăn thả vật nuôi tuỳ tiện trong đó

- Trong quy hoạch rừng phòng hộ thì trước hết chúng ta cần phải ưu tiên những thảm thực vật tự nhiên ven bờ, những loài cây bản địa bởi vì chúng có khả năng thích nghi cao với điều kiện lập địa cũng như môi trường bán ngập của

Trang 6

vùng ven bờ Những loài cây được trồng gần bờ sông, suối cũng có thể được sử dụng trong rừng phòng hộ ven bờ

Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của U.S EPA (2005), Vitouse et al (1997) và Swakhamer et al (2004) về khả năng chuyển hoá và khử Nitơ của rừng phòng hộ ven bờ đã cho rằng: Nitơ là một nhân tố rất quan trọng trong các

hệ sinh thái dưới nước, vùng ẩm ướt, chúng thường tồn tại ở dạng NO3-, NH4+, song nếu nồng độ Nitơ quá lớn sẽ là căn nguyên gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nước đồng thời làm suy giảm đa dạng sinh học và ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người Nhưng thật kỳ diệu thay khi các nghiên cứu về lĩnh vực này thêm một lần nữa đã chứng tỏ được chức năng chuyển hoá Nitơ, giảm ô nhiễm nguồn nước rất hiệu quả của rừng phòng hộ ven bờ

b Về cấu trúc của rừng phòng hộ ven bờ

Như vậy, chức năng đặc biệt quan trọng của rừng phòng hộ ven bờ đã được chứng minh bằng các căn cứ khoa học từ nhiều công trình nghiên cứu liên quan khác nhau Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, vai trò sinh thái của rừng phòng hộ ven bờ thường xuyên biến động và được coi như là một hàm số với nhiều biến số Hay nói cách khác là luôn tồn tại nhiều nhân tố cố hữu hay hy hữu ảnh hưởng đến vai trò sinh thái của vùng ven bờ Chẳng hạn, khả năng làm giảm ô nhiễm nước của rừng phòng hộ ven bờ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: kích thước của vùng đệm, cấu trúc, tổ thành loài cây, đặc điểm đất đai, thổ

nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, tiểu khí hậu, của khu vực đó (Lin và cộng sự,

2002, theo trích dẫn của Liu, 2006) Vậy, vấn đề đặt ra là: liệu có mối quan hệ

chặt chẽ nào giữa đặc điểm và vai trò của rừng phòng hộ ven bờ? Độ rộng bao nhiêu là đủ? Cấu trúc của vùng đệm như thế nào để cho hiệu quả tối ưu nhất?

Để làm sáng tỏ cho vấn đề này, hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều các nghiên cứu về đặc điểm rừng phòng hộ ven bờ được ghi nhận, điển hình như:

Trang 7

- Theo NRCS và Planning & Design Manual, độ rộng của hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ có thể biến đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào vị trí mà dòng sông chảy qua, vào tiềm năng xói mòn và độ dốc của vùng đất tại đó Ngoài ra, độ rộng này còn tuỳ thuộc vào nhu cầu về hoàn cảnh môi trường sống, độ rộng hành lang di chuyển của các loài động thực vật, các loài thuỷ sinh đang sống ở

đó và chức năng sinh thái tiên quyết nhất của vùng ven bờ ở đó Kết quả nghiên cứu cho thấy, phần lớn các chất lắng cặn bị giữ lại ngay trong khoảng 25% đầu tiên của độ rộng vùng đệm Độ rộng tối thiểu của vùng đệm phải là 7,6 m cho khả năng lọc chất lắng cặn, dinh dưỡng, sỏi, đá Song, để thảm thực vật vùng đệm có thể hấp phụ, sàng lọc được thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học và các hợp chất khó hoà tan khác thì độ rộng cần thiết của thảm thực vật ven bờ phải lớn hơn 30 m Kết luận này cũng trùng với kết quả nghiên cứu của Wenger Fowler (2000) Trên quan điểm của NRCS, thì độ rộng rừng phòng hộ ven bờ nói chung cho các trường hợp chỉ nên thiết kế vừa đủ cho việc thực hiện các chức năng của nó, do đó độ rộng này vào khoảng 61m

- Nghiên cứu của Jocobs (1985) và Lowrance (1992) đều xác nhận rằng, có tới >85% nitrat và 78% lượng amoni được khử nếu độ rộng vùng đệm khoảng 30 –

50 m Kết luận này tương tự với kết quả nghiên cứu của Schoonover và Wil-lard (2003) về chức năng khử nitrate của rừng phòng hộ ven bờ là: với độ rộng 10 m, rừng phòng hộ ven bờ có khả năng giảm được 61% lượng Nitrate có trong nước ngầm tại đó Cũng tương tự như vậy với 38m độ rộng rừng phòng hộ ven bờ thì khả năng này sẽ tăng lên là 78%, ngoài ra vùng đệm này còn có thể khử được 52% lượng Amonium (Vellidis et al, 2003)

- Barling và Moore (1994) đã nhấn mạnh hiệu quả ngăn chặn - khử thuốc bảo vệ thực vật, chất hoá học, các hợp chất khó hoà tan, chất độc hại, là không cao nếu thiết kế rừng phòng hộ ven bờ nhỏ hơn 30 m

Trang 8

- Khi nghiên cứu trên các loại rừng phòng hộ ven bờ khác nhau thì Parkin

et al (2003) và Lynch et al (1985) đều thống nhất rằng, hiệu quả đó sẽ gấp 2 - 3 lần nếu rừng phòng hộ ven bờ là rừng truởng thành hoặc rừng già

Vậy thảm thực vật ven bờ nên là thảm cỏ hay là rừng? Và quan hệ giữa các dạng sống của thực vật với hiệu quả của chúng được NRCS nghiên cứu và tổng hợp như sau:

Bảng 1.1 Quan hệ giữa các dạng sống của thực vật ven bờ với mức độ hiệu quả tương ứng

Bảng tổng hợp trên đã chỉ ra được sự khác nhau về mức độ hiệu quả của các dạng sống là cỏ hay cây bụi và cây gỗ, mỗi dạng sống đều có những ưu nhược điểm riêng Vì vậy, mô hình rừng phòng hộ ven bờ tối ưu là sự kết hợp hài hoà của các dạng sống này

- Những nghiên cứu của Fisrwg (1998), NRCS (2002), Welch (1991), Schult et al (1995), đều cho rằng, việc phục hồi và thành lập hệ sinh thái rừng phòng hộ ven bờ là biện pháp tối ưu nhất trong bảo vệ chất lượng nước cũng như trong quản lý lưu vực bền vững Vì tiềm năng biến đổi và hấp phụ các chất dinh dưỡng, chất lắng cặn, đặc biệt của thảm thực vật nhờ hệ thống rễ cây và quá trình sinh lý phức tạp của chúng

Đồng thời, hầu hết các nghiên cứu đều thống nhất chung là xây dựng mô

hình rừng phòng hộ ven bờ thường có ba vùng chiến lược (Hình 1.1) là:

Trang 9

(1) Vùng trong cùng, cận kề với đất nông nghiệp hoặc rừng trồng đặc trưng bởi trảng cỏ, cây bụi bảo vệ nhằm kiểm soát dòng chảy mặt, tăng tính thấm cho đất và cũng có thể là nơi làm hàng rào bảo vệ các loài động vật ăn

cỏ vùng ven bờ;

(2) Tiếp sau đó là vùng rừng được phép tác động trong một giới hạn và mức độ nhất định, đảm nhiệm chức năng chủ yếu là hấp thụ, làm lắng đọng và chuyển hóa chất lắng cặn, các chất dinh dưỡng từ dòng chảy mặt và dòng chảy dưới mặt đất;

(3) Ngoài cùng, ven sông suối là vùng cây rừng - cây phòng hộ chính ven bờ, là những loài cây trưởng thành, phân bố tự nhiên ven bờ sông suối, vùng có mức độ khai thác, tác động rất hạn chế

Hình 1.1 Lát cắt mô hình rừng phòng hộ ven bờ

(Nguồn: EPA/600/R-05/118, 2005)

Ngoài ra, Amitha (2003) cũng nhấn mạnh, việc xây dựng các giải rừng phòng hộ ven bờ sông suối đòi hỏi phải dựa trên những thông tin đầy đủ và thích hợp về cơ cấu các loài cây và cấu trúc tổ thành giữa chúng trong từng điều kiện

cụ thể Theo Klapporth (2000) thì, việc thiết kế các giải rừng phòng hộ ven bờ để

Trang 10

cải thiện chất lượng nước phải tính tới những tác động của điều kiện thuỷ văn, đất đai, thổ nhưỡng, mức độ, nguồn gây ô nhiễm, đặc điểm lớp phủ thực vật ven

bờ và phương thức sử dụng đất ở những vùng ven bờ có liên quan

1.1.2 Nghiên cứu về phục hồi rừng

Việc nghiên cứu phục hồi rừng trên thế giới được bắt đầu từ rất sớm Năm

1930, Richard P.W đã có những nghiên cứu đầu tiên về diễn thế tái sinh phục hồi rừng, qua đó ông cho rằng, trong mỗi ô dạng bản, các cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm hoặc đều và thế hệ cây tái sinh có tổ thành giống hoặc không giống lớp cây tầng cao Đây là những nghiên cứu mở đầu rất quan trọng cho khoa học phục hồi rừng, song nó chưa chỉ ra được những giải pháp cụ thể để phục hồi rừng

Tuy nhiên, khoa học nghiên cứu về phục hồi rừng mới thực sự phát triển vào những năm 1950 trở lại đây Điển hình là các nghiên cứu của Barnard (1950), Smith (1952) ở Malaysia và nghiên cứu của Lamprecht ở Venezuela (1954) Những kết quả nghiên cứu đó đều đi đến thống nhất rằng: cần lợi dụng triệt để thảm thực vật hiện có với các điều kiện lập địa khác nhằm duy trì tái sinh

tự nhiên kết hợp với trồng bổ sung để phục hồi lại cấu trúc rừng gần giống ban

đầu (Trích theo Đặng Xuân Quý, 2005)

Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới châu Á, Van Steenis (1956) đã đưa ra kết luận sau: tái sinh vệt thích hợp với những cây ưa sáng mọc nhanh, vòng đời ngắn; cây tái sinh phân tán, liên tục phù hợp với các loài ban đầu chịu bóng hoặc

những loài ưa bóng (Trích theo Nguyễn Thị Ngọc, 2003)

Ngoài ra, vấn đề được quan tâm nhiều hơn cả trong quá trình nghiên cứu về phục hồi rừng nhiệt đới, vẫn là hiệu quả lợi dụng tái sinh rừng của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh Trong đó, phải kể đến hệ thống các phương pháp

xử lý và hiệu quả của nó đối với tái sinh rừng trong “Cơ sở sinh thái học và

Trang 11

kinh doanh rừng mưa” của G Baur (1964)

Năm 1996, các nghiên cứu của Fedlmaner đã chỉ ra rằng, các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng chủ yếu là: điều kiện lập địa, thành phần loài, nguồn cây mẹ gieo giống, Song đó mới chỉ là nghiên cứu tổng hợp

mà chưa chỉ ra được nhân tố nào ảnh hưởng mạnh mẽ nhất, và chưa đề cập đến nhóm nhân tố quan trọng là kinh tế xã hội

Năm 1975, khi phân tích sự phát triển của thảm thực vật thứ sinh, Whitimore đã nhấn mạnh; khoảng thời gian để các khu rừng tái sinh hạt đạt được tới trạng thái là rừng nguyên sinh có thể tới hàng trăm năm Các khu rừng thuần loài được tạo thành bởi những loài mà hạt của chúng có thể nảy mầm và trụ được trên các khu đất trống vào thời điểm thích hợp và cần lợi dụng lớp cây chồi, xử lý thực bì theo băng rạch tránh phát trắng để sớm tạo hoàn cảnh rừng Đặc biệt, các nghiên cứu về kỹ thuật làm giàu rừng cũng tương đối phát triển, từ năm 1965 đã nghiên cứu và đưa ra khái niệm làm giàu rừng là bổ sung các loài cây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi nhưng thiếu hụt loài cây có giá trị Đến năm 1989, Han Lamprecht và Aubreulle đã bổ sung thêm rằng, làm giàu rừng là lựa chọn tối ưu nhất cho lâm phần ban đầu không đủ loài cây tái sinh có giá trị kinh tế, từ đó đã xây dựng hoàn chỉnh phương pháp làm giàu rừng

theo rạch (Trích theo Bùi Thị Vân, 2005)

Theo J.Wyatt - Smith (1995), làm giàu rừng là sự bổ sung những loài cây có giá trị kinh tế vào những nơi rừng đã phục hồi lớp cây che phủ thứ sinh hoặc cây bụi nhưng thiếu hụt những loài cây có giá trị Wan Yu Sof (1998) cũng lưu ý khi chọn loài làm giàu rừng cần quan tâm đến các tiêu chí như: dễ tạo cây tái sinh, tỉ lệ nảy mầm cao, ra hoa kết quả hàng năm, sinh trưởng nhanh, đặc biệt thời kì đầu, chịu bóng nhẹ lúc non, có khả năng chịu đựng được sự cạnh tranh các cây khác, tự tỉa cành tốt, (Trích theo Trần Minh Cảnh, 2009)

Trang 12

Ngoài ra, việc phân loại rừng - đối tượng phục hồi là cơ sở quan trọng cho

đề xuất các biện pháp phục hồi Hiện nay, trên thế giới có 2 quan điểm phân loại chính được ghi nhận là: quan điểm của E.F Bruenig (1998) dựa vào đặc điểm hiện trạng thảm thực vật che phủ, gồm 5 loại chính: các lâm phần rừng hỗn loài tự nhiên bị khai thác quá mức, các lâm phần rừng thứ sinh ở các giai đoạn phát triển khác nhau, các đám cây gỗ thứ sinh, trảng cỏ và các dạng thảm thực vật khác trên các loại hình thổ nhưỡng khác nhau Theo quan điểm phục hồi rừng của tổ chức cây gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO, 2002) thì rừng thứ sinh nghèo được phân chia làm 3 loại phụ đó là: rừng nguyên sinh bị suy thoái (Degraded primary forest); rừng thứ sinh (Secondary forest); đất rừng bị thoái hoá (Degraded forest land)

Các nghiên cứu trên, tuy ở những khía cạnh khác nhau song chủ yếu tập trung vào các hướng chính là: nghiên cứu về tái sinh và động thái ở rừng thứ sinh nghèo, phân loại rừng thứ sinh nghèo, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động và hiệu quả của các biện pháp đó,… Đây chính là những cơ sở khoa học, có ý nghĩa lớn lao, đặt nền móng cho khoa học phục hồi rừng nói chung và phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông suối nói riêng ngày nay Tuy nhiên, về khía cạnh kinh tế xã hội - nhân tố có tác động lớn đến hiệu quả phục hồi rừng lại chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều

1.1.3 Quản lý lưu vực có sự tham gia

Quản lý theo lưu vực sông là một hoạt động cần thiết và mang tính tất yếu của thời đại ngày nay Trong đó, theo Heinz I và cộng sự, 2007 để quản lý lưu vực có hiệu quả thì việc phân quyền, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương là thực sự cần thiết Richard Aspinall và cộng sự (2000) cũng cho rằng, sự tham gia của người dân đã trở thành nhân tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng quyết định đến sự thành bại của các chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên nói chung và quản lý lưu vực sông nói riêng Còn Klapporth (2000) thì

Trang 13

nhấn mạnh việc quản lý rừng phòng hộ ven bờ nên được xem như một phần của chương trình quản lý sử dụng đất bền vững của địa phương đó Đặc biệt những nơi được cho là điểm nóng về mức độ ô nhiễm, tình trạng xói mòn, sạt lở đất thì cần thiết phải tiến hành các biện pháp quản lý tổng hợp có sự tham gia (BMPs)

để bổ trợ cho rừng phòng hộ ven bờ

Ngoài ra, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng nói chung, phục hồi rừng trên cơ sở cộng đồng và đã trở thành bài học thành công của rất nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Băngladet, Philippin, Thái Lan,… Theo Poffenberger (2000) và Thakur (2001) thì sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng Còn Gymour và Fisher (1997) cho rằng các hoạt động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc

chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng (Chương “Lâm nghiệp cộng

đồn”, Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006)

Vấn đề đặt ra là “Sự tham gia” đó đến đâu và ở mức độ nào thì hiệu quả? Nghiên cứu của Creighton (2004, trích theo Matthew, 2007) đã giải quyết được vấn đề đó bằng 4 cấp độ đánh giá sự tham gia của người dân là: (1) Được cung cấp thông tin; (2) Được nghe về một quyết định nào đó trước khi nó ra đời; (3) Được đóng góp ý kiến cho việc xây dựng quyết định; (4) Được quyền phủ quyết hay tán thành quyết định đó

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về rừng phòng hộ ven bờ

Việc nghiên cứu về rừng phòng hộ ven bờ cũng như các giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ vẫn còn là khá mới và hạn chế ở Việt Nam Phần lớn các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào phân cấp đầu nguồn mà chưa đặt vùng

Trang 14

ven bờ vào đúng vị trí tầm quan trọng của nó Tuy nhiên, vào những năm 70 của thế

kỷ XX đã bước đầu có một số công trình nghiên cứu về thuỷ văn rừng ít nhiều đề cập đến vấn đề này, mà một trong những nghiên cứu điển hình đó là:

- Nghiên cứu của Bùi Ngạnh, Nguyễn Danh Mô (1977) và Nguyễn Ngọc Bích (1985) về sự biến đổi dòng chảy mặt của một số dạng rừng khác nhau Các tác giả đã đề xuất những mô hình bố trí đai rừng giữ nước trong vùng đất dốc và ven lưu vực sông

- Mặt khác, khi nghiên cứu về rừng phòng hộ ở các triền sông, Lê Đăng Giảng và Nguyễn Hoài Thu (1981) đã đề nghị: cần phải thiết kế rừng phòng hộ ở các triền sông sao cho phát huy tối đa khả năng giữ nước của nó Song, đề tài chưa đưa ra được một mô hình hay biện pháp cụ thể nào cho rừng phòng hộ ở các triền sông

- Ngày 15/06/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ký Quyết định số

219-CT về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng vùng kinh tế phòng hộ xung yếu ven

hồ Hoà Bình, theo đó thì vùng ven hồ Hoà Bình có chiều dài 200km, rộng trung

bình 2km Song, theo “Dự án đầu tư xây dựng hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn

sông Đà”, tháng 10 năm 1990 của Viện Điều tra Quy hoạch rừng thì vùng phòng

hộ xung yếu ven bờ hồ Hoà Bình chỉ được xác định trong phạm vi 200m Điều này chứng tỏ việc xác định ranh giới vùng phòng hộ ven hồ Hoà Bình là chưa

thống nhất và chưa có đầy đủ cơ sở khoa học (Trích theo Phùng Văn Khoa, 2009)

- Tác giả Vũ Anh Tuấn (2004), với luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu biến động

của lớp phủ thực vật đến quá trình xói mòn trên lưu vực sông”, đã đánh giá lớp phủ

thực vật, đặc biệt độ che phủ của rừng phòng hộ ven bờ có quan hệ chặt đến rất chặt tới xói mòn lưu vực Đồng thời tác giả đã đề xuất theo dõi, quản lý xói mòn trên các lưu vực sông bằng ảnh vệ tinh

- Năm 2005, với luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp: “Nghiên cứu đặc

điểm vùng bán ngập của một số hồ trọng điểm ở miền Bắc Việt Nam và đề xuất

Trang 15

giải pháp trồng rừng phòng hộ ven hồ”, Âu Văn Bảy đã phân tích điều kiện lập

địa và đề xuất được mô hình trồng rừng ven hồ Song đề tài chưa đề cập nhiều đến các giải pháp về kinh tế xã hội nên tính thuyết phục của đề tài không cao

- Nghiên cứu của GS Phạm Song, Phó trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường, chỉ ra rằng: 1ha rừng ở ven bờ, về mùa lũ sẽ ngăn cản tối đa, khiến lượng đất đá đổ xuống dòng sông là không đáng kể Nhưng nếu 1ha thảm thực vật rừng này bị suy giảm thì

về mùa lũ lượng đất, đá đổ xuống dòng sông có thể lên đến 150 tấn/năm gấp

1500 lần…Vì vậy, nếu không có biện pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông

suối thì kết quả là dòng sông đó sẽ bị ô nhiễm và dần bị lấp đầy (Bộ Tài nguyên

và Môi trường, Uỷ Ban sông Cầu, 2000)

- Gần đây (2006), một nghiên cứu được cho là khá mới và chuyên sâu về

rừng phòng hộ ven bờ ở nước ta, đó là luận án tiến sỹ: “Tổ thành loài cây và

động thái tăng trưởng của rừng phòng hộ ven bờ ở vùng Đông Bắc - Việt Nam”

của Vũ Thị Quế Anh Với phương thức điều tra hệ thống theo các tuyến cắt ngang dòng chảy, tác giả đã thống kê được các chỉ tiêu cấu trúc, tái sinh, tổ thành loài cây, tính chất đất tại khu vực nghiên cứu Tuy nhiên, đề tài cũng còn một số hạn chế như: chưa đề cập đến vấn đề quy hoạch rừng phòng hộ ven bờ, chưa phân tích được ảnh hưởng của các yếu tố về tự nhiên, kinh tế xã hội đến kết quả nghiên cứu và các giải pháp về phục hồi hệ sinh thái rừng đặc thù này cũng

chưa được tập trung làm rõ (Trích theo Phùng Văn Khoa, 2009)

1.2.2 Nghiên cứu về phục hồi rừng

Những nghiên cứu về biện pháp phục hồi rừng ở nước ta đã diễn ra từ những năm 50 của thế kỷ XX Nhưng phải tới những năm 90 mới thực sự có các công trình nghiên cứu chuyên sâu về phục hồi và diễn thế rừng Đó là một

số công trình nghiên cứu tiên phong phải kể đến sau:

Trang 16

- Nghiên cứu phân loại đối tượng và đề xuất biện pháp phục hồi rừng bằng khoanh nuôi, xúc tiến, tái sinh vùng lưu vực Sông Đà, Chương trình lâm nghiệp tổng hợp, (Mã số 04.01), Giai đoạn 1986-1990

- Năm 1993, khi nghiên cứu giải pháp phục hồi hệ sinh thái rừng ở miền Nam, Việt Nam, nơi rừng bị nhiễm chất độc màu da cam, Thái Văn Trừng đã kết luận rằng, để phục hồi loại rừng này cần thiết phải qua hai bước là: trồng loài cây có khả năng tổng hợp Nitơ tự nhiên để giải phóng đất, sau đó chặt bỏ lớp cây này rồi trồng cây rừng có giá trị Cùng năm đó khi nghiên cứu rừng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng khộp ở Easup - ĐăcLăk, Đỗ Quang Điệp đã đưa ra kết luận:

độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dày đặc của thảm tươi, điều kiện lập địa là những nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến số lượng và chất lượng cây tái sinh

- Nguyễn Ngọc Lung (1995) và Nguyễn Luyện (1992) đều cho rằng, hiệu quả phục hồi rừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: điều kiện tự nhiên, đặc tính sinh vật học của các loài, điều kiện kinh tế xã hội của khu vực đó

- Trần Đình Lý và các cộng sự (1996) đã tiến hành hệ thống các biện pháp kỹ thuật, đồng thời liệt kê được 155 loài cây bản địa cho việc khoanh nuôi phục hồi rừng Từ đó, các tác giả đã xây dựng lên quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng Đây là công trình đầu tiên ở Việt nam đề cập một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh nuôi phục hồi rừng ở Việt nam Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng quy phạm chưa xây dựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng và từng loại hình rừng

cụ thể

- Vũ Xuân Đê (1999) đã nghiên cứu và cho rằng: cần thiết phải hỗ trợ tái sinh tự nhiên bằng tái sinh nhân tạo vì tiêu chuẩn cơ bản để xét đối tượng làm giàu rừng là tái sinh tự nhiên không đủ khả năng đảm bảo cho rừng phục hồi với

chất lượng và trữ lượng cao (Trích theo Đặng Xuân Quý, 2003)

Trang 17

- Theo Võ Đại Hải và cộng sự, 2003 thì phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ, là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm cây gỗ bắt đầu khép tán Quá trình phục hồi rừng sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục và cũng vì thế chúng ta có thể sử dụng chúng liên tục được

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều tập trung tìm hiểu quy luật của quá trình diễn thế tái sinh phục hồi rừng, các vấn đề cơ bản của quá trình phục hồi rừng tự nhiên Những kết quả này sẽ là cơ sở khoa học nhằm xác định các biện pháp phục hồi rừng Song, để phục hồi rừng có hiệu quả rất cần thiết phải có quy trình quy phạm cụ thể Do vậy, QPN (Quy phạm ngành)14 - 92, kèm theo Quyết định 200 QĐ - KT năm 1993 về quy trình quy phạm các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng đã lần lượt được ban hành Gần đây QPN 21 - 98 đã bổ sung thêm các tiêu chuẩn mang tính lượng hoá nhằm xác định đối tượng, biện pháp, thời gian và kết quả đạt được của hoạt động phục hồi rừng

Một số kỹ thuật lâm sinh cho phục hồi rừng thứ sinh nghèo chủ yếu hiện nay ở nước ta là:

- Kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi bảo vệ: là giải pháp tân dụng triệt để khả năng tái sinh và diễn thế rừng tự nhiên để tạo lại rừng, thông qua các biện pháp ngăn chặn có tính chất hành chính với các tác động có hại từ bên ngoài; chặt phá, chăn thả, đốt rừng,

- Kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên: là một biện pháp phục hồi rừng dựa vào năng lực tái sinh tự nhiên của rừng nghèo hiện có (hạt hoặc chồi) là chính, thông qua kỹ thuật người ta có thể trồng bổ sung mật độ và tổ thành cây tái sinh

để đảm bảo rừng được phục hồi tốt, đáp ứng các mục tiêu đề ra

- Kỹ thuật phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, kết hợp với làm giàu rừng: là giải pháp lợi dụng triệt để khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng thông qua các biện pháp bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung cần thiết

- Kỹ thuật làm giàu rừng: là biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm cải thiện

Trang 18

tỷ lệ cây mục đích ở rừng thứ sinh nghèo (hoặc tỷ lệ cây tốt ở rừng trồng) mà

không loại bỏ thảm thực vật rừng cũ và các cây non mục đích có sẵn (QPN

14 - 92, QPN 21 - 98, Phạm Xuân Hoàn và Hoàng Kim Ngũ, 2003)

Đồng thời cũng theo các quy phạm này, các đối tượng tác động được phân loại dựa trên các tiêu chí như sau:

Bảng 1.2 Phân loại đối tượng tác động phục hồi rừng trong quy phạm lâm sinh

Cây cao phẩm chất tôt (cây/ha)

Cây tái sinh có triển vọng (cây/ha)

Cây cao phẩm chất tôt (cây/ha)

Cây tái sinh có triển vọng (cây/ ha)

Cây mẹ gieo giống tại chỗ (có nguồn gieo giống lân cận)

Trồng rừng Đất lâm nghiệp chưa có rừng, đất rừng sau khai thác trắng Rừng đã áp

dụng các biện pháp kỹ thuật trên nhưng không thành công

(Nguồn: QP 14 – 92 và QP 21 – 98, trích theo Trần Minh Cảnh, 2009)

Ngoài ra, về công tác trồng rừng phòng hộ cũng có nguyên tắc tương tự

Trang 19

với trồng rừng nói chung như: kỹ thuật chọn giống cây trồng, kỹ thuật trồng rừng,… được trình bày chi tiết trong hai chương: “Cải thiện giống và quản lý

giống cây rừng ở Việt Nam” và “Trồng rừng” (Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006)

Tuy nhiên, do có những tính chất và đặc trưng riêng mà trong quá trình trồng rừng phòng hộ cần lưu ý một số vấn đề sau:

+ Làm đất, xử lý thực bì cần được tiến hành theo phương thức cục bộ

và theo đường đồng mức

+ Tiêu chuẩn cây con trồng rừng phòng hộ, đặc biệt là giống cây trồng bản địa phải cao hơn so với tiêu chuẩn cây con trồng rừng nhằm sớm tạo lập được tiểu hoàn cảnh rừng, phát huy chức năng phòng hộ

+ Phương thức trồng là hỗn giao, có thể kết hợp giữa cây phòng hộ chính với các cây phù trợ hoặc cây bạn Mật độ trồng thường phải dày hơn so với rừng kinh tế

+ Quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng chỉ tiến hành làm cỏ, xới vun gốc, loại bỏ cây sâu bệnh, dây leo; không phát luỗng cây bụi, không tỉa cành;… chú ý chăm sóc cho tầng cây tái sinh nhằm dẫn dắt rừng theo hướng đa tầng,

có độ che phủ cao (Nguồn: Chương “Quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn và

rừng phòng hộ ven biển”, Cẩm nang Lâm nghiệp, 2006)

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phục hồi rừng vùng ven bờ, vùng bán ngập ở Việt Nam hiện nay còn hạn chế, mới chỉ tập trung ở các vùng đất chua phèn, như nghiên cứu của Huỳnh Hữu To (1999), của Đỗ Đình Sâm (1999),

đã xác định được các loài thích hợp cho các vùng này như: Tràm (Melaleuca

cajuputi), Gáo nước (Neolamarckia sp),… Một nghiên cứu gần đây (từ năm

2001-2007) của Trường Đại học Lâm nghiệp về “Xây dựng mô hình phục hồi rừng trên đất bán ngập ven lòng hồ Hòa Bình” đã bổ sung thêm vào danh lục

các loài cây thích hợp cho vùng bán ngập như: Nhội (Bischofia javanica), Dâu da xoan (Baccaurea sp),… ( Âu Văn Bảy, 2005) Tuy nhiên, đây là một

trong số rất ít nghiên cứu về phục hồi và phát triển vùng bán ngập, trong khi với đặc điểm tự nhiên, nước ta có hàng trăm, hàng nghìn ha đất ven bờ bị mất thảm thực vật, tình trạng xói lở, bồi lấp lòng sông, lòng hồ đang ở mức báo

Trang 20

động Điều này, thêm một lần nữa chứng tỏ vấn đề nghiên cứu tiền khả thi cho vùng ven bờ ở nước ta đang bị bỏ ngỏ và tính cấp thiết của đề tài

1.2.3 Quản lý lưu vực có sự tham gia

Ở Việt Nam, hoạt động quản lý lưu vực nói chung và bảo vệ môi trường lưu vực nói riêng có sự tham gia, đã được triển khai theo tinh thần Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường, và đã đạt được những thành công nhất định Song sự tham gia này còn nhiều hạn chế, tiềm năng của cộng đồng vẫn chưa được phát huy đầy đủ, sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình ra quyết định và các hoạt động quản lý môi

trường lưu vực còn rất mờ nhạt và khá bị động (Uỷ ban sông Cầu, 2005)

Ngoài ra, sự tham gia trong lâm nghiệp cũng đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, chú trọng Đó sự ra đời và phát triển của lâm nghiệp xã hội (lâm nghiệp cộng đồng) có sự tham gia của người dân Điều mà theo FAO,1983 cho rằng, đó như là một sự hợp tác chặt chẽ của người dân tới mức

họ cảm thấy phải chịu trách nhiệm về thành công hay thất bại của một chương

trình, dự án nào đó Đồng thời, theo D.Messerschnidt (1992, trích theo

Nguyễn Bá Ngãi, 2006) thì sự tham gia cần phải được thể hiện xuyên suốt qua

5 bước: xác định vấn đề; lập kế hoạch và quyết định; huy động nguồn lực và thực hiện; chia sẻ lợi ích; giám sát và đánh giá

Qua nghiên cứu phần tổng quan trên, chúng ta nhận thấy rằng: mặc dù trên thế giới đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về rừng phòng hộ ven bờ sông suối, cũng như các biện pháp phục hồi trong quản lý lưu vực bền vững Tuy nhiên, ở Việt Nam các nghiên cứu này chưa nhiều nếu như không muốn nói là đang bị bỏ ngỏ và chưa được quan tâm đúng mức Vì vậy, việc nghiên cứu của

đề tài sẽ là rất cần thiết trong quản lý lưu vực bền vững ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, những kết quả nghiên cứu tổng quan này sẽ là tài liệu tham khảo quý báu trong quá trình triển khai, nghiên cứu đề tài

Trang 21

PHẦN II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất được giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông Cầu, nhằm góp phần ổn định dòng sông và giảm ô nhiễm nguồn nước

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là rừng phòng hộ ven bờ tại một số

xã thuộc lưu vực sông Cầu

2.3 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu dựa trên hai cơ sở chính là: cơ sở kỹ thuật và cơ sở kinh tế xã hội

có liên quan từ đó đề xuất được giải pháp phục hồi rừng

- Địa điểm: tại các sinh cảnh ven bờ sông Cầu được quy hoạch là đất nông, lâm nghiệp với độ rộng 100 m (tính từ mép sông trở vào) tại các xã Nông Hạ - Chợ Mới - Bắc Kạn, xã Văn Lăng - Đồng Hỷ - Thái Nguyên và xã Hợp Thịnh - Hiệp Hòa - Bắc Giang

- Thời gian: từ tháng 12/2008 - tháng 10/2010

2.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu cơ sở kỹ thuật phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại các khu vực nghiên cứu bao gồm:

1 Đặc điểm điều kiện địa hình; đất đai, thổ nhưỡng; khí hậu,

2 Đặc điểm xói lở ven bờ sông Cầu

3 Đặc điểm tài nguyên thực vật ven bờ sông Cầu (phân loại trạng thái rừng, trữ lượng, độ tàn che, độ che phủ, cấu trúc, tổ thành,…)

4 Đặc điểm tài nguyên động vật ven bờ trong phạm vi nghiên cứu

2.4.2 Nghiên cứu cơ sở kinh tế xã hội phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu bao gồm:

1 Sự ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất kinh tế, các loại hình sử dụng đất đến hiện trạng sông Cầu và công tác phục hồi rừng phòng hộ ven bờ

Trang 22

2 Kiến thức bản địa cho nghiên cứu, phục hồi rừng phòng hộ ven bờ

3 Nhận thức và ý thức của người dân và các cán bộ địa phương trong việc bảo vệ cảnh quan, môi trường và phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu

4 Sự ảnh hưởng của một chính sách, pháp luật trong xây dựng và bảo

vệ rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu

2.4.3 Đề xuất một số giải pháp góp phần phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu

1 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật cho phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại khu vực

+ Các tiêu chí và chọn được loài cây trồng thích hợp cho công tác phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại khu vực nghiên cứu

+ Một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh như: khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh

tự nhiên, làm giàu rừng và trồng rừng mới thích hợp cho từng đối tượng sử dụng đất, từng trạng thái rừng khác nhau

2 Đề xuất một số giải pháp kinh tế xã hội cho phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại khu vực

+ Một số giải pháp kinh tế phục vụ việc xây dựng, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven bờ trong khu vực

+ Một số giải pháp xã hội góp phần xây dựng, phục hồi và quản lý tổng hợp vùng ven bờ sông Cầu có sự tham gia của người dân

2.5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung trên, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.5.1 Quan điểm phương pháp luận

Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng với mục đích chủ yếu để bảo vệ nguồn nuớc, bảo vệ đất chống xói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai,

điều hoà khí hậu góp phần bảo vệ môi trường (Bộ Nông nghiệp và phát triển

nông thôn, 2004) Như vậy, việc nghiên cứu các biện pháp phục hồi rừng phòng

hộ đặc biệt là rừng phòng hộ ven bờ sông suối - nơi có ảnh hưởng trực tiếp đến

Trang 23

dòng chảy, nguồn nước và sự xói mòn của khu vực là rất quan trọng trong quản

lý lưu vực bền vững hiện nay Trên quan điểm của các nhà sinh thái học thì phục hồi rừng phòng hộ nói chung và rừng phòng hộ ven bờ sông suối nói riêng là phục hồi lại toàn bộ cảnh quan, sinh thái rừng như vốn có của nó Đồng thời giải pháp kỹ thuật cho phục hồi rừng là dựa trên cơ sở các quy luật tái sinh, diễn thế

tự nhiên và các đặc điểm khác nhằm đưa ra các tác động phục hồi rừng theo mục

tiêu đề ra Song, để phù hợp với quy luật của tự nhiên cho công tác phục hồi

rừng, đặc biệt là rừng phòng hộ ven bờ sông suối thực sự có hiệu quả, chúng ta không chỉ đơn thuần dựa vào đặc điểm của đối tượng cần phục hồi mà còn dựa vào nhiều yếu tố kinh tế xã hội khác Vì vậy, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu cơ sở

kỹ thuật cũng như cơ sở kinh tế xã hội để từ đó đề xuất các biện pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu Các bước nghiên cứu được thể hiện trong sơ đồ

(Hình 2.1)

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu

Cơ sở kỹ thuật

- Đặc điểm xói lở, bồi lấp lòng sông

- Điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu

- Hiện trạng thảm thực vật ven bờ

sông Cầu tại khu vực nghiên cứu,

- Hiện trạng tài nguyên động vật ven

bờ

Giải pháp phục hồi rừng phòng hộ ven bờ tại một số xã thuộc lưu vực sông Cầu

Thu thập thông tin và tài liệu phục

vụ cho ý tưởng nghiên cứu

Phân tích, xử lý các thông tin đã

thu thập được Xác định địa điểm, kế hoạch nghiên cứu Điều tra, thu thập, xử lý và thảo luận

Cơ sở kinh tế xã hội

- Ảnh hưởng của các hoạt động sản xuất;

sự phân bố dân cư đến dòng sông

- Kiến thức bản địa trong nghiên cứu, phục hồi rừng ven bờ

- Nhận thức, ý thức của người dân trong xây dựng rừng phòng hộ ven bờ

- Ảnh hưởng của một số chính sách, pháp luật trong phục hồi rừng phòng hộ ven bờ

Trang 24

2.5.2 Phương pháp tiến hành

1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Để hoàn thành những nội dung trên đề tài tiến hành nghiên cứu một số tài liệu sau: + Điều kiện tự nhiên: khí hậu thuỷ văn, địa hình, đất đai, thổ nhưỡng, tài nguyên của khu vực nghiên cứu

+ Điều kiện kinh tế - xã hội: cơ cấu ngành nghề, sản xuất hàng hoá; dân số, phong tục tập quán,…

+ Văn bản, quy phạm về khoanh nuôi phục hồi rừng, kế hoạch, chiến lược phát triển lâm nghiệp,… của địa phương

+ Hiện trạng tài nguyên rừng tại địa phương

2 Phương pháp chuyên ngành

a Sơ thám

Sơ thám qua tìm hiểu tài liệu, hiện trường và phỏng vấn cán bộ địa phương nhằm lập kế hoạch cụ thể, chuẩn bị cho điều tra chi tiết Phương pháp này cần đạt được kết quả sau:

+ Toàn cảnh về hiện trạng sử dụng đất, cảnh quan, môi trường ven bờ sông Cầu tại địa phương

+ Vị trí tương đối, đặc thù của các thôn, xóm (làng, bản)

+ Thu hẹp được không gian điều tra chi tiết

b Chi tiết

- Phương pháp điều tra theo tuyến (trong phạm vi độ rộng 100m ven

bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu)

+ Khảo sát hiện trạng sử dụng đất ven bờ trong phạm vi nghiên cứu theo Mẫu

biểu 01

Trang 25

Mẫu biểu 01: Biểu khảo sát hiện trạng sử dụng đất

Độ rộng đất lâm nghiệp(m) Ghi chú

+ Điều tra tài nguyên động vật: trên tuyến điều tra tiến hành quan sát bằng

mắt thường, các thông tin được ghi vào Mẫu biểu 02:

Mẫu biểu 02: Biểu điều tra động vật theo tuyến

Tuyến điều tra:………… Địa điểm:………… Ngày điều tra:……… Người điều tra:……… Thời gian bắt đầu:……… Thời gian kết thúc:……Quãng đường: STT Tên loài gặp Thời gian Số lượng Sinh cảnh Dấu vết Mô tả

+ Xác định tình hình sạt lở ven bờ sông Cầu tại khu vực nghiên cứu bằng

cách sử dụng thước dây, thước sào theo Mẫu biểu 03a

Mẫu biểu 03a: Biểu xác định hiện trạng sạt lở đất ven bờ

Vị trí: Ngày điều tra:

Trang 26

mặt bằng phương pháp đóng cọc căng dây theo Mô hình điều tra (Phụ lục

08a) và các Mẫu biểu 03b và Mẫu biểu 04

Mẫu biểu 03b: Biểu điều tra tốc độ sạt lở đất ven bờ sông Cầu

Để thực hiện được các kỹ năng điều tra trên, ngoài việc sử dụng các công

cụ kỹ thuật cần thiết như: thước dây, máy đo cao (Optical Height Meter), địa bàn,… đề tài còn kết hợp với kỹ năng phỏng vấn nhằm điều tra sự xuất hiện của các loài động, thực vật ở đó, sự thay đổi các trạng thái sử dụng đất, tình hình xói

lở ven bờ trong phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp lập và điều tra trên ô tiêu chuẩn (ÔTC): Điều tra hiện

trạng tài nguyên thực vật (tại nơi có rừng):

Trong phạm vi bán kính 100 m ven bờ sông suối tại khu vực nghiên cứu,

đề tài tiến hành lập từ 10 - 15 ÔTC với diện tích 500 m2đại diện tiêu biểu cho các trạng thái rừng ven bờ, tùy vào thực tế của các diện tích rừng phòng hộ ven

bờ mà có thể bố trí ÔTC điều tra theo mô hình (Hình 2.2)

Trang 27

50m 25m

10m 20m

Sông Cầu

Hình 2.2 Mô hình lập ô tiêu chuẩn

Trên mỗi (ÔTC) tiến hành điều tra những nội dung sau:

+ Điều tra tầng cây cao trên mỗi ÔTC theo Mẫu biểu 05

Mẫu biểu 05: Biểu điều tra tầng cây cao

Số hiệu ÔTC:……… ……….Ngày điều tra:………

Độ dốc:………Hướng phơi:……… Địa điểm:……….Độ tàn che (ĐTC):………

Tình hình sinh trưởng của cây được đánh giá ở 3 mức: tốt, trung bình và xấu,

Trong đó: *) Cây tốt là những cây sinh trưởng phát triển tốt, tán cân đối, thân thẳng không bị sâu bệnh

*) Cây trung bình là những cây có chiều cao thấp hơn, sinh trưởng kém hơn, nhưng vẫn có triển vọng

*) Cây xấu là những cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn phát triển kém không có triển vọng

Trang 28

Xác định độ tàn che: có thể áp dụng theo 2 cách:

Cách 1: Dùng phương pháp vẽ trắc đồ theo phương pháp của Richards và Davis (1934) biểu diễn trên giấy kẻ ô ly được xác định cho từng ô thứ cấp theo phương pháp vẽ trắc đồ ngang Độ tàn che tầng cây cao được xác định bằng tỷ

số giữa tổng diện tích hình chiếu tán lá và tổng diện tích của ô thứ cấp

Cách 2: Dùng ống nhòm (được thiết kế để chuyên đo độ tàn che, độ che phủ mặt đất) có đường kính 0.5 cm, tiến hành đo tại các điểm trên các tuyến

đã được đánh dấu sẵn tại các ÔTC bằng cách người điều tra quan sát tán cây qua ống nhòm theo phương thẳng đứng và cho điểm theo 3 mức: 1 điểm nếu tán cây che kín tầm quan sát của ống nhòm, 0 điểm nếu tại đó không có tán cây và còn lại là 0.5 điểm (cách điều tra độ che phủ mặt đất cũng tương tự bằng việc quan sát xuống mặt đất theo phương thẳng đứng) Hệ thống điểm sẽ được bố trí mang tính đại diện nhất, tùy vào độ đồng đều của các cây tầng cao

mà số điểm được thiết lập có thể dao động từ 50-100 điểm Kết quả độ tàn che của ÔTC được điều tra là ∑xi/n (với xi là giá trị điểm tại điểm điều tra thứ i, n là tổng số điểm điều tra)

+ Điều tra cây tái sinh: trên mỗi ÔTC (500 m2) tiến hành lập 5 ô dạng bản (ÔDB), mỗi ÔDB có diện tích 9 m2 theo Các ÔDB được bố trí theo sơ đồ sau: ÔDB (9m2)

ÔTC (500m2)

Hình 2.3 Sơ đồ bố trí điều tra các ÔDB

Trang 29

Mẫu biểu 06: Biểu điều tra cây tái sinh

Số hiệu ÔDB:………Độdốc:……… Hướng phơi:………Ngày điều tra:………

+ Điều tra cây bụi thảm tươi trên các ÔDB:

Mẫu biểu 07: Biểu điều tra cây bụi thảm tươi

Số hiệu ÔDB:……… Độ dốc:……… Hướng phơi:………Ngày điều tra:………

TT

- Phương pháp điều tra đặc điểm, lấy mẫu và phân tích đất

+ Điều tra các đặc điểm cơ bản về đất được tiến hành bằng cách đào và mô tả phẫu diện: tại mỗi địa điểm nghiên cứu, tiến hành đào và mô tả hai phẫu diện

(Bảng mô tả phẫu diện tại Phụ lục 08b) tại hai vị trí đại diện là đất canh tác

nông nghiệp và đất có rừng trong phạm vi nghiên cứu là 100 m độ rộng ven bờ Kích thước của phẫu diện là rộng 1.2m, dài 1.5m, sâu 1.5 - 2m

+ Lấy mẫu đất và phân tích: mỗi phẫu diện lấy 2 mẫu để phân tích các chỉ tiêu như: độ xốp, hàm lượng mùn, thành phần cơ giới,… trong phòng thí nghiệm

Trang 30

Mẫu1: dùng ống dung trọng có thể tích (V = 100 cm3) để lấy mẫu tại tầng

A ở thành phẫu diện

Mẫu 2: dùng dao nhọn rạch 2 đường song song cách nhau 1-1.5cm tại chính giữa dọc theo chiều sâu của thành phẫu diện, sau đó tách nhẹ lấy lớp đất mỏng giữa hai đường rạch đó từ trên xuống dưới làm mẫu tổng hợp các tầng đất

- Phương pháp tham dự PRA (Participatory rural appraisal): bao gồm

kỹ thuật phỏng vấn và thiết kế bảng hỏi

Phương pháp này chủ yếu dựa vào hình thức trò chuyện thân mật giữa người phỏng vấn với người dân và cán bộ lãnh đạo của địa phương Mục đích nhằm thu thập, bổ sung thông tin, kiểm tra lại những thông tin đã phỏng vấn Ngoài ra, thì người phỏng vấn có thể khai thác thêm các thông tin về tri thức, kinh nghiệm và những nguyện vọng của người dân trong quá trình phỏng vấn

Để công tác phỏng vấn đạt hiệu quả cao sẽ cần đến ba hình thức phỏng vấn sau: + Phỏng vấn cá nhân: các cá nhân được lựa chọn một cách ngẫu nhiên, có trình

độ, lứa tuổi, giới tính, phân bố khác nhau nhằm thu thập thông tin mang tính khách quan, chính xác

+ Phỏng vấn người cung cấp thông tin chính: người chọn phỏng vấn là người có địa vị nhất định trong cộng đồng, nhằm thu thập những thông tin thống nhất và chính xác cao

+ Phỏng vấn nhóm người tại nơi nghiên cứu: trong quá trình trả lời phỏng vấn, những người này có dịp bàn bạc với nhau và đưa ra những thông tin toàn diện, sâu sắc hơn Song, những vấn đề mang tính nhạy cảm sẽ không được khai thác trong hình thức này

Trong thời gian và điều kiện cho phép, để kết quả phỏng vấn được chính xác khách quan, chúng tôi sử dụng phương thức khai thác thông tin, trên cơ sở trò chuyện thân mật với nội dung hoặc mẫu bảng phỏng vấn đã được chuẩn bị trước

(Phụ lục 08c) Với phương pháp khai thác thông tin này sẽ có rất nhiều cá nhân

Trang 31

được phỏng vấn, trò chuyện Song vì những lý do khách quan, chủ quan mà đề tài chỉ tiến hành thống kê 30 kết quả phỏng vấn của 30 hộ gia đình cá nhân và cán bộ địa phương cho mỗi địa điểm nghiên cứu

3 Phương pháp chuyên gia: trong suốt quá trình nghiên cứu, đề tài luôn

tham khảo và trao đổi ý kiến với các chuyên gia về các lĩnh vực liên quan

2.5.3 Xử lý nội nghiệp

1 Phương pháp thống kê, phân tích thống kê với sự hỗ trợ của phần mềm Office Excel, SPSS (Statistical package for Social Sciences)

i Xác định đặc điểm thảm thực vật tại các khu vực nghiên cứu

- Tính các đặc trưng của tầng cây cao

Từ kết quả điều tra các nhân tố D1.3, Hvn trên các ÔTC, qua chỉnh lý số liệu đề tài tiến hành tính các chỉ tiêu sau:

Xác định trữ lượng cho từng ÔTC, sử dụng biểu điều tra trữ lượng cho

hai nhân tố (Nguyễn Ngọc Lung, 1995)

- Xác định trạng thái thảm thực vật rừng

Theo tiêu chuẩn phân chia trạng thái rừng của Loeschau, một số trạng thái rừng được phân loại như sau:

Trang 32

+ I: Trảng cỏ cây bụi và được chia làm 3 loại Ia - Đất trống, trảng cỏ; Ib - Trảng cây bụi; Ic - Trảng cỏ cây bụi, có cây gỗ tái sinh rải rác

+II: Đất có rừng non phục hồi sau nương rẫy, sau khai thác trắng và được chia làm 2 loại là IIa và IIb theo tiêu chí sau: DII < 10cm < DIIb; GIIa < 10m2/ha <

GIIb; MIIa < 30m3/ha < MIIb <60 m3/ha

+ III là rừng qua khai thác chọn, trong đó có trạng thái IIIa là rừng qua khai thác chọn kiệt với:

IIIa1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn, tầng cây cao còn sót lại chủ yếu là những cây kém phẩm chất, tổ thành cây chỉ còn là dây leo bụi dậm, giang, nứa xâm lấn ĐTC< 0.3 và G < 10m2

IIIa2: Rừng qua khai thác chọn kiệt đã được phục hồi

IIIa3: Rừng qua khai thác chọn kiệt đã phục hồi tốt

- Xác định cấu trúc tổ thành tầng cây cao và lớp cây tái sinh

Tổ thành được xác định theo số cá thể và số loài cây tham gia: dựa vào số liệu

điều tra tầng cây cao và tầng cây tái sinh trong các ÔTC, ta xác định công thức

tổ thành theo các bước sau:

+ Tính số cây trung bình cho các loài: Ntb =

N ni

 ,

Trong đó: Ntb là số cây trung bình cho từng loài; ni là tổng số cây của loài thứ i;

N là tổng số loài của toàn ÔTC và ni là tổng số cây của toàn ÔTC

+ Xác định loài tham gia vào công thức tổ thành: khi loài nào có tổng số cây (ni Ntb) thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành

+ Tính hệ số tổ thành: Ki = 10

ni ni

+ Cách viết công thức tổ thành: viết theo thứ tự loài có hệ số tổ thành (Ki) lớn nhất thì viết đầu tiên, sau đó theo thứ tự nhỏ dần, kèm theo tên viết tắt của loài

Trang 33

Loài có Ki ≥ 1 chỉ cần viết tên loài, loài có 0,5 < Ki < 1 thì trước hệ số tổ thành đặt dấu (+), loài có Ki< 0,5 thì trước đó đặt dấu (-)

Tổ thành được tính theo chỉ số quan trọng của loài (IV: Important Value)

+ Tỷ lệ tổ thành của từng loài cây trên 1ha đuợc tính toán theo phương pháp của Daniel Marmillod, thông qua 2 chỉ tiêu: Tỷ lệ % mật độ (N%) và tiết diện ngang (G%) Mỗi loài được xác định tỷ lệ tổ thành IV%:

IV% =

2

G%

N% 

Trong đó: N% là tỷ lệ % số cây của loài so với tổng số cây;

G% là tỷ lệ % tiết diện ngang của loài so với tổng tiết diện ngang;

IV% là chỉ số quan trọng của loài;

Nếu IV% > 5% thì loài đó có ý nghĩa về mặt sinh thái được tham gia vào công thức tổ thành;

Nếu IV% < 5% thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ thành;

Mặt khác theo Thái Văn Trừng (1978): Trong một lâm phần, nhóm loài cây nào đó chiếm 40% tổng cá thể của tầng cây cao thì nhóm loài đó được coi là nhóm loài ưu thế Nhóm loài cây có trị số IV% > 40% được xem là loài ưu thế

- Xác định tính phân bố của cây tái sinh theo mặt phẳng nằm ngang

Dựa vào chênh lệch giữa số trung bình và phương sai của cây trên ô thống kê để phán đoán xem phân bố theo hình thức nào

+Tính số cây trung bình trong ÔDB theo công thức: X = N/n

Trong đó: N là tổng số cây trong ÔDB; n là tổng ÔDB trong 1 ÔTC

+Tính phương sai theo công thức: S2 =

, Trong đó: Xi là tổng số cây trong ÔDB thứ i

+Tính hệ số K theo công thức: K =

X

S2 ,

Trang 34

Nếu: + K <1, phân bố đều; K = 1, phân bố ngẫu nhiên, K >1, phân bố không đều

+ Mật độ cây tái sinh (N/ha): N =  n odb

Sodb

10000

- Xác định các chỉ tiêu của cây bụi thảm tươi và thảm mục

+ Chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi: H VN =

N Xi

Trong đó: H VN là chiều cao vút ngọn trung bình của cây bụi thảm tươi; Xi là chiều cao vút ngọn trung bình của ÔDB thứ i; N là số lượng ÔDB trong một ÔTC (N = 5)

+ Độ che phủ (ĐCP) của cây bụi thảm tươi: ĐCP (%) =  ĐCPi/ N

Trong đó, ĐCPi là độ che phủ của ÔDB thứ i (%)

+ Độ dày thảm mục: Dj = Di/N

Trong đó: Dj là độ dày thảm mục của ÔTC thứ j,

ii Xác định tình hình xói lở ven bờ sông Cầu

- Tốc độ sạt lở ven bờ vào mùa mưa (m 3 /tháng): VSL={1/3.(d.r.h)}/t

Trong đó, d - độ dài điểm sạt lở, d=d2-d1(m)

r - độ rộng điểm sạt lở, r=r2-r1(m)

h - độ sâu điểm sạt lở, h=(h2+h1)/2(m)

t - khoảng thời gian giữa 2 lần đo (t=3 tháng)

Với d1, r1, h1 là các chỉ số đo được tại thời điểm tháng 5; d2, r2, h2 là các chỉ số

đo được tại điểm đó vào tháng 8

- Tốc độ xói mòn bề mặt đất ven bờ vào mùa mưa (mm/tháng)

Trang 35

VXM=(E2-E1)/t={1/3∑(EL2.1-EL1.1+EL2.2- EL1.2+EL2.3-EL1.3)}/t

Trong đó, t - khoảng thời gian giữa 2 lần đo liên tiếp (t=3 tháng);

EL1.1, EL1.2, EL1.3 (cm) là khoảng cách trung bình đo được từ dây thăng bằng xuống mặt đất từ 3 cạnh tại lần đo 1; EL2.1, EL2.2, EL2.3 (cm) là khoảng cách trung bình đo được từ dây thăng bằng xuống mặt đất tại lần đo 2

3i Đánh giá điều kiện lập địa

4i Đánh giá nhận thức, ý thức của người dân, cán bộ địa phương đến công tác phục hồi rừng phòng hộ ven bờ sông Cầu

5i Chọn loài cây trồng thích hợp theo phương pháp tự cho trọng số dựa vào mục tiêu chính

2 Phương pháp phân tích đa tiêu chuẩn với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS để chọn loại cây trồng rừng phòng hộ ven bờ

- Quan điểm: trên cơ sở điều tra thực địa, quan sát phỏng vấn và nghiên cứu,

sẽ tiến hành chọn những loài cây trồng:

 Có mặt chủ yếu tại khu vực điều tra nghiên cứu, sinh trưởng tốt

 Đa tác dụng, có giá trị kinh tế, sinh thái cao (ví dụ: bảo vệ đất chống xói mòn tốt, khả năng cung cấp lâm sản có giá trị cao,…) được người dân chấp nhận

 Hoặc những loài cây không có mặt tại khu vực nghiên cứu, song được người dân gây trồng do mang từ nơi khác đến, có triển vọng cũng được xem xét đưa vào trồng rừng phòng hộ ven bờ

- Mục tiêu: Lựa chọn được các loài cây có khả năng phòng hộ, bảo vệ môi

trường tốt cho vùng ven bờ và một phần phải đáp ứng được mục tiêu kinh tế cũng như sự chấp nhận của người dân

- Trên cơ sở đó, nhằm xác định tiêu chí chọn loại cây trồng:

+ Tiêu chí về sinh thái thể hiện

 Khả năng thích nghi với điều kiện lập địa dựa vào tình hình sinh trưởng

Trang 36

 Khả năng phòng hộ, chống xói mòn, sạt lở đất vùng ven bờ, căn cứ hình thái tán cây, lá cây; chiều cao cây, đặc thính phân cành; mật độ lá; cấu trúc hệ rễ cây; bằng việc quan sát và phỏng vấn người dân

 Khả năng làm đẹp cảnh quan, môi trường sông Cầu: hình thái tán, màu sắc của hoa quả,

+ Tiêu chí về kinh tế xã hội thể hiện

 Khả năng cung cấp lâm sản có giá trị (gỗ, củi, dược liệu,thực phẩm,…) cho người dân địa phương khu vực nghiên cứu

 Sự chấp nhận và ủng hộ của người dân và khả năng gây trồng qua phỏng vấn, điều tra

- Lượng hóa các tiêu chuẩn: Trên cơ sở các tiêu chí chọn loài cây trồng rừng

phòng hộ ven bờ được đánh giá ở 3 mức định tính là: tốt; khá và trung bình (hoặc kém) Các mức đánh giá định tính này sẽ được lượng hóa bằng cách cho điểm tương ứng là: Tốt (3 điểm), Khá (2 điểm), trung bình (1điểm),

- Ứng dụng 9 quy trình trong SPSS để xử lý số liệu, từ đó lựa chọn loài cây thích hợp nhất cho mục tiêu nghiên cứu (Nguyễn Hải Tuất, Vũ Thị Hương,

2009)

Trang 37

PHẦN III ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội lưu vực sông Cầu (Nguồn: Ủy Ban

sông Cầu, 2005)

Sông Cầu là phụ lưu của sông Hồng Lưu vực sông Cầu có diện tích khoảng 6030 km2, là một phần của lưu vực sông Hồng, chiếm khoảng 8% tổng diện tích của lưu vực sông Hồng trong lãnh thổ Việt Nam, với tổng chiều dài các nhánh sông khoảng 1600km Lưu vực bao gồm gần như toàn bộ các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên và một phần của các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hà Nội

Lưu vực gồm 3 vùng sinh thái: đồng bằng, trung du và miền núi Địa hình chung của lưu vực theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Lưu vực có mạng lưới sông ngòi dày đặc, với 68 sông suối có chiều dài hơn 10km Tổng lượng nước của lưu vực khoảng 4.5 tỷ/năm, mùa lũ thường từ tháng 6 đến tháng 10, mùa kiệt có thể kéo dài từ 7 đến 8 tháng Lưu vực có tài nguyên thiên nhiên khá phong phú và đa dạng

Lưu vực chiếm khoảng 47% diện tích của 6 tỉnh Tổng dân số 6 tỉnh thuộc lưu vực năm 2005 khoảng 6,9 triệu người Trong đó, dân số nông thôn khoảng 5,9 triệu người; dân số thành thị khoảng 1 triệu người Mật độ dân số trung bình khoảng 427 người/km2 Vùng núi thấp và trung du là khu vực có mật độ dân cư thấp nhất trong lưu vực, chiếm khoảng 63% diện tích toàn lưu vực nhưng dân số chỉ chiếm khoảng 15% dân số lưu vực Thành phần dân cư trong lưu vực có sự đan xen của 8 dân tộc anh em: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Mông, Sán Chay, Hoa, Dao trong đó người Kinh chiếm đa số Cơ cấu kinh tế dựa trên nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp; thủy sản đóng góp không

Trang 38

đáng kể vào cơ cấu này GDP tăng trưởng mạnh mẽ, tăng gần gấp đôi trong vòng 5 năm Sản phẩm từ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản chiếm khoảng 26% và có xu hướng giảm

Hình 3.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu

Trang 39

3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

Qua kết quả kế thừa tài liệu từ UBND các xã Nông Hạ - Chợ Mới - Bắc Kạn, xã Văn Lăng - Đồng Hỷ - Thái Nguyên

và xã Hợp Thịnh - Hiệp Hòa - Bắc Giang (2008, 2010), điều kiện cơ bản của các khu vực nghiên cứu được tổng hợp như sau:

Nông Hạ - Chợ Mới - Bắc Kạn Văn Lăng - Đồng Hỷ -Thái Nguyên Hợp Thịnh - Hiệp Hòa - Bắc Giang

3.2.1 Điều kiện tự nhiên 1 Vị trí địa lý

Nông Hạ là một xã miền núi, nằm

ven theo đường Quốc lộ 3, cách

Trung tâm huyện khoảng 10km

+Phía Bắc giáp xã Cao Kỳ

+Phía Đông giáp xã Yên Thành

+Phía Nam giáp xã Thanh Bình,

Nông Thịnh

+Phía Tây giáp xã

Văn Lăng là xã miền núi nằm về phía Tây Bắc, cách trung tâm huyện Đồng Hỷ 25km, có tọa độ địa lý: 21º46´ - 21º51 ’

độ vĩ Bắc, 105º46´ - 105º52´ độ kinh Đông + Phía Bắc giáp xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn

+ Phía Nam giáp xã Hòa Bình, huyện Đồng Hỷ + Phía Đông giáp xã Tân Long huyện Đồng Hỷ và huyện

Võ Nhai + Phía Tây giáp xã Đông Luông, huyện Phú Lương

2 Địa hình, địa mạo

Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc tương đối lớn nên

khả năng lưu giữ nước kém Độ cao trung bình từ

50-100m, đặc biệt ở khu vực đồi núi có độ cao từ

100-500m, với nhiều đỉnh núi cao từ 300-500m

Địa hình phức tạp thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, bị chia cắt bởi các khe suối, có dãy núi đá chạy thành dải , với độ dốc lớn trung bình

từ 25º - 35º, có độ cao trung bình 300 – 400m

Địa hình tương đối bằng phẳng, đồng nhất và thấp dần từ Đông - Bắc xuống

Tây – Nam, độ dốc nhỏ

Trang 40

3 Khí hậu

Thuộc miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang đậm nét khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, có hai mùa

rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa thường được bắt đầu vào tháng 5 đến tháng 10 chiếm 70 – 80% lượng mưa cả năm

- Mùa khô: thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa mùa này chỉ chiếm khoảng

20% lượng mưa cả năm

Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau

- Nhiệt độ trung bình năm là 23.5 0C

- Tổng lượng mưa trung bình đạt 1568.3 mm

- Lượng mưa: tổng lượng mưa hàng năm đạt 1710 mm

- Độ ẩm: không khí bình quân năm là: 81,3

- Số giờ nắng trong năm là 1279 giờ

- Lượng bốc hơi cả năm là 986mm

4 Thuỷ văn

Sông Cầu chảy qua địa phận xã với

chiều dài khoảng gần 4km, ven theo quốc

lộ 3 Đến thị trấn Chợ Mới thì nhập với

sông Chu và chảy theo hướng Đông Nam

qua xã Quảng Chu vào tỉnh Thái Nguyên

Lưu vực sông Cầu trong khu vực có chế

độ thủy văn khá phức tạp

Sông Cầu chảy qua địa bàn xã Văn Lăng

có chiều rộng từ 30 – 50m, chiều dài khoảng 11

km, là con sông có chế độ thuỷ văn khá phức tạp,

có độ dốc lớn, với nhiều phụ lưu là các con suối nhỏ và thường hay bị bồi lắng do đất đá, sạt lở hai ben bờ sông làm thu hẹp và thay đổi dòng chảy khiến mùa mưa thường bị ngập úng

Với hơn 6 km giáp sông Cầu, xã

có 4/6 thôn nằm ven sông Cầu nên bị chi phối mạnh mẽ bởi chế độ thuỷ văn của sông này Do vậy, sông Cầu có vai trò rất quan trọng đối với các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và hoạt động dân sinh của Xã

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm