NGUYỄN THANH PHONG NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC MÃ SỐ: 60.62.02.01 LUẬN VĂN THẠC SỸ L
Trang 1NGUYỄN THANH PHONG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Đồng Nai, năm 2017
Trang 2NGUYỄN THANH PHONG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG ĐẾN TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA MŨI CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.02.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ NHÂM
Đồng Nai, năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thanh Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất nhất trí của giáo hướng dẫn và phê duyệt của Trường
Đại học Lâm nghiệp Việt Nam tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại ườn qu c gia M i C Mau t nh C Mau”
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Nhâm, các Thầy Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam cùng với sự giúp đỡ của tập thể công chức, viên chức Chi cục Kiểm lâm, tỉnh Cà Mau
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc thầy giáo PGS
TS Vũ Nhâm đã hướng dẫn, chỉ bảo, truyền đạt kinh nghiệm và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc Phân hiệu Đại học Lâm nghiệp và trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cà Mau, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
và các bạn đồng nghiệp
Do kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên trong quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn!
C mau ng y 15 tháng 5 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thanh Phong
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 4
1.2 Các nghiên cứu trong nước 7
1.3 Những kết luận rút ra phục vụ cho nghiên cứu 12
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14
2.1 Điều kiện tự nhiên 14
2.1.1 Vị trí địa lý 14
2.1.2 Địa hình, địa thế 15
2.1.3 Khí hậu 16
2.1.4 Thủy văn 16
2.1.5 Đất đai 18
2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 21
2.2.1 Dân tộc, dân số, lao động 21
2.2.2 Kinh tế, thu nhập và đời sống 22
2.2.3 S dụng đất và tài nguyên rừng và đa dạng sinh học Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 23
Trang 6Chương 3 MỤC TIÊU, Đ I TƯỢNG, PH M VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 30
3.2 Đối tượng nghiên cứu 30
3.3 Phạm vi nghiên cứu 30
3.4 Nội dung nghiên cứu 30
3.4.1 Thực trạng tình hình quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 30
3.4.2 Tác động của các hộ gia đình sống trong rừng, ven rừng và khách du lịc đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 31
3.4.3 Biện pháp làm giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người dân tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 31
3.5 Phương pháp nghiên cứu 31
3.5.1 Kế thừa và phân tích tài liệu thứ cấp 31
3.5.2 Điều tra hiện trường 31
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Thực trạng quản lý, bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 38
4.1.1 Cơ cấu tổ chức 38
4.1.2 Đánh giá công tác quản lý, bảo vệ rừng Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 39 4.2 Tác động của cộng đồng dân cư sống trong rừng, ven rừng và khách du lịch đến Vườn quốc gia Mũi Cà Mau và nguyên nhân 46
4.2.1 Các đặc trưng nổi bật của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 46
4.2.2 Những tác động của cộng đồng dân cứ đối với các hoạt động chính của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 49
Trang 74.3 Đề xuất biện pháp làm giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút cộng đồng dân cư tham gia vào quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 65
4.3.1 Thiết lập phương thức đồng quản lý du lịch sinh thái và nghề cá tại VQG Mũi Cà Mau 65
4.3.2 Thiết kế các mô hình sinh kế 75
KẾT LUẬN, TỒN T I VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Tồn tại 86
3 Khuyến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 93
Trang 8NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dân số, lao động của các xã vùng nghiên cứu 22
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu sản xuất theo các xã 23
Bảng 2.3: Hiện trạng s dụng đất liền năm 2016 24
Bảng 2.4: Các loại rừng theo Phân khu chức năng 25
Bảng 2.5: Thống kê các chỉ tiêu lâm học của các trạng thái rừng 25
Bảng 3.1: Vị trí 2 xã và 12 ấp nghiên cứu 33
Bảng 3.2: Số hộ điều tra theo các ấp và theo dân tộc 34
Bảng 4.1: Phân tích SWOT về công tác QLBVR tại VQG Mũi Cà Mau 47
Bảng 4.2 Tổng hợp các trị số trong quan hệ từng nhân tố với thu nhập 57
Bảng 4.3 Tổng hợp các trị số trong phân tích quan hệ từng nhân tố 59
Bảng 4.4: Phân tích mối quan tâm và vai trò của các bên liên quan 67
Bảng 4.5: Ma trận phân tích mâu thuẫn và hợp tác đồng quản lý 71
Bảng 4.6: Nguyên tắc ĐQL DLST&NC Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 74
Bảng 4.7: Các yêu cầu lý hóa của nước trong ao Tôm 77
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ VÀ HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Vị trí Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 14
Hình 2.2: Vị trí các loại rừng Vườn QG Mũi Cà Mau 18
Hình 2.3 Dòng chảy chân triêu 19
Hình 2.4: Bãi bồi ven biển Vườn quốc gia Mũi Cà Mau 20
Hình 2.5: Vườn QG Mũi Cà Mau 24
Hình 4.1: Sơ đồ VEEN 70
Hình 4.2: Nguyên tắc thực hiện đồng quản lý DLST&NC 73
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là khu vực hiếm có ở Việt Nam có 3 mặt
giáp với biển, chịu tác động của hai chế độ thủy triều (nhật triều phía Tây và bán nhật triều ở phía Đông) Phía Bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông và
Đông Nam giáp với Biển Đông, phía Tây giáp với vịnh Thái Lan, là c a ngõ phía Đông nam của Việt Nam
Do nằm ở vị trí địa l ý đặc biệt này, hệ sinh thái biển và ven biển ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cung cấp các điều kiện phù hợp cho sự di cư, sinh trưởng và sinh sản của nhiều loài thủy sản và
là điểm dừng chân và trú đông rất quan trọng của nhiều loài chim nước di cư Các sinh cảnh của vườn quốc gia cung cấp bãi đẻ và nơi sống quan trọng cho
cá bột của các loài cá; là ví dụ sống cho diễn thế tự nhiên của rừng ngập mặn
ưu thế bởi Mắm và Đước, đặt biệt tại các cù lao c a sông Tại đây có hệ động thực vật đa dạng, phong phú gồm có 27/32 loài cây ngập mặn 93 loài chim,
26 loài thú, 43 loài bò sát, lưỡng cư 09 loài, 139 loài cá, 53 loài, 63 loài thân mềm, 49 loài động vật phù du Nhiều loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và thế giới điều này góp phần tạo ra sản phẩm cho du lịch sinh thái;
Đây là vùng đất với 4 điểm đặc trưng: Các hệ thống diễn thế nguyên sinh trên đất mới bồi; các hệ thống chuyển tiếp hệ sinh thái đặc trưng từ rừng ngập mặn sang rừng tràm – ngập nước ngọt theo mùa; là bãi đẻ và nuôi dưỡng con non các loài thủy sản cho cả vùng rộng lớn – Vịnh Thái Lan; là nơi còn dấu tích cư dân đầu tiên của người dân các vùng khác di cư đến
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau có giá trị rất cao về mặt sinh thái, có tác dụng quan trọng trong việc phòng hộ, hạn chế gió bão, chống xói lở, chống biến đổi khí hậu gây nên nước biển dâng Các đai rừng ven bãi bồi là vành đai
Trang 12chắn sóng, gió bảo vệ khu cư trú của ngư dân, bảo vệ đời sống và sản xuất của nhân dân các vùng đất liền tạo nền tảng cho quá trình phát triển bền vững
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được Tổ chức Giáo dục và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO đã chính thức công nhận khu dự trữ sinh quyển thế
giới Mũi Cà Mau (diện tích: 371.500 ha) vào ngày 26/5/2009, trong đó toàn
bộ diện tích Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thuộc vùng lõi 1 và vùng đệm Ngoài ra, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau được Ban thư ký Công ước Ramsar công nhận là khu Ramsar thứ 05 của Việt Nam và thứ 2.088 thế giới
Khu Ramsar Mũi Cà Mau là mảnh đất duy nhất còn lưu lại các cảnh quan rừng ngập mặn và bãi bồi tương đối tự nhiên cuối cùng của bán đảo Cà Mau Hơn nữa, đây là điểm cực Nam của tổ quốc, vì vậy đây là một khu di sản thiên nhiên có gía trị, một trong những nét độc đáo của sông nước miền Tây cần phải được lưu giữ cho các thế hệ mai sau Cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp của Mũi Cà Mau đã thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế đến thăm quan và là nguồn cảm hứng cho các sáng tác thơ ca, âm nhạc, văn chương và phim ảnh Đây còn là vành đai tự nhiên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái bên trong, hạn chế các tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Đặc biệt, đây là nơi sinh sản và tăng trưởng của các loài động vật thủy sinh: như các loài tôm, cua, cá kèo… đều đẻ trong các bãi triều có rừng ngập mặn rồi vào trong đất liền qua các kênh rạch
để sinh sống; là sinh cảnh quan trọng cho các loài chim, thú, bò sát lưỡng cư
và các loài động vật không sống khác có giá trị bảo tồn cao…Tuy nhiên hiện nay trong lâm phận thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Mũi Cà Mau vẫn còn trên
200 hộ sinh sống sản xuất kết hợp bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, thuộc địa giới hành chính 04 xã: Đất Mũi, Viên An (huyện Ngọc Hiển); Lâm Hải, Đất Mới (huyện Năm Căn) có dân cư sinh sống khá đông trong và ven Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
Trang 13Để có thể đánh giá được các tác động bất lợi làm cơ sở đề xuất được các biện pháp giảm thiểu những tác động bất lợi đến bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng Vườn quốc gia Mũi Cà Mau tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại ườn qu c gia i à au t nh à au
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 1 Các nghi n cứu tr n thế giới
Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80 Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và kh ng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý Vườn quốc gia với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết
có sự tham gia bình đ ng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định
Theo định nghĩa của IUCN (1994) đã kh ng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu bảo tồn thiên nhiên: “Khu bảo tồn thiên nhiên
là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác”
Nguồn gốc của khu bảo tồn thiên nhiên hiện tại có từ thế kỷ thứ 19 Vườn quốc gia đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872 Vườn quốc gia này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở s dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ Nhiều Vườn quốc gia khác được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng s dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào Vườn quốc gia và tiếp cận tài nguyên trong đó Điều đó dẫn đến những hiệu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng dân cư tại chỗ và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạt được Hầu hết các khu bảo tồn đều được thiết lập
vì mục đích quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương Dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều Vườn quốc gia chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào và khai thác tài nguyên Tại các nước Châu Á phương thức này
Trang 15tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học mà làm dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng, trong khi sự phụ thuộc của họ vào rừng là rất lớn
Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn đa dạng sinh học theo hướng toàn cầu Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn
và động vật hoang dã Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn quốc gia và vùng đệm tại phía tây Nepal đã được thực hiện Nghiên cứu đã kh ng định,
73 người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào tài nguyên rừng: như sản xuất phụ, nguồn chất đốt và thức ăn
Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng tại Ấn độ về các khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn để xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn mà còn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn
Tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro, vấn đề này đã chính thức được công nhận Các mô hình ở Châu Á đã chỉ ra rằng: nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các khu bảo tồn đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý rừng và kinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới giống như "bắt cá ra khỏi
nước" và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác tài nguyên rừng
mà không có người bảo vệ
Ở Thái Lan, một th nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan, kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản
lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và
Trang 16đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ
Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng: "Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học" (Denr
và TCSD, 1994)
Ở Indonesia, kế hoạch hành động đa dạng sinh học ghi nhận rằng "Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (Bappenas, 1993) (dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005) [30].
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G(1986) cho rằng đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các khu bảo tồn thiên nhiên, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ thống quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho
và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhận với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập
và giảm tác động đến tài nguyên rừng
Dilmour D.A (1999) lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia Do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn
và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc
Trang 17sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng
Theo Nick Salafky và các đồng sự (trong Biodiversity Support Program Washington, DC, USA, 2000) cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về lợi ích kinh tế và bảo tồn Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn Đặc điểm cơ bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa đa dạng sinh học và con người xung quanh Các chủ thể địa phương có cơ hội hưởng lợi ích trực tiếp từ đa dạng sinh học và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với đa dạng sinh học Sinh kế sẽ giúp cho bảo tồn chứ không phải cạnh tranh với nhau Hơn nữa chiến lược này công nhận vai trò của người dân địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có thể giúp cho người dân địa phương khai thác s dụng lâm sản ngoài gỗ hoặc phát triển du lịch sinh thái
Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (WWF) 2001 đã đưa ra một thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng”
1 2 Các nghi n cứu trong nước
Hiện nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 Khu dự trữ thiên nhiên, 45 Khu bảo vệ cảnh quan, 20 Khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) trong đó
có 03 Vườn quốc gia có khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển
Trang 18Theo Donovan D, Rambo A.T, Fox J, Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng Tác giả đã chỉ ra rằng: diện tích rừng già ở miền núi phía Bắc Việt Nam đã giảm sút nghiêm trọng do việc khai thác gỗ, củi và các lâm sản khác như: tre nứa, nấm, cây dược liệu, động vật hoang dã và được xem như là nguồn sinh kế chủ yếu của người dân miền núi
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các khu bảo tồn ở Việt Nam, Nguyễn Bá Thụ (1997) đã nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết những vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân dân vùng đệm, chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi lãng phí của người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh tác nông lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh, nâng cao trình độ hiểu biết về bảo tồn, s dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân địa phương
D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), đã thực hiện một nghiên cứu
về quản lý vùng đệm tại 3 Vườn quốc gia: Ba Vì, Bạch Mã và Cát Tiên, kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá rõ nét thực trạng vùng đệm ở Việt nam như: tình hình KT-XH, tình trạng bảo tồn tại các Vườn quốc gia và vùng đệm, hoạt động phát triển trong các vùng đệm, tổ chức, thể chế cho quản lý vùng đệm
Lê Quý An (2001) đã kh ng định quản lý và phát triển vùng đệm trên
cơ sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cực trong các hoạt động bảo tồn Cộng đồng còn có thể phát huy những mặt hay của phong tục, tập quán trong mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng, trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên để xây dựng nề nếp của cuộc sống lành mạnh về mặt môi trường, góp sức cho việc bảo tồn
Trang 19Năm 2001, Đỗ Anh Tuân thực hiện một nghiên cứu điểm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát cho đề tài ảnh hưởng của bảo tồn tới sinh kế của các cộng đồng địa phương và thái độ của họ về các chính sách bảo tồn [31] Tác giả chủ yếu đánh giá sự thay đổi sinh kế của người dân địa phương do sự ảnh hưởng của khu bảo tồn và mức độ chấp nhận của cộng đồng thông qua việc phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng và tài nguyên Nghiên cứu cho rằng hầu hết người dân địa phương vẫn còn s dụng tài nguyên rừng một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, trung bình, 34 tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình trong vùng đệm và 62 tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập khu bảo tồn năm 1997 đã làm giảm 30 - 71,4% diện tích đất và khoảng 50 thu nhập từ rừng của người dân địa phương Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại khu bảo tồn thiên nhiên, nhưng chúng chưa bù lại được những mất mát do thành lập khu bảo tồn thiên nhiên
Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự (2002) [18] dưới sự hỗ trợ của chương trình hỗ trợ lâm nghiệp xã hội, trung tâm đào tạo lâm nghiệp xã hội đã thực hiện một nghiên cứu về khả năng thu hút các cộng đồng địa phương vào quản
lý và s dụng đất lâm nghiệp tại khu phục hồi sinh thái Các tác giả cho rằng
hệ thống chính sách hiện nay là đầy đủ để có thể thu hút cộng đồng địa phương vào quản lý, s dụng các khu rừng đặc dụng, không thể loại trừ cộng đồng ra khỏi quyền hưởng lợi từ Vườn quốc gia và đề xuất mô hình quản lý đất đai trong Vườn quốc gia Ba Vì
Trần Ngọc Thể (2009) : “Nghiên cứu tác động của người dân địa phương tới tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn” [25] đã đưa ra 1 hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu tác động của người dân tới các khu bảo tồn Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung phân tích các tác động bất lợi của người dân địa phương tới tài nguyên rừng của Vườn quốc
Trang 20gia Ba Bể mà chưa quan tâm tới những tác động tích cực của người dân, trong khi đó sự tham gia của người dân theo hướng tích cực là phần không thể thiếu đối với công tác bảo tồn ở bất kỳ Vườn quốc gia nào
Nghiên cứu của TS Gill Shepherd và ng L Minh Đăng (2008) về về
áp dụng tiếp cận hệ sinh thái vào các khu đất ngập nước tại Việt Nam, đã đưa
ra kết luận từ các nghiên cứu tổng hợp về rừng và đất ngập nước như sau: (1) Ngành lâm nghiệp tại Việt Nam đã có kinh nghiệm làm việc với người dân địa phương trong và xung quanh các khu rừng để khuyến khích họ bảo vệ rừng và để đổi lại họ có được sinh kế tốt hơn Tuy nhiên, đất ngập nước xuất phát điểm ở vị trí hơi khác, ở chỗ đất ngập nước luôn là nơi hàng triệu người nghèo Việt Nam sống phụ thuộc vào và không thể ngăn cản họ làm việc đó (2) Với nỗ lực tìm được tiếng nói chung giữa bảo tồn và phát triển sinh kế, cả
2 ngành đã dần chuyển theo hướng không chỉ đem lại lợi ích cho người dân địa phương mà còn đưa họ tham gia vào lập kế hoạch, bảo vệ và quản lý tài nguyên Điều này cho thấy quá trình này càng được thực hiện tốt, thì tài nguyên càng được quản lý thành công (3) Giống như các nơi khác trên thế giới, kinh nghiệm thực địa thường đi trước chính sách và quan điểm chính trị, chính vì vậy, cả hai ngành cần hợp pháp hoá đồng quản lý trong khu bảo tồn
và tối đa hóa lợi ích từ thiện chí tham gia của người dân địa phương khi họ được trao thêm trách nhiệm quản lý tài nguyên bền vững và được đối x công bằng như những đối tác khác Đồng quản lý không phải là một giải pháp cho mọi nơi (ví dụ như tại Tràm Chim, tài nguyên thì rất hạn chế và số lượng người sống xung quanh thì lại lớn: chi phí đồng quản lý sẽ nhiều hơn rất nhiều so với lợi ích) và cần phải hiểu khi nào và ở đâu thì đồng quản lý có khả năng thành công Nhưng về nguyên tắc, nhiều vấn đề tài nguyên thiên nhiên tại Việt Nam sẽ được tiến hành đơn giản hơn thông qua sự tham gia của người dân địa phương (4) Các thể chế chính trị cho cách tiếp cận có sự tham gia đối
Trang 21với quản lý tài nguyên thiên nhiên vẫn chưa được định hình và cả hai ngành cho thấy sự phức tạp, và thường là chậm thích ứng, do từ việc có quá nhiều cơ quan giám sát, đặc biệt là ở cấp tỉnh (5) Vấn đề trở nên đặc biệt nhức nhối khi cách tiếp cận quản lý hệ sinh thái tổng thể được tiến hành Ở đây, thiếu tính liên tục giữa các đơn vị quản lý khu bảo tồn và các cơ quan ngành cấp tỉnh có nghĩa đất và nước chảy từ các khu bảo tồn đến các khu không bảo tồn không phải lúc nào cũng được quản lý theo một cách logic và phối hợp nhất Một số điểm dự định giải quyết sự đa dạng của các loại đất và hình thức s dụng đất bằng cơ chế quản lý đa dạng thích hợp như phá Tam Giang, nhưng đây chưa phải là hình thức điển hình
Nghiên cứu của ThS Trần Anh Thư (Sở Tài nguyên và môi trường An Giang ; 2012) đã kết luận : Đồng bằng sông C u long có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, tác động qua lại với nó là nhiều ngành kinh tế - xã hội, nhiều lĩnh vực, trong đó môi trường và du lịch gắn kết hữu cơ với nhau Sự tồn tại và phát triển của ngành
du lịch gắn liền với môi trường, du lịch phát triển chỉ khi môi trường được bảo vệ Sự suy giảm của môi trường ở một khu vực nào đó sẽ đồng nghĩa với
sự đi xuống của hoạt động du lịch Du lịch sinh thái là loại hình du lịch rất đặc biệt, tại vùng du lịch sinh thái không chỉ là du lịch mà là bảo tồn chiếm vị trí ưu tiên Du lịch sinh thái là loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng cho du khách yêu quý thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu các hệ sinh thái Đây cũng là hình thức
du lịch kết hợp sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với việc giới thiệu những thắng cảnh Quốc gia kết hợp với giáo dục công tác bảo vệ môi trường và s dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên Hoạt động du lịch sinh thái là hoạt động trợ giúp cho công tác bảo tồn Do vậy, trước thực trạng của việc phát triển du lịch sinh thái càng ngày càng tăng, lượng du khách tham quan, nghiên cứu và
Trang 22du lịch đã tác động đến môi trường tự nhiên tại các khu du lịch sinh thái vốn được xem là rất nhạy cảm, cần phải có những hướng dẫn và những bài học để quản lý phù hợp Để từ đó công tác bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên tại các khu du lịch sinh thái ngày càng trở nên ổn định để phát triển bền vững Đây chính là điều mà ngành du lịch tỉnh An Giang đã làm được trong những năm qua
1 3 Những kết luận rút ra phục vụ cho nghi n cứu
Như vậy, mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với công tác bảo tồn ở các khu rừng đặc dụng đã và đang được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn khác nhau Một số nghiên cứu đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn khá đầy đủ cũng như đã lượng hóa được hình thức và mức độ tác động của cộng đồng người dân tới tài nguyên rừng của một số khu rừng đặc dụng Các nghiên cứu khác lại tập trung vào phân tích mức độ phụ thuộc của người dân vào tài nguyên rừng Tuy nhiên, cách tiếp cận của các nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở khía cạnh phân tích các tác động bất lợi mà chưa đề cập tới các tác động tích cực từ phía người dân trong công tác bảo tồn Ngoài ra các nghiên cứu chỉ đưa ra các giải pháp chung chung, mang tính chất định hướng, chưa giải quyết các mâu thuẫn phát sinh từ thực tế
Hiện nay, số lượng khu rừng đặc dụng của nước ta ngày càng tăng lên, trong khi đó mỗi khu rừng đặc dụng lại có đặc trưng về quy mô, sinh thái, phân bố dân cư, tình hình kinh tế, xã hội, phong tục tập quán….khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cộng đồng người dân với các khu rừng đặc dụng nhằm đề xuất các giải pháp thu hút người dân tham gia công tác bảo tồn ở mỗi Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên trên phạm vi cả nước là việc cần thiết
Hầu hết các giải pháp đưa ra trong những nghiên cứu dạng này còn chung chung, tản mạn, đặc biệt mới chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, có nghĩa
Trang 23là mới kh ng định đó là giải pháp gì (Cái gì), chứ chưa chỉ ra được làm như
thế nào; đặc biệt là các nghiên cứu về Vườn quốc gia và khu bảo tồn của hệ
sinh thái rừng ngập mặn còn rất ít và nhiều hạn chế, vì vậy vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện
Trang 24Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2 1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là vùng đất nằm ở tận cùng của bán đảo Cà Mau Phạm vi ranh giới hành chính của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau thuộc các xã Đất Mũi, Viên An huyện Ngọc Hiển và xã Lâm Hải và Đất Mới huyện Năm Căn, trải rộng từ vĩ độ Bắc: 8032’N - 8049’N đến kinh độ kinh Đông:
104040’E-104055’E
Hình 2.1: Vị trí Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
Trang 25Các đặc điểm của hệ sinh thái đất ngập nước ở Mũi Cà Mau là tiêu biểu cho vùng sinh thái ven biển Hệ sinh thái đất ngập nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái chuyển tiếp giữa đất liền và biển Rừng ngập mặn cung cấp dinh dưỡng và những sản phẩm sơ cấp đầu tiên cho chuỗi thức ăn ở ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt thuỷ sản, cung cấp nguồn giống động, thực vật, nơi cư trú cho các loài động vật hoang dã và các loài chim di cư, cung cấp các sản phẩm gỗ củi, bảo vệ bờ biển, hỗ trợ quá trình phát triển bền vững ở vùng ven biển
Đặc điểm vùng ven biển thấp, nóng ẩm, mưa nhiều, hệ thống kênh rạch nội đồng chằng chịt và chế độ thủy triều – dòng chảy pha trộn phức tạp tạo cho Mũi Cà Mau có một hệ sinh thái ngập mặn độc đáo, quy tụ nhiều sinh vật đặc thù và mang tính đa dạng sinh học cao Địa thế của Cà Mau có ba mặt giáp biển nên vùng đất này chịu nhiều bất lợi khi có hiện tượng thời tiết bất thường và nước biển dâng tác động
2.1.2 Địa hình địa thế
Có vị trí địa lý là 3 mặt giáp biển, nơi giao thoa giữa biển đông và biển tây, chịu ảnh hưởng cả hai chế độ thủy triều: bán nhật triều biển đông và nhật triều biển tây, là hệ sinh thái đất ngập nước, vùng đệm giữa đất liền và biển để lấy phù sa các sông hình thành nguồn cung cấp độ phì nhiêu tự nhiên
Mũi Cà Mau là vùng bãi bồi trẻ, toàn bộ bề mặt trầm tích của vùng này được hình thành trong thời kỳ biển tiến thuộc Kỷ Holocen Từ đất liền ra biển
có các dạng diện mạo sau: bề mặt tích tụ biển- đầm lầy: thuộc các xã Đất Mũi, Viên An và Lâm Hải, Đất Mới Bề mặt được tạo thành từ các vật liệu trầm tích của các sông mang tới, đọng trong môi trường biển ven bờ dần chuyển sang môi trường đầm lầy
Trang 26Hàng năm vùng bãi bồi lắng biển ra hàng chục mét, đây là điều kiện thuận lợi cho các loài thực vật phát triển tự nhiên, đặc biệt là cây mấm lấn biển hàng năm, tuy nhiên nền bãi bồi là đất chưa ổn định nên điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên của cây mấm Do đó cần có những tác động lâm sinh để giúp cây mấm phát triển ổn định
- Thời gian chiếu sáng trung bình: 8 giờ/ngày
- Tổng lượng mưa trung bình cả năm: 2.366 mm (1.940 – 2.828 mm)
- Lượng bốc hơi: 835 – 1.300 mm/năm
- Độ ẩm tương đối trung bình năm: 85,9
- Tổng số ngày mưa trong năm: 165 ngày
2.1.4 Thủy văn
Đây là vùng bãi triều đặc biệt chịu ảnh hưởng cả hai chế độ thủy triều: bán nhật triều biển đông và nhật triều biển tây Biên độ thủy triều biển tây dao động trong ngày từ 0,8 – 1,5 m và 2 – 2,5 m ở biển Đông Do ảnh hưởng bởi biên độ thủy triều biển Đông cao hơn biên độ triều biển Tây, nên dòng triều thường chảy theo hướng từ đông sang tây
Thông thường, mực thủy triều phía biển đông luôn luôn cao hơn ở phía biển tây, nên các rạch tự nhiên thường có xu thế chảy từ phía nam (biển đông) lên phía bắc (sông C a Lớn), đồng thời sông C a Lớn dốc dần từ đông sang
Trang 27tây tạo nên dòng chảy từ sông Bồ Đề (phía biển đông) sang phía tây (Vịnh Thái Lan)
Chế độ thủy triều đóng vai trò quan trọng, quyết định dòng chảy của kênh rạch và sự vận chuyển phù sa ở trong vùng Quá trình bồi lắng phù sa tạo ra một lượng lớn các vật liệu được chuyển tải từ biển đông sang Vịnh Thái Lan theo sông C a Lớn bồi lắng tại vùng c a sông ng Trang với lượng phù
sa trung bình khoảng 70-80 mg/l trong mùa khô và 30 mg/l trong mùa mưa Theo ước tính, hàng năm sông C a Lớn mang lượng phù sa là 1,03 triệu tấn
từ phía biển đông sang phía Vịnh Thái Lan
Mạng lưới kênh rạch chằng chịt thuận lợi cho việc giao thông đường thủy
Tuy nhiên, chế độ dòng chảy của các kênh rạch trong khu vực này rất phức tạp do chịu ảnh hưởng của các chế độ thủy triều Điều kiện tự nhiên và chế độ thủy văn trong khu vực có tác động tích cực đến môi trường đất, môi trường sinh thái của vùng và các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực
Thủy triều lên xuống hàng ngày có tác dụng đáng kể đến quá trình hình thành đất, các vật chất sinh phèn làm cho đất không chuyển hóa từ dạng phèn tiềm tàng chuyển sang dạng hoạt động, điều hòa sự tích lũy độ mặn trong đất, duy trì hoạt động của sinh vật trong môi trường nước và đất, đồng thời cũng
là môi trường vận chuyển nguồn giống thủy sản từ biển vào sâu trong đất liền
Tính chất dao động của mực nước khu vực ven biển phía bờ đông hoàn toàn khác ven biển phía bờ tây của Mũi Cà Mau Ở khu vực bãi bồi phía tây của Mũi Cà Mau, dao động của mực nước mang tính nhật triều không đều, với độ lớn của biên độ thủy triều là 0,8 – 1,5 mét Còn phía biển đông có chế
độ bán nhật triều không đều với biến động thủy triều từ 2 đến 2,5 mét
Trang 28Hình 2.2: Vị trí các loại rừng Vườn QG Mũi Cà Mau
Trang 29chƣa phát hiện tầng sinh phèn
Mặt khác ở phía bờ biển đông,
Hình 2.3 Dòng chảy chân tri u
do động lực của sóng bờ biển bị xói lở mạnh, các vật liệu đƣợc đƣa ra phía biển hình thành bãi bồi lộ ra khá rộng, hình thành bãi bồi phía đông Mức xói
lở hàng chục mét mỗi năm Sóng biển và dòng chảy ở ven biển bào mòn lớp đất và thực vật ở ven bờ hình thành những rìa đất thấp ở bờ biển với các vật liệu là cát thô và các mảnh vụn, sò, ốc, hạt rất nhỏ lẫn với các tàn tích thực vật Do xói lở, mỗi năm hàng trăm ha rừng và đất rừng ở ven bờ biển đông đã
bị mất đi…
Trang 30Hình 2.4: Bãi bồi ven biển Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
Các đặc điểm của hệ sinh thái đất ngập nước ở Mũi Cà Mau là tiêu biểu cho vùng sinh thái ven biển Hệ sinh thái đất ngập nước có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái chuyển tiếp giữa đất liền và đại dương Rừng ngập mặn cung cấp dinh dưỡng
và những sản phẩm sơ cấp đầu tiên cho chuỗi thức ăn ở ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt thuỷ sản, cung cấp nguồn giống động thực vật, cung cấp nơi cư trú cho các loài động vật hoang dã và các loài chim di cư, cung cấp các sản phẩm gỗ củi, bảo vệ bờ biển hỗ trợ quá trình phát triển bền vững ở vùng ven biển Đặc điểm vùng ven biển thấp, nóng ẩm, mưa nhiều, hệ thống kênh rạch nội đồng chằng chịt và chế độ thủy triều – dòng chảy pha trộn phức tạp tạo cho đất Mũi Cà Mau có một hệ sinh thái ngập mặn độc đáo, quy tụ nhiều sinh vật đặc thù và mang tính đa dạng sinh học cao Địa thế của Cà Mau có ba mặt giáp biển nên vùng
Trang 31đất này chịu nhiều bất lợi khi có hiện tượng thời tiết bất thường và nước biển dâng tác động Trong hầu hết các cơn bão đổ bộ vào vùng Đồng bằng sông
C u Long thì Đất Mũi là nơi chịu thiệt hại nặng nề nhất, ví dụ như cơn bão Linda tháng 11/1997
2 2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.1 Dân tộc, dân s lao động
Tổng số dân của các xã Đất Mũi, Viên An, Đất Mới, Lâm Hải là 13.468
hộ với 57.910 người, trong đó: hộ dân tộc Khmer chiếm 2,5 (tương đương
337 hộ với 1.350 nhân khẩu) Số hộ nghèo hiện còn là 1.211 hộ, chiếm 8,9
so với tổng số hộ dân của các xã Lao động trong độ tuổi là 40.582 chiếm 70,1 , chủ yếu là lực lượng lao động nông - ngư nghiệp
Dân cư phân bố tập trung chủ yếu tại 8 ấp của trung tâm xã Đất Mũi (khoảng 15.000 người) theo các tuyến Rạch Tàu – Vàm Xoáy, kênh Đường Đào – Rạch Mũi, rạch Bàu Nhỏ, kênh Hai Thiện Các khu vực có dân định cư không tập trung, ít hơn là khu vực Đầu Trà – Biện Trượng và Cái Mòi, các khu vực khác hầu như không có dân định cư
Đặc đặc trưng của phân bố dân cư tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là định cư theo các tuyến kênh rạch với hình thức xây dựng nhà để có thể vừa s dụng đường thủy là kênh rạch, vừa s dụng đường bộ trên bờ kênh rạch
Đối với khu vực các kênh Hai Thiện, rạch Bàu Nhỏ, rạch Vàm, người dân làm nhà ngay tại phần đất đầu các vuông tôm để thuận tiện cho việc quản
lý vuông tôm và đi lại Phần lớn nhà tại những khu vực này là nhà tạm (gỗ địa phương, lợp tôn, lợp lá)
Đặc điểm chung của nguồn nhân lực tại các xã chủ yếu phục vụ cho khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sản, thiếu được đào tạo và tập huấn chuyên môn, mang tính thuần nông, người dân thiếu cơ hội để tiếp cận với các cơ hội việc làm khác để nâng cao thu nhập gia đình
Trang 32Bảng 2.1: Dân số, lao động của các xã v ng nghi n cứu
TT Chỉ ti u Tổng Đất Mũi Viên An Lâm Hải Đất Mới
3 Lao động 40.582 15.200 9.375 7.707 8.300
2.2.2 Kinh tế, thu nhập và đời s ng
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau nằm trên địa bàn các xã có kinh tế phát triển chủ yếu bằng nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Tổng giá trị kinh tế năm
2015 của các xã là 697,2 tỷ đồng Sản lượng tôm của 4 xã là 9.385 tấn, thủy sản khác là 3.277 tấn
Trong những năm qua, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất cũng đã tạo ra được nhiều mô hình thâm canh, nuôi trồng có hiệu quả, khai thác được lợi thế, tiềm năng của từng tiểu vùng sinh thái như: mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến năng suất cao; mô hình nuôi ốc len; mô hình nuôi cá
nú, cá chẻm; mô hình nuôi sò huyết… mô hình sản xuất đạt 50 triệu đồng/ha/năm
Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ có bước phát triển hơn trước, nhân dân chủ động mở rộng quy mô hoạt động sản xuất trên cơ sở phát triển ngành nghề s n có, đồng thời đầu tư mua sắm máy móc, trang thiết bị phục vụ cho sản xuất góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
Các hoạt động đầu tư góp phần ổn định dân cư và phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn 2005 – 2015 chủ yếu là xây dựng điểm trường học, làm đường bê tông tại các khu tập trung dân cư, làm cầu
Tổng số vốn đầu tư cho các hạng mục trên là 3,730 tỷ đồng (chiếm 61,8 so với mức đầu tư được phê duyệt)
Trang 33Về khối lượng thực hiện: Việc xây dựng đường đạt 23,3 so với khối
lượng được phê duyệt; xây dựng điểm trường đạt 100 khối lượng
Các công trình này đã nối liền các khu dân cư trong Vườn với trung
tâm xã Đất Mũi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi lại tại khu vực kênh
Hai Thiện, rạch Vàm, rạch Bàu Nhỏ… và một số khu vực khác
Bảng 2.2: Một số chỉ ti u sản xuất theo các xã
An
Đất Mũi
Lâm Hải Đất Mới
1 Tổng gía trị KT (tỷ đ) 697,2 93,5 360,0 123,7 120,0
2 Diện tích nuôi tôm (ha) 10.423 3.766 1.485 2.672 2.500
3 Sản lượng tôm (tấn) 9.385 2.635 1.500 2.600 2.650
4 Thủy sản khác (tấn) 3277 3.277
5 Diện tích nuôi nghêu (ha) 431 431
2.2.3 Sử dụng đất và tài nguyên rừng và đa dạng sinh học ườn qu c gia
i à au
2.2.3.1 Sử dụng đất v t i nguyên rừng
- Hiện trạng s dụng đất Vườn quốc gia Mũi Cà Mau giai đoạn 2004 –
2016 theo Quyết định số 142/2003/QĐ-TTg ngày 14/7/2003 của Thủ tướng
Chỉnh phủ về việc thành lập Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là 41.862 ha,
gồm có phần đất liền và phần bảo tồn biển
+ Phần đất liền có diện tích là 15.262,0 ha + Vùng bảo tồn biển là 26.600,0 ha
Trang 34sinh thái
Hành chính Dịch vụ
Bảo vệ nguồn nước Tổng diện tích 15.262,00 2.859,0 200,0 12.203,0
I Đất có rừng 9.113,76 2.830,76 190,0 6.543,56
1.1 Rừng tự nhiên 4.797,46 673,0 31,3 4.093,16 1.2 Rừng trồng 4.316,30 1.707,2 158,7 2.450,4
Trang 35Bảng 2.4: Các loại rừng theo Phân khu chức năng
- Đặc điểm lâm học của các trạng thái rừng
+ Trên cơ sở điều tra thu thập số liệu trên 12 ô tiêu chuẩn, 230 ô 6 cây,
119 ô tái sinh rừng của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
Bảng 2.5: Thống k các chỉ ti u lâm học của các trạng thái rừng
TT Trạng
thái
D1,3 (cm)
G (m 2 /ha)
Hvn
3 /ha) N
Trang 36+ Qua bảng 05 cho thấy, các chỉ tiêu về bình quân của các trạng thái
rừng phù hợp với quy luật tự nhiên, khi rừng có tuổi càng cao thì mật độ càng giảm và chiều cao và đường kính của lâm phần càng tăng, điều này chứng tỏ rừng đang trong giai đoạn phát triển, cụ thể rừng trồng ở Vườn quốc gia Mũi
Cà Mau có cấp tuổi cao nhất là cấp D3, và rừng tự nhiên cao nhất ở cấp kính DII
+ Độ biến động về mật độ, đường kính, chiều cao, tiết diện ngang và trữ lượng của lâm phần đều rất lớn Điều này cho thấy mỗi trạng thái rừng ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau phân bố trên nhiều dạng lập địa khác nhau
- Nhận xét chung về hiện trạng rừng Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
+ Rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là nơi hiện có quá trình diễn thế
tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc trưng
+ Rừng diễn thế tự nhiên có từ thời pháp thuộc trước năm 1954 đã hình thành rừng tái sinh tự nhiên lấn dần ra biển tây mỗi năm
+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn thuộc Vườn quốc gia Mũi Cà Mau tuy không đa dạng về loài so với những vườn quốc gia khác nhưng do vị trí địa lý đặc biệt đã tạo cho nơi đây một giá trị khoa học và sinh thái đặc trưng mà không nơi nào có được Đặc biệt, diện tích đất liền của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau không ngừng mở rộng một cách tự nhiên, hàng năm Mũi Cà Mau lấn ra biển vài chục mét bằng nguồn phù sa do hệ thống sông, kênh, rạch bồi đắp dưới sự giúp sức của bộ rễ rừng mấm, đước ven biển
+ Diện tích đất có rừng ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau là 9.113,76 ha chiếm 59,71 tổng diện tích đất liền Vườn quốc gia bao gồm 6.110 ha bãi
bồi, trong đó rừng tự nhiên chiếm 52,64 diện tích đất có rừng (4.797,46 ha)
Đây là tiềm năng và điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái rừng ngập mặn
Trang 37+ Các chỉ tiêu định lượng (mật độ chiều cao đường kính) trong cùng
một trạng thái rừng có sự biến động lớn do điều kiện tự nhiên phân hóa mạnh, tạo ra nhiều sinh cảnh khác nhau làm tăng sức hấp dẫn của cảnh quan thiên nhiên
2.2.3.2 Đa dạng sinh học ườn qu c gia M i C Mau
- Khu hệ động thực vật
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau hiện có 27/32 loài cây ngập mặn đã được phát hiện ở Việt Nam và 28 loài cây khác tham gia vào hệ thực vật ở vùng đất này, trong đó chiếm ưu thế thuộc về loài Đước đôi (Rhizophora apiculata), Mắm trắng (Avicennia alba), Mắm đen (A officinalis), mắm ổi (A marina), vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) với quần thể thực vật gồm rừng tái sinh tự nhiên hỗn giao giữa cây Đước, cây Vẹt và rừng Mắm
Cây Mắm là loài tiên phong lấn biển có hệ thống rễ đặc biệt cố định đất bãi bồi, chống xói lở và hình thành các dải rừng phòng hộ ven biển
Ngoài ra có một số loài đã từng xuất hiện tại đây nhưng nay chưa phát hiện được nơi sinh trưởng như: Cóc đỏ (Lumnitzera littorea), Côi (Scyphiphora hydrophyllacea), Mắm quăn (Avicenia lanata)
Trong Vườn có 60 loài thực vật có mạch trong 45 chi thuộc 23 họ thực vật, trong đó, 2 loài thuộc ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) và 58 loài thuộc ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) gồm: 41 loài Song t diệp và 17 loài Đơn
Trang 38cộng tác viên 2006), nhóm nghiên cứu đã bổ sung thêm 12 loài, nhưng có 4 loài không ghi nhận được trong đợt khảo sát này là Chuột chù (Suncus murinus), Dơi ngựa lớn (Pteropus vampyrus), Sóc vằn lưng (Menentes bermorei) và Chuột đất lớn (Bandicota indica) Như vậy, tổng hợp kết quả nghiên cứu nhóm nghiên cứu và các nghiên cứu trước đây thì số loài thú ghi nhận được ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau cho đến nay là 26 loài thuộc 11 họ
và 8 bộ
Danh mục các loài thú trong phụ lục 02
+ Lớp chim: Theo số liệu điều tra (FFI 2007), Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có 46 loài chim thuộc 25 họ và 9 bộ, trong đó có 7 loài được ghi nhận tạm thời qua phỏng vấn các cán bộ của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau và dân địa phương và 3 loài chưa xác định được tên do bị hạn chế về tầm quan sát
So với danh lục chim mới nhất trước đây của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau (Lê Xuân Cảnh và cộng sự 2006), nhóm nghiên cứu bổ sung thêm 5 loài và 1 họ, nhưng có tới 42 loài nhóm nghiên cứu không ghi nhận được, nguyên nhân có
lẽ do thời gian khảo sát quá ngắn Kết hợp các kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu và những nghiên cứu của các tác giả trước đây, nhóm nghiên cứu
đã lập được danh lục chim mới nhất cho Vườn quốc gia Mũi Cà Mau gồm 93 loài thuộc 33 họ và 9 bộ
Danh mục các loài chim trong phụ lục 03
- Khu hệ bò sát và lưỡng cư: Theo số liệu nghiên cứu của FFI 2007, đã ghi nhận được 36 loài bò sát (22 loài ghi nhận qua phỏng vấn) và 9 loài lưỡng
cư
So với danh lục bò sát lưỡng cư mới nhất của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau (Lê Xuân Cảnh và cộng sự, 2006) thì nhóm nghiên cứu lần này không bổ sung thêm loài nào, hơn nữa có 7 loài bò sát không ghi nhận được Như vậy, danh lục bò sát, lưỡng cư đầy đủ nhất hiện nay cho Vườn quốc gia Mũi Cà
Trang 39Mau gồm 43 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ và 9 loài lưỡng cư thuộc 5 họ và 2
có khả năng thích ứng với môi trường lợ mặn ven c a sông biển Một số loài
có khả năng thích ứng tốt trong môi trường nước nhiều hữu cơ gồm các loài giun nhiều tơ sống định cư (Scoloplos armiger, Prionospio sp., Polydora sp., Maldane sarsi, Asychis gotoi, Terebellides stroemi, Bispira polymorpha (Bispira polymorpha, Eudistylia polymorpha), và một loài giun nhiều tơ sống
tự do (Diopatra neapolitana) Ngoài ra, hầu hết các loài còn lại có thể phân bố trong môi trường nước giàu dinh dưỡng
+ Lớp cá: Tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây và kết hợp khảo sát bổ sung đến tháng 8/2011 ở vùng bãi bồi thuộc Vườn quốc gia Mũi
Cà Mau và vùng c a sông, các nhóm nghiên cứu đã ghi nhận được 139 loài cá thuộc 21 bộ, 55 họ, 89 giống, trong đó có nhiều loài cá quý hiếm và có giá trị kinh tế Nguồn lợi cá đáy chiếm 67 và cá nổi chiếm 33 tổng số loài
Đa số các loài cá sống trong vùng bãi bồi đang trong giai đoạn còn non, kích cở nhỏ Trong nghiên cứu này còn đánh giá trữ lượng cá trong vùng bãi bồi, theo đó trữ lượng cá biến động theo theo thời gian trong năm, thấp nhất vào tháng 01 và cao nhất vào tháng 5
Danh mục các loài cá trong phụ lục 05
Trang 40Chương 3 MỤC TIÊU, Đ I TƯ NG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Đề xuất được giải pháp giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người dân tham gia vào quản lý, bảo vệ, phát triển bền vững tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
3.2 Đối tượng nghi n cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác động của các hộ gia đình dân cư địa phương, đồng bào dân tộc sống trong và ven rừng và khách du lịch
có ảnh hưởng đến tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
3.3 Phạm vi nghi n cứu
Các điểm nghiên cứu được lựa chọn là các xã, thôn có các hộ dân hiện đang sống trong phân khu phục hồi sinh thái của Vườn quốc gia Mũi Cà Mau; các hộ dân sống trong vùng đệm Vườn quốc gia Mũi Cà Mau và có tác động đến hoạt động du lịch và nuôi trồng hải sản tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau
3 4 Nội dung nghi n cứu
3.4.1 Thực trạng tình hình quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng ườn qu c gia
i à au
- Cơ cấu tổ chức quản lý
- Công tác quản lý, bảo vệ rừng