1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở khu công nghiệp trên địa bàn huyện trảng bom tỉnh đồng nai

91 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung đề tài nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề chính: Xây dựng mô hình định lượng các nhân tố tác động đến thay đổi thu nhập của người dân và đề xuất các chính sách, giải pháp phù h

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” hoàn toàn do tôi thực hiện

Các số liệu điều tra là trung thực, các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm

vi hiểu biết của tôi Các kết quả nghiên cứu dựa trên mô hình phân tích và chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoa học nào trước đây

Đồng Nai, ngày 22 tháng 4 năm 2019

Tác giả

Lâm Quang Huy

Trang 2

LỜI CÁM ƠN

Quá trình học tập cho tới khi hoàn thành Chương trình Cao học và bảo

vệ thành công Luận văn Thạc sỹ Kinh tế Nông nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Nhà trường, các cơ quan, thầy giáo và gia đình

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, Tổ Sau đại học, Phòng khoa học công nghệ Phân hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS Lê Đình Hải đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Trảng Bom, Chi cục Thống kê, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện, Trung tâm Dạy nghề, UBND các xã: Tây Hòa, Hố Nai, Bắc Sơn, Sông Trầu, Giang Điền huyện Trảng Bom đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cung cấp số liệu, tài liệu giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này; Xin chân thành cám ơn lãnh đạo các cấp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cũng như các cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan đã cho tôi có được những bài học kinh nghiệm thực tế quý giá trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đã quan tâm động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn

Tuy nhiên, dù có nhiều cố gắng nỗ lực, song luận văn không tránh khỏi thiếu sót và hạn chế Vì vậy, tôi kính mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của quý thầy cô giáo và sự chia sẻ của các bạn đồng nghiệp

Trảng Bom, ngày 2 2 tháng 4 năm 2019

Tác giảLâm Quang Huy

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Sự cần thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

3.2.1 Phạm vi nghiên cứu về không gian 3

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu về thời gian 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

5 Cấu trúc đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở lý luận về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xu hướng biến động đất nông nghiệp 6

Trang 4

1.1.2.1 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong sự nghiệp phát

triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia 6

1.1.2.2 Xu hướng biến động đất nông nghiệp 9

1.1.3 Thu nhập và vấn đề thu nhập đối với người dân sau thu hồi đất 10

1.1.3.1 Thu nhập 10

1.1.3.2 Vấn đề thu nhập đối với người dân sau thu hồi đất 11

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân sau thu hồi đất 12

1.1.4.1 Nhóm nhân tố con người 12

1.1.4.2 Nhóm nhân tố tự nhiên 15

1.1.4.3 Nhóm nhân tố việc làm 16

1.1.4.4 Nhóm nhân tố tài chính, đầu tư 16

1.2 Cơ sở thực tiễn về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp 17

1.2.1 Một số chính sách về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư 17

1.2.2 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và Việt Nam về nâng cao thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất 19

1.2.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về nâng cao thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất 19

1.2.2.2 Kinh nghiệm của Việt Nam về nâng cao thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất 25

1.2.3 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây 29

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 34

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34

2.1.1.1 Vị trí địa lý 34

2.1.1.2 Khí hậu, thủy văn 34

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội: 35

2.1.2.1 Về kinh tế 35

2.1.2.2 Về xã hội 37

2.1.3 Thuận lợi, khó khăn trong quá trình thu hồi đất 40

2.1.3.1 Thuận lợi 40

2.1.3.2 Khó khăn, vướng mắc: 43

2.2 Phương pháp nghiên cứu 44

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 44

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 45

2.2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 45

2.2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 45

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 50

2.2.4 Các chỉ tiêu được sử dụng trong luận văn 50

2.2.4.1 Chỉ tiêu về lao động, việc làm 50

2.2.4.2 Chỉ tiêu về thu nhập 50

2.4.4.3 Chỉ tiêu về chi tiêu 51

Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 52

3.1 Thực trạng về thu nhập của các hộ dân sau thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 52

3.1.1 Khái quát về đặc điểm mẫu điều tra, nghiên cứu 52

3.1.2 Đánh giá thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất 55

3.1.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 56

3.1.3.1 Thu nhập ảnh hưởng bởi trình độ học vấn 56

3.1.3.2 Độ tuổi chủ hộ ảnh hưởng đến thu nhập hộ dân vùng nghiên cứu 58

3.1.3.3 Tỷ lệ người phụ thuộc ảnh hưởng đến nguồn thu nhập hộ 58

3.1.3.4 Diện tích đất thu hồi ảnh hưởng đến thu nhập hộ 59

Trang 6

3.1.3.5 Số lượng lao động ảnh hưởng đến thu nhập hộ 60

3.1.3.6 Đầu tư kinh doanh từ tiền đền bù ảnh hưởng đến thu nhập hộ 61

3.1.3.7 Nguồn thu nhập khác ảnh hưởng đến thu nhập hộ dân 62

3.1.3.8 Khả năng lao động trong KCN ảnh hưởng đến thu nhập hộ … 62

3.3 Đánh giá chung 63

3.3.1 Kết quả của mô hình hồi qui 63

3.3.2 Thảo luận kết quả của mô hình hồi qui 66

3.4 Một số giải pháp nhằm cải thiện thu nhập của các hộ dân sau thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai 68

3.4.1 Đầu tư cho sản xuất kinh doanh với số tiền đền bù 68

3.4.2 Nâng cao trình độ học vấn chủ hộ 69

3.4.3 Giảm tỷ lệ người phụ thuộc xuống 70

3.4.4 Một số gợi ý chính sách khác 70

KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu 36

Bảng 2.2 Thống kê dân số, lao động năm 2016 38

Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ các dự án tại huyện Trảng Bom 2011-2015 42

Bảng 2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân bị thu hồi đất 48

Bảng 3.1 Đánh giá về thu nhập của hộ sau khi bị thu hồi đất 55

Bảng 3.2 Thu nhập bình quân/nhân khẩu giữa các nhóm hộ bị thu hồi đất 56

Bảng 3.3 Phân tích học vấn đến thu nhập hộ dân 56

Bảng 3.4 Phân tích độ tuổi chủ hộ ảnh hưởng đến thu nhập hộ dân 58

Bảng 3.5 Phân tích tỷ lệ người phụ thuộc đến nguồn thu nhập hộ 59

Bảng 3.6 Diện tích đất thu hồi ảnh hưởng đến thu nhập 60

Bảng 3.7 Số lượng lao động đến thu nhập hộ dân 61

Bảng 3.8 Nhân tố đầu tư kinh doanh từ tiền đền bù ảnh hưởng đến thu nhập hộ 61

Bảng 3.9 Nguồn thu nhập khác ảnh hưởng đến thu nhập hộ dân 62

Bảng 3.10 Khả năng lao động trong KCN ảnh hưởng đến thu nhập hộ 63

Bảng 3.11 Tóm tắt kết quả của mô hình logit nhị phân (Binary Logistic Regression) 63

Bảng 3.12 Tóm tắt kết quả của mô hình logit nhị phân (Binary Logistic Regression) rút gọn 65

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Bản đồ huyện Trảng Bom 34

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết của đề tài

Huyện Trảng Bom nói riêng và tỉnh Đồng Nai có điều kiện vị trí thuận

lợi để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao lưu thương mại; là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng công nghiệp, dịch vụ Do vậy, tốc độ đầu tư xây dựng các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh, xây dựng kết cấu hạ tầng, cũng như quá trình phát triển đô thị diễn ra rất mạnh mẽ; sự chuyển dịch nhanh với diệntích lớn đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp đang diễn ra mạnh

mẽ Từ đó, làm cho điều kiện sản xuất kinh doanh, đời sống của người dân có đất bị thu hồi có nhiều thay đổi Đối với các hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp càng chịu nhiều biến động lớn về chổ ở, tập quán sinh hoạt, sản xuất và đời sống Những sự thay đổi đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế - xã hội, an ninh trật tự ở địa phương

Trước những vấn đề nêu trên, việc cần thiết phải tìm ra những mâu thuẩn của sự việc, xác định mức độ và xu hướng vận động của các nhân tố tác động đến đời sống của người dân sau thu hồi đất để có chính sách và giải pháp phù hợp đảm bảo sự phát triển bền vững là việc làm cần thiết

Tuy đã có một số công trình nghiên cứu ảnh hưởng thu hồi đất đến đời sống của người nông dân, nhưng các nghiên cứu thực hiện trên những địa bàn

và điều kiện tương đối đặc thù, vì vậy cần có chắt lọc, bổ sung và nghiên cứu mới, mới đem lại hiệu quả kỳ vọng khi thực hiện vào các địa bàn khác

Do đó, nhận diện được một cách khoa học các tác động đến thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất là thách thức của các nhà nghiên cứu và chính sách ở Việt Nam Để thực hiện điều này việc cần thiết phải tìm ra những nhân tố tác động đến đời sống của người dân sau thu hồi đất, điển hình

Trang 11

là tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom để tìm kiếm những bằng chứng thực tiễn Nội dung đề tài nghiên cứu tập trung vào hai vấn đề chính: Xây dựng mô hình định lượng các nhân tố tác động đến thay đổi thu nhập của người dân và đề xuất các chính sách, giải pháp phù hợp đảm bảo sự phát triển bền vững là việc làm cần thiết.

Đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của

người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai” kỳ vọng giải đáp những vấn đề bức thiết nêu trên.

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện nguồn thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp

- Phân tích thực trạng về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất

ở các khu công nghiệp

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân

bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện nguồn thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới

Trang 12

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi nghiên cứu về không gian

Trong 17 xã thị trấn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đề tài chọn 5 xã gồm: xã Sông Trầu, xã Tây Hòa, xã Giang Điền, xã Bắc Sơn và xã Hố Nai 3 Đối với các xã này là nằm gần Quốc lộ 1A, có tốc độ chuyển dịch nhanh cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ; đô thị đang phát triển

và có nhiều hộ nông dân bị thu hồi đất để thực hiện các dự án KCN trên địa bàn huyện Trảng Bom

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu về thời gian

- Thời gian nghiên cứu là từ năm 2010-2017 Lý do:

+ Đây là thời gian xảy ra thu hồi đất khá nhiều ở các xã nghiên cứu.+ Khi các hộ bị thu hồi đất thực hiện dự án các KCN trên địa bàn huyện Trảng Bom thì cần có thời gian nhất định học nghề, ổn định việc làm và thu nhập

- Thực hiện điều tra, thu thập số liệu năm 2018

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp

- Thực trạng về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp

- Các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Trang 13

- Các giải pháp nhằm cải thiện nguồn thu nhập của người dân sau khi bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp trên địa bàn nghiên cứu trong thời gian tới.

5 Cấu trúc đề tài và nhiệm vụ nghiên cứu

Cấu trúc đề tài chia làm có 5 phần chính, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương như sau:

Chương 1 - Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu

Chương 2 - Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3 - Kết quả và thảo luận

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp

1.1.1 Một số khái niệm

(trong đề tài này gọi chung là đất nông nghiệp) bao gồm đất dùng để trồng cây hàng năm, cây lâu năm; đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ

Đất phi nông nghiệp: Nhóm đất phi nông nghiệp (trong đề tài này gọi

chung là đất phi nông nghiệp) bao gồm các loại đất: đất ở; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; đất sử dụng vào mục đích công cộng; đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng và đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ

Thu hồi đất: Là việc cơ quan nhà nước ban hành quyết định hành chính

để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức hoặc cá nhân đang sử dụng đất

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trả lại giá trị

quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất

Trang 15

Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước trợ giúp cho

người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển

Giá trị quyền sử dụng đất: Là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất

đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đất xác định

Hộ nông dân: Là các hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất,

sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông nghiệp Ngoài hoạt động sản xuất nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau

Thu nhập: Là số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng

thời gian nhất định (thường là 01 năm), hay thu nhập là phần giá trị còn lại của sản phẩm sau khi trừ đi các khoản chi phí vật chất hay chi phí thuê ngoài Thu nhập có thể được tính bằng tiền hoặc bằng công

Thu nhập của hộ gia đình: Là toàn bộ thu nhập của những thành viên

trong gia đình đó Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định

1.1.2 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xu hướng biến động đất nông nghiệp

1.1.2.1 Vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình xây dựng và phát triển đất nước Trong gần 30 năm qua, nông nghiệp, nông dân, nông thôn lại đi trước mở đường trong quá trình đổi mới, tạo điều kiện để đất nước vươn lên

Những năm qua, ngành nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, giá trị và giá trị sản lượng nông nghiệp liên tục tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩm thô, từ đó an ninh lương

Trang 16

thực trong nước được đảm bảo, nhiều sản phẩm nông nghiệp trở thành những hàng hóa xuất khẩu chủ đạo, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc

tế như gạo, thủy hải sản, cà phê, cao su Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nông dân được cải thiện, công bằng hơn trong tiếp cận các cơ hội phát triển Bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại,

hệ thống kết cấu hạ tầng cũng như mạng lưới các tổ chức kinh tế hoạt động nông thôn ngày càng phát triển

Song, cũng như các nước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, ở nước

ta, quá trình này thường đi kèm những thay đổi không nhỏ về các mặt kinh tế

- xã hội; và nông nghiệp, nông dân, nông thôn thường bị thiệt thòi, chịu nhiều

hy sinh Nông nghiệp, nông dân, nông thôn vẫn là khu vực chậm phát triển nhất trong nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính chất của nền sản xuất nhỏ, manh mún, sử dụng không hiệu quả dẫn đến gây lãng phí các nguồn lực quý giá cho phát triển nông nghiệp Thu nhập của người nông dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với khu vực thành thị, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn Nhiều hộ gia đình ở nông thôn tuy đã thoát khỏi diện nghèo đói, nhưng thực tế thu nhập chỉ cao hơn mức chuẩn nghèo đói không đáng kể Người dân nông thôn không có nhiều cơ hội tiếp cận với các thành tựu của phát triển, các dịch vụ

cơ bản như vệ sinh, môi trường, y tế, giáo dục cũng chưa được cung cấp đầy đủ Hệ thống hạ tầng nông thôn còn lạc hậu, chất lượng xuống cấp nghiêm trọng

Nhìn nhận vai trò của nông nghiệp, nông dân nước ta đối với sự phát triển nông thôn có thể qua những nội dung chính như:

- Về kinh tế: Theo công bố tình hình KT-XH năm 2018 của Tổng cục

Thống kê, năm 2018, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 đến nay Trong mức tăng chung

Trang 17

của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung của nền kinh tế Đây cũng là mức tăng trưởng cao nhất của khu vực nông, lâm, thủy sản trong giai đoạn 2012-2018,

cụ thể năm 2012 là 2,92%, 2013 là 2,63%, 2015 là 2,41%, 2017 là 2,9% và năm 2018 là 3,76% Đây là kết quả khẳng định xu thế chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp đã và đang phát huy hiệu quả, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Nông nghiệp, nông dân đã góp phần quan trọng trong việc tăng nguồn hàng xuất khẩu, tăng nguồn ngoại tệ để tăng trưởng kinh tế Nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong những năm vừa qua Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng tăng lên và đạt giá trị hàng tỷ đôla Mỹ, đó

là nguồn ngoại tệ quý giá để đầu tư phát triển kinh tế cho đất nước

Ngành nông, lâm, ngư nghiệp đã có chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tính chất thuần nông, thuần lương thực, mang tính tự cung tự cấp sang một nền nông nghiệp đa dạng mang tính chất sản xuất hàng hóa

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng đa dạng hóa và sản xuất hàng hóa là điều kiện cơ bản để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hiệu quả của từng ngành, cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân

- Về xã hội: Cùng với những chuyển biến về mặt kinh tế, trong xã hội

nông thôn cũng có sự chuyển biến tích cực về tư duy và lối sống So với trước đây, người nông dân hiện nay năng động hơn, chủ động hơn, biết theo

“những tín hiệu của thị trường” để điều chỉnh sản xuất với mong muốn tăng thu nhập và cải thiện đời sống Chính vì vậy đời sống vật chất và tinh thần của dân cư trong nông thôn được cải thiện rõ rệt Với những nỗ lực của các tầng lớp dân cư nông thôn, với sự hỗ trợ của nhà nước, tỷ lệ nghèo đói đã giảm đi nhanh chóng

Trang 18

1.1.2.2 Xu hướng biến động đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là một yếu tố đầu vào đặc biệt và rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Biến động của quỹ đất nông nghiệp diễn ra theo hai hướng:

Hướng thứ nhất: do quá trình đô thị hóa, do sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn, do sự hình thành các trung tâm công nghiệp mới làm cho quỹ đất nông nghiệp bị thu hẹp lại Ở Việt Nam xu hướng này đã và đang diễn ra ngày một nhanh Đây là xu hướng vận động tất yếu nên vấn đề đặt ra là lựa chọn địa điểm để xây dựng đô thị và khu công nghiệp cũng như các cơ sở hạ tầng thế nào để bảo đảm tính khoa học tính kinh tế có lợi cho toàn xã hội

Hướng thứ hai: do sức ép về lao động và việc làm, do nhu cầu về nông sản ngày càng tăng trong khi quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, việc khai khẩn đất chưa sử dụng, đất hoang hóa đưa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp đã làm cho quỹ đất nông nghiệp tăng lên

Trong cơ chế thị trường, đất đai trở thành đối tượng của sự mua bán, chuyển nhượng, thế chấp, thuê mướn Hiện nay nước ta trong qua trình phát triển càng làm tăng lên nhu cầu về đất đai, vì vậy thị trường đất đai trở nên sôi động

Về cung đất đai xét trên tổng quỹ đất đai là cố định, thể hiện trên đồ thị

là một đường thẳng, tuy nhiên cung của từng loại đất có thể biến động do có

sự chuyển đổi mục đích sử dụng qua lại lẫn nhau Cầu về đất đai là cầu phát sinh do sự tăng lên của nhu cầu đối với các sản phẩm từ đất đai và các nhu cầu khác của các ngành, của nhu cầu xây dựng nhà ở Đối với đất nông nghiệp, mức cung đất nông nghiệp cũng có thể tăng hoặc giảm Sự tăng lên của mức cung đất nông nghiệp có thể được biểu hiện ở một số khía cạnh như: chuyển những diện tích đất hoang hóa thành đất nông nghiệp mới khai phá; chuyển một phần đất khác (chủ yếu là đất lâm nghiệp) thành đất nông nghiệp;

Trang 19

lưu chuyển đất nông nghiệp giữa các chủ thể Việc lưu chuyển đất nông nghiệp giữa các chủ thể không làm tăng tổng cung đất nông nghiệp nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng thị trường đất nông nghiệp

Về giảm cung đất nông nghiệp biểu hiện với các hình thức: xu hướng chuyển nhanh đất nông nghiệp sang đất đô thị do quá trình đô thị hóa đang diễn ra ngày càng nhanh; chuyển một phần đất nông nghiệp thành đất phục vụ cho sản xuất công nghiệp; chuyển đất nông nghiệp thành đất chuyên dùng như giao thông, thủy lợi, du lịch; tác động của biến đổi khí hậu

Về cầu đất nông nghiệp, xét về lâu dài do quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, tổng lượng cầu về đất nông nghiệp có xu hướng giảm tương đối

và sẽ giảm tuyệt đối so với các loại đất khác Cơ sở của xu hướng này là sự phát triển của lực lượng sản xuất ngày càng cao tạo điều kiện để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp Ngoài ra xu hướng giảm tương đối

tỷ suất lợi nhuận của sản xuất nông nghiệp so với các ngành khác, tạo ra sự chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang lĩnh vực khác vì vậy gây ra giảm cầu đất nông nghiệp

Như vậy, theo sự phát triển kinh tế xã hội thì đất sản xuất nông nghiệp

có xu hướng giảm dần, ngược lại đất sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp tăng lên

1.1.3 Thu nhập và vấn đề thu nhập đối với người dân sau thu hồi đất

Trang 20

C1: Khấu hao tài sản cố định

- Thu nhập ổn định: Là khả năng tạo thu nhập một cách ổn định, lâu dài qua các năm, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài thông qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ

- Phân loại thu nhập: Theo mức độ, thì thu nhập bao gồm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên

+ Thu nhập thường xuyên: Là các khoản thu nhập có tính chất lặp đi lặp lại và ổn định như: Tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp, các khoản thu nhập

do tổ chức cá nhân chi trả,

+ Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập không ổn định, đột xuất như: Quà biếu tặng, thu nhập từ các hoạt động khoa học,

1.1.3.2 Vấn đề thu nhập đối với người dân sau thu hồi đất

Việc thu hồi đất tác động rất lớn tới đời sống của người dân, biểu hiện

rõ rệt nhất ở thu nhập và việc làm của người dân sau thu hồi đất Sau khi bị thu hồi đất, người dân đã tự chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm được việc làm mới, và họ cũng không định hướng được nên chuyển sang làm việc gì để

có thể tạo được thu nhập một cách ổn định, do vậy rất nhiều người dân trong vùng thu hồi đất chỉ mong muốn làm sao có được việc làm đem lại thu nhập

ổn định Một khảo sát thực tế cho thấy thu nhập của người dân sau thu hồi đất phần lớn đã tăng so với trước thu hồi (52%) và 48% thu nhập không tăng, trong đó có gần 17% số hộ có thu nhập giảm hơn trước Nguyên nhân vẫncòn

Trang 21

48% thu nhập không tăng là do đa số lao động đã quá tuổi lao động, lao động

ở những vùng thu hồi đất thường là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, trình độ tay nghề thấp không đáp ứng được yêu cầu của công việc Qua đây,

ta có thể thấy được một vấn đề bức thiết cần tháo gỡ hiện nay là làm thế nào

để người dân sau thu hồi đất có được thu nhập ổn định, đảm bảo nâng cao cuộc sống cho họ, hạn chế được hiện tượng nghèo đói sau thu hồi đất

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của người dân sau thu hồi đất

1.1.4.1 Nhóm nhân tố con người

a) Trình độ học vấn

Trình độ học vấn là một khía cạnh quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực và nó cũng là một nguyên nhân tạo ra thu nhập cao hay thấp Vốn con người để chỉ những kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn

Với tác phẩm “The Weath of Nations’" Adam Smith (1776), từ lâu các nhà

kinh tế đã quan tâm đến vai trò vốn con người, trình độ chuyên môn là những

sự đầu tư để gia tăng năng suất lao động và điều này cũng đồng nghĩa với thu nhập tăng Do đó, trình độ chuyên môn là vốn kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của con người luôn cần phải được hoàn thiện Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu về lợi nhuận từ giáo dục trên nhiều vùng lãnh thổ khác nhau Các nghiên cứu kinh tế này cho thấy tương quan giữa trình độ học vấn và mức thu nhập nhận được Nghiên cứu thị trường lao động Mỹ (Acemoglu and Angrist, 1999) cho thấy một năm học thêm, mức lương trung bình tăng 7,5% Trong nghiên cứu gần đây của Caponi and Plesca (2007) chỉ ra những người tốt nghiệp đại học cao hơn những người chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học từ 30%-40% Bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam theo Trần Thọ Đạt, (2008) cho thấy những tỉnh, thành phố của Việt Nam có số năm đi học trung bình cao hơn thì GDP/người cũng cao hơn Theo Bùi Quang Bình, (2008) cho thấy ở

Trang 22

Tây Nguyên, những chủ hộ trồng cà phê có trình độ học vấn cao hơn thì năng suất cà phê của hộ cao hơn và thu nhập cao hơn Đỗ Thiên Kính và các tác giả (2001) khi nghiên cứu mức sống dân cư Việt Nam 1993-1998 cho rằng hộ ở nhóm có thu nhập cao có trình độ giáo dục cao hơn hộ nghèo.

Như vậy, có thể khẳng định nhân tố trình độ học vấn là một biến có ý nghĩa trong việc giải thích và có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trong môi trường sinh kế mới Do đó, nhân tố trình độ học vấn sẽ làm tăng thu nhập cho hộ, nâng cao đời sống sinh kế khi chuyển sang sinh kế mới và nhận giá trị dương trong mô hình định lượng đề xuất của nghiên cứu

độ tuổi lao động thì sẽ khó xin việc làm mới, thiếu đi sự sáng tạo, không có

Trang 23

tính mạo hiểm để bắt đầu kinh doanh một cái gì đó hoàn toàn mới để tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình do sợ rủi ro cao.

Chính vì những phân tích trên, nghiên cứu đã đưa nhân tố độ tuổi lao động của chủ hộ vào trong mô hình nghiên cứu để xem xét mức độ giải thích của nó đến thu nhập của người dân sau khi họ bắt đầu một phương thức sinh

kế mới Hơn nữa, nhân tố độ tuổi hộ như những phân tích sẽ làm tăng khả năng tạo thu nhập cho hộ nếu độ tuổi chủ hộ còn nằm trong độ tuổi lao động

và nó sẽ mang giá trị dương trong mô hình định lượng nghiên cứu

c) Tỷ lệ thành viên phụ thuộc trong hộ gia đình

Theo như thông tư 84/2008/TT- BTC về mức tính thuế thu nhập cá nhân cho nhóm người sống phụ thuộc vào nguồn thu nhập của gia đình Nhóm người sống phụ thuộc là những người nằm ngoài độ tuổi lao động ví dụ như trẻ em, người già, hay những người tàn tật, mất khả năng lao động do tai nạn và các trường hợp khác Nhóm thành viên này nằm trong hộ gia đình sẽ sống nhờ vào nguồn thu nhập của những thành viên đi làm Họ không tạo ra thu nhập, do đó không làm tăng nguồn thu nhập cho gia đình Vì vậy, nghiên cứu xem xét như một nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ Khảo sát sơ bộ cho thấy hộ có số người sống phụ thuộc càng cao thì dễ dàng rơi vào vòng luẩn quẩn nghèo do nhóm người sống phụ thuộc không tạo ra nguồn thu nhập Đỗ

Thiên Kính và các tác giả (2001) khi nghiên cứu về “Mức sống dân cư Việt Nam 1993-1998” cho rằng quy mô hộ gia đình nghèo thường có xu hướng lớn

hơn Như tham khảo ý kiến các chuyên gia thì bài viết nhận định nếu như gia đình có từ 1-2 trẻ em thì động lực làm việc nhiều hơn và tạo thu nhập nhiều hơn nhưng khi số trẻ em có từ 3-4 thì sẽ làm giảm thu nhập do gánh nặng chi phí

Trang 24

Vậy theo như phân tích trên với phần lớn nhận định, tỷ lệ phụ thuộc trong gia đình sẽ làm giảm nguồn thu nhập và không làm tăng chất lượng cuộc sống hộ và sẽ thể hiện giá trị âm trong mô hình định lượng.

d) Số lao động trong hộ

Khi tiến hành khảo sát lấy ý kiến sơ bộ về nhân tố số lượng trong gia đình có làm tăng nguồn thu nhập hay không? Kết quả khảo sát cho thấy, khi một gia đình có số người trong độ tuổi lao động và đang có việc làm ổn định thì nguồn thu nhập của họ sẽ góp phần tăng nguồn thu nhập chung cho cả hộ

Do đó, nghiên cứu xem yếu tố số lượng lao động trong gia đình cũng là một biến có ý nghĩa giải thích cho mô hình hồi quy thu nhập và nó thể hiện giá trị dương trong mô hình định lượng

1.1.4.2 Nhóm nhân tố tự nhiên

Diện tích đất bị thu hồi : Tại các vùng nông thôn thì người nông dân có

tài sản đất là tài sản chính và quan trọng nhất Tài sản đất là một trong những nguồn lực vật chất quý giá giúp cho người dân phát triển kinh tế Đất phục vụ cho sản xuất gồm đất trồng lúa, đất chuyên màu, đất trồng cây ăn trái, nuôi trồng và các ngành khác hoặc đất dùng xây các nhà xưởng để sản xuất kinh doanh Do đó, đất có thể được coi là một tư liệu sản xuất có ảnh hưởng lớn với người nông dân khi tiến hành canh tác, nuôi trồng Đất góp phần tạo nên thu nhập cho người nông dân Nếu như người nông dân bị thu hồi đất có thể coi như họ bị tước đi tư liệu sản xuất cốt yếu nhất Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến phương thức sản xuất của họ, buộc họ phải chuyển sang một sinh kế hoàn toàn mới Trong phương thức sản xuất mới này, nơi mà người nông dân hoàn toàn không có kỹ năng hoặc kinh nghiệm lao động Vì thế, biến động trên tạo cho họ một cú sốc rất lớn, chi phí cơ hội họ đánh đổi là giữa số tiền đền bù họ nhận được với phương thức sản xuất trước của họ Theo như P.GS.TS Nguyễn Trọng Hoài (2005), khi nghiên cứu ở các tỉnh Đông Nam Bộ, ở các

Trang 25

tỉnh Ninh Thuận, Bình Phước cho thấy sự chênh lệch của hộ giàu thường có diện tích đất nhiều hơn những hộ nghèo Theo MDPA (2004), một khi nông dân không còn sở hữu đất, họ dễ dàng rơi vào nghèo Hầu hết người dân bán đất hay cầm cố do gặp rủi ro trong thu nhập, trong kinh doanh và trong cuộc sống hàng ngày Những rủi ro này dẫn đến việc thu nhập của hộ gia đình kém

đi Do đó, trên phương diện phân tích, diện tích đất người dân bị mất có thể được xem là một biến số quan trọng trong việc giải thích làm giảm nguồn thu nhập hộ

1.1.4.3 Nhóm nhân tố việc làm

Số lao động có việc làm trong KCN và KCX : Khả năng tạo ra việc làm

cho người dân vùng ven các KCN và KCX là rất cao khi mà các công ty, doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn trên sẽ tuyển dụng lao động để tận dụng nguồn nhân lực địa phương KCN và KCX sẽ hỗ trợ cho việc tạo ra một khối lượng lớn việc làm cho người dân địa phương Người dân có việc làm tức là

họ sẽ có một nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên hàng tháng góp phần cải thiện thu nhập cho hộ gia đình Nguồn thu nhập từ công nghiệp sẽ ít biếnđộng hơn trong canh tác nông nghiệp khi mà phụ thuộc phần lớn vào điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, mất mùa, khô hạn, lũ lụt và các hiện tượng khác Đây có thể coi là một nguồn lực xã hội làm nên sinh kế bền vững Với giả thuyết trên thì biến nhân tố việc làm tại các KCN và KCX sẽ góp phần tăng thu nhập hộ và nhận giá trị dương trong mô hình định lượng

1.1.4.4 Nhóm nhân tố tài chính, đầu tư

a) Thu nhập từ thay đổi đầu tư sản xuất phương thức kinh doanh

Nếu như người dân nhận tiền đền bù và sử dụng số tiền đó vào một phương án kinh doanh thì sẽ tạo ra một nguồn lực tài chính Chính điều này là đòn bẩy góp phần phát huy các nguồn lực khác phát triển Nguồn lực tài chính này được thể hiện là số tiền tiết kiệm, số tiền đền bù, tiền hỗ trợ tín dụng từ

Trang 26

các tổ chức tín dụng Tất cả nguồn tiền trên tạo thành nguồn vốn khi nó phục

vụ cho việc đầu tư kinh doanh một lĩnh vực nào đó Khảo sát cho thấy, nếu hộ thiếu vốn để sản xuất, kinh doanh dẫn đến hộ đó sẽ chậm cải thiện thu nhập hay thu nhập sẽ không cao Ngược lại, nếu như số tiền đền bù hoặc số tiền họ nhận được từ các khoản vay ưu đãi từ các tổ chức tín dụng được đưa vào đầu

tư kinh doanh hay sản xuất một nghành nghề nào đó thì họ sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ việc kinh doanh sẽ làm tăng nguồn thu nhập cho hộ gia đình Nhận định được từ quy luật sinh kế trên, nghiên cứu cũng chọn nhân tố

về khả năng đầu tư kinh doanh là một biến sẽ giải thích cho mô hình thu nhập

hộ Biến nhân tố trên như giả thuyết phân tích thì biến sẽ làm tăng thu nhập cho người dân Do đó biến thay đổi phương án kinh doanh sẽ nhận giá trị dương trong mô hình định lượng

b) Thu nhập khác

Thông qua quá trình khảo sát sơ bộ, hộ gia đình còn nhận được nguồn thu nhập khác gồm: tiền gởi từ một cá nhân đang làm việc ở nơi khác có mối quan hệ với gia đình gởi cho hộ để cải thiện cuộc sống; các tổ chức nơi khác tài trợ; hộ dân có tham gia các tổ chức nằm bên ngoài nơi họ sống để nhận thu nhập hàng tháng; hộ cải thiện thu nhập bằng cách làm thêm một nghề phụ trong thời gian nghỉ ngơi Tất cả nguồn thu này sẽ góp phần cải thiện thu nhập

và nâng cao chất lượng cuộc sống của hộ Nhân tố thu nhập này sẽ ảnh hưởng tích cực đến đời sống vật chất lẫn tinh thần của hộ Nó sẽ nhận giá trị dương trong mô hình định lượng

1.2 Cơ sở thực tiễn về thay đổi thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở các khu công nghiệp

1.2.1 Một số chính sách về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư

Trong quá trình quản lý của Nhà nước về đất đai, Nhà nước đã dùng nhiều biện pháp khác nhau để phân phối và phân phối lại quỹ đất quốc gia

Trang 27

cho nhiều chủ sử dụng đất, một trong những biện pháp đó chính là thu hồi đất Vậy, thu hồi đất là việc Nhà nước ban hành quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của luật đất đai năm 2013 Có thể nói, thu hồi đất là giai đoạn kết thúc việc sử dụng đất của chủ thể này, nhưng lại là bước kế tiếp của việc sử dụng đất của một chủ thể mới Đó cũng là mối quan hệ qua lại giữa giao đất và thu hồi đất Do vậy, các quy định về thu hồi đất cần kết nối được lợi ích của 3 chủ thể quan trọng là Nhà nước, chủ đầu tư

sử dụng đất và người bị thu hồi đất, đồng thời phải có những chính sách quan tâm tới đời sống kinh tế xã hội của những chủ thể sau thu hồi đất

Đặc trưng của thu hồi đất: Thu hồi đất là một trong những nội dung

quan trọng của quản lý Nhà nước về đất đai Vì vậy, để thực thi nội dung này, quyền lực của Nhà nước được thể hiện nhằm đảm bảo lợi ích không chỉ của Nhà nước mà của toàn xã hội, để đảm bảo được những lợi ích trên thì việc thu hồi đất phải bao gồm những đặc trưng sau:

- Thu hồi đất phải là quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai và thẩm quyền này phải tuân thủ theo Điều 66 của Luật Đất đai 2013

- Việc thu hồi đất phải xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; vì lợi ích quốc phòng, an ninh; vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng; chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người

Nói tóm lại, thu hồi đất là một trong những nội dung quan trọng trong khâu quản lý của Nhà nước về đất đai Song, để có thể ổn định và phát triển kinh tế xã hội sau thu hồi đất, lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước

về đất đai đang là một vấn đề nổi cộm, khó giải quyết Đặc biệt, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà nước với tư cách là chủ đầu tư

Trang 28

lớn nhất có nhiệm vụ xây dựng các cơ sở kinh tế, hạ tầng xã hội, sử dụng đất vào mục đích công cộng, lợi ích cộng đồng, bảo vệ chủ quyền quốc gia cùng với các chủ đầu tư khác có nhu cầu sử dụng đất rất lớn, trong khi những diện tích Nhà nước có nhu cầu sử dụng lại do những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng đất Chính vì thế khi thu hồi đất sẽ không thể tránh khỏi những tác động tiêu cực tới đời sống của các chủ thể bị thu hồi đất, do đó một trong những việc mà Đảng và nhà nước luôn coi trọng đó là hỗ trợ cho người dân ổn định việc làm và đời sống kinh tế sau khi thu hồi đất.

Nhìn chung công tác tác thu hồi đất, bồi thường, tái định cư để phục vụ phát triển luôn là vấn đề được xã hội quan tâm Chính sách về đất đai của Việt Nam từng bước được hoàn thiện và có xu hướng ngày càng có lợi hơn cho người dân bị thu hồi đất Luật Đất đai lần đầu tiên được Quốc hội Việt Nam thông qua năm 1987, đến nay đã có bốn lần sửa đổi, bổ sung (vào các năm 1993, 1998, 2003 và 2013 - có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2014)

Trước những phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội của đất nước

và điều kiện hội nhập quốc tế, một số nội dung của Luật Đất đai, các luật có liên quan và văn bản liên quan đất đai của cả nước và của tỉnh cần phải tiếp tục hoàn thiện, nhất là quyền sử hữu hoặc sử dụng, chính sách thu hồi, bồi thường và nhiều chính sách khác liên quan đến đất đai như thị trường đất đai, bất động sản, sự minh bạch trong thủ tục quản lý đất đai, tính công bằng trong quan hệ đất đai

1.2.2 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và Việt Nam về nâng cao thu

1.2.2.1 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về nâng cao thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất

Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức: Thành phố Nordhorn và

Lingen là những thành phố để lại bài học bổ ích về chuyển đổi công nghệ tạo

Trang 29

việc làm mới, khuyển khích các công ty vào hỗ trợ các công ty mới Doanh nghiệp dệt đã phát triển sớm cách đây hơn 100 năm Thời kỳ hoàng kim là năm 1960 đã có 11.000 công nhân, đến những năm gần đây chỉ còn 1.000 chỗ làm Từ khi công nghiệp dệt đi xuống thành phố đã tạo được 10.000 chỗ làm mới Từ ngành dệt độc tôn này đã chuyển sang đa ngành, bắt buộc phải có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế mạnh mẽ Quá trình cải tạo công nghiệp dệt cũng là quá trình đô thị hóa Thành phố còn tập trung đầu tư vào phát triển hệ thống giao thông để phát triển kinh tế, kết quả đạt được là tạo 18.000 chỗ làm mới Nước Đức còn giải quyết việc làm cho lao động bằng cách lập ra qũy bổ sung

do nhà nước tài trợ, mục đích tạo thêm việc làm, trợ cấp thất nghiệp và phân tích cơ cấu thất nghiệp, để xây dựng các chương trình bồi dưỡng nâng cao tay nghề, tạo việc làm thay thế đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, hạn chế tình trạng thất nghiệp Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp nhà nước đang chuyển đổi cơ cấu kinh tế và Đô thị hóa ở các vùng ngoại vi thành phố, đòi hỏi chuẩn bị nguồn nhân lực từ con em nông dân để

họ bước vào làm việc ở các khu liên doanh và các khu công nghiệp mới

Kinh nghiệm của Trung Quốc: Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất

thế giới Tốc độ đô Đô thị hóa cũng đang diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canh tác hạn chế trong khi dân số đang làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùng nông thôn ngày càng tăng Hiện nay, ước tính Trung Quốc có từ 100-

120 triệu lao động nông thôn không có việc làm, hàng năm lại tăng thêm 6 - 7triệu lao động [18]

Với lực lượng lao động nông thôn dư thừa này, hàng năm có hàng triệu người nhập cư vào các vùng thành thị Thực trạng này đã gây ra rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý đô thị về các mặt như: quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh, sức khoẻ và nhiều vấn đề khác Vấn đề dư thừa lao động tại các khu công nghiệp, nhất là các khu dân cư lớn trong quá trình Đô thị hóa

Trang 30

luôn là vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết của các nhà quản lý Trong những năm qua, mặc dù vẫn còn tình trạng di cư đến các đô thị lớn nhưng với các biên pháp hữu hiệu Trung Quốc đã đạt được những thành công trong việc hạn chế sức ép về việc làm Giải pháp chủ yếu mà Trung Quốc áp dụng để giải quyết việc làm cho các khu công nghiệp là: Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút việc làm Các giai đoạn phát triển của xí nghiệp địa phương; Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp địa phương tạo điều kiện thu hút lao động dư thừa; Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư ở các thành phố lớn.

Kinh nghiệm ở Nhật Bản: Những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, đời

sống của nông dân Nhật Bản gặp rất nhiều khó khăn, ruộng đất tập trung vào tay địa chủ, nông dân thiếu việc việc trầm trọng Để giải quyết tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm ở nông thôn chính phủ Nhật Bản đã tiến hành:

+ Cải cách ruộng đất và thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp Cải cách ruộng đất đã khuyến khích người nông dân đầu tư thêm nhiều lao động vào ruộng đất chính họ sở hữu Để tăng sản lượng, số ngày làm việc bình quân một vụ trên diện tích gieo trồng được tăng lên Bên cạnh đó, thâm canh tăng vụ, hợp lý hoá cơ cấu cây trồng đã hạn chế được tình trạng thiếu việc làm theo thời vụ

+ Các chính sách và chương trình hỗ trợ nông thôn khác nhau như: Chương trình tưới tiêu, cung cấp tín dụng và trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dục nông học vào trường phổ thông, hình thành các trung tâm nghiên cứu và trạm ứng dụng thử nghiệm phục vụ nông dân Những chương trình này đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho nông dân Sức mua ở các khu vực nông thôn tăng lên, tạo điều kiện để phát triển kinh tế phi nông nghiệp, từ đó thu nhập của các hộ nông dân đã không ngừng tăng lên Một nguyên nhân thành công của Nhật Bản trong việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp là mở rộng các dịch vụ

Trang 31

ngành nông nghiệp, bán lẻ và phân phối các lĩnh vực, nền kinh tế thoát khỏi

áp lực của di dân và cạnh tranh quốc tế

Kinh nghiệm ở Đài Loan: Vào đầu những năm 1950, do đất đai bị hạn

chế cộng với số lượng lớn dân cư chảy từ Trung Quốc sang dẫn đến nguy cơ thất nghiệp lớn ở nông thôn, nhưng nhờ công nghiệp nông thôn phi tập trung phát triển mà từ những năm 1960 nền kinh tế có thể duy trì ở mức gần như toàn dụng lao động Lao động nông nghiệp từ trên 50% những năm 1950 đã rút xuống còn 14,2% vào năm 1988 và được chuyển sang hoạt động phi nông nghiệp Việc tăng trưởng công nghiệp phi tập trung đã làm giảm nhẹ sức ép đối với đất nông nghiệp mà không cần phải chuyển gánh nặng đó cho khu vực thành thị Thay vì, dân cư nông thôn đã có thể đi về hàng ngày đến các nhà máy đặt ở các vùng lân cận Từ thực tế đó của Đài Loan có thể rút ra một số bài học về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá:

- Nông nghiệp được ưu tiên phát triển làm cơ sở để phát triển công nghiệp nông thôn mà trước hết là công nghiệp chế biến nông sản Lao động

dư thừa trong nông nghiệp được chuyển sang các ngành nghề công nghiệp nhẹ nông thôn Năm 1953 chính quyền Đài Loan đã đưa ra nội dung hỗ trợ như sau: Bãi bỏ việc đổi lúa lấy phân bón; Bãi bỏ các khoản thu phụ đối với ruộng đất; Giảm lãi suất tín dụng nông nghiệp; Nâng cấp giao thông nông thôn; Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn; Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho nông nghiệp; Khuyến khích lập khu công nghiệp chuyên ngành;Tăng cường cho công tác nghiên cứu, thí nghiệm phục vụ sản xuất; Khuyến khích đầu tư xây dựng nhà máy ở nông thôn

- Chú trọng phát triển doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ và vừa, lấy công nghệ sử dụng nhiều lao động là chính Năm 1971 quy mô trung bình một doanh nghiệp là dưới 15 lao động

Trang 32

- Công nghiệp nông thôn phát triển theo hướng phân tán, phi tập trung nhưng có liên kết với nhau và liên kết với các công ty lớn ở đô thị Công nghiệp nông thôn Đài Loan chủ yếu là các công nghiệp truyền thống thu hút phần lớn lao động dư thừa từ sản xuất nông nghiệp.

- Nhà nước có chính sách khuyến khích xây dựng nhà máy ở nông thôn, chú ý vào phát triển cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực ở nông thôn

- Phát triển các cơ sở nông công nghiệp được bố trí ở gần với vùng nguyên liệu cũng như nhà máy chế tạo máy nông nghiệp Kế hoạch phát triển vùng được xây dựng để thúc đẩy thành lập các khu công nghiệp vùng nông thôn

- Trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp không bị coi nhẹ, nông dân không bị loại ra khỏi phạm vi hưởng phúc lợi từ nông nghiệp

Kinh nghiệm ở Malaysia: Chính phủ Malaysia đã có biện pháp, chính

sách và bước đi phù hợp để giải quyết việc làm cho lao động nông thôn Kinh nghiệm của Malaysia cho thấy:

- Thời gian đầu của quá trình công nghiệp hoá, Malaysia chú trọng phát triển nông nghiệp trong đó đặc biệt chú ý đến phát triển cây công nghiệp dài ngày dựa trên lợi thế về đất đai, khí hậu Cùng với phát triển nông nghiệp, Malaysia đã tập trung phát triển công nghiệp chế biến, vừa giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp vừa giải quyết việc làm và thu nhập cho nông dân Trong những năm 60, Malaysia đã chú trọng đến đầu tư theo chiều sâu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và chú ý đến phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp như công nghiệp cơ khí, chế tạo máy móc phục vụ cơ giới hoá nông nghiệp

- Khai phá những vùng đất mới để phát triển sản xuất nông nghiệp theo định hướng của chính phủ để giải quyết việc làm mới cho lao động dư thừa ngay trong khu vực nông thôn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển Nhà

Trang 33

nước không chỉ đầu tư vào cơ sở hạ tầng cứng mà còn đầu tư vào các cơ sở phúc lợi xã hội khác, kèm theo đó là cơ chế cung ứng vốn, vật tư, thông tin, hướng dẫn khoa học kỹ thuật Có cơ chế phát huy chủ động sáng tạo của người dân trong khi tham gia vào các dự án đảm bảo dự án đáp ứng được đúng yêu cầu bức xúc của người dân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

- Thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước vào phát triển công nghiệp mà trước hết là công nghiệp chế biến nông sản để nâng cao giá trị gia tăng cũng như giải quyết lao động và chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ Thời gian này Malaysia có chính sách thu hút mạnh đầu

tư nước ngoài thông qua khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu tại 50 khu mậu dịch tự do để thu hút các công ty nước ngoài Biện pháp này đã có tác dụng: Tạo việc làm cho số lao động dư thừa; Đào tạo công nhân, nâng cao tay nghề và trình độ quản lý cho những người lao động; Các công ty nước ngoài sẽ để lại cơ sở vật chất - kỹ thuật đáng kể khi hết thời hạn theo hợp đồng đã ký

- Chính phủ Liên bang khuyến khích chính phủ bang có quy hoạch phát triển cụ thể và lâu dài

- Khi nền kinh tế đạt đã đạt được mức toàn dụng lao động, Malaysia chuyển sang sử dụng nhiều vốn và bước đầu sử dụng nhiều công nghệ hiện đại

- Thực hiện mối quan hệ gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học (các viện nghiên cứu của quốc gia và bang), các trung tâm đào tạo của quốc gia, bang với các tổ chức công nghiệp chế biến, các hộ nông dân (đặc biệt là các chủ đồn điền cỡ lớn và trung) tại các vùng nguyên liệu để ứng dụng kỹ thuật, công nghệ mới, cung cấp lao động đã qua đào tạo nhằm phát triển đồng

bộ công nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp, xây dựng công nghiệp nông

Trang 34

thôn Đây là yếu tố rất quan trọng tiếp tục thúc đẩy phát triển nông nghiệp, công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn.

1.2.2.2 Kinh nghiệm của Việt Nam về nâng cao thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất

Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc: Vĩnh Phúc là tỉnh có tốc độ đo thị

hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ 1997 đến 2007) nhờ phát triển các khu công nghiệp tốc đọ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 17,1% Nhung cũng chính

vì thể mà nhiều diện tích đất nông nghiệp đã bị thu hồi để xây dụng các khu

đô thị, KCN…Mỗi năm trên địa bàn tỉnh có hàng nghìn nông dân bị mất việc làm Theo thông kê của các cơ quan chức năng sau 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu hồi 4000ha đất nông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị và hạ tầng Việc thu hồi đất đã khiến hơn 10.000 hộ dân mất mội phần hoặc toàn bộ đất ở đất canh tác Sau khi bị thu hồi đất, có khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm Thời gian tới đây đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh sẽ tiếp tục bị thu hồi để phục

vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa Số lượng nông dân không còn

tư liệu sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn trong vẫn đề giải quyết việc làm Trước thực trạng đó, các cấp các nghành chức năng của tỉnh đã có nghiều chủ trương, biện pháp giải quyết cơ bản…

Với quan điểm: Có “ an cư” mới “ lạc nghiệp” Để sớm ổn định đời sống cho người dân có đất bị thu hồi phải nhanh chóng giải quyết tốt vấn đề tái định cư, đây là quan điểm nhất quán của Tỉnh Vì vậy, tỉnh chủ trương khi tái định cư cho người dân phải bảo đảm nơi ở mới có điều kiện sống, sinh hoạt tốt hơn nơi ở cũ Trên thực tế, đã có nhiều địa phương làm khá tốt việc này, được dư luận nhân dân đánh giá cao như Đồng Nai, Bình Dương, Đà Nẵng…

Trang 35

Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã sớm xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng dành đất phát triển công nghiệp” Theo đề án, từ thời điểm thực hiện cho đến 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc, thiết bị; Hỗ trợ học phí cho 14.000 lao động nông thôn (chủ yếu là thanh niên); Phát triển hệ thống các trung tâm giới thiệu việc làm… Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 45% vào năm 2010 Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động nông thôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa qua đào tạo nghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã qua đào tạo nghề); Hỗ trợ học phí với mức từ 250.000 đến 300.000 đồng/tháng/học viên/khóa học đào tạo nghề Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao động đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗi lao động có đất bị thu hồi

đi làm việc ở các tỉnh phía Bắc được hỗ trợ 300.000 đồng, đi miền Trung 500.000 đồng và đi miền Nam là 700.000 đồng

Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển đổi nghề, Tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ Để làm được điều này, một mặt, tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng nghề truyền thống, các nghề thủ công, tiểu thủ công… Huy động Hội Nông dân, Hội Phụ nữ… vào cuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho những đối tượng phù hợp, có nhu cầu Mặt khác, một mô hình được dư luận đánh giá có tính “đột phá” cao, đã và đang được tỉnh áp dụng rộng rãi Đó là

mô hình đổi đất lấy “dịch vụ” Theo đó, các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp bị thu hồi từ 40% tổng diện tích đất nông nghiệp trở lên, sẽ được cấp đất để làm dịch vụ Khi bị thu hồi 360m2 sẽ được cấp 10m2 đất dịch vụ (tối thiểu là 20m2, tối đa là 100m2) Đất dịch vụ sẽ được nông dân sử dụng để xây nhà cho công nhân thuê, kinh doanh hang ăn, tạp hóa… Đây thực sự là một quyết định đúng đắn, được sự đồng tình, nhất trí cao của đông đảo người dân

Trang 36

có đất bị thu hồi Đất dịch vụ không những giải quyết việc làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng…

Từ thực tiễn giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân, Tỉnh Vĩnh Phúc ta thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề cụ thể cho từng đối tượng Tỉnh cũng đã có những hỗ trợ dành cho những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao Tuy nhiên, đó chỉ mới là những giải pháp bước đầu giải quyết được tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân Các biện pháp đó chưa mang tính đồng bộ và dài hạn, chưa lồng ghép sâu rộng với các chương trình, dự án của Tỉnh cũng như trên phạm vi toàn quốc

Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh:

Tỉnh Bắc Ninh, trước khi dạy nghề, lao động được các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp tư vấn các nghề mà các khu công nghiệp, làng nghề

có nhu cầu, đồng thời lao động cũng được tiến hành phân loại theo ba tiêu chí

để đưa đi đào tạo cho phù hợp Tỉnh Bắc Ninh cũng cấp đất giãn dân và đất khu dân cư dịch vụ cho nông dân chuyển sang làm dịch vụ quanh các khu công nghiệp; mức đất được cấp với tỉ lệ 10% đất bị thu hồi Đối với những hộ dân tiếp tục canh tác trên diện tích đất còn lại, Tỉnh đã thực hiện mạnh mẽ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, theo hướng thâm canh gắn với điều kiện sinh thái Đã tạo ra được 173 cánh đồng với 1.643 ha đạt từ 50 đến 100 triệu đồng;

đã xây dựng hàng ngàn mô hình trình diễn tại 8 huyện tạo ra những vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn công nghệ cao

Ngoài ra tỉnh Bắc Ninh còn hỗ trợ kinh phí cho những người lao động trong vùng thu hồi đất tham gia xuất khẩu lao động từ 1,4 đến 1,7 triệu đồng/lao động, với những lao động khó khăn còn được vay từ 25 đến 30 triệu đồng

Trang 37

Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hoá diễn ra rất cao Mỗi năm

có hàng ngàn ha đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng Năm

2013 có khoảng 800 ha đất canh tác chuyển thành đất ở nông thôn, 551 ha được chuyển sang làm đất ở đô thị, hơn 2.000 ha được chuyển sang cho những mục đích sử dụng khác; Năm 2014, có khoảng 10.000 ha được chuyển sang mục đích chuyên dùng và đất ở Như vậy thành phố đang có hàng nghìn

hộ nông dân bỗng chốc trở thành thị dân Tuy nhiên, hàng trăm vấn đề đã nảy

ra đối với họ vì mất đất, song họ sẽ làm gì, cuộc sống của họ thay đổi ra sao

Theo báo cáo của sở Lao động, Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh, năm 2014, thành phố đã giải quyết được cho 290.035 lao động, đạt 109,4% chỉ tiêu kế hoạch năm Cụ thể: các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố giải quyết cho 235.179 lao động trong đó có hơn 140.000 chỗ làm mới; Quỹ xoá đói giảm nghèo và quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm giải quyết việc làm cho 43.917 lao động; Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên địa bàn thành phố đưa được 9.326 người đi làm việc ở nước ngoài Trung tâm bảo trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người tàng tật giới thiệu việc làm ổn định cho 1.613 lao động trong đó có 603 người lao động tàng tật

Những công trình nghiên cứu và những kinh nghiệm của các địa phương trên chủ yếu thể hiện những luận điểm, luận chứng của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và các cơ quan quản lý nhà nước về biến động đất đai, xu hướng chuyển đổi cơ cấu lao động, xu hướng phát triển đô thị, công nghiệp trong thời gian qua Một số nghiên cứu có đi sâu hơn phân tích về mức sống, thu nhập, lao động ở một số vùng, địa phương và nêu lên một số kinh nghiệm điển hình giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho các hộ dân bị thu hồi đất Tuy nhiên do các nghiên cứu thực hiện trong phạm vi một số địa bàn

Trang 38

cụ thể ở những điều kiện và khía cạnh nhất định nên khó áp dụng cho các địa bàn khác có những điều kiện khác nhau.

Như vậy, giải pháp chủ yếu các tỉnh có diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chuyển sang xây dựng các khu, cụm công nghiệp là giải quyết vấn đề lao động, việc làm như: Hỗ trợ dạy nghề cho lao động mất đất; Xuất khẩu lao động; Thu hút lao động vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp (nhưng tỷ

lệ nhỏ) Ưu đãi các Doanh nghiệp sử dụng lao động chưa qua đào tạo; Hỗ trợ vốn chuyển đổi nghề, khuyến khích phát triển nghề truyền thống để thu hút lao động; Dành quỹ đất trong tổng diện tích thu hồi, chuyển mục đích qua sản xuất kinh doanh, cấp lại cho các hộ dân có nhu cầu (theo tỷ lệ diện tích thu hồi nhưng không quá 100m2) để phát triển thương mại, dịch vụ

1.2.3 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây

Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm dân số và phát triển Pháp đã có công trình “Những con đường về thành phố” nghiên cứu khá đầy

đủ đặc điểm người di chuyển đến thành phố, sự thay đổi trong cuộc sống của

họ, những tác động đến việc làm, thu nhập của người dân di cư đến thành phố

Hồ Chí Minh Trong đó, kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ những hộ gia đình có người di chuyển vào sống tại thành phố Hồ Chí Minh có nguồn thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp cao hơn tỷ lệ các hộ thu nhập chính từ sản xuất phi nông nghiệp; và sự khan hiếm đất canh tác không phải là nguyên nhân chính cho sự di chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh

Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Cành đã tổng quan về thực trạng mức sống dân cư theo các giai đoạn, diễn biến mức sống dân cư, phân hóa giàu nghèo và những kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam Theo đó, tiêu chí phân loại mức sống để điều tra được chia làm 5 nhóm hộ từ thấp đến cao Nhóm hộ nông dân có mức thu nhập, tích lũy, chi tiêu thấp; học vấn thấp chiếm tỷ lệ cao nhất; về nhân khẩu nhiều, nhóm hộ nông dân có tỷ lệ cao nhất; về diện tích nhà ở cao, nhóm hộ nông dân có cao hơn các nhóm hộ

Trang 39

khác, tuy nhiên chỉ tiêu diện tích/nhân khẩu cao thì nhóm hộ nông dân lại có

tỷ lệ thấp; nhóm hộ nông dân có tỷ lệ có nhà cho thuê là rất nhỏ so với nhóm

hộ giàu Tỷ lệ hộ nông dân có đời sống khá lên theo thời gian thấp hơn các nhóm khác Kết quả điều tra cũng cho thấy sử dụng thời gian lao động nông nghiệp ở các vùng nông thôn Việt Nam chỉ chiếm từ 40% đến 60% thời gian làm việc quy đổi (8 giờ/ngày và 6 ngày/tuần) Công trình nghiên cứu đã đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao mức sống dân cư và giảm khoảng cách phân hóa giàu nghèo; tuy vậy các giải pháp còn ở tầm rộng, chưa cụ thể đi sâu vào đối tượng người nông dân bị mất đất sản xuất nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa [12]

Theo kết quả điều tra của trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, tại các vùng mất đất do đô thị hóa và xây dựng khu công nghiệp ở vùng đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ lao động không được đào tạo nghề, không có chuyên môn rất cao: Hà Nội 76,2%, Hải Phòng 89%, Bắc Ninh 87% Do đó, số lao động không có việc làm sau khi bị thu hồi đất tăng nhanh Tại Hà Nội, tỷ lệ lao động không có việc làm trước khi thu hồi đất là 4,7% tăng lên 12,4% sau khi thu hồi đất Số người thất nghiệp ngày càng tăng, cơ cấu nghề nghiệp cũng thay đổi: số người chuyển sang buôn bán tăng 2,72%, chuyển sang làm

xe ôm tăng 3,64%, số người làm công việc khác tăng 4,1%, trong khi số người làm ở các khu công nghiệp chỉ tăng 2,79% Vẫn còn nhiều vấn đề bất cập trong quản lý nhà nước về chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân mất đất Tại Hà Nội, một số lao động mất đất được đào tạo bằng nguồn vốn của Nhà nước, tỷ lệ sau đào tạo được nhận vào làm việc là 33%, trong lúc đào tạo bằng vốn của gia đình là 45,6% Kế quả điều tra về mức thay đổi thu nhập của các

hộ dân ở 3 địa phương sau khi thu hồi đất so với trước có xu hướng giảm [1](Xem Bảng 1.2)

Loạt bài điều tra của báo nông nghiệp Việt Nam ở một số tỉnh phía bắc (tháng 3/2008) về sự tương phản giữa mất việc làm, giảm thu nhập người

Trang 40

nông dân khi mất đất với việc thu hồi đất nông nghiệp để quy hoạch các khu công nghiệp với tỷ lệ sử dụng đất (thường gọi là tỷ lệ lấp đầy) rất thấp [8].

Bảng 1.1 Mức thay đổi (%) thu nhập của các hộ dân trước thu hồi đất so với sau thu hồi đất

Tăng thêm

Tăng không lớn

Không

Giảm nhiều

Nguồn: Điều tra của Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, năm 2008.

Nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội:

“Hậu giải phóng mặt bằng ở Hà Nội - Vấn đề và giải pháp”; theo đó kết quả cuộc điều tra ở một số địa phương đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long năm 2006 cho thấy, hầu hết các địa phương không còn lao động dưới 40 tuổi Riêng tỉnh Thái Bình có 45% lao động đã rời khỏi nông nghiệp, 20 vạn người đi làm ăn xa, chỉ còn lại phụ nữ và người già ở nhà Tỉnh Bắc Ninh sau khi thu hồi rộng đất chỉ có 5 - 6% người tìm đượcviệc làm, còn 94% người thất nghiệp Nghiên cứu có đưa ra 5 giải pháp đối với nông dân mất đất nông nghệp Tuy nhiên, các giải pháp này mang tính định hướng chung chung khó áp dụng [10]

Luận văn thạc sỹ kinh tế với đề tài “Đời sống của nông dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp do đô thị hoá và phát triển công nghiệp tại huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương” đã nghiên cứu khá sâu về mối quan hệ giữa việc thu hồi đất phát triển công nghiệp với việc làm, thu nhập, đời sống của nông dân; theo nghiên cứu này thì công nghiệp và đô thị hóaở địa bàn nghiên cứu

đã làm thu nhập và chi tiêu các hộ gia đình tăng lên, tỷ lệ người lao động thất nghiệp thấp, tỷ lệ hộ nghèo giảm Các nông hộ giảm đất nông nghiệp tiếp tục

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w