1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai

78 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến năm 2012, nước ta được ghi nhận có tới gần 4700 loài thực vật được sử dụng làm thuốc Võ Văn Chi, 2012 [8], đây chắc hẳn chưa phải là con số đầy đủ nếu như không muốn nói là còn í

Trang 1

LIÊN, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỖ THỊ XUYẾN

HÀ NỘI, 2012

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong cuộc sống ngày nay khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì những vấn đề về sức khỏe con người ngày càng được quan tâm hơn bao giờ hết, nhận thức của con người ngày càng được tăng lên, còn người càng muốn hướng tới một cuộc sống mà ở đó có sự phát triển bền vững Những sản phẩm được con người

ưu tiên sử dụng là những sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên

Việt Nam là nước có truyền thống lịch sử lâu dài với hơn bốn nghìn năm dựng nước, giữ nước, xây dựng và phát triển Trong thời gian đó rất nhiều bài học, kinh nghiệm dân gian đã được người dân đúc rút thành những kinh nghiệm và truyền từ đời này qua đời khác Một trong những sản phẩm bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của con người được người dân hết sức quan tâm đó là việc sử dụng những cây cỏ làm thuốc để chữa bệnh Từ thủa xa xưa cho đến ngày nay đồng bào các dân tộc anh em trên đất nước ta đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc chữa bệnh Cùng với kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã đưa ra cơ sở khoa học của việc sử dụng những loài cây thuốc

đó qua thành phần hóa học, tác dụng kháng khuẩn

Cho đến năm 2012, nước ta được ghi nhận có tới gần 4700 loài thực vật được

sử dụng làm thuốc (Võ Văn Chi, 2012) [8], đây chắc hẳn chưa phải là con số đầy đủ nếu như không muốn nói là còn ít so với những con số thực tế bởi vì kho tàng kinh nghiệm của các dân tộc là rất lớn, trong khi công tác điều tra, nghiên cứu, thử nghiệm, bảo tồn nguồn tài nguyên quí giá này của chúng ta vẫn còn có nhiều hạn chế Mặc dù xu thế hiện nay của thế giới là nghiên cứu việc chiết xuất ra các dạng dược phẩm có giá trị nhưng việc điều tra, nghiên cứu về nguồn dược liệu của các dân tộc hiện nay vẫn đang là vấn đề cần được quan tâm một cách sâu sắc bởi nhiều loại bệnh cho đến nay tây y vẫn chưa có thuốc đặc trị

Cũng như nhiều Vườn quốc gia (VQG) khác trong cả nước, VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai có hệ thực vật nói chung, tài nguyên cây thuốc nói riêng được đánh giá

là khá phong phú và đa dạng nhưng gần đây lại đang bị suy giảm cả về số lượng cũng như chất lượng Dân tộc Dao là một trong số các đồng bào dân tộc có truyền thống và nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng các loài cây thuốc phục vụ cho chữa

Trang 4

bệnh Tuy vậy, tại đây cho đến nay các công trình nghiên cứu về cây thuốc dân tộc vẫn chưa được quan tâm và chú ý tới nhiều Xuất phát từ vấn đề trên, tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao

sử dụng tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới

Nói đến chữa bệnh bằng cây cỏ, người ta thường nghĩ ngay tới Trung Quốc, đát nước có nền Đông Y lâu đời Theo tuyền thuyết của vua Thần Nông tức Viêm

Đế (3320-3080 trước công nguyên - TCN) thì Thần Nông đã nếm hàng trăm loại

cây cỏ, phân loại dược tính của thảo mộc và soạn ra cuốn sách “Thần Nông bản

thảo” Cốn sách đã thống kê được 365 vị tuốc có giá trị [40]

Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp Từ thời nhà Hán (năm 168 trước Công nguyên) trong cuốn sách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây cỏ Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục”[48] Cho đến nay, Trung Quốc đã cho ra đời khá nhiều công trình về sử dụng các loài cây cỏ để chữa bệnh

Sử dụng thực vật gắn liền với lịch sử phát triển của loài người Trải qua hàng nghìn năm, một số lượng lớn các loài thực vật bậc cao đã và đang được con người

sử dụng làm thuốc chữa bệnh Người ta ước tính có khoảng 35.000 - 70.000 loài thực vật đã và đang được cọn người sử dụng vào mục đích chữa bệnh Tại Trung Quốc, có tới 5.000 loài thực vật dùng làm dược liệu trong y học cổ truyền Trong hệ thống Y học của người Trung Quốc, có 80% bài thuốc cổ truyền có sử dụng các loài thực vật bậc cao Việc sử dụng thực vật làm thuốc khá phổ biến ở các nước châu Á như Ấn Độ, Hàn Quốc, Inđônêxia, Malaixia, Pakistan, Banglades, Sri Lanka, Nêpal,[47]

Ở Ấn Độ, nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp

tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh

Bộ sử thi Vedas được viết vào năm 1.500 TCN và cuốn Charaka samhita được các thầy thuốc Charaka bổ sung tiếp vào bộ sử thi Vedas, trình bày cụ thể 350 loài thảo

Trang 6

dược Ấn Độ là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính, và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng cây thuốc Hầu hết các viện nghiên cứu dược của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc

và hợp chất có hoạt tính từ thực vật [43]

Ở Philippin, người ta sử dụng cây Bồ cu vẽ (Breynia fructicosa) lấy vỏ sắc

làm thuốc cầm máu hoặc tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét làm chúng chóng khỏi

Ở Malaixia, cây Húng chanh (Coleus amboinicus) dùng lá sắc cho phụ nữ sau

khi sinh đẻ uống hoặc giã nhỏ, vắt nước cốt cho trẻ em uống trị sổ mũi, đau họng,

ho gà

Ở Cămpuchia, Malaixia người ta dùng Hương nhu tía (Ocimum sanctum),

trong đó rễ trị đau bụng, sốt rét; nước lá tươi có tác dụng long đờm hoặc giã nát đắp trị bệnh ngoài da, khớp

Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Perry đã ghi nhận những cây thuốc trong Y học cổ truyền và các loài cây này đã được các nhà khoa học kiểm chứng, trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn [51] Hay gần đây, tập thể các nhà khoa học đã cho ra đời cuốn sách Tài nguyên các loài cây thuốc ở Đông Nam Á “Plant Resources of South-East Asia, Medicinal and poisonous Plant (2001)” với 1000 loài cây [55]

Từ thời cổ xưa, các chiến binh La Mã đã biết dùng dịch cây Lô hội (Aloe

barbadensis) để rửa vết thương, vết loét làm cho chúng chóng lành bệnh mà ngày

nay khoa học đã chứng minh là dịch cây có khả năng làm liền sẹo thông qua sự kích thích tổ chức hạt và tăng nhanh quá trình biểu mô hóa Người cổ Hy Lạp đã sử dụng

rau Mùi tây (Coriandrum officinale) để đắp vết thương cho mau lành Bên cạnh đó

Hippocrat (460 – 377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp được mệnh danh

là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là người đưa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn” [40]

Trang 7

Ở Châu Âu, vào thời Trung cổ, các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu sưu tầm và nghiên cứu Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc

bằng tiếng Ả rập Vào năm 1649, Nicolas Culpeper đã viết cuốn sách “A Physical

Directory”, sau đó vài năm, ông lại xuất bản cuốn “The English Physician” Đây là

cuốn dược điển có giá trị và là một trong những cuốn sách hướng dẫn đầu tiên dành cho nhiều đối tượng sử dụng, người không chuyên có thể sử dụng để làm cẩm nang chăm sóc sức khỏe Cho đến nay, cuốn sách này vẫn được tham khảo và trích dẫn rộng rãi [36]

Trong Y học dân gian Liên Xô đã sử dụng nước sắc vỏ cây Bạch dương

(Betula alba), vỏ cây Sồi (Quercus robus) để rửa vết thương và tắm ghẻ Ở nước Nga, Đức đã dùng cây Mã đề (Plantago major) sắc nước hoặc giã nát lá tươi đắp,

chữa trị vết thương, viêm tiết niệu, sỏi thận Tại Bungaria, “đất nước của hoa hồng”

từ lâu đã sử dụng hoa hồng để chữa nhiều bệnh khác nhau Người ta dùng cả hoa,

lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và phù thũng Ngày nay, người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng có một lượng tanin, glusit, tinh dầu đáng kể, tinh dầu này không chỉ để chế nước hoa mà còn được dùng để chữa nhiều bệnh [36, 40]

Ở Cu Ba, người ta đã dùng bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica papaya) để

kích thích hoại tử, kích thích tổ chức hạt ở các vết thương phát triển

Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật Tác dụng kháng khuẩn do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin, … Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất từ cây cỏ để làm thuốc Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh Gotthall

(1950) đã phân lập được chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất

này có tác dụng với vi khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh

Trang 8

tả, lị, mụn nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp) Từ cây Hoàng Liên (Coptis teeta), người ta đã chiết xuất được berberin Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các

hợp chất sulfua, sapoin và chất đắng Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+

và gram-, nấm Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp được chiết xuất từ cây Ba

gạc (Rauvolfa spp.) Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin vừa có tác dụng hạ huyết áp

vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được chiết xuất từ cây Dừa cạn Digitalin

được chiết xuất từ cây Dương địa hoàng (Digitalis spp.), strophatin được chiết xuất

từ cây Sừng dê (Strophanthus spp.) để làm thuốc trợ tim Từ những thành tựu

nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại thuốc có tác dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp

Về vấn đề sử dụng Y học cổ truyền, khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đât nước này Ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo dược Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển Ở Châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50% dân

số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế từ thảo mộc Ở Đức, 90% dân số

sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla [43] Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con người trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhưng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người Theo tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này lưu giữ thông tin có tới 30.000 loài được coi là đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác

Trang 9

nhau Trong đó có nhiều loài là cây thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Chẳng

hạn như ở Bangladesh, một số cây thuốc quý như Tylophora indicia để chữa hen,

Zannia indicia (thuốc tẩy xổ), trước đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi

Loài Ba gạc (Rauvolfila serpentina) vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh,

Thái Lan…mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị trường Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp Tuy nhiên, do bị khai thác liên tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt Vì vậy một số bang ở Ấn Độ

đã đình chỉ khai thác loài Ba gạc này [23,26] Ở Trung Quốc, loài Từ (Dioscorea

sp.) đã từng có trữ lượng lớn và từng được khai thác tới 30.000 tấn, nhưng hiện nay

số lượng bị giảm đi rất nhiều, có loài đã phải trồng lại Một vài loài cây thuốc dân

tộc quý như Fritillaria cirrhosa làm thuốc ho, phân bổ nhiều ở vùng Tây bắc tỉnh

Tứ Xuyên nay chỉ còn có ở 1 đến 2 điểm với số lượng ít ỏi

Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng của các loài cây thuốc trước hết là do sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên dược liệu và do môi trường sống của chúng bị hủy diệt bởi các hoạt động của con người Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhưng lại bị tàn phá nhiều nhất Theo số liệu của tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ước tính khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy Trong thế kỷ 21, với mục đích phục vụ sức khỏe con người, sự phát triển của

xã hội, chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết là phải kết hợp giữa Đông Y với Tây Y, giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền của các dân tộc Chính những kinh nghiệm của các dân tộc chính là chìa khóa giúp chúng ta khám phá ra nhiều loại thuốc mới cho tương lai Chính vì điều đó mà việc bảo tồn, khai thác và phát triển các loài cây thuốc cần được chú ý quan tâm

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Cũng như các dân tộc khác, nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có từ rất lâu đời, nhiều phương thuốc bào chế từ cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian Những kinh nghiệm này đã được ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và

Trang 10

lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Nền y học cổ truyền qua hàng nghìn năm Bắc thuộc nên chịu ảnh hưởng rất lớn của y học cổ truyền Trung Quốc

Với lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm, Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú Ước tính, nước ta có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo Có khoảng gần 4.000 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc [38]

Một trong những tài liệu sớm nhất về cây thuốc Việt nam phải kể đến cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư” của Tuệ Tĩnh Trong tài liệu này đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong

đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Hai cuốn sách này được xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam Đời nhà Trần có Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, thu thập trông nom một vườn thuốc lớn để chữa bệnh cho quân sĩ, gọi là “Sơn dược”, nay vẫn còn di tích tại xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đến thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô

tả khá chi tiết về các loài thực vật, các đặc tính chữa bệnh [23]

Thời kỳ Pháp thuộc (1884 - 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của dược học phương Tây Các phương thức chữa bệnh mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây thuốc nói riêng Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte (chủ biên) xuất bản cuối thể kỷ 18 đầu thể kỷ 19 đã mô tả và phân loại hơn 7.000 loài thực vật

Bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở Đông Dương” của C Crévost và A Pétélot năm 1935 đã thống kê được 1.340 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc được dùng trong

y học của Đông Dương [50] Đến năm 1993 Nguyen Van Duong xuất bản cuốn

“Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” với 524 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật Tuy nhiên cuốn sách này chưa hoàn thiện về mô tả, phân bố, thành phần hóa học và dược lý của các loại thảo mộc [51]

Năm 1957, Hội Đông Y Việt Nam (nay là hội Y học Cổ truyền Việt Nam) được thành lập, lãnh đạo các lương y làm nghề chữa bệnh trong nhân dân Cũng

Trang 11

trong năm này, Viện nghiên cứu Đông Y (nay là viện Y học Cổ truyền Việt Nam) với mục tiêu chỉ đạo các bệnh viện Y học dân tộc và các tỉnh, kết hợp giữa Y học cổ truyền với Y học hiện đại từ trung ương đến cơ sở Năm 1961, Viện Dược liệu được thành lập chuyên trách việc nghiên cứu nuôi trồng dược liệu, đã tiếp thu các viện nghiên cứu Đông Y chuyển sang, các vườn thuốc ở Văn Điển (Hà Nội), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai) cũng được xây dựng từ đây Đây là các mốc thời gian quan trọng trong lịch sử nghiên cứu cây thuốc của đất nước [46]

Trong thời gian chiến tranh (1954-1975), vùng căn cứ ở hậu phương vẫn dùng thuốc nam và “toa thuốc căn bản” gia giảm, thời kháng chiến chống Pháp trước đây

và phát hiện nhiều vị thuốc mới như cây Dền chữa sốt rét bổ máu, Bèo tây giải độc hoá chất Từ sau khi miền Nam được giải phóng, y dược học dân tộc đã phát triển ở khắp cả nước Nhiều công trình biên soạn giảng dạy, nghiên cứu khoa học y dược, phòng bệnh dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu, trị bệnh bằng thuốc theo y học cổ truyền, và kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại đã được tổng kết và có tác dụng tăng cường khả năng bảo vệ sức khoẻ nhân dân [46]

Gần đây, Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” đã giới thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [20] Đỗ Tất Lợi (1995) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” và tái bản vào năm 2000 [27,28] Công trình này thống kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài thực vật đã được mô tả về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng

Võ Văn Chi (1997) trong cuốn sách từ điển cây thuốc Việt Nam, đã mô tả được 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài thuộc 1.050 chi, được xếp và 230 họ thực vật theo hệ thống của Takhtajan [7] Tác giả đã trình bày

về cách nhận biết, các bộ phận được sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng của các loài thực vật Đến năm 2000, Võ Văn Chi và Trần Hợp tiếp tục giới thiệu cuốn sách “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” mô tả khoảng 6.000 loài thực vật bậc cao có mạch với các đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và công dụng [8]

Trang 12

Trong nghiên cứu cây thuốc, không thể không kể đến nhiều bộ công trình có giá trị của Viện Dược liệu (Bộ Y Tế) Năm 1980, Đỗ Huy Bích và tập thể nghiên cứu của Viện Dược Liệu đã giới thiệu 159 loài cây thuốc trong “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” Hay Tập thể các tác giả Viện Dược liệu cho ra đời cuốn “Tài nguyên Cây thuốc Việt nam” (1993) với khoảng 300 loài cây thuốc đang được khai thác và

sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc, “Dược điển Việt Nam, 2 tập” (1994), “Selected medicinal plants in Vietnam” (2001), và gần đây nhất là cuốn

“Cây thuốc và động vật là thuốc ở Việt Nam, 2 tập” (2004) [3, 44, 45,46]

Trần Đình Lý (1993) và cộng sự đã xuất bản cuốn sách “1900 loài cây có ích” Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài tre nứa, 40 loài song mây Trong số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có công dụng làm thuốc Năm 1995 Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn

“Thuốc quý quanh ta”, Ngô Trực Nhã với “Cây thuốc trong trường học”, [48] Bên cạnh đó, nhiều cuốn sách có giá trị trong nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam như Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh lục các loài thưc vật Việt Nam” [2] Cuốn sách đã trình bày đầy đủ các thông tin về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống – sinh thái và công dụng Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu hệ thực vật nói chung

và tra cứu thành phần loài cây thuốc nói riêng

Về vấn đề sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số nói chung, do đời sống gắn liền với khai thác sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý trong quá trình chế biến, sử dụng thực vật; đặc biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thường được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình), vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thất thoát rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng 10 năm trở lại đây, nghiên cứu cây thuốc dân tộc được đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan Kết quả điều tra được ghi nhận là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc ở các địa phương trong cả nước [21]

Trang 13

Các nhà khoa học thuộc Viện Dược liệu (Bộ Y tế), Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, trường Đại học Dược Hà Nội trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Đặc biệt là các nghiên cứu về y học cổ truyền của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong những năm gần đây Nhiều nghiên cứu về cây thuốc đã được thực hiện với các công đồng dân tộc thiểu số như: H’ Mông, Dao, Tu

Dí, Mường, như:

+ Điều tra nghiên cứu về tri thức bản địa và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào Thái tại Mai Châu – Hòa Bình của tác giả Nguyễn Tiến Bân và cộng

sự vào năm 2001;

+ Nghiên cứu và ứng dụng thành công tri thức sử dụng cây Ngấy (Rubus

cochinchinesis) của đồng bào dân tộc trong việc chữa trị u tiền liệt tuyến của tác giả

Lưu Đàm Cư và cộng sự, năm 2002

+ Năm 2001, Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự đã điều tra đánh giá về tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm thuốc của một số cộng đồng dân tộc Dao, Tày và Hoa tại Yên Tử - Quảng Ninh và đã thu thập được

362 loài thực vật làm thuốc Năm 2005, tác giả và cộng sự thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động kinh tế - dân sinh của các cộng đồng dân tộc vào tài nguyên thực vật

và ảnh hưởng của nó tới đa dạng sinh học tại Chiềng Yên – Mộc Châu – Sơn La” Kết quả đã thống kê được 209 loài cây thuốc do người Mường sử dụng và 176 cây thuốc được người Dao sử dụng [23]

+ Trần Văn Ơn (2006), “Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại VQG Ba Vì” Luận án tiến sĩ dược học

+ Năm 2008, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự về “Cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái ở Con Cuông, tỉnh Nghệ An” [40]

Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo để phòng và chữa bệnh

Nhiều bài thuốc dân tộc có hiệu quả chữa trị cao đã được thu thập và đưa vào nghiên cứu thực nghiệm Đồng thời, đã phát hiện nhiều loài cây thuốc mới; đặc biệt

là các công dụng mới của nhiều loài cây thuốc Như vậy, nghiên cứu cây thuốc

Trang 14

truyền thống của các dân tộc thiểu số đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta

Cùng với việc điều tra thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc sử dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội được chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây Từ kinh nghiệm truyền thống của các dân tộc

đã có những nghiên cứu và sản xuất thành công các loại thuốc chữa bệnh cho người dân Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các bệnh hiểm nghèo Đây thực sự là hướng nghiên cứu có triển vọng lớn trong tương lai

1.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở VQG Hoàng liên, tỉnh Lào Cai

Đề án "Điều tra đánh giá dược liê ̣u mô ̣t số vùng tro ̣ng điểm của tỉnh Lào Cai" (Viện Dược liệu 1997, 1998) đã thống kê có 706 loài cây thuốc có tiềm năng

làm thuốc ở huyê ̣n Sa Pa, trong đó có xã Tả Van và xã Bản Hồ Theo điều tra sơ bô ̣ của Viện Dược liê ̣u chỉ có 17 loài còn trữ lượng khá, có khả năng khai thác tự nhiên Phần lớn là các cây thuốc thông thường Có 35 loài cây thuốc bi ̣ đe do ̣a ở các mức đô ̣ khác nhau bao gồm 10 loài ở mức độ E (Endangered - đang nguy cấp); 8 loài ở mức đô ̣

V (Vulnerable - sẽ nguy cấp); 10 loài ở mứ c độ R (Rare- hiếm); 7 loài ở mức đô ̣ T (Threatened - bị đe dọa) Có 98 loài cây thuốc được trồng ở huyê ̣n Sa Pa Trong đó

23 loài được trồng phổ biến như: Thảo quả, Bạch truâ ̣t, Đỗ tro ̣ng, Lão quan thảo, Đương quy Phần lớn các cây là nhâ ̣p nô ̣i, chỉ có mô ̣t số loài là bản đi ̣a

Năm 2003, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tiến hành đề tài “Xây dựng luận cứ khoa học để bảo vệ tri thức bản địa cho việc sử dụng đa dạng sinh học” có triển khai tại một số điểm của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, nhưng đây chỉ là một số ghi nhận nhỏ [47]

Năm 2008, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự công bố “Đa dạng sinh học VQG Hoàng Liên” trong đó có ghi nhận nằm trong khu vực VQG có 761 loài cây thuốc Cũng theo tác giả thì nơi đây là trung tâm của các loài cây thuốc nguy cấp, một số

Trang 15

loài cây thuốc quí hiếm như Ô đầu (Aconitum camichaeli), Bạch chỉ (Angelica

dahurica), Đương quy (Angelica uchiyamae), Dâm dương hoắc (Epimedium macranthum), Tam thất (Panax stipuleanatus), Hoàng liên (Coptis chinensis)

Nhưng đây là công trình tổng hợp về đa dạng sinh học nói chung của cả vườn quốc gia, không có ghi nhận về các bài thuốc của đồng bào các dân tộc nơi đây [41] Năm

2011, Nguyễn Thị Minh Hải đã điều tra và đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc H’Mông tại xã San Sả Hồ và xã Lao Chải, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai (2 trong 4 xã vùng lõi của VQG Hoàng Liên) [16]

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề cây thuốc và vị thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại VQG Hoàng Liên được xuất bản, chưa có dự án nào về bảo tồn các bài thuốc hiện có của đồng bào dân tộc Dao nơi đây

Trang 16

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Toàn bộ các loài thực vật được đồng bào dân tộc Dao tại VQG Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc chữa bệnh

- Các bài thuốc dân tộc của đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 09 năm 2012

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều tra thu thập thông tin, xây dựng danh lục về các loài cây có tác dụng

làm thuốc được đồng bào dân tộc Dao sử dụng trong VQG

2.3.2 Phân tích, đánh giá tính đa dạng các loài cây thuốc: đa dạng các bậc phân

loại, dạng sống, sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống, xây dựng sơ đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ

2.3.3 Vấn đề sử dụng cây thuốc: Đa dạng về công dụng chữa trị của các loài cây

thuốc, bộ phận của cây được sử dụng làm thuốc Một số bài thuốc

2.3.4 Các giải pháp bảo tồn các loài cây thuốc và nguồn tri thức bản địa cho cộng

đồng dân cư địa phương: Điều tra về thị trường cây thuốc, tình hình khai thác tiêu thụ và bảo tồn các loài cây sử dụng làm thuốc và bài thuốc dân gian

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Điều tra thực địa theo tuyến:

Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra Tuyến được chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho VQG Trên

Trang 17

mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc trưng nhất để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)

Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên Mỗi loài lấy 5-6 tiêu bản

Sau thời gian một năm với 2 chuyến điều tra thực địa, được sự giúp đỡ của BQL VQG Hoàng liên và các trạm kiểm lâm trực thuộc, các ông lang, bà mế, chúng tôi đã tiến hành 2 chuyến điều tra khảo sát và thu mẫu trong phạm vi khu vực nghiên cứu

- Các tuyến điều tra thực địa là:

+ Xã Tả Van: tuyến đi Tả Van Dáy, tuyến đi Tả Van Mông, tuyến đi Séo Mý

Tỷ, tuyến đi Dền Thàng

+ Xã San Sả Hồ: tuyến đi suối Cát Cát, tuyến đi Ý Linh Hồ, tuyến đi Sín Chải, tuyến đi Suối vàng - Thác tình yêu

+ Xã Bản Hồ: tuyến đi Hoàng Liên, tuyến đi Séo Trung Hồ, tuyến đi Nậm

Toóng, tuyến đi Ma Quái Hồ và Tả Trung Hồ

+ Xã Lao Chải: tuyến đi Lao Chải San, tuyến đi Lồ Hàng Chải, Lý Lao Chải

Bên cạnh đó, chúng tôi còn điều tra một phần tại các xã vùng đệm để thấy rõ tình hình sử dụng, cũng như buôn bán nguồn dược liệu như xã Mường Khoa, Thân Thuộc (Lai Châu)

- Các ông lang, bà mế đã phỏng vấn là:

+ Bà Bàn Thị Mủi, thôn Hoàng Liên, xã Bản Hồ

+ Ông Triệu Văn Trọng, thôn Hoàng Liên, xã Bản Hồ

+ Bàn Thị Hưởng, bản Lao Chải San, xã Lao Chải

+ Bà Sùng Thị Mủa, bản Lồ Lao Chải, xã Lao Chải

+ Bà Bàn Thị Hưởng, bản Lao Chải San, xã Lao Chải

+ Ông Triệu Thừa Trung, bản Cát Cát, xã San Sả Hồ

+ Bà Bùi Thị Hà, bản Cát Cát, xã San Sả Hồ

+ Ông Thân Văn Hướng, thôn Gia Hòa, xã Thân Thuộc

+ Ông Chảo Văn Định, bản Giền Thăng, xã Thân Thuộc

+ Ông Văn Tử Tuân, bản Sang Ma, xã Thân Thuộc

Trang 18

+ Bà Bùi Thị Hiển, thôn Hoàng Liên, xã Mường Khoa

Ngoài ra, chúng tôi còn phỏng vấn người dân buôn bán, kể cả tiểu thương tại chợ Sa Pa

2.4.2 Thu thập số liệu, tài liệu:

+ Tiến hành thu thập số liệu từ các nguồn thông tin đáng tin cậy như các báo cáo khoa học của khu bảo tồn, kỷ yếu, tạp chí khoa học, internet

+ Phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân (PRA): Phỏng

vấn đồng bào, các cán bộ làm công tác quản lý, nhất là các ông lang, bà mế, các lương y dân tộc Dao tại khu vực VQG Hoàng Liên Thông qua các bảng câu hỏi đã được xây dựng sẵn để sưu tầm và phát hiện các bài thuốc, cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian Mỗi cây thuốc, bài thuốc đều có mẫu thu và ghi chép các thông tin cần thiết như công dụng, bộ phận sử dụng, cách sử dụng của cây (phụ lục 2)

+ Thu thập các loài thực vật làm thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở khu vực VQG

sử dụng (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997; Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006)

+ Xác định tên khoa học, kiểm tra, chỉnh lý tên theo các tài liệu chính là các tập Cây

cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), Thực vật chí Việt Nam (nhiều tác giả), Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (nhiều tác giả) cùng nhiều tài liệu liên quan khác + Xây dựng danh lục: Điều chỉnh khối lượng họ, chi theo hệ thống của bộ Sách

“Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” 3 tập [4,5,6] Danh lục được xây dựng theo

Trang 19

nguyên tắc sự phát triển của các ngành thực vật từ Lá thông đến thực vật Hạt kín Trong mỗi ngành các họ, chi loài được xếp theo vần ABC Riêng ngành thực vật Hạt kín do khối lượng lớn nên chia thành 2 lớp Hai lá mầm và lớp Một lá mầm, sau

đó cũng xếp tương tự như trên Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt Nam của các loài còn có các thông tin khác như công dụng, dạng sống, môi trường sống của các loài thực vật, bộ phận sử dụng và cách thức sử dụng loài đó làm thuốc như mô hình bảng 2.1

Bảng 2.1 Bảng danh lục các loài thực vật làm thuốc (mẫu)

TT TÊN KHOA

HỌC

TÊN VIỆT NAM

CÔNG DỤNG

BỘ PHẬN DÙNG

CÁCH DÙNG

DẠNG CÂY

MÔI TRƯỜNG SỐNG

- Sách đỏ Việt Nam, 2007 [4];

- Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2009 [24];

- Nghị định số 32 của chính phủ về các loài động thực vật quý hiếm [10] + Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về dạng sống của các loài cây thuốc, mô trường sống của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc (theo Viện Dược liệu)

+ Các nhóm bệnh được phân chia theo tài liệu của Lê Trần Đức (1997) “Cây thuốc Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu” Chi tiết như sau:

- Nhóm 1: Bệnh ngoại cảm (gồm cảm mạo phát sốt ớn lạnh, nghẹt mũi, cảm cúm

hơi sốt sợ lạnh, đau mỏi, cảm gió lạnh, rét run, cảm nóng rét nắng mưa thời khí hỗn tạp, cảm về mùa hè nôn đầy, cảm cúm mùa hè sốt dai đau mình, cảm nắng hay sốt

Trang 20

nóng đơn thuần, nóng rét qua lại, sốt rét cơn, sốt dị ứng, phát ngứa sưng phù, bệnh

ôn nhiệt sốt hè thu, trúng gió méo mồm lệch mắt, trúng phong thấp hôn mê co cứng, trúng phong hàn hôn mê quyết lạnh)

- Nhóm 2: Bệnh về hô hấp (ngạt mũi, sổ mũi, hắt hơi, viêm mũi dị ứng, ho, viêm

họng, ho đờm, ho khan, viêm phế quản, viêm phổi, sưng phổi, hen phế quản, hen suyễn, suyễn thở, ho lao)

- Nhóm 3: Bệnh về huyết mạch (gồm các loại chảy máu, huyết áp cao, huyếp áp

thấp, hạ đường huyết, mạch máu xơ cứng (tắc mạch, giãn mạch), đau tim)

- Nhóm 4: Bệnh về tâm thần (gồm khó ngủ hồi hộp, ngủ lờ mờ không sâu, dễ tỉnh,

điên cuồng, tinh thần phân liệt (sầu uất), động kinh, kinh giản)

- Nhóm 5: Bệnh về tiêu hoá (nghẹn nuốt khó, nấc cụt, ợ, nôn oẹ, nôn mửa, đau

bụng không tiêu, đau bụng lạnh dạ, nóng ruột, chán cơm, táo bón, ỉa chảy phân loãng, sống phân, ỉa xối ra nước không dứt, lỵ mới phát, lỵ ra máu, có sốt, lỵ mạn tính, thổ tả, đau bụng giun quấy, trục giun, ngộ độc, đau dạ dày, viêm đại tràng mạn tính, lòi dom và trĩ mới phát)

- Nhóm 6: Bệnh về tiết niệu và gan thận (gồm tiểu tiện không thông, đái buốt, đái

đục, đái ra dưỡng chất, đái ra cát sỏi, phù thũng, viêm cầu thận cấp, thuỷ thũng, viêm gan, truyền nhiễm, sưng gan (áp-xe), viêm gan mãn tính, xơ gan mãn tính, xơ gan cổ trướng, viêm túi mật, sỏi mật, đái tháo nhạt không rõ nguyên nhân, đái tháo đường, viêm tiền liệt tuyến, vô niệu do nhiễm độc hay uất hoả)

- Nhóm 7: Bệnh về sinh dục (gồm thận hư, tinh yếu, di mộng tiết hoạt tinh, liệt

dương)

- Nhóm 8: Bệnh suy nhược không đau (gồm cơ thể hư nhược, tinh thần suy

nhược, tự ra mồ hôi khi ra gió, ra mồ hôi ở tay chân, bốc nóng giữa đỉnh đầu)

- Nhóm 9: Các bệnh đau nhức (đau đầu chóng mặt, đau đầu ê ẩm, nặng đầu, đau

đầu như búa bổ, đau nửa đầu liền với mắt, mắt đau sưng đỏ, đau mắt trắng, mắt mờ, đau răng, viêm lợi, đau ngang lưng (thần kinh hông), phong thấp, tê thấp, thấp thở, phong nhiệt nhức nhói, đầu gối sưng đau, tê phù, đau lưng trên, bả vai, cánh tay, nổi hạch, u, viêm hạch, lao hạch, viêm tinh hoàn (sa đì), bại liệt nửa người, xuất huyết dạng thấp (thấp cơ)

Trang 21

- Nhóm 10: Bệnh ngoài da (gồm đơn độc sưng tấy, mụn nhọt, lở ngứa các loài,

thuốc dùng ngoài đối với từng loại lở ngứa, lở nấm, tổ đỉa, chín mé, hắc lào, lở chàm, ghẻ, lang ben, lang trắng, mụn cóc, bướu cổ, phủi, lở cùi, tràng nhạc hay lao hạch)

- Nhóm 11: Bệnh ngoại thương (gồm bị thương, bị ngã, bị thương chảy máu, bị

bỏng, rắn cắn)

- Nhóm 12: Bệnh phụ nữ (gồm kinh không đều, thấy sớm kỳ, kinh thấy chậm kỳ,

kinh loạn kỳ, kinh nguyệt gián đoạn thất thường, kinh bế, rong kinh, băng huyết nhẹ

do cơ năng; khí hư, bạch đới, viêm phần phụ, viêm âm hộ, âm đạo sưng đau, Sa sinh dục (sa dạ con), u xơ tử cung, mót đái do viêm các cơ quan sinh dục, vô kinh

do giảm chức năng buồng trứng, tắc tia sữa, viêm tuyến vú, u xơ tuyến vú, áp xe vú, nhọt vú, vú bị lở, đứt cổ gà, nôn nghén, động thai, phòng sẩy thai, sau khi đẻ say máu; sau khi đẻ cảm sốt, sau khi đẻ phù nề)

- Nhóm 13: Bệnh trẻ em (gồm ợ, nấc cụt, trớ sữa, ói sữa, trẻ ỉa chảy phọt toé ra

nước, ỉa chảy phân loãng, ỉa phân sống, cam tích, cam tướt, cam lỵ, còi xương, suy dinh dưỡng, cam thũng, quai bị, ho gà, sởi, thủy đậu, sốt bại liệt, viêm màng não B

và di chứng, sổ xuất huyết do muỗi, sưng amidan, viêm tai, thấp tim, đái dầm, thoát

vị thừng tinh, lở chàm, chốc đầu – mô đầu, rôm sảy, tưa lưỡi, lở mồm)

+ Sơ đồ phân bố các loài thực vật quý hiếm: Căn cứ vào các điểm đã phát hiện được cây thuốc ngoài thực địa (đã được xác định vị trí bằng GPS và đánh dấu vào bản đồ điều tra), đánh dấu điểm phân bố của loài trên bản đồ (theo Nguyễn Thượng Dong

và cộng sự, 2006)

Trang 22

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VƯỜN

QUỐC GIA HOÀNG LIÊN, TỈNH LÀO CAI 3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu:

3.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích:

3.1.1.1 Vị trí địa lý, diện tích:

Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm trong khu vực Tây Bắc Việt Nam, có vị trí địa lý từ 22009’ - 23030’ độ vĩ Bắc và 103000 - 103059’ độ kinh Đông Về địa giới hành chính nó thuộc 5 xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, Mường Khoa huyện Sa Pa và huyện Tân Uyên (tỉnh Lai Châu) có ranh giới tiếp giáp:

3.1.1.2 Ranh giới VQG Hoàng Liên:

- Phía Đông giáp xã Thanh Kim, Nậm Sài, Nậm Cang, huyện Sapa và xã Tả

Phìn, thị xã Cam Đường Lào Cai

- Phía Tây giáp xã Bản Bo, Bình Lư, Hồ Thầu huyện Tam Đường Lai Châu

- Phía Nam và Đông Nam giáp huyện Văn Bàn và phần còn lại giáp 2 xã Mường Khoa, Thân Thuộc và các xã Hố Mít, Pắc Ca, huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu

- Phía Bắc giáp phần ngoài khu điều tra thuộc xã Tả Giàng Phình, Tả Phìn, Bản Khoang, Trung Trải huyện Sapa

- Trụ sở Ban quả lý VQG Hoàng Liên nằm tại thị trấn Sapa, cách Lào Cai 36km Tổng diện tích đất đai thuộc quản lý của VQG Hoàng Liên là 51.800ha, trong đó vùng lõi là 29.845ha, là phần cuối cùng của dãy Himalaya chạy dọc sông Hồng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Ranh giới vùng lõi của VQG cũng được phân chia theo dãy núi này, theo đó vùng lõi của VQG thuộc sườn phía Đông Bắc còn phần vùng đệm (thuộc huyện Tân Uyên) thì thuộc sườn Tây Bắc

3.1.2 Địa chất, địa hình

3.1.2.1 Địa chất và thổ nhưỡng:

- Theo Vũ Tự Lập (1999), Hoàng Liên được cấu tạo từ các loại đá nguồn gốc Mắc-ma như granit, amphibolite, filit, đá vôi, trong đó đá granit là phổ biến nhất trong điều kiện nhiệt đới ẩm, chúng có lớp vỏ phong hóa dày ở khu vực chân núi

Trang 23

nhưng ở sườn dốc do sự bào mòn mạnh của nước chảy nên sự xâm thực nhanh hơn nhiều so với phong hóa, đá gốc lộ ra nhiều làm cho các đỉnh hầu như có sắc nhọn

- Địa chất và địa hình, kết hợp với khí hậu làm thêm thổ nhưỡng, quy luật phân bố các loại đất đai VQG Hoàng Liên theo đai độ cao được thể hiện rõ Kết quả điều tra phân loại đất đã xác định trong khu vực có 2 nhóm, gồm 7 loài chính như sau:

+ Đất mùn thô than bùn màu xám trên núi cao, phân bố từ 1.600-2.800m

+ Đất mùn alit màu vàng nhạt trên núi cao, phân bố từ 1.600-2.800m

+ Đất feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá axit từ 600-1.600m

+ Đất feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất 600-1.600m

+ Đất feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá axit từ 300-600m

+ Đất feralit màu vàng đỏ núi cao phát triển trên đá biến chất 300-600m

+ Đất feralit biến đổi do trồng lúa

Hệ chính của dãy núi thoải dần theo hướng Đông Bắc thuộc huyện Sapa và sườn Tây Nam thuộc huyện Than Uyên Phần lớn các đỉnh núi có độ cao trung bình từ 2.000 - 2.500m còn độ cao có bình độ thấp nhất phía Sapa là 380m (xã Bản Hồ)

- Các dạng địa hình chủ yếu của VQG Hoàng Liên gồm núi cao, thung lung, sườn núi đồi Mức độ chia cắt theo chiều ngang và chiều thẳng đứng rất mạnh tạo

sự phức tạp của địa hình và độ ạnh tạo sự phức tạp của địa hình và độ dốc lớn Độ dốc trung bình phổ biến từ 200-300 có nơi 400 và dốc đứng

3.1.3 Khí hậu, thủy văn:

3.1.3.1 Khí hậu:

Trang 24

- Đặc điểm của các yếu tố khí hậu với vị trí ở phía đông của dãy Hoàng Liên,

có địa hình phức tạp nên chế độ khí hậu VQG Hoàng Liên hầu như quanh năm duy trì ở trạng thái ẩm ướt Đặc biệt hiện tượng mưa phùn cuối đông diễn ra mạnh mẽ vì các thung lung mở rộng về phía đồng bằng đã tạo điều kiện tichs tụ các luồng gios nồm ẩm thổi từ biển tới

- Bức xạ: Tổng bức xạ mặt trời có chỉ số phổ biến từ 100-135Kcal/cm2/năm, ngoài giới hạn này có ở Sapa, Mù Cang Chải

- Nhiệt độ trung bình năm có chỉ số phổ biến từ 13-210c, lớn ở sườn Tây, nhỏ

ở sườn Đông Nhiệt độ cao nhất vào tháng 6-7 có chỉ số 16-250c Nhiệt độ thấp nhất vào các tháng 12 và tháng , nhiều năm dưới 50c

- Chế độ mưa: Lượng mưa phân bố không đều giữa các tháng trong năm, đặc biệt vào các tháng mùa hè, lượng mưa tương đối cao Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 10

- Chế độ bốc hơi nước: Lượng bốc hơi trong vùng có ảnh hưởng tới độ ẩm,

nhiệt độ không khí trung cho từng lưu vực

3.1.3.2 Thủy văn

Mặc dù không có sông lớn chảy qua, nhưng do đặc điểm địa hình của khu vực, VQG Hoàng Liên được tạo từ hai sườn chính: sườn Đông Bắc dốc thoải về phía sông Hồng và sườn Tây Nam dốc thoải về phía sông Đà vì vậy trong lưu vực tạo nên 2 hệ suối chính

- Hệ thống suối khu vực Đông Bắc huyện Sapa gồm 3 suối chính: Mường Hoa Hồ bắt nguồn từ Phansipan, Séo Chung Hồ bắt nguồn từ Tả Van, Tả Trung Hồ bắt nguồn từ Bản Hồ

- Hệ suối thuộc khu vực Tây Nam dãy Hoàng Liên gồm 2 suối chính: Suối Nậm Bé (xã Mường Khoa) và suối Nậm Pao, Nậm Chăng (xã Thân Thuộc)

3.1.4 Tài nguyên thiên nhiên

VQG Hoàng Liên có tổng diện tích tự nhiên là 51.800ha, được chia ra thành 2 loại đất như sau:

+ Diện tích đất lâm nghiệp: 42.845 ha

- Đất có rừng: 30.352 ha

Trang 25

- Đất trống đồi núi trọc: 12.493 ha

+ Các loại đất khác: 8.955 ha

Về tài nguyên rừng, theo Nguyễn Nghĩa thìn và cộng sự (2008), rừng ở VQG Hoàng Liên gồm các dạng rừng rậm nguyên sinh thường xanh đai á nhiệt đới trên núi và trạng thái thứ sinh của nó, rừng ôn đới nguyên sinh, rừng ôn đới thứ sinh có cây gỗ lá rộng hỗn giao với trúc và các trạng thái trảng khác

3.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội:

3.2.1 Dân tộc và dân số: Theo kết quả điều tra năm 2004 thì số dân trong vùng lõi

và vùng đệm VQG Hoàng Liên là 30.697 người với 4.151 hộ Mật độ dân số bình quân trong khu vực điều tra là 59 người/km2 Mật độ thấp nhất là 10 người/ km2 (xã Bản Hồ) và cao nhất 192 người/km2 thị trấn Sapa Trong đó tỷ lệ tăng dân số bình quân 2,63%/năm Một số dân tộc có tỷ lệ sinh đẻ cao là H’Mông (3,6%), Dao(3,2%) Trong khu vực điều tra có 10 dân tộc cư trú, trong đó dân tộc H’mông chiếm tỷ lệ 40%, dân tộc Kinh 18,57% Ngoài ra còn có các dân tộc khác như Dao, Tày, Dáy và Thái Cơ cấu dân tộc ở các xã cũng rất khác nhau Các xã có người

H’mông chiêm tỷ lệ cao như xã Hầu Thào, Sử Pán, San Sả Hồ, Tả Van, Lao Chải Người kinh tập trung chủ yếu ở thị trấn Sapa, Sa Pả, Thân Thuộc, Mường Khoa

Còn các dân tộc khác rải rác ở các vùng đất thấp và ven các con suối lớn

3.2.2 Lao động và tập quán:

Tổng số người đến độ tuổi lao động trong khu vực chiếm 41,9% tổng số nhân khẩu Các dân tộc vùng cao có tập quán làm ăn chủ yếu là sản suất nông nghiệp với loại hình sản suất lúa nước trên các ruộng bậc thang hẹp Công cụ lao động đơn giản như: Cày, cuốc, dao phát Trong tổng số diện tích đất canh tác tại VQG Hoàng Liên thì đất trồng lúa nước chiếm 24%, đất trồng lúa nương chiếm 6,5% Ngoài sản suất lương thực, đồng bào còn trồng thêm các loại đặc sản như: Thảo quả, một số loài cây dược liệu và vài loài rau ăn

Hiện tượng du canh, phát nương làm rẫy vẫn diễn ra vì thế đã làm giảm diện tích rừng một cách nhanh chóng Bên cạnh đó, nạn lửa rừng do con người gây ra, săn bắn các động vật rừng lấy thực phẩm và bán lấy tiền (da, sừng, mật), làm dược liệu, đã trở thành mối đe dọa cho nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học và mất rừng

Trang 26

3.2.3 Văn hóa, y tế, giáo dục:

Văn hóa: Cộng đồng dân cư sống trong VQG Hoàng Liên gồm nhiều dân tộc

khác nhau Vì vậy, các hoạt động văn hóa rất đa dạng và mang những đặc điểm riêng

Giáo dục: Nạn thất học, mù chữ còn phổ biến, công tác xóa mù chưa thực sự có

hiệu quả Hiện tượng tái mù chữ vẫn tiếp tục phát triển, 31,5%, mù chữ vẫn tiếp tục phát triển, 31,5%, nhiều xã có trẻ em thất học lên tới 50%, giáo viên ít lại không được quan tâm đúng mức nên chất lượng giáo dục ngày càng bị giảm sút

Y tế: Các cơ sở tế cũng bị xuống cấp nghiêm trọng, thuốc men thiếu thốn, đội

ngũ mỏng, không đáp ứng được nhu cầu phòng và chữa bệnh cho đồng bào vùng quê

Xã hội: Các tện nạn xã hội còn phổ biến như nghiện hút, cờ bạc, mê tín dị đoan

trước đây đã bị xóa bỏ cơ bản nay lại phục hồi và đang có su thuế phát triển

3.2.4 Tình hình giao thông và cơ sở hạ tầng

Điều kiện khu vực Hoàng Liên còn gặp nhiều khó khăn Nhiều con đường liên

xã, liên thôn chỉ là đường mòn đi bộ hoặc bằng ngựa

Giáp ranh giới phía Bắc của VQG Hoàng Liên có đường quốc lộ 4D đi Lai Châu Đây là con đường cửa ngõ duy nhất từ miền xuôi đi Lào Cai và Lai Châu Ranh giới phía Nam và Tây Nam là đường tỉnh lộ từ Tam Đường (Lai Châu) đi qua Than Uyên về Yên Bái Cả hai trục đường trên ô tô đi lại bình thường nhưng chất lượng hơi kém

Trang 27

Hình 3.1 Bản đồ vị trí và hiện trạng trảm thực vật rừng vườn quốc gia Hoàng

Liên, tỉnh Lào Cai

Trang 28

Chương 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Thống kê các loài cây được đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng liên, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc

Qua quá trình điều tra, chúng tôi đã thu thập được những kinh nghiệm hiểu biết của các ông lang, bà mế của dân tộc Dao chủ yếu thuộc 4 xã vùng lõi của VQG Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Những mẫu cây được đồng bào dân tộc Dao sử dụng làm thuốc đã được chúng tôi thu thập, xử lý, xác định tên khoa học và tổng hợp Kết quả nghiên cứu được trình bày ở Phụ lục 1

Trong phần Phụ lục 1: “Danh lục các loài thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc” được sắp xếp theo

hệ thống của bộ Sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” 3 tập [2,42] Danh lục được xây dựng theo nguyên tắc sự phát triển của các ngành thực vật từ thấp đến cao Trong mỗi ngành các họ, chi, loài được xếp theo vần ABC Riêng ngành thực vật Hạt kín do khối lượng lớn nên chia thành 2 lớp là Hai lá mầm và lớp Một lá mầm Sau đó cũng xếp tương tự như trên Tổng số loài chúng tôi đã thống kê được

là 385 loài, thuộc 112 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch đó là:

- Ngành Thông đất (Lycopdiophyta) với 3 loài, 2 chi thuộc 1 họ

- Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) với 1 loài, 1 chi thuộc 1 họ

- Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) với 13 loài, 10 chi thuộc 7 họ

- Ngành Hạt trần (Gymnospermae) hay còn gọi là ngành Thông (Pinophyta) với 2 loài, 2 chi, 2 họ

- Ngành Hạt kín (Angiospermae) hay còn gọi là ngành Mộc lan (Magnoliophyta) với 368 loài, 279 chi thuộc 101 họ

4.2 Đánh giá về đa dạng các loài cây được đồng bào Dao ở khu vực VQG Hoàng liên, huyện SaPa, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc

4.2.1 Đa dạng về các bậc phân loại của các loài cây được đồng bào dân tộc Dao

ở VQG Hoàng liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc

4.2.1.1 Đa dạng ở mức độ ngành:

Trang 29

Theo bảng Danh lục (Phụ lục 1), chúng tôi đã thống kê được các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

sử dụng là 385 loài, 294 chi, thuộc 112 họ của 5 ngành thực vật Sự phân bố của các taxon được trình bày trong bảng 4.1

Bảng 4.1 Sự phân bố các taxon trong các ngành của các loài cây thuốc được

đồng bào dân tộc Dao trong khu vực điều tra sử dụng

Ngành Thông đất

Ngành Cỏ tháp bút

Ngành Dương xỉ

Ngành Hạt trần

Ngành Hạt kín

Họ Chi Loài

Hình 4.1: Biểu đồ số lượng các taxon của các ngành cây thuốc được đồng bào

dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên sử dụng

Theo bảng 4.1 cho thấy sự phân bố các taxon trong các ngành thực vật là khá

chênh lệch Trong đó, ngành Hạt kín (Angiospermae) có số lượng lớn nhất với số

Trang 30

lượng loài là 368, chiếm 95,58%; số chi là 279, chiếm 94,90% và số họ là 101, chiếm tới 90,18% tổng số họ của toàn hệ thực vật Tiếp đến là ngành Dương xỉ

(Polypodiophyta) có số loài là 13, chiếm 3,38% tổng số loài thực vật của cả hệ,

thuộc 10 chi, chiếm 3,34% tổng số chi thực vật của cả hệ, trong 7 họ chiếm 6,25% tổng số họ thực vật của cả hệ

Trong 3 ngành còn lại của các loài cây được đồng bào dân tộc Dao ở VQG

Hoàng Liên, huyện Sa Pa sử dụng làm thuốc là ngành Thông đất (Lycopodiophyta), ngành Hạt trần (Pinophyta) và Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) thì số lượng và tỉ

lệ của các họ, chi, loài so với toàn hệ là rất thấp, trong đó thấp nhất là Ngành Cỏ

tháp bút (Equisetophyta), chỉ có 1 họ, 1 chi với 1 loài

Nếu so sánh sự phân bố các taxon cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên, huyện Sa Pa sử dụng với các taxon cây thuốc ở Việt Nam, chúng tôi thu được kết quả được thể hiện ở bảng 4.2

Bảng 4.2 So sánh hệ cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao trong khu vực điều

tra sử dụng làm thuốc với hệ cây thuốc Việt Nam Các chỉ tiêu so

sánh

VQG Hoàng liên (dân tộc Dao)

Việt Nam Tỉ lệ so sánh của VQG

Hoàng liên với Việt Nam (%)

* Nguồn: Viện Dược liệu, 2006

Từ bảng 4.2 cho thấy, so với diện tích cả nước Việt Nam thì diện tích của VQG Hoàng liên chỉ chiếm 1,56% nhưng số ngành thực vật được đồng bào dân tộc Dao nơi đây sử dụng làm thuốc chiếm tới 83,33%, số họ chiếm tới 36,48%, số chi

Trang 31

chiếm tới 18,70%, số loài chiếm 10,00% so với tổng số ngành, họ, chi, loài cây thuốc của cả nước

Kết quả tính toán này cũng cho thấy số lượng loài cây được đồng bào dân tộc Dao sử dụng làm thuốc khá đa dạng về số lượng các taxon, với tỉ lệ các taxon trong

hệ cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao trong khu vực VQG Hoàng liên so với cả nước là 13,88%

Để thấy rõ sự đa dạng của các taxon thực vật, chúng tôi tiến hành phân tích sâu hơn về ngành Hạt kín – ngành thống trị trong giới thực vật Trong ngành có 2

lớp: Lớp hai lá mầm (Dicotyledoneae) và lớp một lá mầm (Monocotyledoneae),

chúng tôi thu được kết quả ở bảng 4.3

Bảng 4.3 Sự phân bố các taxon trong ngành Hạt kín Lớp

Số lượng

Qua bảng 4.3 cho thấy lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) hay còn gọi là lớp

Ngọc lan - Magnoliopsida) chiếm phần lớn trong ngành với số loài là 320 - chiếm 86,96% của toàn ngành Hạt kín, số chi 238 - chiếm 85,30%, và số họ là 82 - chiếm 81,19% của ngành Hạt kín Ở lớp này có nhiều loài có giá trị cao như: Bạch chỉ

(Angelica dahunica), Đương quy (Angelica uchyamae), Ba gạc vòng (Rauvolfia

verticillata), Sơn dịch (Aristolochia sp.), Ba kích (Morinda officinale), Ích mẫu

(Leonurus japonicus), Tế hoa (Asarum balansae)

Bên cạnh đó, ở lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae hay còn gọi là lớp Hành - Liliopsida) chiếm tỷ trọng thấp hơn hẳn, số loài chỉ là 48 - chiếm 13,04%, số chi 41

- chiếm 14,70% và số họ là 19 - chiếm 18,81% của ngành Hạt kín Tuy vậy, có

nhiều loài mang lại kết quả tốt trong việc chữa trị bệnh, cụ thể như: Gừng (Zingiber

Trang 32

officinalis), Dứa bắc bộ (Pandanus tonkinensis), Sâm đại hành (Eleutherine bullbosa), Náng (Crinum asiaticum),…

4.2.1.2 Sự đa dạng ở mức độ họ:

Để thấy tính đa dạng số lượng loài cây thuốc trong các họ, chúng tôi tổng kết

sự phân bố của chúng trong các ngành, số liệu được thể hiện ở bảng 4.4

Bảng 4.4 Sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ của các ngành

thực vật

Số họ Ngành

Trên

15 loài

Từ 10-15 loài

Từ 5-9 loài

4 loài 3

loài

2 loài

1 loài

Qua bảng 4.4 cho thấy ngành Hạt trần (Gymnospermae), Ngành Thông đất

(Lycopodiophyta) và ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta) đều không có họ nào có số

lượng loài lớn hơn 3, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chỉ có 1 họ với số lượng loài là 4 (họ Dương xỉ - Polypodiaceae với 4 loài) Đặc biệt là ngành hạt kín

(Angiospermae) có tới 26 họ có số lượng loài từ 5 trở lên, chiếm tỷ lệ 23,21% tổng

Trang 33

số họ Trong số đó chủ yếu là các họ thuộc lớp Hai lá mầm, lớp Một lá mầm chỉ có

4 họ

Số họ có số lượng loài trên 15 chỉ có 2 họ, chiếm 1,78% tổng số họ nhưng có

tới 41 loài, chiếm 10,62% tổng số loài ghi nhận Đó là các họ cúc (Asteraceae): 23 loài, họ Bạc hà (Lamiaceae): 18 loài

Tổng số họ có từ 10-15 loài là 5 họ, với 58 loài, chiếm 15,06% tổng số loài

Đó là các họ Cà phê (Rubiaceae): 14 loài, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae): 12 loài, họ Đậu (Fabaceae) và họ Dâu tằm (Moraceae): mỗi loài đều có 11 loài, họ Đơn nem

(Myrsinaceae): 10 loài

Tổng số họ có từ 5-9 loài là 19 họ, với 129 loài, chiếm 33,51%, trong đó có

các họ như họ Ngũ da bì (Araliaceae): 8 loài, họ Trúc đào (Aqocynaceae): 8 loài,

họ Gừng (Zingiberaceae): 7 loài, họ Bầu bí (Cucurbitaceae): 6 loài

Số họ chỉ có 2 loài chiếm số lượng nhiều với 18 họ chiếm 16,07% tổng số họ nhưng chỉ chiếm 9,35% tổng số loài Đặc biệt số họ chỉ có 1 loài chiếm số lượng nhiều nhất với 45 họ chiếm 40,18% tổng số họ nhưng chỉ chiếm 11,69% tổng số loài

4.2.1.3 Sự đa dạng ở mức độ chi:

Để thấy rõ mức độ đa dạng ở bậc chi, chúng tôi thống kê số chi có nhiều loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao sử dụng nhiều nhất (3 loài trở lên), kết quả được chỉ ra ở bảng 4.5

Từ kết quả ở bảng 4.5 cho thấy, chi có nhiều loài nhất là chi Sung (Ficus) với

8 loài, tiếp đến là Trầu không (Piper) với 5 loài; các chi cùng có 4 loài là Cơm nguội (Ardisia), Rau răm (Polygonum), Đơn nem (Maesa), Mâm xôi (Rubus), Thu hải đường (Begonia), Thóc lép (Desmodium); các chi cùng có 3 loài là Rau dớn (Diplazium), Tế hoa (Asarum), Đại bi (Blumea), Bứa (Garcinia), Nhị rối (Isodon), Gừng (Zingiber) Các chi nhiều loài chủ yếu tập trung ở Ngành Hạt kín, đặc biệt là lớp Hai lá mầm Vậy chỉ với 14 chi (chiếm 12,5% tổng số chi) đã có tới 41 loài

(chiếm 14,28% tổng số loài)

Trang 34

Số lượng chi có 1-2 loài là 280 chi Từ các kết quả trên cho thấy sự đa dạng và phong phú của hệ cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao sử dụng cả về số lượng các taxon bậc họ, chi và loài

Bảng 4.5 Thống kê các chi có nhiều loài cây thuốc nhất

học)

Tên họ (Việt Nam/Khoa học) Số loài

2 Trầu không (Piper) Hồ tiêu (PIPERACEAE) 5

3 Rau răm (Polygonum) Rau răm (POLYGONACEAE) 4

4 Cơm nguội (Ardisia) Đơn nem (MYRSINACEAE) 4

5 Đơn nem (Maesa) Đơn nem (MYRSINACEAE) 4

6 Mâm xôi (Rubus) Hoa hồng (ROSACEAE) 4

7 Thu hải đường (Begonia) Thu hải đường (BEGONIACEAE) 4

8 Chi thóc lép (Desmodium) Họ đậu (FABACEAE) 4

9 Rau dớn (Diplazium) Ráng gỗ nhỏ (WOODSIACEAE) 3

10 Tế hoa (Asarum) Hoa tiên (ARISTOLOCHIACEAE) 3

11 Đại bi (Blumea) Cúc (ASTERACEAE) 3

12 Bứa (Garcinia) Bứa (CLUSIACEAE) 3

13 Nhị rối (Isodon) Bạc hà (LAMIACEAE) 3

14 Gừng (Zingiber) Gừng (ZINGIBERACEAE) 3

4.2.2 Đa dạng về dạng cây của các loài cây thuốc

Đối với mỗi loài cây đều có sự thích nghi với môi trường và được thể hiện qua dạng sống Vì vậy, việc phân tích đa dạng về dạng thân của các cây thuốc định hướng cho ta thấy nguồn nguyên liệu để dễ dàng trong việc bảo vệ, gây trồng cũng như việc khai thác, sử dụng

Trang 35

Ở đây, chúng tôi phân dạng sống của cây thuốc thành 4 nhóm là nhóm cây thân gỗ (G), cây thân bụi (B), cây thân thảo (T) và cây thân leo (L) Kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.6 Dạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở VQG

Hoàng Liên sử dụng

Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ các nhóm dạng sống của các loài cây được đồng bào dân

tộc Dao ở VQG Hoàng liên sử dụng làm thuốc

Từ kết quả trên cho thấy, nhóm cây được sử dụng nhiều nhất là cây thân thảo,

có 194 loài, chiếm 50,39% so với tổng số loài nghiên cứu Các cây thuộc nhóm này thường sống dưới tán rừng, ven rừng, trảng cỏ, ven đường, ven nương rẫy, tập trung

ở một số họ như các loài thuộc ngành Dương xỉ, các loài thuộc họ Cúc

(Asteraceae), họ Hoa mõm chó (Scrophulariaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ

Cỏ (Poaceae), họ Thu hải đường (Begoniaceae), Ô rô (Acanthaceae)

Trang 36

Nhóm tiếp theo là nhóm cây bụi có tới 94 loài, chiếm tới 24,42% so với tổng

số loài, nhóm này là các đại diện thường sống ở trảng cây bụi, vùng đồi núi, rừng tái

sinh, tập trung ở một số họ như họ họ Đơn nem (Myrsinaceae), họ Trúc đào

(Apocynaceae), Cà phê (Rubiaceae), Ngũ gia bì (Araliaceae), Hoàng liên (Berberidaceae)

Tiếp đến là nhóm cây thân leo, có 57 loài, chiếm 14,80% so với tổng số loài Các đại diện của nhóm này thường sống ở vùng đồi, ven rừng, trong rừng, tập trung

ở các họ như Bầu bí (Cucurbitaceae), Tiết dê (Menispermaceae), Nho (Vitaceae),

Củ nâu (Dioscoreaceae)

Nhóm chiếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm cây thân gỗ, có 40 loài, chiếm 10,39% so với tổng số loài Đây là các đại diện thường sống ở rừng sâu, rừng thứ sinh, ven

rừng, tập trung ở các họ như họ Cam (Rutaceae), Long não (Lauraceae), Dâu tằm

(Moraceae), Bứa (Clusiaceae), Bồ đề (Styracaceae)

4.2.3 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống tại khu vực nghiên cứu

Qua phân tích đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc cho thấy mỗi loài cây thuốc có đặc điểm phân bố theo môi trường sống rất phong phú và phức tạp Có những loài cây sống ở những vùng núi cao hay vùng núi thấp hay trong rừng nguyên sinh, thứ sinh, hay sống trong vách đá ẩm,…

Với môi trường sống hết sức phức tạp và đa dạng của các loài cây thuốc, chúng tôi tạm chia môi trường sống của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao tại VQG Hoàng Liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng theo 7 nhóm chính là rừng nguyên sinh có thể bị tác động (nhóm số 1); rừng thứ sinh (nhóm số 2); rừng cây bụi (nhóm số 3); ven suối, khe và thung lũng ẩm (nhóm số 4); dưới nước (suối,

ao hồ,…) (nhóm số 5); bãi hoang, bờ ruộng, ven đường,…nơi có nhiều ánh sáng (nhóm số 6); vườn nhà (nhóm số 7)

Qua đó chúng tôi thấy, các cây thuốc phân bố chủ yếu ở trạng thái tự nhiên, chỉ có 28 loài (chiếm 7,27%) là cây trồng trong vườn nhà với mục tiêu làm thuốc,

số liệu được chỉ ra ở bảng sau:

Trang 37

Bảng 4.7 Thống kê các loài cây thuốc theo môi trường sống

Hình 4.3 Biểu đồ số lượng của các loài cây thuốc phân bố theo môi trường sống

Ghi chú: 1: Rừng nguyên sinh, có thể bị tác động; 2: Rừng thứ sinh; 3: Rừng cây bụi; 4: Ven suối, khe, thung lũng ẩm; 5: Nước (suối, ao hồ,…); 6: Bãi hoang, bờ ruộng, ven đường,…; 7: Vườn nhà

Qua bảng trên cho thấy số lượng loài cây thuốc phân bố trên các sinh cảnh là rất khác nhau Trong số các loài cây thuốc mọc ở trạng thái tự nhiên được đồng bào dân tộc Dao sử dụng, các loài phân bố ở các loại hình rừng nguyên sinh bị tác động, rừng thứ sinh, thuộc khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên chiếm tỷ lệ khá cao (các loài cây thuốc sống ở 2 môi trường 1 và 2) với số lượng

Trang 38

loài là 316, chiếm 82,08% số loài cây thuốc đã được xác định) Đây thường là những đại diện cây gỗ, bụi, leo sống dưới tán rừng, ven rừng, đặc biệt có nhiều loài chỉ có trong rừng sâu Những loài cây thuốc sống trong môi trường này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chữa trị bệnh cũng như việc thúc đẩy quá trình tái sinh rừng

Các loài cây thuốc sống ở rừng cây bụi cũng chiếm tỷ lệ khá lớn, nhóm này chủ yếu là các đại diện cây bụi và cây gỗ nhỏ, với 212 loài, chiếm 55,06% tổng số loài Bên cạnh đó là các loài cây thuốc sống ở bãi hoang, ven đường, bờ ruộng, nhóm này chủ yếu là các đại diện cây bụi và cây thảo, với 121 loài, chiếm 31,43% tổng số loài

Chiếm tỷ lệ ít nhất là nhóm cây sống dưới nước (suối, ao hồ), chỉ có 1 loài, chiếm 0,26% Nhóm này chủ yếu là các loài cây thân thảo

4.2.4 Xây dựng sơ đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ

Trong số 385 loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao tại VQG Hoàng liên, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai sử dụng, chúng tôi đã thống kê được có tất cả 16loài thuộc diện cần phải bảo vệ (chiếm 4,15% tổng số loài của toàn hệ) theo tiêu chí của Sách đỏ Việt Nam năm 2007; Danh mục các loài có nguy cơ bị đe doạ của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) 2009; Nghị định số 32 của chính phủ năm

2006 Đây là nguồn gen quý hiếm, cần có biện pháp bảo tồn nghiêm ngặt Kết quả

cụ thể ở Bảng 4.8

Bảng 4.8 Bảng thống kê các loài cây thuốc đang bị đe dọa được đồng bào Dao

sử dụng tại VQG Hoàng Liên

Việt Nam

CN

3 Asarum caudigerum Hance Thổ tế tân,

(Biến hoa)

Trang 39

mạng

5 Berberis wallichinana DC Hoàng liên

gai, Hoàng mộc

Cucurbitaceae

EN

10 Fibraurea tinctoria Lour Hoàng đằng Menispermaceae IIA

11 Stephania sp Bình vôi Menispermaceae IIA

12 Tinospora sagittata (Oliv.)

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (1997), Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliophyta - Angiospermae) ở Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín (Magnoliophyta - Angiospermae) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1997
2. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (2003, 2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập 2, 3, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Nông Nghiệp
3. Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004), Cây thuốc và động vật làm thuốc, Tập 1-2, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và động vật làm thuốc
Tác giả: Đỗ Huy Bích và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
4. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần II - Thực vật, Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam, Phần II - Thực vật
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, vụ Khoa Học Công Nghệ và chất lượng sản phẩm (2000), Tên cây rừng Việt Nam, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, vụ Khoa Học Công Nghệ và chất lượng sản phẩm
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
6. Võ Văn Chi (1991), Cây thuốc An Giang, Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc An Giang
Tác giả: Võ Văn Chi
Năm: 1991
7. Võ Văn Chi (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Nxb. Y học Tp. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1997
8. Võ Văn Chi (2012), Từ điển cây thuốc Việt Nam, Tập 1, 2 Nxb. Y học Tp. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nxb. Y học Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2012
9. Võ Văn Chi và Trần Hợp (1999), Cây cỏ có ích ở Việt Nam, Nxb. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ây cỏ có ích ở Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi và Trần Hợp
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1999
10. Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định số 32/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006, quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2006), Nghị định số 32/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006
Tác giả: Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2006
11. Vũ Văn Chuyên (1976), Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc, Nxb. Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc
Tác giả: Vũ Văn Chuyên
Nhà XB: Nxb. Y học
Năm: 1976
12. Thành Công và Huỳnh Phụng Ái (2010), Những bài thuốc dân gian dùng. Nxb. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài thuốc dân gian dùng
Tác giả: Thành Công và Huỳnh Phụng Ái
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2010
13. Nguyễn Thượng Dong (2006), Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, Giáo trình sau đại học, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thuốc từ thảo dược, Giáo trình sau đại học
Tác giả: Nguyễn Thượng Dong
Nhà XB: Nxb. Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
14. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam, Nxb. Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: Nxb. Y Học
Năm: 1997
15. Lê Trần Đức (1997), Cây thuốc Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc Việt Nam trồng hái chế biến và trị bệnh ban đầu
Tác giả: Lê Trần Đức
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 1997
17. Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự (2005), Thông Việt Nam: Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông Việt Nam: Nghiên cứu hiện trạng bảo tồn 2004
Tác giả: Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự
Nhà XB: Nxb. Lao động xã hội
Năm: 2005
18. Đinh Thị Hoa, Trần Minh Hợi (2009), Một số kết quả nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên Copia, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Báo cáo khoa học về Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc tại khu Bảo tồn thiên nhiên Copia, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Tác giả: Đinh Thị Hoa, Trần Minh Hợi
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2009
19. Nguyễn Bá Hoạt, Nguyễn Duy Thuần (đồng chủ biên), 2005. Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc, NXB. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng, sử dụng và chế biến cây thuốc
Nhà XB: NXB. Nông nghiệp
20. Phạm Hoàng Hộ (1991-1993), Cây cỏ Việt Nam, tập 1-3, Nxb. Mekong, Santa Ana/Montreal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Mekong
21. Triệu Văn Hùng (chủ biên) (2007), Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam, Nxb. Bản Đồ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
Tác giả: Triệu Văn Hùng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Bản Đồ
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng danh lục các loài thực vật làm thuốc (mẫu) - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 2.1. Bảng danh lục các loài thực vật làm thuốc (mẫu) (Trang 19)
Hình 3.1. Bản đồ vị trí và hiện trạng trảm thực vật rừng vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Hình 3.1. Bản đồ vị trí và hiện trạng trảm thực vật rừng vườn quốc gia Hoàng Liên, tỉnh Lào Cai (Trang 27)
Bảng 4.2. So sánh hệ cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao trong khu vực điều trasử dụng làm thuốc với hệ cây thuốc Việt Nam  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.2. So sánh hệ cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao trong khu vực điều trasử dụng làm thuốc với hệ cây thuốc Việt Nam (Trang 30)
Bảng 4.4. Sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ của các ngành thực vật  Số họ  Ngành Trên 15  loài Từ 10-15 loài Từ 5-9 loài  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.4. Sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ của các ngành thực vật Số họ Ngành Trên 15 loài Từ 10-15 loài Từ 5-9 loài (Trang 32)
Bảng 4.5. Thống kê các chi có nhiều loài cây thuốc nhất TT  Tên chi (Việt Nam/Khoa  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.5. Thống kê các chi có nhiều loài cây thuốc nhất TT Tên chi (Việt Nam/Khoa (Trang 34)
Bảng 4.6. Dạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên sử dụng  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.6. Dạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên sử dụng (Trang 35)
Hình 4.3. Biểu đồ số lượng của các loài cây thuốc phân bố theo môi trường sống - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Hình 4.3. Biểu đồ số lượng của các loài cây thuốc phân bố theo môi trường sống (Trang 37)
Bảng 4.7. Thống kê các loài cây thuốc theo môi trường sống - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.7. Thống kê các loài cây thuốc theo môi trường sống (Trang 37)
Bảng 4.8. Bảng thống kê các loài cây thuốc đang bị đe dọa được đồng bào Dao sử dụng tại VQG Hoàng Liên  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.8. Bảng thống kê các loài cây thuốc đang bị đe dọa được đồng bào Dao sử dụng tại VQG Hoàng Liên (Trang 38)
Hình 4.4. Sơ đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Hình 4.4. Sơ đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ (Trang 43)
4.3. Vấn đề sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên, huyện SaPa, tỉnh Lào Cai  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
4.3. Vấn đề sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở VQG Hoàng Liên, huyện SaPa, tỉnh Lào Cai (Trang 44)
Bảng 4.9. Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc TT  Các bộ phận sử dụng Số loài  Tỷ lệ % so với tổng số  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.9. Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc TT Các bộ phận sử dụng Số loài Tỷ lệ % so với tổng số (Trang 44)
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ trọng sự phân bố số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ trọng sự phân bố số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc (Trang 45)
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ % các loài thực vật được dùng để chữa bệnh theo 13 nhóm bệnh  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ % các loài thực vật được dùng để chữa bệnh theo 13 nhóm bệnh (Trang 49)
Bảng 4.11. Tổng hợp các bài thuốc thu thập được trong quá trình nghiên cứu TT Nhóm  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.11. Tổng hợp các bài thuốc thu thập được trong quá trình nghiên cứu TT Nhóm (Trang 50)
Bảng 4.12. Thống kê thị trường và tình trạng một số loại thảo dược hiện có tại VQG Hoàng Liên (thời điểm điều tra tháng 6-9 năm 2012)  - Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc được đồng bào dân tộc dao sử dụng tại vườn quốc gia hoàng liên tỉnh lào cai
Bảng 4.12. Thống kê thị trường và tình trạng một số loại thảo dược hiện có tại VQG Hoàng Liên (thời điểm điều tra tháng 6-9 năm 2012) (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm