1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành phần loài thú và ảnh hưởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hóa

83 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, được các tổ chức quốc tếcông nhận là một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao.Trong đó có khu hệ thú Mammalia với 289 loài

Trang 1

NGễ KIM THÁI

THàNH PHầN LOàI THú Và ảNH HƯởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn các loài thú khu bảo tồn thiên nhiên bắc hướng hoá

Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60.62.60

Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Người hướng dẫn khoa học:tiến sĩ phạm trọng ảnh

Hà tây – 2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

Từ lâu, động vật hoang dã giữ vai trò quan trọng trong việc cân bằngsinh thái tự nhiên và nhiều mặt trong đời sống con người Là nguồn gốc củatất cả các loài động vật chăn nuôi hiện nay, nó chứa đựng tiềm tàng nguồngen quý giá mà chúng ta có thể tuyển chọn, lai tạo chúng thành những loài vậtnuôi có tính kháng bệnh cao, năng suất cao, lại thích nghi với điều kiện khíhậu của từng địa phương Động vật hoang dã là nguồn tài nguyên có thể táitạo, là tiềm năng thật sự nếu chúng ta biết khai thác, sử dụng hợp lý Nhưngchúng lại bị tác động mạnh mẽ của con người vào nhiều mục đích khác nhau

và với tình trạng rừng vẫn ngày càng bị giảm sút chất lượng và diện tích đãlàm cạn kiệt dần nguồn tài nguyên quý giá này Nhiều loài trở nên rất hiếm,một số loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngay trên vùng đất màchúng đã sinh ra và tồn tại trong một thời gian dài

Nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên,môi trường nói chung, động vật hoang dã nói riêng là một trong những vấn đềbức xúc và nóng bỏng nhất hiện nay

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á, được các tổ chức quốc tếcông nhận là một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa dạng sinh học cao.Trong đó có khu hệ thú (Mammalia) với 289 loài và phân loài đã được ghinhận [15] Để bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật một cách bền vững,Việt Nam đã thành lập được 30 vườn quốc gia, 56 khu bảo tồn thiên nhiên và

37 khu bảo vệ cảnh quan với diện tích khoảng 2.541.000 km2 [5] Đây lànhững biện pháp tích cực, nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học nói chung

và duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của đấtnước

Khu BTTN Bắc Hướng Hoá được thành lập theo quyết định số:479/QĐ-UBND ngày 14/03/2007 “Về việc phê duyệt dự án quy hoạch và đầu

Trang 3

tư khu BTTN Bắc Hướng Hoá huyện Hướng Hoá” Đây là khu BTTN thứ haiđược thiết lập trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Về đa dạng sinh học, các kết quả khảo sát bước đầu của tổ chứcBirdlife quốc tế chương trình Việt Nam cho thấy đây là điểm nóng về đa dạngsinh học và là nơi sinh sống của các loài động thực vật có ý nghĩa bảo tồnquốc tế Thú lớn và linh trưởng có các loài: Sao la, Bò tót, Mang lớn, Vọoc

Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng, Chà vá chân nâu, Thỏ vằn… Các loài chim đặchữu đang bị đe dọa ở cấp quốc gia và quốc tế có: Gà lôi lam mào trắng, Trĩsao, Hồng hoàng, Niệc nâu, Gà so Trung Bộ Tuy có giá trị đa dạng sinh họccao, nhưng các nghiên cứu để đánh giá các giá trị này hiện vẫn đang đượcthực hiện rất hạn chế Các thông tin và tư liệu đánh giá về giá trị đa dạng sinhhọc ở đây cũng còn rất ít, trong đó kể cả các nghiên cứu liên quan khu hệ thú

và nguồn tài nguyên rừng

Đặc biệt, công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và các loài thúnói riêng liên quan chặt chẽ với đời sống kinh tế-xã hội của cộng đồng dân cưtrong vùng Vì thế, điều tra tìm hiểu mối quan hệ giữa cộng đồng với đa dạngsinh học nói chung và với các loài thú nói riêng, tình hình săn bắt buôn bánthú trong khu BTTN Bắc Hướng Hoá để đề xuất một số giải pháp bảo tồn đadạng sinh học với sự tham gia của cộng đồng là một việc làm hết sức cầnthiết

Xuất phát từ cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Thành phần loài thú và ảnh hưởng của cộng đồng dân cư đối với công tác bảo tồn các loài thú Khu b ảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá, Tỉnh Quảng Trị ".

 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

*Mục tiêu nghiên cứu:

- Điều tra, đánh giá và xây dựng danh lục thú rừng cho Khu BTTN BắcHướng Hoá

Trang 4

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn.

*Nội dung nghiên cứu:

- Điều tra, tổng hợp và phân tích thành phần loài thú, lập danh lục thútại địa điểm nghiên cứu

- Xác định giá trị bảo tồn thông qua đánh giá các loài quý, hiếm, đặchữu của khu vực nghiên cứu

- Xác định sự phân bố loài theo sinh cảnh, theo vùng địa lý và ước tínhmức độ phong phú của các loài thú ở khu vực nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng khai thác sử dụng và buôn bán các loài động vậthoang dã ở Khu BTTN Bắc Hướng Hoá và một số khu rừng đặc dụng lân cận

- Xác định mục đích, thị trường và mạng lưới buôn bán động vật hoangdã

- Xác định yếu tố tác động chính đến khu hệ thú ở Khu BTTN BắcHướng Hoá

- Tổng hợp, phân tích và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quảtrong công tác bảo tồn

 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

*Ý nghĩa khoa học

- Đề tài tập trung nghiên cứu, tổng hợp và phân tích các thông tin,nhằm khẳng định, phát hiện đầy đủ hơn các giá trị và tiềm năng tài nguyênthú cũng như ý nghĩa và tầm quan trọng của chúng đối với công tác bảo tồn

Trang 5

trong phạm vi khu BTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cả vùng BắcTrung Bộ và toàn quốc.

- Có một danh lục đầu tiên đầy đủ hơn về các loài thú cho khu BTTNBắc Hướng Hoá

- Xác định được hiện trạng tài nguyên thú tại khu BTTN Bắc Hướnghoá

- Đánh giá được giá trị bảo tồn, số lượng các loài thú quý hiếm, đặchữu hiện có tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá

- Xác định được hiện trạng khai thác, sử dụng và buôn bán các loài thútại vùng lõi và vùng đệm khu BTTN Bắc Hướng Hoá

*Ý nghĩa thực tiễn

- Đây sẽ là nghiên cứu đầu tiên ở tỉnh Quảng Trị về lĩnh vực này Hyvọng các kết quả của đề tài sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà hoạch địnhchính sách, cơ quan quản lý các cấp xây dựng kế hoạch bảo tồn và quản lý tàinguyên thiên nhiên của tỉnh Quảng Trị

- Cung cấp cơ sở khoa học cho việc đánh giá và quy hoạch xây dựngkhu BTTN Bắc Hướng Hóa

- Lựa chọn và đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên hợp lý để thuhút cộng đồng tham gia vào việc bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời gắn kết

sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển sản xuất bền vững ở địaphương

- Luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ, giáo viên, học sinh, sinhviên học tập, giảng dạy, nghiên cứu trong lĩnh vực sinh học và quản lý bảotồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 6

Chương 1

SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÚ

Ở BẮC VIỆT NAM VÀ QUẢNG TRỊ

1.1 Sơ lược tình hình nghiên cứu thú ở Bắc Việt Nam

Ở nước ta, từ lâu đời thú đã được nhân dân ta sử dụng làm thực phẩm,dược liệu, xuất khẩu , chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu về thú ởnước ta bắt đầu khá sớm

Trong khoảng thời gian từ năm 1724 – 1784, Lê Quý Đôn đã viết cáccuốn sách “ Vân đài loại ngữ” và “Phủ biên tạp lục”, trong đó ông thống kênguồn lợi động vật của một số địa phương Tiếp theo đó là nhiều công trìnhkhác như “Đại nam nhất thống chí” của nhà bác học triều Nguyễn (1874)thống kê các loài thú phổ biến ở nhiều tỉnh trong cả nước

Brousmiches (1887) đã ghi nhận nhiều loài thú ăn thịt như Cáo - Vulpes

vulpes, Rái cá thường - Lutra lutra, Mèo rừng - Prionailurus bengalensis, Hổ

- Panthera tigris, Báo hoa mai - Panthera pardus, trong tài liệu "Nhìn chung

về lịch sử tự nhiên của Bắc bộ”

Heude (1894), ghi nhận loài Sơn dương - Capricornis maritimus phân

bố ở miền bắc Việt Nam

Billet (1896), các mô tả loài Hươu sao Cervus nippon, Thỏ rừng

-Lepus sinensis và tê tê - Manis pentadactyla thu được ở tỉnh Cao Bằng.

Pousargues (1898), ghi nhận loài Voọc đen - Pithecus francoisi có ở

vùng biên giới phía Bắc và Trung bộ

Ménégaux (1906) mô tả thêm 2 loài thú ăn thịt mới: Chồn bạc má bắc

-Melogale moschata và loài Cầy hương - Viverricula indica.

Boutan (1906) trong sách "Mười năm nghiên cứu động vật" đã ghi nhận

thêm 2 loài thú ăn thịt mới: Cầy móc cua Herpestes urva, Rái cá vuốt bé

Trang 7

-Aonyx cinerea, các loài thú móng guốc và khỉ hầu, Hươu sao - Cervus nippon, Hươu xạ - Moschus berezovskii, Nai - Cervus unicolor, Lợn rừng - Sus scrofa, Hoẵng - Muntiacus muntjak, Khỉ vàng - Macaca mulatta, Khỉ

đuôi lợn - M nemestrina, Khỉ mốc - M assamensis, Thỏ rừng - Lepus

nigricolis cũng được ghi nhận.

Osgood (1932) đã tổng hợp nhiều tài liệu về thú do các đoàn nghiên cứuthú Đông Nam Á Kelley -Roosevelts và của Delacour, Stevens, đã ghi nhận

172 loài và phân loài thú ở Việt Nam Đây là một công trình khoa học tạo nênbước ngoặt trong lịch sử nghiên cứu thú ở nước ta và Đông Dương

Từ năm 1962 - 1966, Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước đã tổ chứcnghiên cứu liên hợp động vật - ký sinh trùng, côn trùng gồm nhiều cơ quanphối hợp: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà Nước, Trường Đại học Tổnghợp Hà Nội , Trường Đại học Y khoa, Trường Đại học Nông Nghiệp I ,Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sốt rét Ký sinh trùng và Côn trùng.Đoàn nghiên cứu do Ban Sinh vật-Địa - Ủy ban Khoa học và kỹ thuật Nhànước chủ trì đã tiến hành điều tra , khảo sát tổng hợp về động vật trên 12 tỉnh

ở miền Bắc Việt Nam Kết quả của các đợt khảo sát được Đặng Huy Huỳnh

và cs tổng kết và ghi nhận 169 loài thú thuộc 32 họ và 11 bộ, trong đó, có 85loài thú hoang dã phân bố ở vùng Đông Bắc Việt Nam[11]

Lê Hiền Hào (1973) đã giới thiệu một số đặc điểm sinh học và phân bốcủa những loài thú kinh tế miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Thú kinh tế miềnBắc Việt Nam”[9]

Công trình nghiên cứu của Cao Văn Sung và cs (1980) Về những loàigặm nhấm ở Việt Nam đã ghi nhận 64 loài, thuộc 23 giống, 7 họ[24]

Đào Văn Tiến (1985) đã ghi nhận 129 loài thuộc 32 họ, 11 bộ trong

“Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam”[25] Đáng chú ý có 8 loài lần đầu tiênghi nhận ở Việt Nam và 10 loài lần đầu tiên ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam

Trang 8

Từ đầu năm 1980 đến nay, các dự án nghiên cứu thành lập các VQG, khuBTTN mới bắt đầu triển khai mạnh Nhiều kết quả nghiên cứu thú trong cáccác khu BTTN và VQG lần lượt được công bố

Dang Huy Huynh et al.,(1996), đã ghi nhận 31 loài thú thuộc 17 họ và 9

Đặng Huy Huỳnh, Đào Văn Tiến, Cao Văn Sung, Phạm Trọng Ảnh,

Hoàng Minh Khiên (1994) đã xuất bản “Danh lục các loài thú (Mammalia)

Việt Nam” [12]Trong danh lục này đã ghi nhận 223 loài thú thuộc 37 họ, 12bộ

Lê Vũ Khôi (2000) đã xuất bản cuốn“Danh lục các loài thú ở ViệtNam”[15] ghi nhận 289 loài và phân loài thuộc 40 họ, 14 bộ

Trịnh Việt Cường (2001) kết quả điều tra thành phần các loài thú ở VQG

Pù Mát, sơ bộ thống kê được 50 loài thú thuộc 20 họ của 7 bộ, trong đó có 24loài quí hiếm

Lê Trọng Trãi và cs (2004) [20] đã ghi nhận ở vườn quốc gia Ba Bể có

55 loài thú thuộc 25 họ bà 8 bộ; ở khu BTTN Nà Hang đã ghi nhận 83 loài thúthuộc 23 họ và 8 bộ[26]

Trang 9

Vùng Bắc Trung Bộ là khu vực có địa hình đa dạng hiểm trở, đặc biệtcác vùng dọc biên giới Việt-Lào, đã tạo nên đa dạng các hệ sinh thái từ miềnđồng bằng ven biển đến các vùng gò đồi, núi đá có nhiều hang động nổi tiếngnhư động Phong Nha (VQG Phong Nha Kẻ Bàng) đó là nền tảng tạo thànhtính ĐDSH cao Các hệ sinh thái ở Bắc Trung Bộ luôn giữ vai trò quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội vùng.

Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về thú đã được tiến hành trongvùng Điều đặc biệt trong 2 năm (1992 và 1994), các nhà khoa học đã pháthiện được ba loài thú lớn, trong đó có hai loài thuộc vùng rừng núi Hà Tĩnh,

đó là Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) phát hiện tại Khu BTTN Vũ

Quang-Hà Tĩnh năm 1992 và loài Mang lớn hay còn gọi là Mang bầm

(Megamuntiacus vuquangensis) cũng được tìm thấy ở khu BTTN Vũ

Quang-Hà Tĩnh, nơi mà trước đây không lâu đã phát hiện loài trĩ cuối cùng trên thế

giới, loài Gà lam đuôi trắng hay còn gọi là Gà lừng (Lophura hatinhensis).

Phạm Nhật, Nguyễn Xuân Đặng, 1999 trong báo cáo “Primates in

Phong Nha Ke Bang area: The status overview and recomendations for

further survey and monitoring” gửi cho WWF Việt Nam đã cho biết vùng

Phong Nha Kẻ Bàng là trung tâm Linh trưởng quan trọng của Việt Nam Ítnhất đã ghi nhận được 11 trên tổng số 25 loài và phân loài Linh trưởng có ởViệt Nam Chưa có một vùng nào có số loài và phân loài Linh trưởng cao nhưvậy

Averianov A.O, Abranov A.V, Tikhonov A.N (2000) đã phát hiện

loài thỏ vằn Nesolagus timminsi loài thú mới cho khoa học trên cơ sở một

bộ xương thu thập được tại Hương Sơn, Hà Tĩnh

Phạm Nhật và các cộng sự (2001) kết quả điều tra khu hệ thú ở VQGPhong Nha-Kẻ Bàng đã xác định có mặt của 98 loài thú, thuộc 24 họ, 9 bộ ,

Trang 10

trong đó đã phát hiện thêm hai loài / phân loài mới cho khu vực là Thỏ vằn

(Nesolagus timinsi) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francosi ebenus).

1.2 Tình hình nghiên cứu thú tại Quảng Trị và Bắc Hướng Hóa:

Điều tra ĐDSH nói chung và thú nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Trịkhông nhiều và chỉ mới bắt đầu thực hiện gần đây, khi Quảng Trị bắt đầu hìnhthành các khu rừng đặc dụng

Báo cáo điều tra đa dạng sinh học thú tại Khu BTTN Đakrông của tácgiả Đặng Huy Huỳnh, Nguyễn Mạnh Hà năm 2005 ghi nhận được 67 loài thúthuộc 25 họ và 10 bộ [7]

Dự án xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa, tỉnh QuảngTrị của UBND tỉnh Quảng Trị năm 2006 đã ghi nhận tại khu BTTN BắcHướng Hoá có 42 loài thú thuộc 17 họ và 6 bộ [27]

Kết quả điều tra của Nguyễn Xuân Đặng, Đặng Ngọc Cần, NguyễnXuân nghĩa từ năm 2004-2007 ghi nhận tại địa bàn tỉnh Quảng Trị có 54 loàithú lớn, thuộc 20 họ và 7 bộ, trong đó ở khu BTTN Bắc Hướng Hoá là 47loài, ở khu BTTN Đakrông là 49 loài và ở khu BTTN đường Hồ Chí Minhhuyền thoại là 25 loài [3]

Mới đây trong chuyến khảo sát điều tra về dơi và thú nhỏ của Viện sinhthái và tài nguyên sinh vật - tháng 04/2007 của Nguyễn Trường Sơn và nnk,

đã ghi nhận có 11 loài dơi thuộc 5 họ trong đó có một loài quý hiếm là Dơi

muỗi sọ nhỏ Pipistrellus paterculus.[21]

Trang 11

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI

CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên:

2.1.1 V ị trí địa lý

Khu BTTN Bắc Hướng Hóa nằm trong vùng sinh thái Trung TrườngSơn chuyển tiếp giữa Nam và Bắc Trường Sơn, có ranh giới phía Tây giápvới nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào( chiều dài khoảng 6km), phía Bắcgiáp với tỉnh Quảng Bình( chiều dài khoảng 20km), phía Nam giáp các xãHướng Phùng, Hướng Sơn và Hướng Linh, phía Đông giáp với 3 huyện GioLinh, Vĩnh Linh và Đakrông Tổng diện tích tự nhiên của khu BTTN BắcHướng Hóa là 25.200 ha, trong đó điện tích đất có rừng là 22.537 ha

(Nguồn:Kết quả rà soát 3 loại rừng năm 2006 của UBND tỉnh Quảng Trị)

Ranh giới của khu BTTN bắc Hướng Hóa nằm trên địa bàn 5 xã: Hướng Lập,Hướng Việt, Hướng Sơn, Hướng Linh và Hướng Phùng thuộc huyện HướngHóa

2.1.2 Địa hình

Địa hình khu vực nghiên cứu là vùng núi thấp ở phía nam của giảiTrường Sơn Bắc với dãy núi cao trên 1000 m chạy theo hướng Tây Bắc-ĐôngNam dọc ranh giới hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị Về phía Quảng Trị địahình nâng cao hơn, chia cắt mạnh, độ dốc lớn phổ biến từ 15-25o, có nhiềunơi, nhiều chỗ dốc đứng Trong khu vực có các đỉnh cao điển hình như: Động

Sa Mù (1550m) gần đỉnh đèo Sa Mù và Động Voi Mẹp(1771m) ở phía đôngnam khu bảo tồn Trong khu vực ngoài đồi, núi đất chiếm đa số còn lại có haidãy núi đá vôi Ở gần trung tâm là dãy đá vôi chạy theo hướng Đông-Tây,ranh giới hai xã Hướng Lập và Hướng Việt, gần trung tâm xã Hướng Việt códãy núi đá vôi chạy theo hướng Bắc-Nam

Trang 12

2.1.3 Địa chất

Khu vực nghiên cứu nằm trên hệ địa máng-uốn nếp Caledon Việt Lào ởBắc Trung Bộ, giới hạn bởi đứt gãy sâu Sông Mã ở phía bắc và đứt gãy sâuTam Kỳ-Hiệp Đức ở phía nam Các phức hệ địa máng phát triển từ kỷ Cambri(có thể từ Sini) cho đến cuối Silur hoặc đầu Đevon Trên chúng đã hình thànhcác lớp phủ nền trẻ Epicaledon Paleozoi giữa-muộn, cũng như các võngchồng hoạt hoá-tạo núi trong Mesozoi-Kainozoi Hầu hết các núi trung bìnhđược cấu tạo bởi đá Granit phân bố khá phổ biến trong vùng Các núi thấpđược cấu tạo bởi đá trầm tích lục nguyên tuổi Ocdovic-Silur gồm có cát kếtMica, cát kết phân phiến, bột kết và sét kết phân phiến bị biến chất yếu ở dạngXirixit Ngoài đá Granit nêu trên là các đá biến chất yếu tuổi Cambri-Ordovic

hạ bao gồm phiến thạch kết tinh, phiến thạch Xirixit, Pyrit, cát kết bị quarzithoá (Theo bản đồ địa chất Việt Nam)

2.1.4 Đất đai

Trong phạm vi khu vực nghiên cứu có các loại đất sau:

- Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp phát triển trên đá trầm tích

- Đất Feralit vàng nhạt núi thấp phát triển trên đá hỗn hợp

- Đất Feralit vàng đỏ núi trung bình phát triển trên đá phún xuất tínhchua

- Đất Feralit mùn vàng đỏ núi phát triển trên đá phún xuất tính chua

- Đất phù sa sông suối

Trang 13

2.1.5 Th ời tiết khớ hậu

Khu BTTN Bắc Hướng Hoỏ nằm trong vựng cú khớ hậu nhiệt đới giúmựa, cú mựa đụng lạnh, mựa khụ từ thỏng 1 đến thỏng 5 Ba thỏng cú lượngmưa nhiều nhất là thỏng 9, 10 và 11 So với khớ hậu Quảng Trị, vựng này mựakhụ đến sớm hơn và mựa mưa cũng đến sớm hơn Số liệu khi hậu thời tiếtđược tụng hợp ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Yếu tố khí hậu thời tiết ở Hướng Hoá từ năm 2000 – 2005

Tháng Nhiệt độ TB

( 0 C)

Lượng mưa TB (mm)

Độ ẩm TB (%)

18,0 18,5 23,1 26,1 28,2 29,3 29,4 28,9 28,1 25,1 20,5 19,0

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Lượng mưa TB (mm)

Độ ẩm TB (%)

Số giờ nắng TB ( giờ)

Hỡnh2.1: Đồ thị khớ hậu và thời tiết

( Nguồn:Trung tõm khớ tượng thuỷ văn Đụng Hà)

Trang 14

Chế độ nhiệt

Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng từ 24oC - 25oC tương đương vớitổng nhiệt năm khoảng 8300 - 8500oC Mùa đông tương đối lạnh và rất ẩmướt do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhiệt độ trung bình trong các thángnày ở vùng có độ cao < 400m nhiệt độ xuống dưới 22oC, còn trên các vùng có

độ cao từ 400-500 m trở lên thường xuống dưới 20oC và nhiệt độ trung bìnhtháng thấp nhất ở Khe Sanh vào tháng 12 và tháng 1 Ngược lại mùa hè do có

sự hoạt động của gió Tây Nam nên rất nóng và khô Có tới 3 - 4 tháng (từtháng 4 đến tháng 7) nhiệt độ không khí trung bình lớn hơn 25oC, tháng nóngnhất thường là tháng 6 hoặc tháng 7 nhiệt độ trung bình lên tới 29oC Nhiệt độcao nhất lên tới 39 - 40oC Độ ẩm trong các tháng này cũng xuống rất thấp, cókhi chỉ đạt dưới 30%

Chế độ mưa ẩm

Vùng nghiên cứu có lượng mưa rất lớn, lượng mưa trung bình năm đạttới 2400 - 2800mm hoặc lớn hơn và tập trung chủ yêú trong mùa mưa, haitháng có lượng mưa lớn nhất là tháng 9 và 11, chiếm tới 45% tổng lượng mưatoàn năm Mưa ít bắt đầu từ tháng 5, kết thúc vào tháng 11, tuy vậy lượngmưa trung bình của tháng 5 ở Khe Sanh cũng đạt tới 157,4 mm

Độ ẩm không khí trong vùng đạt tới 80-85%, trong mùa mưa độ ẩm lớnhơn 90%

Một số hiện tượng thời tiết đặc biệt

Gió Tây Nam khô nóng: Đây là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của gióTây Nam khô nóng, hoạt động của gió Tây Nam thường gây nên hạn hántrong thời kỳ đầu và giữa mùa hè (từ tháng 2-4) Trong những tháng này nhiệt

độ tối cao có thể vượt quá 39oC và độ ẩm tối thấp xuống dưới 30%

Sạt lở đất: Đây là vùng có lượng mưa lớn hàng năm, do địa hình dốc,các công trình giao thông đang mở rộng và nâng cấp thường xảy ra sạt lở đất,

Trang 15

đôi khi lũ quét cục bộ trong những tháng mùa mưa Nhìn chung đây là mộttrong những vùng khí hậu ít thuận lợi ở nước ta.

 Phía nam là hệ thống suối của sông Rào Quán, là một chi lưu củasông Quảng Trị (Thạch Hãn) Nơi đây có công trình thủy điện Rào Quán đangxây dựng

 Thảm thực vật nguyên sinh

Phạm vi nghiên cứu nằm ở phía bắc và tây bắc tiếp giáp với tỉnh QuảngBình, nơi đây có nhánh tây đường Hồ Chí Minh đi qua, khu vực nghiên cứu là

Trang 16

rừng nguyên sinh rất ít bị tác động kể từ năm 1975 trở lại đây Thảm thực vậttại đây phản ánh sâu sắc yếu tố địa hình, địa chất và hoạt động của con người.Phần mô tả thảm chỉ khái quát những đặc trưng hình thái, ghi nhận những cấutrúc ban đầu trong tổ thành của hệ thực vật

+ Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới (phân bố dưới 600m)

++ Kiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đấtKiểu phụ rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đất chiếmphần lớn diện tích khu vực nghiên cứu, hầu như không bị tác động (kể từ năm

1975 trở lại đây), thành phần thực vật có tính đa dạng cao Trong tổ thành có

sự tham gia của rất nhiều họ thực vật nhiệt đới ẩm, cây lá rộng xanh quanhnăm, cây to, tán lớn, tròn

Đặc trưng về tầng tán: thể hiện rõ sự phân tầng; rừng này thường thấy

Tầng 3 (Tầng dưới tán/tầng cây bụi và gỗ nhỏ): Có chiều cao 7-10m.Thường gặp các cây tái sinh của hai tầng trên và những loài cây gỗ nhỏ

Tầng 4 (Tầng cây bụi): có chiều cao 3-5m thường là các cây bụi chịurợp sống dưới tán

Tầng 5 (Tầng thảm tươi/tầng cỏ quyết)

++ Kiểu phụ thảm thực vật rừng kín cây lá rộng thường xanh mưa mùanhiệt đới trên núi đá vôi

Trang 17

Do đặc trưng về lập địa: thường các dãy núi đá vôi có thành rất dốc, cóchỗ vách đá dựng đứng, chóp nhọn, tầng đất mặt rất mỏng hay không có,phần chân thoải Rừng trên núi đá vôi có độ che phủ thấp, không tạo đượcmột màn khép tán liên tục như kiểu rừng trên núi đất Về mặt cấu trúc tầngtán: Vẫn thể hiện 5 tầng; Nhưng điều khác biệt cơ bản của kiểu phụ thảm thựcvật trên núi đá vôi so với kiểu phụ trên núi đất là thành phần hệ thực vật Ưuthế trong các tầng của kiểu thảm này là những loài chịu khô, phát triển trênnền đá vôi với những loài đặc trưng không gặp trên vùng núi đất.

+ Rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp (phân bố từ độ cao 600m trở lên)

Khu vực Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, kiểu thảm thực vật thườngxanh á nhiệt đới núi thấp phân bố từ độ cao 600m trở lên chỉ gặp trên núi đất(khu vực núi đá vôi ít, không có các đỉnh cao) Kiểu thảm này có diện tíchkhá, phần lớn giữ được tính tự nhiên ít bị tác động Về cấu trúc tầng khôngđồng nhất ở các khu vực: vùng thung lũng, nơi bằng có dạng điển hình 5 tầnggần giống với kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đất,cũng thể hiện rõ 5 tầng Nhưng ở những triền núi dốc hay ở các đỉnh dông,đỉnh núi, do bị bào mòn tầng đất mặt mỏng (có nhiều đá lộ đầu), yếu tố ánhsáng mạnh cộng với tác động của gió đã ảnh hưởng mạnh tới hệ thực vật:Không có cây to cao, nên ít thấy cây vượt tán, như thế rừng chỉ thấy rõ 4tầng Các đỉnh cao, các chóp núi thường có gió liên tục, cường độ, mật độ ánhsáng phân bố đều, cộng với tầng đất mặt rất mỏng chỉ thích hợp cho một sốloài ưa lạnh, chịu gió, phát triển được trên tầng đất nghèo dinh dưỡng, nênthành phần thực vật nghèo nàn; Tầng tán đơn giản, chỉ thấy rõ 3 tầng

Tầng đất mặt rất mỏng, gió thường xuyên, lại có mù luôn xuất hiện nênchỉ thấy rải rác có cây bụi

Trang 18

 Thảm thực vật thứ sinh

Nhìn chung cả đai thấp dưới 600m và đai cao 600m trở lên có thể nơinhiều, nơi ít nhưng không tránh khỏi sự tác động của con người, sự tác độngmạnh mẽ nhất là canh tác nương rẫy, thể hiện rõ ở đai thấp dưới 600m, tiếpđến là khai thác gỗ và lâm sản khác Ở đai cao từ 600m trở lên ít bị tác độngbởi canh tác nương rẫy Một số nơi thảm thực vật nguyên sinh bị hủy diệt dochất độc hóa học (trước năm 1975) và một số nơi khác là những căn cứ quân

sự (Nơi đóng quân, hầm hào, lô cốt) Đó là nguyên dân dẫn đến thảm thực vậtnguyên sinh bị mất đi Cây gỗ, cây bụi, cây thảo tái sinh phát triển trở lại tạonên các thảm thực vật thứ sinh Tùy thuộc vào mức độ tác động nhiều hay ít,diễn ra một hay nhiều lần, thời gian phục hồi của thảm thực vật thứ sinh diễn

ra dài hay ngắn mà thảm thực vật thứ sinh có những nét đặc trưng khác nhau

về ngoại mạo, về cấu trúc, về thành phần hệ thực vật, cũng như tính đa dạngthực vật Đương nhiên các thảm thực vật thứ sinh không thể có tính đa dạngsinh học cao so với thảm thực vật nguyên sinh

+ Rừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy

Phần lớn phân bố từ độ cao 600m trở xuống Khác với vùng núi phíaBắc và các vùng khác; Tại khu vực Bắc Hướng Hóa chỉ có dân tộc Vân Kiều

số lượng không nhiều; sống ở các khu vực thấp ven suối; nương rẫy canh táccũng không xa bản Trình độ dân trí thấp, chưa biết sản xuất hàng hóa: Canhtác nương rẫy chỉ là lúa, ngô nhằm giải quyết nhu cầu lương thực tại chỗ nênrừng thứ sinh sau canh tác nương rẫy không nhiều, vùng thấp quanh khu vựcbản làng Những khu vực sau canh tác nương rẫy, được bỏ hoang từ 8 – 10năm, rừng thứ sinh hình thành Cấu trúc và thành phần hệ thực vật cũng nhưhình thái ngoại mạo khác biệt rõ rệt so với rừng nguyên sinh Thường không

có tầng tán rõ rệt

Trang 19

Tầng 1 (Tầng ưu thế sinh thái) Tầng này với các cây gỗ ưa sáng pháttriển trở lại từ chồi hay hạt, cùng tuổi có chiều cao dao động từ 8 -10m, đườngkính dao động từ 10 – 15cm.

Tầng 2 (Tầng gỗ nhỏ cây bụi) Có chiều cao 5 - 7m

Tầng 3 (Tầng cây bụi dưới tán)

Tầng 4 (Tầng cỏ quyết)

Nét đặc trưng của rừng thứ sinh sau nương rẫy là hệ dây leo nói chung,dây leo gỗ nói riêng rất ít Tầng cỏ quyết đơn điệu, nghèo nàn, độ phủ tầngnày rất thấp Tầng bì sinh (Phong lan, dương xỉ sống bám) hầu như không có;

có lẽ do độ ẩm thấp và chưa đủ thời gian cho những loài bì sinh, dương xỉ hayPhong lan phát triển trở lại

+ Trảng cây bụi, cỏ cao

Kiểu thảm này có diện tích đáng kể trong Khu bảo tồn thiên nhiên BắcHướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Phân bố ở đai thấp dưới 600m và trên 600m.Thảm này cần có những nghiên cứu sâu nguyên nhân hình thành kiểu thảmnày, đặc biệt là những diện tích bị rải chất diệt cỏ (trước 1975) Qua khảo sáttại một số khu vực chúng tôi thấy có 4 nguyên nhân:

1 Phát nương làm rẫy

2 Cháy rừng

3 Chất độc hóa học (trước 1975)

4 Xây dựng cứ điểm quân sự trong chiến tranh

Bốn nguyên nhân trên đã làm mất đi thảm thực vật nguyên sinh: Ở đaithấp (dưới 600m) là rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, đai cao (từ600m trở lên) là rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp; Diễn thế rừng thứsinh diễn ra khi đất nương rẫy được bỏ hoang, đất sau cháy rừng và nhữngdiện tích rừng bị hủy diệt do chất độc hóa học của Mỹ rải xuống (trước 1975)

Trang 20

Nguyên nhân làm mất thảm thực vật nguyên sinh là khác nhau nhưngthảm thực vật thứ sinh: Trảng cây bụi, cỏ cao có những đặc trưng hình thái vàcấu trúc ngoại mạo giống nhau ở cả đai cao và đai thấp

+ Trảng thứ sinh tre nứa (Trúc sặt) phân bố ở độ cao 600m trở lên

Ở độ cao 700 – 1200m có một diện tích khá nhiều Trảng thứ sinh Trúc

sặt (Arundiunria peteloti) Cây cao từ 3 - 5m có mật độ khá dầy, mọc tản

(không hình thành bụi cụm) ưu thế tuyệt đối 60 – 70% độ che phủ Kiểu trảngthứ sinh này rất đặc trưng , thường phân bố ở độ cao từ 800 – 1500m gặp ở

Ba Vì, Tam Đảo, Phan Xi Phăng Có lẽ do một tác động nào đó (cháy rừng,chất độc hóa học) làm cho thảm thực vật rừng ẩm thường xanh á nhiệt đới núi

thấp bị mất đi Loài Trúc sặt (Arundinaria petelotii) – một loài thuộc họ Hòa

thảo (Poaceae) ưa sáng thân ngầm lan nhanh, phát triển mạnh, ưu thế tuyệtđối nhờ sức cạnh tranh đã chiếm lĩnh nhanh chóng diện tích rừng nguyên sinh

á nhiệt đới núi thấp bị mất Cây gỗ, cây bụi, tái sinh phát triển chậm, sức cạnhtranh kém cũng bị loại, tạo nên kiểu trảng thứ sinh Trúc sặt gần như thuầnloài, dầy đặc, độc đáo ổn định

+ Trảng cỏ cây bụi thấp

Trên những vùng đất bằng chân núi, gần khu vực bản làng, những diệntích canh tác nương rẫy diễn ra nhiều năm, đất bạc màu, tầng đất mỏng do bịxói mòn Đây cũng là nơi chăn thả, kiếm ăn của gia súc, sự giẫm đạp, tácđộng thường ngày của gia súc đã hạn chế sinh trưởng của cây Nên tại nhữngkhu vực này chỉ còn những loài cây bụi cỏ thấp phát triển được trên nền đấtthoái hóa nghèo dinh dưỡng Tùy theo mức độ thoái hóa của tầng đất mặt vàmức độ tác động ít nhiều của gia súc mà thành phần cây bụi, cây thảo là loàinày hay loài khác và ưu thế thuộc về cây bụi hay cây thảo

Trang 22

2.1.8 Khu h ệ động vật

Khu hệ động vật hoang dã khu vực Bắc Hướng Hóa là một phần củakhu hệ động vật Bắc Trung Bộ hay một phần của khu hệ động vật vùng núithấp miền Trung Việt Nam Các đặc trưng của khu hệ động vật hoang dã được

mô tả ở các nhóm động vật dưới đây:

a Khu hệ thú

Luận chứng kinh tế kỹ thuật quy hoạch và xây dựng khu BTTN BắcHướng Hoá của Birdlife International cho biết đã thống kê được 42 loài thú(không kể Dơi) thuộc 17 họ và 6 bộ đã được ghi nhận trong quá trình điều tra[28] Trong đó có 26 loài đã chắc chắn ghi nhận cho khu vực và 16 loài đượcghi nhận tạm thời qua thông tin phỏng vấn Trong đó loài Voọc Hà Tĩnh, Thỏvằn là 2 loài đặc hữu của Việt Nam lần đầu tiên phát hiện ở tỉnh Quảng Trị

Trong số 26 loài ghi nhận chắc chắn trong hai đợt điều tra, 11 loài cótrong Danh lục đỏ thế giới (IUCN, 2004) ở các cấp bị đe dọa, gần bị đe dọahoặc chưa đủ thông tin để xếp vào các nhóm loài bị đe doạ Mười một trong

số này có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2000, bao gồm 5 loài ‘Nguy cấp’:

Voọc vá chân nâu, Voọc Hà Tĩnh, Vượn đen má trắng, Gấu ngựa và Sao la; sáu loài thuộc loại sắp nguy cấp là Tê tê Java, Khỉ mặt đỏ, Rái cá vuốt bé, Mang lớn, Bò tót và Sơn dương

Trang 23

c Khu hệ bò sát và ếch nhái

Khảo sát khu hệ Bò sát và Ếch nhái khu vực Bắc Hướng Hóa do nhómchuyên gia của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh Vật và Viện Động vật St.Petersburg-Viện Hàn Lâm Khoa học Nga tiến hành từ ngày 20/4-15/5/2005.Kết quả phân tích và báo cáo sơ bộ đã chỉ ra rằng khu hệ Bò sát và Ếch nháikhu vực có tính đa dạng sinh học cao Tổng số ghi nhận 61 loài Bò sát và Ếchnhái, trong đó 30 loài Ếch nhái thuộc 5 họ và 1 bộ và 31 loài Bò sát thuộc 8

họ và 2 bộ[27] Kết quả nghiên cứu cũng ghi nhận mới một số loài cho khu

vực như: 2 loài ếch cây thuộc giống Theloderma spp., Ếch cây Hymalayan,

Rắn ri cá, Rắn khuyết, Rắn lục cườm, Rắn cạp nia thường v.v Về giá trị bảotồn chưa thống kê cụ thể nhưng có nhiều loài quý hiếm trong sách đỏ ViệtNam và Thế Giới như: Tắc kè, Rồng đất, Cạp nia nam, Cạp nia thường, Rắnlục volgel, Rùa đất Sêpôn, Cóc rừng, Ếch gai sần v.v (Hồ Thu Cúc 2005 báocáo tóm tắt gửi Chi cục kiểm lâm Quảng Trị)

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân s ố và sự phân bố dân cư

Các thông tin về kinh tế xã hội được thu thập ở 5 xã có liên quan đếnKhu BTTN Bắc Hướng Hoá thuộc huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị baogồm: Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Sơn, Hướng Việt và Hướng Linh,

Trang 24

trong đó xã Hướng Việt mới được thành lập theo Nghị định số 08/NĐ-CPngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính Phủ Tổng số dân là 9.150 người,1.915 hộ, trong đó có 1.308 hộ là người Vân Kiều (chiếm 68,3 % tổng số hộcủa 5 xã), còn lại là người Kinh Kết quả thống kê tình hình dân số, diện tích

và mật độ dân số năm 2004 của vùng nghiên cứu được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2: Thống kê tình hình dân số, diện tích và mật độ dân số

trong khu vực năm 2004

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2004 (Phòng thống kê huyện Hướng Hoá);

Kết quả ở bảng 2.2 cho thấy, tổng số hộ đói nghèo của 5 xã là 751 hộ(chiếm 39,2 % tổng số hộ của 5 xã) Trong đó, xã có tổng số hộ đói nghèonhiều nhất trong 5 xã là xã Hướng Linh với tổng số hộ đói nghèo là 234 hộ,chiếm 66,5% tổng số hộ của xã Tổng diện tích đất tự nhiên của 5 xã là66.647 ha Trong đó, xã Hướng Việt có diện tích tự nhiên nhỏ nhất (6.520 ha),

xã Hướng Sơn có diện tích tự nhiên lớn nhất (20.456 ha) Dân cư các xã trongvùng nghiên cứu có mật độ dân số là tương đối thấp (19,1 người/km2) trong

Trang 25

đó xã có mật độ phân bố dân cư thấp nhất là xã Hướng Lập với 7,4người/km2, xã có mật độ dân số cao nhất là xã Hướng Phùng với 28,2người/km2.

2.2.2 Giáo dục

Hầu hết các xã trong vùng nghiên cứu đều có trường trung học cơ sở vàtrường tiểu học Tuy nhiên các xã vẫn chưa có trường phổ thông trung học,công tác phổ cập học sinh trong độ tuổi đến trường vẫn chưa huy động hết,đội ngũ giáo viên còn thiếu, chất lượng dạy và học chưa cao Trình độ vănhoá nói chung còn thấp, đặc biệt là đối với cộng đồng người dân tộc VânKiều Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện kinh tế của người dân trong vùngvẫn còn gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giảng dạycòn thiếu, điều kiện giao thông đi lại khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa

2.2.3 Công nghiệp và dịch vụ

Tình hình phát triển các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụngoài quốc doanh trong vùng nói chung còn kém phát triển và số lượng còn ít

Cụ thể là, tổng số cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh trong vùng là 21 cơ

sở, tổng sổ cơ sở thương mại và dịch vụ ngoài quốc doanh là 51 cơ sở (Niên

giám thống kê năm 2004 huyện Hướng Hoá).

2.2.4 Giao thông và y t ế

Mạng lưới giao thông trong vùng khá phát triển, các xã trong vùng đều

có đường ô tô đến tận trụ sở UBND Tuy nhiên vào mùa mưa giao thông đi lạigiữa các xã trong vùng là rất khó khăn, ngoại trừ đường Hồ Chí minh nhánhtây đi qua các xa Hướng Phùng, Hướng Việt và Hướng Lập Mạng lưới y tế

đã có tới các xã, 100% các xã trong vùng đều có trạm y tế nhà cấp 4 trở lên,nhưng nhìn chung công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn nhiều hạnchế, thuốc chữa bệnh còn thiếu, và đội ngũ cán bộ y tế chăm sóc sức khỏe chonhân dân vẫn còn thiếu

Trang 26

2.2.5 Chăn nuôi gia súc

Tình hình chăn nuôi gia súc trong vùng nói chung là tương đối pháttriển cả về số lượng và chất lượng Theo thông tin từ niên giám thống kê từnăm 2000 đến nay số lương các đàn gia súc ở tất cả các xã đều tăng đã gópmột phần đáng kể thu nhập cho nhiều hộ gia đình Tuy vậy chủ yếu là chănthả rông nên chất lượng đàn gia súc ở đây không được cao

2.2.6 Nông Lâm nghi ệp

Tổng diện tích đất trồng lúa trong vùng là 3.341,9 ha (bao gồm lúanước và lúa nương), phần lớn là ruộng một vụ Phần còn lại là 2.271,7 ha đấtsản xuất nông nghiệp để trồng các loại cây hàng năm, đất có cỏ dùng vàochăn nuôi và đất để trồng cây lâu năm Phần lớn là các loại cây hoa màu nhưngô, khoai lang, sắn, lạc và thuốc lá Năng suất lúa bình quân của 5 xã huyệnHướng Hóa là 24,7 tạ/ha/năm, trong đó vụ Đông Xuân: 30,3 tạ/ha/năm, lúanước: 28,86 tạ/ha/năm, lúa rẫy: 13,16 tạ/ha/năm, ngô: 13,612 tạ/ha/năm,khoai lang: 55,62 tạ/ha/năm, sắn: 121,6 tạ/ha/năm

Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của 5 xã tính đến năm 2004 là2.606,47 ha, trong đó xã Hướng Phùng có tổng diện tích đất nông nghiệp lớnnhất, hai xã Hướng Lập và Hướng Việt có tổng diện tích đất nông nghiệp nhỏhơn các xã còn lại Thực tế tổng diện tích đất nông nghiệp của 5 xã tăng lêntheo các năm do nhu cầu lương thực và dân số gia tăng hàng năm

Trang 27

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIấN CỨU3.1 Đối tượng nghiờn cứu

- Toàn bộ cỏc loài thỳ tại Khu BTTN B ắc Hướng Hoỏ.

- Cộng đồng dõn cư ( kinh tế-xó hội) trong vựng lừi và vựng đệm củakhu BTTN Bắc Hướng Hoỏ

3.2.Thời gian, địa điểm và cỏc tư liệu nghiờn cứu:

3.2.1.Th ời gian và địa điểm nghiờn cứu:

Nghiờn cứu được tiến hành từ năm 2005- 2007, tại cỏc địa điểm khỏcnhau thuộc 5 xó: Hướng Lập, Hướng Việt, Hướng Sơn, Hướng Phựng vàHướng Linh nằm trong ranh giới Khu BTTN Bắc Hướng Hoỏ

Bảng 3.1 Thời gian và địa điểm khảo sát thực địa trong vùng nghiên cứu

sát

Đợt 1 Từ 12/10 đến 22/10/2005 - Khu vực xã Hướng Lập 10 ngày

Đợt 2 Từ 2/11 đến 17/11/2005 - Khu vực xã Hướng Lập

- Khu vực xã Hướng Sơn 10 ngày5 ngày

Đợt 3 Từ 5/4 đến 15/4/2006 - Khu vực xã Hướng Linh 10 ngày

Đợt 4 Từ 14/9 đến 28/9/2006 - Khu vực xã Hướng Việt 10 ngày

Đợt 5 Từ 23/11 đến 8/12/2006 - Khu vực đèo Sa Mù 15 ngày

Trang 28

3.2.2 T ư liệu nghiên cứu cho luận văn

Trong các đợt khảo sát đã thu được mẫu vật và di vật mẫu( da, sừng,

sọ, nanh, xương, móng ) Các mẫu và di vật mẫu thu được có chụp ảnh đểlàm tư liệu nghiên cứu Một số mẫu vật đang được lưu giữ tại khu BTTNĐakrông, Hạt kiểm lâm Hướng Hóa, Chi cục kiểm lâm và phòng động vậtViện sinh thái và tài nguyên sinh vật Các mẫu vật sống sau khi nghiên cứuđược thả lại môi trường tự nhiên

Bảng 3.2 Mẫu vật nghiên cứu

- Các ảnh chụp, bản đồ: 150 ảnh chụp trong các chuyến khảo sát trong

đó có nhiều ảnh chụp các mẫu vật thú tại các nhà dân, 01 bản đồ địa hình và

01 bản đồ thảm thực vật vùng nghiên cứu đã được số hoá

Trang 29

- Phiếu điều tra: 30 phiếu điều tra ở 5 xã thuộc khu BTTN Bắc HướngHóa

- Sổ nhật ký thực địa: Sổ nhật ký thực địa ghi chép thông tin như: ngàytháng khảo sát, địa điểm khảo sát, phỏng vấn và những thông tin có liên quantới khu vực nghiên cứu

- Tham khảo tài liệu có liên quan : tham khảo 41 tài liệu trong đó có 30tài liệu tiếng Việt và 11 tài liệu tiếng nước ngoài

3.3 Phương pháp nghiên cứu:

3.3.1 Kh ảo sát thực địa

Khảo sát theo tuyến:Các tuyến khảo sát thú đã được thiết lập ở các

dạng sinh cảnh chính trong khu vực nghiên cứu Thời gian quan sát được tiếnhành trong cả ngày từ 5h sáng đến 11h, chiều từ 4h đến 21h tối Sử dụng ốngnhòm và mắt thường để quan sát sự hoạt động của các loài thú ngoài thiênnhiên cũng như dấu vết hoạt động của thú (dấu chân, phân, hang, tổ, vết xước

cọ trên thân cây, dấu vết thức ăn: thức ăn động vật là bộ phận cơ thể, lông,thức ăn thực vật là cành, lá, quả…)

Tại khu vực nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại 5 khu vực đã được xácđịnh Đây là các khu vực đại diện cho các kiểu sinh cảnh rừng ở khu vựcnghiên cứu

- Khu vực bản Cợp xã Hướng Lập: Khu vực có độ cao >600m Sinhcảnh chủ yếu là rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên núi đất

- Khu vực bản Cuôi: Khu vực có độ cao <600 m Sinh cảnh chủ yếu làrừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp, sinh cảnh làng bản

- Khu vực bản Trăng xã Hướng Việt, bản A xóc xã Hướng Lập: Khuvực có độ cao 400 m Sinh cảnh chủ yếu là rừng kín thường xanh trên núi đávôi và sinh cảnh trảng cỏ cây bụi

Trang 30

- Khu vực Đèo Sa Mù xã Hướng Phùng, Hướng Việt: Khu vực có độcao > 600m Sinh cảnh chủ yếu là thường xanh á nhiệt đới trên núi đất và sinhcảnh rừng hỗn giao tre nứa

- Khu vực bản Trỉa xã Hướng Sơn: Khu vực có độ cao <600 m Sinhcảnh chủ yếu là rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp và sinh cảnhlàng bản

Khảo sát các hang động: Địa điểm và thông tin của các hang động đã

được thu thập qua tìm hiểu thông tin phỏng vấn của dân địa phương hay cán

bộ kiểm lâm địa bàn Các hang đã được tiến hành kiểm tra nếu có dơi bêntrong Vào chiều tối, lưới sẽ được đặt ở bên ngoài cửa hang, là lối bay ra hoặcbay vào của dơi

Trang 32

3.3.2 Sưu tầm mẫu vật

Đối với các loài thú nhỏ (chuột, sóc, dơi ) có thể thu mẫu bằng cách

sử dụng lưới mờ, bẫy thụ cầm, bẫy hộp, bẫy đập victor và đào bẫy hố Cácmẫu bắt sống sau khi định loại được thả trở lại hiện trường, nơi bẫy bắt Một

số mẫu đã được thu thập và tách các bộ phận trên cơ thể để phục vụ cho côngtác nghiên cứu và phân tích AND nhằm xác định chính xác tên khoa học choloài nếu cần thiết

- Sử dụng lưới: sử dụng lưới mờ để thu thập mẫu dơi (hình 4,5) Lưới

mờ có kích thước khác nhau: 3 x 2,5 m; 6 x 2,5 m; 9 x 2,5 m và 12 x 2,5 m.Lưới được đặt tại các của hang, lối mòn trong rừng, dọc hoặc ngang các suốinhỏ, các vách núi, các thung lũng hẹp có rừng cây hai bên phủ kín và nhữnglối dơi đi kiếm ăn Thời gian căng lưới từ 18 giờ trước khi trời tối đến 22 giờđóng lưới lại, khoảng 4 đến 5 giờ sáng hôm sau lại mở bẫy và đóng lưới lúc6giờ 30

- Bẫy thụ cầm có kích thước 1,2 m x 1,5 m Bẫy được đặt ngang cáclối mòn giao nhau trong rừng, trước cửa rừng, ngang các suối cạn, suối hẹp cótán cây khép kín ở phía trên hay trước cửa hang

H×nh 3.2 BÉy thô cÇm

- Bẫy đập victor, bẫy hộp: Các loại bẫy này dùng để bắt các loài chuột,sóc và một số loài thuộc bộ Nhiều răng

Trang 33

(a) (b)

H×nh 3.3 BÉy ®Ëp victor (a) vµ bÉy hép(b)

Bảo quản vật mẫu: Các mẫu giữ làm tiêu bản được làm ngạt bằng ête

hoặc chlorofoóc, sau đó mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái ngoài của mẫu.Nhìn chung, các mẫu dơi trưởng thành, chưa trưởng thành cũng được xácđịnh Giới tính cũng sẽ được xác định chính xác Các mẫu sẽ được gắn nhãnvới các thông tin sau: số hiệu mẫu thu trên thực địa, số hiệu mẫu được lưu giữtại bảo tàng, tên người thu mẫu Nhãn theo quy định sẽ được gắn trực tiếp vàochân trái của mẫu Mẫu sẽ được định hình trong foocmôn 10%, để khoảng 12giờ Sau đó được làm sạch bằng nước và bảo quản trong cồn 70%

3.3.3 Phỏng vấn thu thập thông tin

Đối tưởng phỏng vấn là người dân địa phương, cán bộ bảo vệ rừng, họ

là những người thường xuyên có mặt khắp mọi nơi, gắn bó nhiều nhất vớirừng và là những người lớn tuổi, có kinh nghiệm trong việc đi rừng, săn bắtđộng vật và một số đối tượng mua bán động vật hoang dã ở một số vùng lâncận

Các bước phỏng vấn như sau.

Thu thập thông tin từ nhân dân địa phương trong vùng, mô tả nhữngđặc điểm các loài thú họ thường gặp trong quá trình đi tuần tra rừng, đi làm

Trang 34

rẫy, thông tin những loài thường xuyên gặp, tên địa phương của những loàiđó

Dùng ảnh và các hình vẽ chuẩn để nhận diện lại những loài họ đã mô

tả, để xác định chính xác họ đã gặp hay bẫy được ở khu vực nào, thời giannào

Trong quá trình phỏng vấn, ngưòi phỏng vấn đưa ra những câu hỏinhằm kiểm tra độ tin cậy nguồn thông tin do người dân địa phương cung cấp

Quan sát mẫu vật: Quan sát xác định các mẫu vật, những di vật (Xươngsừng, da, lông, vẩy , móng) ở các khu vực nghiên cứu

Phỏng vân thu thập thông tin về tình hình khai thác, sử dụng và buônbán động vật hoang dã tại khu vực nghiên cứu và các vùng lân cận

3.3.4 Kế thừa thông tin từ những nghiên cứu trước

Một số nghiên cứu và tài liệu tham khảo chính cho khu vực này như:Luận chứng kinh tế kỹ thuật xây dựng khu BTTN Bắc Hướng Hoá, nghiêncứu của Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, nghiên cứu của BirdlifeInternational, các thông tin ghi nhận cá nhân của cán bộ kiểm lâm và đồngnghiệp

Các thông tin này có giá trị và ý nghĩa đối với nhóm nghiên cứu, đặcbiệt giúp cho nhóm có kế hoạch và chuẩn bị tập trung nghiên cứu cho nhữngkhu vực đuợc đánh giá là quan trọng đối với các loài thú ở Khu BTTN BắcHướng Hoá

Trang 35

- Máy ghi âm: dùng để ghi lại tiếng hú, tiếng kêu của các loài thú,

nhằm phục vụ cho quá trình nhận dạng thú ngoài thiên nhiên

- Máy ảnh: dùng chụp các hoạt động sinh học, sinh thái trong quá trình

quan sát

- Ảnh và sách có hình vẽ mầu: dùng để phỏng vấn các thợ săn và những

người thường xuyên đi rừng nhằm bổ sung cho quá trình ghi nhận loài

- Dụng cụ nghiên cứu khác: bản đồ, GPS, la bàn, dùng để phục vụ cho

việc xác định vị trí địa lý của khu vực nghiên cứu trong công tác điều tra tạithực địa

- Phiếu điều tra: Dùng để phỏng vấn thu thập thông tin về nhận dạng

loài cũng như tình hình săn bắt, buôn bán thú

3.3.6 Mô tả và lấy các số đo mẫu, định loại mẫu vật

Mô tả mẫu vật: Lấy số đo cơ bản của tất cả các mẫu thu được, đối vớicác mẫu khó định loại tiến hành mô tả chi tiết hình dạng ngoài toàn bộ cơ thể,màu sắc của các bộ phận cơ thể, các sọc, đốm màu, các hoa văn

Các số đo cơ bản cơ thể bao gồm:

- Chiều dài thân-đầu (HB): đo từ đầu mõm tới đốt cuối cùng của cộtsống bằng thước dây áp theo đường cong của lưng

- Chiều dài đuôi (T): Đo từ phần dưới sát hậu môn đến đốt cuối cùngcủa xương đuôi (không kể túm lông mút đuôi)

- Dài bàn chân sau (HF): Đo từ gót đến mút ngón chân dài nhất (trừmóng vuốt)

- Cao tai (E): Đo từ khe trước giữa vành tai đến chỏm vành tai (không

kể lông trên tai)

- Cẳng tay (FA): Số đo này được áp dụng đo các loài dơi

- Trọng lượng (W): Được cân trực tiếp từ khi mẫu vật còn tươi và tínhbằng kilôgam (kg) đối với thú lớn, tính bằng gam (g) đối với thú nhỏ

Trang 36

3.3.7 Định loại mẫu vật

Tài liệu định loại dơi: Lekagul et al., 1977: Mammals of Thailand.

Bangkok; Corbet G.B., et al., 1992: The Mammals of the IndomalayanRegion: A Systematic Review Oxford Univ Press; Borissenko A.V., et al.,2003: Bats of Vietnam and Adjacent Territories An identification Manual.Zool Museum of Moscow Russia Tên Việt Nam theo Đặng Huy Huỳnh,1994; Vũ Đình Thống và Trần Hồng Việt, 2004

Tài liệu định loại cho các loài thú khác: Định loại và tên khoa học

tham khảo theo các tài liệu sau:Corbet,G.B and J.B Hill [33] Tên Việt Namtheo Đặng Huy Huỳnh và cs, 1994 [12] và Lê Vũ Khôi, 2001[15]

Sắp xếp hệ thống phân loại danh lục thú khu BTTN Bắc Hướng Hoátheo Đặng Huy Huỳnh và cs, 1994 [12] Tên khoa học cập nhật một số tênmới phổ dụng

Nhận diện trên hiện trường bằng sách có hình ảnh hoặc hình vẽ màucủa Francis, C.M., 2001[35], Nguyễn Vũ Khôi, Julia C Saw, 2005[17], PhạmNhật và Nguyễn Xuân Đặng [20]

Trang 37

Hình 3.4 Phương pháp đo các số đo cơ bản của thú lớn

Hình 3.5 Phương pháp đo các số đo cơ bản của các loài

dơi

Ghi chú:

1 (FA): chiều dài cẳng tay

2 (HB): chiều dài thân đầu

3 (T): chiều dài đuôi

4 (E): chiều dài tai

1 2

3

4

5

Trang 38

3.3.8 Ước tính độ phong phú

Việc tính phong phú của các loài thú trong thiên nhiên gặp nhiều khókhăn, trong nghiên cứu này chúng tôi tạm ước tính độ phong phú của các loàithú lớn theo 3 mức sau:

- Phổ biến (+++): gồm những loài bắt gặp trong tất cả các đợt khảo sát vàphỏng vần cho thấy dân thường gặp hoặc bẫy bắt được

- ít phổ biến (++): gồm những loài chỉ bắt gặp trong 1-2 lần khảo sát vàphỏng vấn cho thấy dân ít khi gặp hoặc bẫy bắt được

- Hiếm gặp(+): không gặp trong quá trình khảo sát chỉ thu được di vật vàphỏng vần cho thấy dân chỉ gặp 1-2 lần vòng 10 năm gần đây

3.3.9 Đánh giá giá trị bảo tồn

- Mức đa dạng về thành phần loài: Xác định tỷ lệ % các taxon (họ,loài) ghi nhận ở khu vực nghiên cứu, so sánh với một số VQG hoặc khuBTTN có địa hình và sinh cảnh tương tự và tổng số taxon thú đã ghi nhận ởViệt Nam

- Các loài quý hiếm: theo Sách đỏ Việt Nam (2000), Danh lục đỏ IUCN(2006), Nghi định 32/2006/NĐ-CP

- Các loài đặc hữu của Việt Nam và đặc hữu của phân vùng ĐôngDương

- Khả năng bảo tồn: chất lượng sinh cảnh, diện tích rừng, mức độ tácđộng của con người

Trang 39

Chương 4:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Thành phần loài, cấu trúc, đặc điểm phân bố, độ phong phú và giá trị bảo tồn của các loài thú ở khu vực nghiên cứu

4.1.1 Danh sách các loài thú ghi nh ận được tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá

Qua kết quả các đợt khảo sát và tổng hợp các nguồn tài liệu đã công bố,chúng tôi đã ghi nhận được 69 loài thú tại khu BTTN Bắc Hướng Hoá Trong

đó có 54 loài được khẳng định chắc chắn bằng hình ảnh, quan sát và mẫu vậtthu được tại các khu vực nghiên cứu, 15 loài được tổng hợp từ tài liệu vàphỏng vấn người dân địa phương Trong tổng số 69 loài thú ghi nhận được(chiếm 23,9% tổng số loài thú của Việt Nam) thuộc 9 bộ (Bộ Cánh da, bộNhiều răng, bộ Dơi, bộ Linh trưởng, bộ Ăn thịt, bộ Guốc chẵn, bộ Tê tê, bộGặm nhấm và bộ Thỏ) và 25 họ Trong số các họ đã ghi nhận có họ Cầy là họ

có số loài nhiều nhất (8 loài), tiếp đến là họ Chồn, họ Mèo và họ Sóc cây (6loài), họ Khỉ, họ Dơi muỗi (5 loài) Họ có số loài ít nhất là họ Đồi, họ Chồndơi, họ Dơi ma, họ Vượn, họ Chó, họ Lợn, họ Cheo Cheo, họ Sóc bay và họDúi (1 loài)( bảng 4.1)

Bảng 4.1 Danh lục các loài thú ở khu BTTN Bắc Hướng Hoá

thông

Tên địa phương (Vân Kiều)

Nguồn

Độ

phong phú

Trang 40

thông

Tên địa phương (Vân Kiều)

Nguồn

Độ

phong phú

6 Vespertilionidae Họ Dơi muỗi A ciep

9. Murina cyclotis Dobson,

1872

Dơi mũi ống tai tròn

MS (+)

++

10. Murina tubinaris

(Scully, 1881)

Dơi mũi ống lông chân

MS (+)

MS (+)

(+)

++

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w