1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại VQG BIDOUP núi bà tỉnh lâm đồng

93 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • Tác giả

  • MỤC LỤC

  • Trang

  • DANH MỤC CÁC BẢNG

  • ĐẶT VẤN ĐỀ

  • Chương 1

  • TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    • 1.1. Trên thế giới

    • 1.2. Ở trong nước.

      • Chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn 2008 – 2020, với mục tiêu xác định: Đến năm 2020, hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ sở hạ tầng và thiết lập hệ thống quản lý bảo vệ có hiệu quả diện tí...

    • Từ nghiên cứu tổng quan cho thấy:

  • Chương 2

  • MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NỘI DUNG

  • VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu

      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát

      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể.

    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu.

    • 2.4. Nội dung nghiên cứu

      • 2.5.1. Quan điểm và phương pháp luận

      • 2.5.2. Phương pháp nghiên cứu

        • 2.5.2.1. Nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp

        • 2.5.2.2. Chọn địa điểm nghiên cứu

        • 2.5.2.3. Phương pháp điều tra thu thập số liệu hiện trường

        • 2.5.2.3.Phương pháp xử lý, phân tích số liệu

  • a) Phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố sản xuất với tổng thu nhập

  • b) Phân tích sự phụ thuộc của người dân địa phương vào TNR

  • Trong đó N: số quan sát; Sx, Sy là độ lệch chuẩn của từng biến X và Y

  • ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KT-XH KHU VỰC NGHIÊN CỨU

    • 3.1. Đặc điểm tự nhiên

  • - Ranh giới :

  • - Phía Bắc giáp với dãy Núi Chư Yang Sinh.( tỉnh Đăk Lăk).

  • - Phía Đông giáp với tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận.

  • - Phía Tây giáp với rừng phòng hộ Sê rê Pôk.

  • - Phia Nam giáp với rừng phòng hộ Đầu nguồn Đa nhim.

  • Vườn quốc gia Bidoup- Núi Bà nằm trên cao nguyên Lâm Viên là một trong hai cao nguyên của tỉnh Lâm Đồng, có độ cao trung bình từ 1.500-1800m [34].

  • 3.1.3. Khí hậu và thuỷ văn

  • - Nhiệt độ không khí trung bình năm trong khu vực là 180 C

  • + Biên độ nhiệt trong tháng : 3,90C .

  • + Nhiệt độ trung bình ngày dao động từ 150C- 200C.

  • + Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình : 90C.

  • - Độ ẩm :

  • + Mùa mưa độ ẩm đạt trên : 85%.

  • + Mùa khô độ ẩm đạt dưới : 80%.

  • + Thấp nhất vào tháng 2-3 chỉ đạt 75-78%.

  • - Mưa: Tại Đà Lạt lượng mưa trung bình năm là: 1755mm.

  • Vườn Quốc Gia là thượng nguồn của hệ thống sông Krông- Nô, sông Đa Nhim, là những sông cung cấp nước cho nhà máy thủy điện quan trọng của Miền Nam như : Nhà máy thủy điện Trị An , Đa Nhim, Sông pha, suối vàng [38].

    • 3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

      • Nguồn số liêu: Vườn quốc gia Bidoup – Núi bà

    • 4.1. Đánh giá công tác quản lý bảo vệ TNR tại VQG Bidoup – Núi Bà

    • 4.2. Các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương đến TNR

    • 4.3. Nguyên nhân dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại VQG Bidoup - Núi bà.

      • 4.3.2. Cơ cấu thu nhập

      • 4.3.3. Cơ cấu Chi phí

      • 4.3.4. Quan hệ giữa thu nhập với chi phí.

    • 4.3.5. Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ rừng và tổng thu nhập của các HGĐ tại Khu vực nghiên cứu

      • 4.3.5.1. Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới thu nhập từ rừng và đất rừng

        • Bảng 4.14. Tổng hợp các trị số trong quan hệ từng nhân tố với thu nhập từ rừng

      • 4.3.5.2. Ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất tới tổng thu nhập của hộ gia đình

      • Lựa chọn đại diện một số biến đầu vào là: Tổng diện tích đất của hộ, tổng đầu chi phí cho sản xuất, số lao động chính và loại kinh tế hộ để đưa vào mô hình để phân tích.

      • - Trước hết ta cũng xem xét mối quan hệ từng nhân tố lựa chọn với biến tổng thu nhập của hộ gia đình (Y) theo mô hình: LnY = a0 + βLnX, với kết quả phân tích từ SPSS (phụ lục 7) các trị số được tổng hợp trong bảng 4.15:

        • Bảng 4.15. Tổng hợp các trị số trong phân tích quan hệ từng nhân tố với thu nhập

    • 4.3.6. Những nguyên nhân cơ bản khác dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài nguyên rừng Vườn quốc gia

      • 4.3.6.1. Sự phụ thuộc của người dân địa phương vào TNR

      • 4.3.6.2. Các nguyên nhân về kinh tế

      • a. Nhu cầu và khả năng đáp ứng về lương thực

      • b. Nhu cầu và khả năng đáp ứng về chất đốt

    • 4.4. Đề xuất các giải pháp kinh tế xã hội nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại VQG BiDoup – Núi Bà

      • 4.4.5. Phát triển các loại hình du lịch sinh thái

      • 4.4.8. Khuyến khích người dân sử dụng các biện pháp đun nấu tiết kiệm củi

      • 4.4.9. Tăng cường công tác thông tin và tuyên truyền

    • Kết luận

Nội dung

Sau đó ở nhiều nước khác trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này để thành lập các KBT và VQG và thiết lập các luật lệ ngăn cấm người dân địa phương không được thâ

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới

Các nghiên cứu liên quan đến sự cần thiết thành lập KBT và VQG 3 1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các

Trên thế giới, VQG đầu tiên được thành lập ở Mỹ năm 1872, đó là VQG Yellowstone Để thiết lập VQG này người ta đã sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người Crow và người Shoshone phải rời bỏ mảnh đất nơi họ đang sinh sống Sau đó ở nhiều nước khác trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này để thành lập các KBT và VQG và thiết lập các luật lệ ngăn cấm người dân địa phương không được thâm nhập vào KBT, VQG và tiếp cận TNR do đó dẫn đến những hậu quả tất yếu là cộng đồng người dân địa phương có những mâu thuẫn với các KBT và kết quả bảo tồn tài nguyên đã không đạt được mục đích[23]

Năm 1976, Hai tác giả Gadgil và VP Vartok đưa ra trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” của mình những nhận định các đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây được người dân địa phương ở Ấn Độ bảo vệ được chu đáo Các hoạt động thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Do nạn phá rừng ngày càng tăng ở Ấn Độ, di sản còn lại của rừng tự nhiên chính là những lùm cây đó và nó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm [29] Ở Thái Lan, vào những năm 1945 độ che phủ của rừng lên tới 60%, đến năm

1995 chỉ còn 26% Đã có hơn 170.000 km 2 rừng bị tàn phá Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng gia Thái Lan quyết định thành lập KBT để bảo vệ diện tích rừng còn lại Điều này dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng người dân địa phương sống trong vùng đệm Một thử nghiệm của Dự án “ Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” (Sustainable Forest Management through Collaborative efforts’ Project) thực hiện tại Phu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở miền Đông-Bắc Thái Lan Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng người dân địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ [41]

Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro (Brasin), vấn đề này đã chính thức được công nhận, các chính phủ đã đưa ra một kế hoạch hành động cải thiện sinh kế của người dân trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác [31]

1.1.2 Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBT và VQG

Trong giai đoạn từ những năm 1970 – 1990 một trào lưu trong tiếp cập phát triển Lâm nghiệp dựa vào nhu cầu của người nghèo được nhiều quốc gia quan tâm, từ đó đã có nhiều nghiên cứu gắn với việc nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn Chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là quản lý KBT và VQG phải được liên kết với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá của cộng đồng trong quá trình xây dựng các quyết định

Colfer C.J.P (1980) trong tác phẩm: “Thay đổi và nông lâm kết hợp bản địa” tại Đông Kalimamtan, đã nhận định qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ rằng những sản vật lấy được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được Thế nhưng, những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán[29]

Trong nghiên cứu của Denr và TCSD,(1994) về bảo tồn đa dạng sinh học ở Philippines cho thấy trong chiến lược Quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học là để đạt được thắng lợi trong mục tiên bảo tồn đa dạng sinh học thì phải bảo đảm rằng những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất về chính sách liên quan đến môi trường chính là các cộng đồng địa phương, vì vậy họ phải được quyết định và sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học.(Dẫn theo

Apple Gate G.B và Gilmour D.A (1987) trong khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nepan đã hình thành mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Tác giả cho rằng, các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào[29]

Trong kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Indonesia, tác giả Bappenas,

(1993) đã ghi nhận tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là người dân sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (dẫn theo Lê Sỹ Trung) [30]

FAO( 2003), nhấn mạnh sự khác biệt về bản chất giữa hai loại mô hình giảm nghèo dựa vào rừng (FBPA–Forest-Based Poverty Alleviation) Người dân trong diện “tránh hay giảm thiểu đói nghèo” vẫn còn ở dưới hay gần với ranh giới nghèo và khá, nhưng có thể đã khá hơn so với tình trạng không có các nguồn TNR Ngược lại, tình hình kinh tế xã hội của nhưng người đã vượt nghèo, được cải thiện đáng kể và mang tính chất lâu dài Do vậy giảm nghèo dựa vào rừng nên được hiểu theo nghĩa rộng hàm chứa nhiều ý nghĩa rất khác nhau và bao gồm cả hai loại hình được mô ta ở trên Ngoài ra, cũng cần hiểu rằng giảm nghèo dựa vào rừng (FBPA) không bao giờ là một quá trình riêng lẻ [40]

Trên Thế giới đã có nhiều nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG đã khẳng định rằng cần phải dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hoá của người dân địa phương để đạt được mục tiêu bảo tồn Mô hình này được thực hiện thành công ở một số các VQG, như ở Ở VQG Kakadu thuộc Australia, những người thổ dân ở đây họ được chung sống hợp pháp với VQG không những thế họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG đồng thời được cử đại diện tham gia vào ban quản lý và thực hiện quá trình quản lý VQG Hay tại VQG Wasur của Indonesia có 13 làng bản vẫn được phép tồn tại và cuộc sống của họ vẫn gắn liền với hoạt động săn bắn cổ truyền [22]

Hiện nay biện pháp cần thiết và mang lại hiệu quả nhất là trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học phải có sự tham gia của người dân địa phương Trong suốt nhiều năm tồn tại của các KBT cho thấy nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong đợi trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội và đó cũng chính là lý do để khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương Việc người dân vốn đang quen với cuộc sống gắn với rừng cũng như các tập tục lâu đời của họ, nay phải chuyển tới một nơi ở mới và họ cho rằng chẳng khác nào “Bắt cá khỏi nước“ , mặt khác khi có các lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ thì cũng dẫn đến tình trạng TNR bị xâm hại mà điều kiện sống của người dân lại không được cải thiện[30]

Một điều nữa cho thấy cộng đồng, người dân địa phương đã gắn bó lâu đời với tự nhiên và thấu hiểu sâu sắc tự nhiên Họ đã góp phần quan trọng vào việc gìn giữ các hệ sinh thái của trái đất thông qua sử dụng nguồn tài nguyên một cách bền vững và tôn trọng tự nhiên dựa trên nền tảng bản sắc dân tộc Chính vì vậy mà xung đột giữa mục tiêu bảo tồn với sự tồn tại của người dân địa phương sống trong và xung quanh ranh giới KBT đã không xẩy ra Hơn thế, họ phải được coi là những đối tác bình đẳng và được hưởng lợi trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược bảo tồn có những tác động đến đất đai, lãnh thổ, nguồn nước, duyên hải và các nguồn lợi khác, đặc biệt tác động đến quá trình xây dựng và quản lý các KBT [14]

Từ những năm 1990 trở lại đây chiến lược phát triển lâm nghiệp bền vững đã được xây dựng ở nhiếu các quốc gia trên thế giới, nhằm đến các mục tiêu công bằng xã hội trong quyền hưởng dụng TNR, hiệu ích kinh tế trong sử dụng TNR và bền vững về sử dụng tài nguyên môi trường Một trong các mục tiêu của lâm nghiệp là phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo tăng cường phân cấp quản lý hướng đến việc giao một phần rừng và đất rừng giao cho các địa phương theo hướng lâm nghiệp cộng đồng, Chính phủ các nước và các nhà tài trợ đầu tư cho các dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng

Từ các nghiên cứu cho thấy, tính cấp thiết do suy giảm nguồn TNR và đa dạng sinh học các Quốc gia đã phải có những chiến lược để bảo tồn bằng việc thành lập các KBT, VQG Tuy nhiên, xung quanh hầu hết các KBT, VQG là người dân địa phương đã gắn bó lâu đời với tự nhiên và thấu hiểu sâu sắc tự nhiên cần phải được quan tâm đúng mức Các nghiên cứu cũng làm nổi rõ sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người dân và cũng khẳng định việc người dân tham gia hoạt động quản lý TNR là cần thiết nhưng để họ thực sự gắn bó thì phải đảm bảo được đời sống cho họ, nếu không họ sẽ phải tác động vào rừng

Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến Rừng đặc dụng 7 1.2.2 Các nghiên cứu liên quan đến quan hệ người dân và TNR 10 CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Ở Việt Nam đến nay đã có trên 100 KBT, VQG Trong đó, VQG Cúc Phương là khu rừng đặc dụng đầu tiên được thành lập từ tháng 7/1962 (lúc đó là khu rừng cấm Cúc Phương) Tiếp theo đó là việc thành lập các khu rừng cấm Nam Cát Tiên; VQG Cát Bà; VQG Côn Đảo, VQG YokDon, KBTTN đất ngập nước Xuân Thuỷ; ….và VQG BiDoup – Núi Bà được thành lập năm 2004

Theo nghị định số 117/2010/NĐ-CP, của chính phủ về tổ chức quản lý rừng đặc dụng thì: Rừng đặc dụng là loại rừng được xác lập theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, có giá trị đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng Quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường

Chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam giai đoạn 2008 – 2020, với mục tiêu xác định: Đến năm 2020, hoàn thành cơ bản việc xây dựng cơ sở hạ tầng và thiết lập hệ thống quản lý bảo vệ có hiệu quả diện tích 2,2 triệu ha rừng và đất rừng được quy hoạch cho hệ thống rừng đặc dụng trên phạm vi cả nước; đảm bảo quản lý và sử dụng bền vững diện tích rừng đặc dụng hiện có, góp phần nâng tỷ lệ đất có rừng của cả nước lên 42 - 43% vào năm 2010 và 47% vào năm 2020[2]

Các cơ sở pháp lý trong công tác bảo tồn bao gồm: Luật Bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR) được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 03/12/2004; Luật Đa dạng sinh học ban hành ngày 13/11/2008; Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Thông tư số 99/2006/QĐ-BNN 06/11/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, hướng dẫn thực hiện một số điều của Quy chế quản lý rừng; Nghị định Số: 117/2010/NĐ-

CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng

Căn cứ quy chế quản lý rừng ban hành kèm theo quyết định 186/2006/QĐ-TTg thì rừng đặc dụng được phân loại thành các loại: VQG, KBT thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học [5]

Trong VQG và KBT thiên nhiên được chia thành các phân khu chức năng:

1) Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên như mẫu chuẩn sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái ; Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí bảo tồn và điều kiện thuỷ văn

2) Phân khu phục hồi sinh thái : Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái rừng thông qua việc thực hiện một số hoạt động lâm sinh cần thiết

3) Phân khu dịch vụ - hành chính: Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của ban quản lý, các cơ sở nghiên cứu - thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí

VQG và KBT thiên nhiên phải xây dựng vùng đệm cho khu rừng [5]

- Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên

- Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên

- Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập và gắn sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng

- Cơ quan chính quyền nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng

- Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng

Tại các khu rừng đặc dụng nước ta hiện nay đã có nhiều thay đổi do sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu về gỗ, LSNG ngày một gia tăng đối với cộng đồng dân cư sinh sống trong KBT và VQG Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát triển các khu rừng đặc dụng còn hạn hẹp

Một số chính sách về khoán bảo vệ rừng đang được thực hiện :

- Quyết định số 202/QĐ-TTg ngày 02/5/1994 của Thủ Tướng Chính Phủ, Ban hành quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng đối tượng được nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng, trồng rừng bao gồm hộ gia đình; cá nhân; các cơ quan; đơn vị thuộc lực lượng vũ trang; các trường học; các tổ chức xã hội; các tổ chức kinh tế Những hộ đồng bào dân tộc còn du canh du cư, những người đang sinh sống tại chỗ, những người ở nơi khác đến lập nghiệp lâu dài được ưu tiên nhận khoán [7]

- Quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23 /11/2005 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh tây nguyên Đối tượng Những hộ đồng bào dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống tại xã có rừng, có nhu cầu được giao rừng và khoán bảo vệ rừng; trước hết ưu tiên đồng bào là người dân tộc thiểu số nghèo tại chỗ thuộc các đối tượng quy định tại các Quyết định số

132 và 134 của Thủ tướng Chính phủ[8]

- Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới

5 triệu ha rừng; Quy định chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ là ưu tiên khoán cho các hộ thuộc diện định canh, định cư, các hộ nghèo, hộ ở gần rừng và hộ đã nhận khoán trước đây để bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ở vùng rất xung yếu và xung yếu[9]

Đối tượng và giới hạn nghiên cứu

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Góp phần xây dựng cơ sở lý luận giảm thiểu những tác động bất lợi vào tài nguyên rừng của người dân địa phương sống gần rừng và phụ thuộc vào rừng tại các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam

Mục tiêu tổng quát trên được thể hiện qua 3 mục tiêu cụ thể:

1) Xác định được các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương vào TNR thuộc quyền quản lý của VQG Bidoup- Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng

2) Xác định được các nguyên nhân chính dẫn đến những tác động bất lợi tới TNR

3) Đề xuất được các giải pháp giải thiểu các tác động bất lợi và thu hút người dân tham gia vào quản lý TNR tại VQG Bidoup - Nú i bà, tỉnh Lâm Đồng

Nhằm đạt các mục tiêu nghiên cứu trên, đối tượng nghiên cứu của đề tài là những tác động bất lợi của người dân địa phương vào tài nguyên rừng thuộc quyền quản lý của VQG Bidoup - Nú i Bà, tỉnh Lâm Đồng.

Giới hạn nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu những tác động bất lợi của người dân địa phương tại VQG Bidoup Nú i Bà, tỉnh Lâm Đồng, những tác động tích cực (có lợi) không thuộc phạm vi nghiên cứu chính của luận văn, nhưng luôn được chú ý nhằm tạo nền tảng cho việc đề xuất các biện pháp bảo vệ, quản lý và phát triển tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu

- Đề tài cũng giới hạn nghiên cứu những tác động bất lợi của người dân sống trong trong phạm vi vùng đệm và vùng lõi VQG Bidoup Nú i Bà, người dân sống ngoài khu vực này không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Khi điều tra đánh giá những tác động bất lợi đề tài chỉ tập trung cho 3 loại kinh tế hộ của người dân là hộ kém, hộ trung bình và hộ khá và do địa phương đã xác định Vì vậy việc xác định loại kinh tế hộ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.

Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đề tài tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

1) Đánh giá công tác quản lý TNR ta ̣i VQG Bidoup - Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng

2) Phân tích và đánh giá tác động bất lợi của các hộ gia đình vào TNR thuộc quyền quản lý của VQG Bidoup Nú i Bà, tỉnh Lâm Đồng

3) Phân tích các nguyên nhân dẫn đến những tác động bất lợi tới TNR

4) Đề xuất các giải pháp làm giảm thiểu các tác động bất lợi và thu hút người dân tham gia vào quản lý TNR tại VQG Bidoup - Nú i Bà, tỉnh Lâm Đồng.

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KT-XH CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên của VQG BiDoup – Núi Bà

Vị trí địa lý

- VQG Bidoup – Núi Bà nằm trên địa bàn 5 xã và 1 thị trấn của huyện Lạc Dương là: Xã Lát, Đưng Knớ, Đạ Sar, Đạ Chais, Đạ Nhim, Thị trấn Lạc Dương và một phần nhỏ xã Đạ Tông, Đạ Long - huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

- Tọa độ địa lý là: + Từ 12 0 00’ 04’’ đến 12 0 52’ 00’’ vĩ độ Bắc

+ Từ 108 0 17’ 00’’ đến 108 0 42’ 00’’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp với dãy Núi Chư Yang Sinh.( tỉnh Đăk Lăk)

- Phía Đông giáp với tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận

- Phía Tây giáp với rừng phòng hộ Sê rê Pôk

- Phia Nam giáp với rừng phòng hộ Đầu nguồn Đa nhim

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Bidoup – Núi bà là: 65.143, 5 ha[11]

Hình 3.1 Bản đồ VQG BiDoup-Núi Bà

Khí hậu và thủy văn

- VQG Bidoup – Núi Bà nằm trên địa bàn 5 xã và 1 thị trấn của huyện Lạc Dương là: Xã Lát, Đưng Knớ, Đạ Sar, Đạ Chais, Đạ Nhim, Thị trấn Lạc Dương và một phần nhỏ xã Đạ Tông, Đạ Long - huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

- Tọa độ địa lý là: + Từ 12 0 00’ 04’’ đến 12 0 52’ 00’’ vĩ độ Bắc

+ Từ 108 0 17’ 00’’ đến 108 0 42’ 00’’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp với dãy Núi Chư Yang Sinh.( tỉnh Đăk Lăk)

- Phía Đông giáp với tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận

- Phía Tây giáp với rừng phòng hộ Sê rê Pôk

- Phia Nam giáp với rừng phòng hộ Đầu nguồn Đa nhim

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Bidoup – Núi bà là: 65.143, 5 ha[11]

Hình 3.1 Bản đồ VQG BiDoup-Núi Bà

Vườn quốc gia Bidoup- Núi Bà nằm trên cao nguyên Lâm Viên là một trong hai cao nguyên của tỉnh Lâm Đồng, có độ cao trung bình từ 1.500-1800m [34]

3.1.3 Khí hậu và thuỷ văn

- Nhiệt độ không khí trung bình năm trong khu vực là 18 0 C

+ Biên độ nhiệt trong tháng : 3,9 0 C

+ Nhiệt độ trung bình ngày dao động từ 15 0 C- 20 0 C

+ Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình : 9 0 C

+ Mùa mưa độ ẩm đạt trên : 85%

+ Mùa khô độ ẩm đạt dưới : 80%

+ Thấp nhất vào tháng 2-3 chỉ đạt 75-78%

- Mưa: Tại Đà Lạt lượng mưa trung bình năm là: 1755mm

Vườn Quốc Gia là thượng nguồn của hệ thống sông Krông- Nô, sông Đa Nhim, là những sông cung cấp nước cho nhà máy thủy điện quan trọng của Miền Nam như : Nhà máy thủy điện Trị An , Đa Nhim, Sông pha, suối vàng [38].

Đặc điểm kinh tế xã hội

VQG Bidoup – Núi Bà nằm trên địa bàn 5 xã và 1 thị trấn của huyện Lạc Dương là:

Xã Lát, Đưng Knớ, Đạ Sar, Đạ Chais, Đạ Nhim,Thị trấn Lạc Dương và một phần nhỏ xã Đạ Tông, Đạ Long- huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Toàn bộ các xã đều nằm ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn, có diện tích lớn và dân cư thưa thớt[34]

Tổng số hộ là 2.840 hộ với 14.242 nhân khẩu Mật độ dân số bình quân là 11,2 người/km 2 Trong đó, có những xã có mật độ dân số rất thấp như Đa Chais (3,9 người/km 2 ), Xã Lát (6,0 người/km 2 ) với 677 nhân khẩu) và thôn Đưngksi (46 hộ với

265 nhân khẩu) của xã Đạ Chais Xã Đạ Tông và Đạ Long thuộc huyện Đam Rông có tổng số 2.211 hộ, với 9.134 nhân khẩu Mật độ dân số 47 người/km 2 [38]

Trên địa bàn quản lý của Vườn Quốc gia thì dân tộc K’Ho (gồm bộ tộc người Cill chủ yếu sống ở các xã: Đạ Chais, Đa Nhim, Đa Sar, Đưng K’nớ và bộ tộc người Lạch chủ yếu ở xã Lát) là dân tộc bản địa lớn nhất với 2.424 hộ, chiếm 87,23%, còn lại là 976 hộ dân tộc Kinh chiếm 12,77% [38]

Hiện nay, tại 5 xã có tổng cộng 3.756 học sinh–sinh viên, chiếm 26,37% tổng dân số Trong đó, cấp 1 là 1.882 học sinh chiếm 13,21% tổng dân số; cấp 2 là 1.236 học sinh chiếm 8,68% tổng dân số, cấp 3 là 480 học sinh chiếm 3,37% tổng dân số và số sinh viên đang theo học tại các trường ĐH, CĐ và THCN là 158 chiếm 1,11% tổng dân số[38]

Nguồn lao động là khá lớn (có 8.900 lao động chiếm 62,49% dân số đang trong tuổi lao động), trong đó, nam là 4.313 người và nữ là 4.587 người), số người ngoài độ tuổi lao động là 5.342 người chiếm 37,51% Tuy nhiên hầu hết lao động đều là lao động phổ thông chưa được đào tạo nghề, công việc chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đánh bắt cá, tham gia tổ giao khoán BVR, làm thuê theo thời vụ [35]

Phụ nữ chiếm 48,67 % tổng dân số của 5 xã Phụ nữ người K’Ho thường sinh rất nhiều con và làm chủ gia đình Họ có quyền kiểm soát các nguồn lực của gia đình như đất đai, vật nuôi, tiền bạc Họ tham gia vào hầu hết các hoạt động kinh tế bao gồm cả các công việc nặng nhọc cần nhiều cơ bắp như làm rẫy, lấy củi và họ cũng là người chăm lo con cái, chăm lo bữa cơm trong gia đình Trong gia đình, họ thường đóng vai trò là chủ hộ, nhưng trên thực tế việc quyết định sử dụng mua bán tài sản trong gia đình lại do người đàn ông quyết định Ngoài ra, do trình độ dân trí thấp hơn, khả năng nói tiếng phổ thông kém, ít khi được đi chợ huyện, chợ tỉnh nên phụ nữ K’ho thường ngại tiếp xúc với người ngoài Do đó, họ hầu như họ không tham gia các chương trình tập huấn, khuyến nông lâm để nắm bắt thông tin về sản xuất, thị trường, cuộc sống chính trị xã hội[38].

Hiện trạng tài nguyên rừng VQG BiDoup – Núi Bà

Nguồn thu nhập chính của các hộ trong vùng chủ yếu là từ Nông nghiệp (chiếm khoảng 87% tổng thu nhập) Trong đó cà phê và bắp là 02 nguồn thu nhập chính Song hầu hết các hộ có diện tích đất nông nghiệp rất ít, nhập lượng cho nông nghiệp thấp (phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật, quy trình công nghệ…) kỹ thuật canh tác yếu, nguồn giống không đảm bảo nên năng suất cây trồng rất thấp, cộng với chi phí sản xuất cao nên tiền lãi hàng năm rất thấp, thậm chí còn bị lỗ

Ngoài ra nguồn thu từ nhận khoán BVR cũng là nguồn thu quan trọng của các hộ Đối với các hộ được chi trả dich vụ môi trường với mức 290.000 đồng/ha/năm hàng quý có thể được nhân tới 3 triệu đồng, thậm chí còn cao hơn

3.2.7 Sự phụ thuộc vào rừng

Với gần 30% số hộ gia đình có thu nhập dưới 200.000 đồng/tháng, trong năm thường thiếu ăn 1-2 tháng, nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (83,4%), gia đình thường đông con, trình độ dân trí rất thấp nên cuộc sống của hầu hết các hộ trong vùng là phụ thuộc vào rừng[38]

3.3 Hiện trạng tài nguyên rừng VQG Bidoup-Núi bà

3.3.1 Hiện trạng rừng và sử dụng đất VQG

Tổng diện tích VQG Bidoup – Núi Bà năm 2010 là 65.143, 47 ha:

+ Rừng đặc dụng: 56.436 ha + Rừng phòng hộ: 8.537,47 ha + Rừng sản xuất: 170 ha

- Phân theo các phân khu chức năng:

+ Bảo vệ nghiêm ngặt: 33.582 ha

+ Phục hồi sinh thái: 22.854 ha

+ Dịch vụ - hành chính: 8.707,47 ha [39]

Trên cơ sở hiện trạng được điều chỉnh, bổ sung trong quá rà soát quy hoạch các phân khu chức năng được phê duyệt tại quyết định số 1738/QĐ-TTg ngày 30/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ (Bảng 3.3)

Bảng 3.1 Hiện trạng rừng và sử dụng đất VQG Bidoup – Núi Bà, năm

2010 phân theo phân khu chức năng Đơn vị tính: Ha

TT Loại đất loại rừng Tổng cộng

Phân theo phân khu chức năng

1.2 Rừng hỗn giao 16.209 9.224 5.305 1.680 a) Gỗ -tre,nứa 1.427 20 1.407 - b) Lá rộng-Lá kim 14.782 9.204 3.898 1.680

3 Đất trống/ đất chưa có rừng 3.327 1.017 1.811 500

3.3 Đất trống cây gỗ rải rác 445 41 267 137

Nguồn số liệu: Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà

Hình 3.2 Biểu đồ cơ cấu đất đai VQG Bidoup – Núi Bà

* Phân bố các trạng thái rừng:

- Trạng thái gỗ lá rộng: Đây là trạng thái phổ biến của vùng núi Nam Trường Sơn Trong VQG có diện tích 22.634 ha, chiếm 34,7% tổng diện tích VQG Rừng phân bố từ độ cao 1000m trở lên

- Trạng thái hỗn giao cây lá rộng lá kim: Trạng thái này này có diện tích 14.782 ha chiếm 22,7% tổng diện tích VQG xuất hiện ở độ cao trên 1000m, thành phần loài là các loài họ Dẻ, họ Re vẫn đóng vai trò chính

- Trạng thái tre nứa hỗn giao cây lá rộng và rừng tre nứa thuần loài:

Trạng thái này chỉ chiếm một diện tích rất nhỏ 1.427ha, chiếm 2,2% Phân bố trên đỉnh núi ở gần trạm Yang li và dọc theo nhánh sông Krông Knô và sông Đak Đom, trên đá có nguồn gốc Granit, hoặc phù sa mới Thành phần tre nứa chủ yếu là Lồ ô

- Trạng thái cây lá kim: Có diện tích là 20.580 ha, chiếm 31,6% diện tích tự nhiên chủ yếu là Thông 3 lá, chiếm ưu thế tuyệt đối

- Rừng trồng: Rừng trồng trong VQG có diện tích 1.697 ha, chiếm 2,9%, được trồng từ chương trình phục hồi sinh thái với loài cây chính là Thông ba lá (Pinus kesiya)[36]

* Trữ lượng các loại rừng:

Tổng trữ lượng rừng cua VQG Bidoup-Núi Bà là 10.032.101 m 3

Bảng 3.2 Hiện trạng trữ lượng các trạng thái rừng VQG Bidoup-Núi Bà Đơn vị tính: m 3

TT Loại đất loại rừng Tổng cộng

Phân theo phân khu chức năng

1 Rừng tự nhiên 9.959.110 99,3 5.652.319 3.078.365 1.228.427 1.1 Rừng gỗ lá rộng 3.721.728 37,1 2.339.344 1.016.282 366.102 1.2 Rừng hỗn giao 2.480.818 24,7 1.510.105 676.543 294.170 a) Gỗ -tre,nứa 71.349 0,7 989 70.360 0 b) Lá rộng-Lá kim 2.409.469 24,0 1.509.116 606.183 294.170

Nguồn số liêu: Vườn quốc gia Bidoup – Núi bà

Hình 3.3 Trữ lượng rừng theo phân khu chức năng

3.3.2 Tài nguyên đa dạng sinh học

Theo tài liệu điều tra đa dạng sinh học VQG Bidoup-Núi Bà được thực hiện trong Chương trình hỗ trợ đối tác ngành lâm nghiệp do Quỹ Bảo tồn Việt Nam tháng 11 năm 2009 Tài nguyên đa dạng sinh học của VQG Bidoup-Núi Bà bước đầu ghi nhận được như sau:

3.3.2.1 Đa dạng hệ sinh thái

Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà với diện tích 65.143 ha, 93,1% đất rừng, thảm thực vật chủ yếu là lá rộng thường xanh (34,7%), và rừng lá kim (31,6%).gồm các kiểu rừng:

- Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm Á nhiệt đới núi trung bình

- Kiểu phụ rừng rêu (rừng lùn đỉnh núi)

- Kiểu rừng kín hỗn giao lá rộng-lá kim, mưa ẩm Á nhiệt đới núi thấp

- Rừng hỗn giao tre nứa

- Kiểu rừng thưa, cây lá kim, hơi khô Á nhiệt đới núi thấp

Kết quả tập hợp được cho thấy VQG Bidoup-Núi Bà có 1.561 loài thực vật có mạch, thuộc 5 ngành , 161 họ và 681 chi

- Lớp thú: Danh lục các loài thú gồm: 10 bộ, 24 họ, 75 loài

Số loài thú cần quan tâm bảo tồn tại VQG Bidoup-Núi Bà gồm 63 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 2007, nghị định 32 và IUCN 2009, thuộc 25 họ và 10 bộ,

- Lớp Chim: Gồm 15 bộ, 43 họ và 220 loài, trong đó 14 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam 2007, 17 loài nằm trong Nghị định 32 của Chính phủ và 213 loài nằm trong sách đỏ IUCN 2009

- Khu hệ lưỡng cư và bò sát: Có 76 loài lưỡng cư và bò sát; trong đó, lưỡng cư có 34 loài, 4 họ và 1 bộ; bò sát có 42 loài, 11họ và 2 bộ [39]

3.3.3 Tình hình phân bố các loại lâm sản ngoài gỗ (LSNG)

Kế thừa kết quả điều tra bước đầu của gói thầu số 7 trong dự án TFF bước đầu cho thấy tài nguyên LSNG ở đây khá đa dạng và phong phú, được cộng đồng dân cư địa phương sử dụng dưới nhiều mục đích khác nhau: Cây dùng làm chất đốt, cây làm thuốc, cây làm cảnh, cây làm rau ăn, cây làm gia vị Sản phẩm được sử dụng trong gia đình hoặc đem bán

- Lâm sản ngoài gỗ dung làm chất đốt: Có khoảng 18 loài cây gỗ thuộc 3 chi,

6 họ được sử dung làm chất đốt Trong đó họ dẻ (Fagaceae) chiếm nhiều nhất, có 6 loài và 3 chi

- Lâm sản ngoài gỗ dùng làm cây cảnh: Có khoảng 93 loài thuộc 40 chi và 5 họ được sử dụng làm cây cảnh Trong đó họ Lan (Orchidaceae) chiếm tỉ lệ nhiều nhất, khoảng 80 loài thuộc 32 chi được xử dụng làm cây cảnh

- Lâm sản ngoài gỗ dùng làm thuốc: Có khoảng 52 loài thuộc 42 chi và 27 họ dùng làm thuốc Đa số các loài này là thân thảo, mọc dướitán rừng hay ven đường đi, thân gỗ chiếm một tỷ lệt rất ít

Sơ lược đặc điểm kinh tế xã hội các hộ điều tra

- VQG Bidoup – Núi Bà nằm trên địa bàn 5 xã và 1 thị trấn của huyện Lạc Dương là: Xã Lát, Đưng Knớ, Đạ Sar, Đạ Chais, Đạ Nhim, Thị trấn Lạc Dương và một phần nhỏ xã Đạ Tông, Đạ Long - huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng

- Tọa độ địa lý là: + Từ 12 0 00’ 04’’ đến 12 0 52’ 00’’ vĩ độ Bắc

+ Từ 108 0 17’ 00’’ đến 108 0 42’ 00’’ kinh độ Đông

- Phía Bắc giáp với dãy Núi Chư Yang Sinh.( tỉnh Đăk Lăk)

- Phía Đông giáp với tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận

- Phía Tây giáp với rừng phòng hộ Sê rê Pôk

- Phia Nam giáp với rừng phòng hộ Đầu nguồn Đa nhim

Tổng diện tích tự nhiên của VQG Bidoup – Núi bà là: 65.143, 5 ha[11]

Hình 3.1 Bản đồ VQG BiDoup-Núi Bà

KẾT QUẢN NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá công tác quản lý bảo vệ TNR VQG

Công tác xây dựng lực lượng

Sau gần một năm được Thủ tướng chính phủ ký quyết định chuyển khu bảo tồn thiên nhiên Bidoup-Núi Bà thành Vườn quốc gia Hạt kiểm lâm vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà cũng được UBND tỉnh Lâm Đồng thành lập, ngày 08 tháng 9 năm

2005 Ban đầu với số cán bộ mới tuyển ít, chưa có kinh nghiệm chuyên môn trong công tác kiểm lâm Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, công cụ hỗ trợ hầu như chưa có nên hoạt động còn gặp rất nhiều khó khăn Đến nay theo thông kê của VQG, lực lượng kiểm lâm đã có 70 biên chế trong đó có 3 kiểm lâm viên chính, 22 cán bộ có trình độ đại học; trong đó có 5 đang học thạc sỹ, 39 trung cấp Lâm nghiệp và trung cấp kiểm lâm là kiểm lâm viên,

1 Bác sỹ thú y, 6 kiểm lâm viên sơ cấp và 2 lái xe [17]

Cơ cấu của Hạt kiểm lâm ngày được chuyên môn hoá, đã có các bộ phận quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn thiên nhiên, pháp chế-thanh tra, tổng hợp tài chính và 9 Trạm kiểm lâm trực thuộc, 1 Đội tuần tra lưu động và PCCCR số 1; 1 Tổ kiểm khuyển được trang bị 4 chó nghiệp vụ Cơ sở vật được đảm bảo gồm: 7/9 trạm kiểm lâm có nhà ở khang trang với diện tích trên 150m 2 [17]

Phương tiện, trang thiết bị chuyên môn và công cụ hỗ trợ được tăng cường Đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kiểm lâm được nâng cao nên đã an tâm công tác; Đội ngũ cán bộ, nhân viên kiểm lâm hàng năm được lãnh đạo VQG cử đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị nhằm đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới

Nhiệm vụ chính trị của Hạt kiểm lâm VQG Bidoup-Núi Bà đã được xác định là thực hiện các chương trình Bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn ĐDSH; Chương trình phòng cháy chữa cháy rừng, chương trình phòng chống sâu bệnh hại rừng và tham gia thực hiện các chương trình hoạt động khác mà Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND tỉnh đã giao cho VQG BiDoup-Núi Bà Được giao trọng trách quản lý bảo vệ nguyên vẹn tài nguyên rừng trong vườn quốc gia diện tích 65.143 ha, có độ che phủ rừng trên 93 % với đường biên trải rộng trên địa bàn nhiều xã, hai huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng; Với địa bàn núi cao, địa hình hiểm trở, chia cắt mạnh Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhiều vùng rừng nguyên sinh được bảo tồn nguyên vẹn không tránh khỏi có nhiều đối tượng đã dùng thủ đoạn tinh vi xâm nhập vào vườn bất hợp pháp để lợi dụng, khai thác

4.1.2 Xử lý vi phạm trong công tác quản lý BVR

Tổng kết việc phát hiện và xử lý các vụ vi phạm lâm luật từ khi thành lập Hạt kiểm lâm VQG Bidoup - Núi Bà đến nay như sau:

Bảng 4.1: Thống kê vi phạm trong công tác QLBVR VQG Bidoup – Núi Bà ĐVT: Số vụ

St t Nội dung vi phạm Năm

3 Khai thác gỗ trái phép 3 6 16 8 7 5

4 Khai thác lâm sản phụ 0 7 3 7 6 0

7 Săn bắt ĐV trái phép 0 4 4 10 3 13

8 Cứu hộ thú dính bẫy 0 1 0 1 0 0

Truy quét phá bẫy thú (cái) 1513 552 1814 2031 865

Số tiền xử phạt vi phạm hành chính(1000đồng) 0 1.000 60.410 318.613,4 17.367,1 99.890,5

Nguồn số liệu: Hạt kiểm lâm, Vườn quốc gia Bidoup-Núi bà

Qua số liệu thống kê và biểu đồ phân tích cho thấy số vụ vi phạm có chiều hướng giảm theo các năm từ 105 vụ vi phạn năm 2005 chỉ với hình thức lấn chiếm đất rừng để sản xuất và khai thác gỗ trái phép, 101 vụ năm 2006, 100 vụ năm 2007 và cho đến năm 2010 là 63 vụ song hình thức và hành vi vi phạm thì mở rộng không chỉ lấn chiến đất, khai thác gỗ trái phép mà mà có các vi phạm về khai thác khoáng sản, đốt than, săn bắt động vật rừng và dựng nhà trái,… số vụ vi phạm nhiều nhất qua các năm chủ yếu là vi phạm về lấn chiếm đất rừng để trồng cà phê, dựng nhà trái phép, cụ thể: Năm 2005 là 102 vụ chiếm 70% số vụ vi phạm trong năm, năm 2006 là 70 vụ chiếm 69,3% số vụ vi phạm trong năm, năm 2007 là 43 vụ chiếm 43% số vụ vi phạm trong năm, năm 2008 là 32 vụ chiếm 47,8% số vụ vi phạm trong năm, năm 2009 là 41 vụ chiếm 44% số vụ vi phạm trong năm và năm

2010 là 16 vụ chiếm 25,4% số vụ vi phạm trong năm

Trong quá trình hoạt động lực lượng kiểm lâm thường xuyên tuần tra và đã truy quét phá được nhiều bẫy thú, tổng số bẫy thú đã được phá bỏ qua 06 năm là

6775 bẫy, đã tránh cho nhiều loài động vật khỏi bị bắt và bị thương vong

Hình 4.1: Biểu đồ số vụ vi phạm luật BV&PTR tại VQG

Hầu hết các vụ vi phạm đều được lực lượng kiểm lâm VQG tiến hành lập biên bản và thu giữ tang vật gửi cơ quan chức năng xử lý và xử phạt hành chính qua các năm từ 2006 đến 2010 đã xử phạt các vụ vi phạm là 497.281.000đồng Năm

2008 có số vụ vi phạm phải xử lý với số tiền là lớn nhất 318.613.400 đồng, trong đó có vụ săn bắn động vật hoang dã tại TK26 đã xử phạt 06 đối tượng số tiền 180.000.000 đồng, thu giữ 269,5kg thịt thú rừng, 04 khẩu súng, 45 viên đạn và nhiều dụng cụ khác

Số tiền xử phạt vi phạm

Số tiền xử phạt vi phạm (1000đồng)

Hình 4.2: Biểu đồ số tiền xử phạt vi phạm tại VQG

4.1.3 Công tác phòng chống cháy rừng

Công tác phòng chống cháy rừng vào đầu mùa khô; đã được đơn vị chủ động xây dựng phương án và thành lập ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng để kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, chỉ huy điều động công tác trực cháy, chỉ đạo các trạm phân công các tổ trực cháy thường xuyên tại cơ sở, dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên của từng khu vực và xác định những vùng trọng điểm xung yếu, để bố trí các điểm chốt trực trong suốt mùa hanh khô, bố trí tuần tra canh gác 24/24 giờ, nhằm phát hiện và xử lý kịp thời khi có cháy rừng xảy ra Hàng năm các vụ cháy rừng đều được phát hiện sớm và xử lý kịp thời Để đảm bảo công tác phòng là chính VQG đã thực hiện hợp đồng với người dân địa phương, 9 tổ đội trực cháy, hợp đồng giao khoán phòng cháy chữa cháy rừng 631,79 ha, xây dựng chòi lán canh lửa rừng tạm thời mỗi năm 12 cái bố trí tại nơi có nguy cơ cháy cao, đóng gần 200 biển báo cấm lửa tại các nơi xung yếu Nhờ vậy thiệt hại gây ra là không lớn và các diện tích bị cháy đã khôi phục nhanh chóng

Bảng 4.2: Thống kê tổng hợp các vụ cháy rừng tại VQG BiDoup-Núi Bà

Stt Nội dung ĐVT Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng

1 Số vụ cháy rừng Trong đó: vụ 1 1 9 1 1 5 18

- Cháy rừng tự nhiên vụ 1 1 8 1 1 4 16

2 DT thiệt hại Trong đó: ha 4 0,5 69,21 4 2 85,89 165,6

3 DT rừng cháy đã phục hồi ha 4 0,5 69,21 4 2 75,5 155,21

Nguồn: Hạt kiểm lâm, Vườn quốc gia BiDoup – Núi Bà

4.1.4 Công tác khoán bảo vệ rừng

Thực hiện theo các văn bản pháp luật và chỉ đạo của cấp trên hàng năm VQG đã hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các tập thể là Công an huyện Lạc Dương, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng, Ban thông tin bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng, Ban chỉ huy quân sự huyện Lạc Dương và 1015 hộ dân là người đồng bào địa phương trên địa bàn, đây là lực lượng đông đảo quan trọng bám trụ ở địa bàn vào mùa hanh khô thay nhau tham gia túc trực chiến phòng cháy chữa cháy rừng suốt 24/24giờ với sự gắn kết trách nhiệm theo dõi kiểm tra, hướng dẫn và giám sát của nhân viên kiểm lâm

Từ năm 2006-2010 VQG đã tiến hành khoán bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào và lực lượng vũ trang địa phương hàng năm thể hiện qua bảng 4.3

Việc chi trả tiền khoán bảo vệ rừng được thực hiện theo các chương trình, dự án cụ thể: Dự án 661; Theo quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/1/2005 của Thủ Tướng chính phủ; theo quyết định số 308/QĐ-TTG ngày 10/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ Theo quyết định số 813/QĐ-TTg ngày 7/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ tại một số xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn

Bảng 4.3: Thực trạng công tác giao khoán bảo vệ rừng ở VQG Bidoup-Núi Bà

Tổng diện tích GKBVR (ha)

Giao khoán cho đồng bào dân tộc Giao khoán cho tập thể

Số đơn vị nhận khóan

Nguồn:Phòng kỹ thuật - VQG BiDoup- Núi Bà

4.1.5 Thực trạng công tác Quản lý bảo vệ rừng

Bảng 4.4: Phân tích SWOT về công tác QLBVR tại VQG BiDoup – Núi Bà Điểm mạnh Điểm yếu

- Bộ máy quản lý đơn vị được phân cấp cụ thể, chuyên môn hoá

- Con người được đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ thường xuyên

- Cơ sở hạ tầng được đảm bảo và các trạm kiểm lâm được xây dựng và trang bị phương tiện kỹ thuật tốt

- Các hoạt động phát triển thôn bản được triển khai thông qua nhiều dự án đầu tư hỗ trợ

- Cộng đồng địa phương đã gắn bó lâu đời, có kinh nghiện và kiến thức bản địa trong việc quản lý bảo vệ rừng

- Biên chế lực lượng làm công tác QLBVR so với tổng diện tích rừng còn mỏng

- Máy móc thiết bị phục vụ điều tra phát hiện cũng như giám sát về ĐDSH chưa tương xứng với nhiệm vụ

- Khả năng tiếp cận cộng đồng còn hạn chế nên chưa tận dụng hết khả năng tham gia QLBVR của họ

- Kinh phí chi trả cho người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng chưa đồng đều

- Công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn ĐDSH ngày được quan tâm nhiều hơn

- Nhiều chính sách của đảng, nhà nước đang được triển khai có hiệu quả

- Được sự hỗ trợ, hợp tác của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ về bảo tồn và phát triển

- Tiềm năng về phát triển du lịch sinh thái và các dịch vụ môi trường rừng khác đang mang lại nhiều lợi ích

- Tác động của người dân địa phương và dân di cư đến TNR

- Mở rộng giao thông, xây đập thuỷ điện và các dịch vụ du lịch

- Nhận thức của cộng đồng về luật pháp và các hoạt động bảo tồn, còn hạn chế

- Giải quyết vấn đề sinh kế gắn với quản lý tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học

4.2 Các hình thức và mức độ tác động của người dân địa phương đến TNR

Tại VQG Bidoup- Núi Bà, qua kết quả đánh giá thực trạng tình hình vi phạm và thực tế tình hình hoạt động sản xuất, canh tác của các hộ gia đình tại các khu vực nghiên cứu cho thấy có các hình thức tác động chính của người dân địa phương tới TNR gồm có:

- Sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy

- Khai thác gỗ, củi phục vụ nhu cầu của gia đình và bán

- Khai thác các loại LSNG phục vụ nhu cầu sinh hoạt và bán

- Chăn thả gia súc trên rừng và đất rừng

4.2.1 Sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy

Trong diện tích 33.582 Ha, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG có

193 HGĐ thuộc xã Đạ Chais đang sinh sống trong vùng lõi và tổng diện tích đất canh tác là 11,56Ha[11]

Hình thức người dân sử dụng đất rừng VQG chủ yếu để trồng cà phê, bắp và cây Lâm nghiệp Ngoài ra còn một số loài cây trồng khác được trồng xen cây cà phê trong thời gian cà phê chưa được thu hoạch như khoai môn, đậu …, trong tổng số

90 hộ điều tra thì có 49 hộ đang canh tác trên đất thuộc VQG chiếm tỷ lệ 54,4% chủ yếu là các hộ thuộc hai thôn Đưng K’Si và Klong Klanh, số liệu thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.5: Hình thức sử dụng đất rừng

Hình thức sử dụng Hộ sử dụng Hộ không sử dụng

Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)

Số liệu: tổng hợp điều tra 90 hộ

Công tác phòng chống cháy rừng

Công tác phòng chống cháy rừng vào đầu mùa khô; đã được đơn vị chủ động xây dựng phương án và thành lập ban chỉ huy phòng cháy chữa cháy rừng để kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, chỉ huy điều động công tác trực cháy, chỉ đạo các trạm phân công các tổ trực cháy thường xuyên tại cơ sở, dựa vào điều kiện tự nhiên, tài nguyên của từng khu vực và xác định những vùng trọng điểm xung yếu, để bố trí các điểm chốt trực trong suốt mùa hanh khô, bố trí tuần tra canh gác 24/24 giờ, nhằm phát hiện và xử lý kịp thời khi có cháy rừng xảy ra Hàng năm các vụ cháy rừng đều được phát hiện sớm và xử lý kịp thời Để đảm bảo công tác phòng là chính VQG đã thực hiện hợp đồng với người dân địa phương, 9 tổ đội trực cháy, hợp đồng giao khoán phòng cháy chữa cháy rừng 631,79 ha, xây dựng chòi lán canh lửa rừng tạm thời mỗi năm 12 cái bố trí tại nơi có nguy cơ cháy cao, đóng gần 200 biển báo cấm lửa tại các nơi xung yếu Nhờ vậy thiệt hại gây ra là không lớn và các diện tích bị cháy đã khôi phục nhanh chóng

Bảng 4.2: Thống kê tổng hợp các vụ cháy rừng tại VQG BiDoup-Núi Bà

Stt Nội dung ĐVT Năm Năm Năm Năm Năm Năm Tổng

1 Số vụ cháy rừng Trong đó: vụ 1 1 9 1 1 5 18

- Cháy rừng tự nhiên vụ 1 1 8 1 1 4 16

2 DT thiệt hại Trong đó: ha 4 0,5 69,21 4 2 85,89 165,6

3 DT rừng cháy đã phục hồi ha 4 0,5 69,21 4 2 75,5 155,21

Nguồn: Hạt kiểm lâm, Vườn quốc gia BiDoup – Núi Bà

Công tác Khoán bảo vệ rừng

Thực hiện theo các văn bản pháp luật và chỉ đạo của cấp trên hàng năm VQG đã hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho các tập thể là Công an huyện Lạc Dương, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng, Ban thông tin bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lâm Đồng, Ban chỉ huy quân sự huyện Lạc Dương và 1015 hộ dân là người đồng bào địa phương trên địa bàn, đây là lực lượng đông đảo quan trọng bám trụ ở địa bàn vào mùa hanh khô thay nhau tham gia túc trực chiến phòng cháy chữa cháy rừng suốt 24/24giờ với sự gắn kết trách nhiệm theo dõi kiểm tra, hướng dẫn và giám sát của nhân viên kiểm lâm

Từ năm 2006-2010 VQG đã tiến hành khoán bảo vệ rừng cho các hộ đồng bào và lực lượng vũ trang địa phương hàng năm thể hiện qua bảng 4.3

Việc chi trả tiền khoán bảo vệ rừng được thực hiện theo các chương trình, dự án cụ thể: Dự án 661; Theo quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/1/2005 của Thủ Tướng chính phủ; theo quyết định số 308/QĐ-TTG ngày 10/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ Theo quyết định số 813/QĐ-TTg ngày 7/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ tại một số xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn

Bảng 4.3: Thực trạng công tác giao khoán bảo vệ rừng ở VQG Bidoup-Núi Bà

Tổng diện tích GKBVR (ha)

Giao khoán cho đồng bào dân tộc Giao khoán cho tập thể

Số đơn vị nhận khóan

Nguồn:Phòng kỹ thuật - VQG BiDoup- Núi Bà

Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng

Bảng 4.4: Phân tích SWOT về công tác QLBVR tại VQG BiDoup – Núi Bà Điểm mạnh Điểm yếu

- Bộ máy quản lý đơn vị được phân cấp cụ thể, chuyên môn hoá

- Con người được đào tạo bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ thường xuyên

- Cơ sở hạ tầng được đảm bảo và các trạm kiểm lâm được xây dựng và trang bị phương tiện kỹ thuật tốt

- Các hoạt động phát triển thôn bản được triển khai thông qua nhiều dự án đầu tư hỗ trợ

- Cộng đồng địa phương đã gắn bó lâu đời, có kinh nghiện và kiến thức bản địa trong việc quản lý bảo vệ rừng

- Biên chế lực lượng làm công tác QLBVR so với tổng diện tích rừng còn mỏng

- Máy móc thiết bị phục vụ điều tra phát hiện cũng như giám sát về ĐDSH chưa tương xứng với nhiệm vụ

- Khả năng tiếp cận cộng đồng còn hạn chế nên chưa tận dụng hết khả năng tham gia QLBVR của họ

- Kinh phí chi trả cho người dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng chưa đồng đều

- Công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn ĐDSH ngày được quan tâm nhiều hơn

- Nhiều chính sách của đảng, nhà nước đang được triển khai có hiệu quả

- Được sự hỗ trợ, hợp tác của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ về bảo tồn và phát triển

- Tiềm năng về phát triển du lịch sinh thái và các dịch vụ môi trường rừng khác đang mang lại nhiều lợi ích

- Tác động của người dân địa phương và dân di cư đến TNR

- Mở rộng giao thông, xây đập thuỷ điện và các dịch vụ du lịch

- Nhận thức của cộng đồng về luật pháp và các hoạt động bảo tồn, còn hạn chế

- Giải quyết vấn đề sinh kế gắn với quản lý tài nguyên rừng, bảo tồn đa dạng sinh học.

Các hình thức và mức độ tác động

Tại VQG Bidoup- Núi Bà, qua kết quả đánh giá thực trạng tình hình vi phạm và thực tế tình hình hoạt động sản xuất, canh tác của các hộ gia đình tại các khu vực nghiên cứu cho thấy có các hình thức tác động chính của người dân địa phương tới TNR gồm có:

- Sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy

- Khai thác gỗ, củi phục vụ nhu cầu của gia đình và bán

- Khai thác các loại LSNG phục vụ nhu cầu sinh hoạt và bán

- Chăn thả gia súc trên rừng và đất rừng

4.2.1 Sử dụng đất rừng để canh tác nương rẫy

Trong diện tích 33.582 Ha, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của VQG có

193 HGĐ thuộc xã Đạ Chais đang sinh sống trong vùng lõi và tổng diện tích đất canh tác là 11,56Ha[11]

Hình thức người dân sử dụng đất rừng VQG chủ yếu để trồng cà phê, bắp và cây Lâm nghiệp Ngoài ra còn một số loài cây trồng khác được trồng xen cây cà phê trong thời gian cà phê chưa được thu hoạch như khoai môn, đậu …, trong tổng số

90 hộ điều tra thì có 49 hộ đang canh tác trên đất thuộc VQG chiếm tỷ lệ 54,4% chủ yếu là các hộ thuộc hai thôn Đưng K’Si và Klong Klanh, số liệu thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.5: Hình thức sử dụng đất rừng

Hình thức sử dụng Hộ sử dụng Hộ không sử dụng

Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%)

Số liệu: tổng hợp điều tra 90 hộ

Trong điều kiện địa hình đất đai và khí hậu ở đây rất thích hợp để trồng cây cà phê, mặt khác trong một số năm trở lại đây giá quả và hạt cà phê tăng cao khoảng 10.000đ/1kg quả tươi, 35.000 đồng đến 40.000đ/1kg hạt nhân nên người dân ở đây đã tích cực đầu tư và có thu nhập cao từ loài cây này trong năm 2010 đã có hộ thu nhập đến 200 triệu đồng sau khi trừ các khoản chi phí cũng còn lời được trên 100 triệu đồng Tuy nhiên không phải đất nào cũng trồng được và hộ nào cũng có đủ diều kiện để trồng, nên nhiều hộ cũng đã dùng một phần diện tích còn lại hoặc tất cả để trồng cây bắp và kinh doanh hoa và rau

Do tại khu vực nghiên cứu đa phần hộ dân canh tác Bắp và là cây lương thực chủ đạo ở đây, mỗi năm trồng được 01 vụ vào khoảng tháng 4 đến tháng 8 hàng năm, sau thu hoạch một phần dùng trong sinh hoạt một phần đem bán, năng suất thu hoạch khoảng 1,2 tấn đến 2,5 tấn/Ha tuỳ thuộc vào mức đầu tư

Diện tích đất rừng do 49/90 hộ điều tra sử dụng là 43,45ha cả vùng đệm và vùng lõi, hộ sử dụng ít nhất là 0,1ha , nhiều nhất là 4,5ha Tính bình quân, diện tích đất rừng chiếm 36,34% trong cơ cấu đất canh tác của hộ gia đình trong vùng

Bảng 4.6 : Diện tích canh tác của các HGĐ trên rừng và đất rừng VQG

TT Đối tượng số hộ canh tác tỷ lệ(%)

Diện tích canh tác (Ha)

II Theo mức độ gần rừng 49 100 0,887 43,45

Tình trạng sử dụng đất rừng để canh tác có những sự khác biệt lớn theo từng nhóm hộ và mức độ gần rừng Phần lớn các hộ canh tác ở đây là nhóm hộ kém và hộ trung bình, số hộ khá rất ít chỉ 12,2% là canh tác đất rừng Những hộ canh tác trên đất VQG có đến 77,6% hiện đang sống ở vùng lõi so với tổng số hộ canh tác ở đây

4.2.2 Tác động khai thác lâm sản

Qua kết quả điều tra tổng hợp các hoạt động của người dân khai thác cho thấy chủ yếu là: lấy gỗ, lấy củi, và khai thác LSNG (cây rau, cây thuốc và Động vật rừng) Trong đó việc lấy củi và các lâm sản ngoài gỗ chủ yếu cho nhu cầu gia đình, rất ít hộ khai thác gỗ và săn bắn động vật rừng vì bị kiểm soát bởi lực lượng kiểm lâm

Theo biểu đồ Hình 4.3 cho thấy tỷ lệ cao nhất của các hoạt động lấy các sản phẩn từ rừng là số hộ vào rừng lấy củi hàng tuần khoảng 70% và 60% số hộ kết hợp lấy củi với lấy các LSNG khác Các hoạt động này chủ yếu vì nhu cầu sinh hoạt là những hành động ít nhiều tác động bất hợp pháp đối VQG

Dưới đây là số liệu chi tiết biểu thị mức độ tác động của người dân cho từng hoạt động trên Hai chỉ tiêu đánh giá là số lần vào rừng và khối lượng lấy ra cho mỗi lần

Không khai thác Khai thác

Hình 4.3: Biểu đồ số hộ điều tra vào rừng khai thác và sử dụng lâm sản

Bảng 4.7a: Số lần và khối lượng khai thác gỗ của các hộ điều tra

Bảng 4.7b: Số lần và khối lượng khai thác củi của các hộ điều tra

Bảng 4.7c: Số lần và khối lượng khai thác lâm sản làm thực phẩm

Bảng 4.7d: Số lần và khối lượng khai thác cây thuốc, sâm

Bảng 4.7e: Số lần và khối lượng săn bắt động vật của các hộ điều tra

- Tình hình hộ gia đình có khai thác gỗ chiếm tỷ lệ rất ít 4,4% bởi vì đối tượng khai thác bị cấm, không được khai thác vận chuyển trái phép, ngoại trừ những trường hợp khai thác gỗ để dựng sửa nhà nhưng phải được cấp phép từ các cơ quan chức năng, các vụ việc bị kiểm lâm phát hiện và xử lý cũng cho thấy khai thác và vận chuyễn lâm sản trái phép phần nhiều cũng từ đối tượng ở nơi khác tới

- Phần nhiều số hộ đi lấy củi 3- 4 lần trong tuần, mỗi lần khoảng 30 kg Lý do chính do đây là nguồn nhiên liệu cần dùng hàng ngày phục vụ sinh hoạt của họ

- Cùng với việc lấy củi người dân cũng kết hợp lấy rau rừng, lấy măng và các LSNG khác để phục vụ cho nhu cầu gia đình và để bán như những sản phẩm củ sâm với công dụng để thanh nhiệt được khách hàng ưa thích

- Riêng hoạt động săn bắt và sử dụng động vật rừng thì có khoảng 3,3% số hộ, chủ yếu là bắt động vật vừa và nhỏ, tuy nhiên các số liệu thống kê từ Hạt kiểm lâm trong các đợt truy quét tháng 4/2010 đã phá huỷ trên 400 bẫy động vật, cho thấy trong việc hộ dân trả lời phỏng vấn có vẻ chưa trung thực

4.2.3 Tác động sử dụng rừng và đất rừng để chăn thả gia súc

Hình thức chăn thả gia súc trên rừng được coi là truyền thống của các gia đình sống gần rừng Họ thường chăn thả các loại gia súc như trâu, bò xuất phát từ nhu cầu sử dụng sức kéo và coi đó còn được coi là tài sản tích trữ được Phần lớn các hộ thả rông và có sự kiểm soát của con người Còn phần ít số họ có số lượng ít họ thường cột gia súc vào những nơi có cỏ hoặc thức ăn hết ngày họ dắt về nhà

Trong 90 HGĐ điều tra, có 15 HGĐ chăn thả gia súc trên rừng, chiếm 69,2% số hộ điều tra, số liệu được tổng hợp ở bảng 4.8

Bảng 4.8: Mức độ chăn thả gia súc trên rừng

TT Đối tượng số hộ chăn thả tỷ lệ(%)

Số lượng trâu bò (con)

II Theo mức độ gần rừng 15 100 14 210

Nguyên nhân dẫn đến những tác động bất lợi

Với số lượng gia súc bình quân tính được cùng với những hình thức chăn thả chủ yếu vừa nêu cho thấy những việc chăn thả gia súc có ảnh hưởng đến rừng thông qua hoạt động này gia súc làm cho cây cối bị đổ gẫy, làm chết các cây tái sinh… làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng rừng

4.3 Nguyên nhân dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại VQG Bidoup - Núi bà

Trên cơ sở về điều kiện KT-XH của khu vực nghiên cứu và thực tế các hộ điều tra, cùng với việc phân tích các hình thức tác động bất lợi đến TNR, đề tài xác định tại khu vực nghiên cứu có các nguyên nhân dẫn đến tác động bất lợi như sau:

4.3.1 Cơ cấu đất canh tác Đất canh tác là yếu tố chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình Trong tổng số 90 hộ điều tra, quỹ đất cho sản xuất được sử dụng và có cơ cấu cây trồng như sau :

Bảng 4.9: Hình thức sử dụng đất của các hộ điều tra

TT Hình thức sử dụng Hộ sử dụng Hộ không sử dụng

Số hộ Tỷ lệ(%) Số hộ Tỷ lệ (%)

Tình hình các hộ sử dụng đất vào các loại cụ thể : 61 hộ (67,8%) có đất vườn, 74 hộ (82,2%) có đất trồng cà phê, 47 hộ (52,2%) có đất trồng bắp, và một số ít hộ dùng đất để trồng rau, hoa và cây ăn quả Thông qua số liệu ở bảng 4.9 cho thấy: Phầm lớn diện tích đất của hộ gia đình ở đây dùng để trồng Cà Phê (60%) và trồng bắp (23%) Tuy nhiên do hiệu quả của cây cà phê mang lại nên các hộ gia đình tăng cùng mở rộng dẫn đến những diện tích trồng cây Lâm nghiệp dần dần bị chuyển đổi đồng thời cũng làm tăng nguy cơ lấn chiếm đất rừng để canh tác Với điều kiện địa hình vùng núi nếu không duy trì trồng cây Lâm nghiệp thì cũng dễ dẫn đến những hậu quả khó lường về lũ lụt, hạn hán

Theo những kết quả trên cần phải chú ý việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng là hợp lý đáp ứng nhu cầu về kinh tế song vẫn phải hài hoà với diện tích đất trồng cây lâm nghiệp để đảm bảo tính canh tác bền vững

Bảng 4.10 : Cơ cấu sử dụng đất theo đối tượng các hộ điều tra Đơn vị diện tích : Ha

TT Đối tượng Tiêu chí Tổng

II Mức độ gần rừng

Trung bình diện tích 1 hộ/90 hộ 1,33 0,08 0,80 0,01 0,31 0,04 0,10

Cơ cấu thu nhập của người dân địa phương bao gồm các nguồn: Sản xuất Trồng trọt, Sản xuất lâm nghiệp, Chăn nuôi, Canh tác và khai thác sản phẩm rừng thu từ việc khai thác gỗ củi và LSNG và Nguồn khác: Nhận khoán BVR, BBDV, lương, làm thuê… Kết quả tổng hợp các hộ điều tra thể hiện (bảng 4.11)

Bảng 4.11 Cơ cấu tổng thu nhập theo nhóm HGĐ Đơn vị tính: ngàn đồng/năm

Nhóm kinh tế hộ Nguồn thu

Nhóm hộ Kém Nhóm hộ Trung bình Nhóm hộ Khá Bình quân nhóm hộ

4 Canh tác và khai thác từ rừng 158.100 19,0 363.900 11,7 549.700 13,3 357.233,3 13,3

Tổng thu nhập của HGĐ theo nhóm hộ giảm dần từ nhóm hộ khá đến nhóm hộ kém, có sự khác nhau rõ rệt về thu nhập giữa các nhóm kinh tế hộ

- Thu nhập của nhóm hộ khá: Tỷ trọng nguồn thu từ Nông nghiệp chiếm 52,9%, thu từ các nguồn khác chiếm 17,3%, Thu từ chăn nuôi chiến 15,5%, canh tác và khai thác từ rừng chiến 13,3% và tỷ trong thu được từ sản xuất lâm nghiệp chỉ đạt 1,0% tổng thu nhập của hộ Bình quân thu nhập 01 hộ là 229.463,2 nghìn đồng/năm

- Thu nhập của nhóm hộ Trung bình: Tỷ trọng nguồn thu từ Nông nghiệp chiếm 49,3%, thu từ các nguồn khác 28,0%, Thu từ chăn nuôi chỉ đạt 8,4%, canh tác và khai thác từ rừng 11,7% và tỷ trọng thu được từ sản xuất lâm nghiệp đạt 2,6% tổng thu nhập của hộ Bình quân thu nhập 1 hộ là 69.157,15 nghìn đồng/năm

- Thu nhập của nhóm hộ Kém: Tỷ trọng nguồn thu từ Nông nghiệp chỉ chiếm 29,2%, nhưng thu từ các nguồn khác chiếm đến 39,7%, Thu từ chăn nuôi đạt 12 %, canh tác và khai thác từ rừng đạt 19% tổng thu nhập của hộ và không có sản xuất lâm nghiệp Bình quân thu nhập 1 hộ là 30.727 nghìn đồng/năm

Qua kết quả phân tích cho thấy bình quân thu nhập giữa các nhóm có sự sai khác rất lớn, nhóm hộ trung bình có thu nhập gấp 2 lần nhóm hộ kém và hộ khá có thu nhập bình quân gấp 3 lần hộ trung bình và gấp hơn 7 lần nhóm hộ kém

Với kết quả phân tích còn cho thấy nguồn thu của hộ khá và hộ trung bình đa dạng hơn và tỷ trọng thu nhập từ trồng trọt khá cao, trong khi đó nhóm hộ nghèo có khản thu nhập từ ngườn khác chiếm đến 39,7% và nguồn này chủ yếu từ việc được chi trả phí dịch vụ môi trường rừng do nhận khoán bảo vệ rừng từ phí VQG

Hình 4.4 Cơ cấu tổng thu nhập theo nhóm HGĐ

Cơ cấu chi phí của người dân địa phương gồm: chi phí cho SX nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, canh tác - khai thác sản phẩm rừng, hoạt động SX khác và chi phí sinh hoạt Kết quả phân tích cơ cấu chi phí theo nhóm hộ được tổng hợp bảng 4.12 cho thấy: Chi phí sinh hoạt gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu chi phí của HGĐ trung bình 51,43% đối với tất cả các nhóm hộ tỷ trọng chi cao nhất là nhóm hộ kém 68,5%, thấp nhất là nhóm hộ khá 41,95%

Căn cứ bảng phân tích cơ cấu chi phí (bảng 4.12) cho thấy: Tổng chi phí bình quân năm của các nhóm hộ tương ứng với thu nhập của họ, nhóm hộ kém chi phí trung bình 32.213 nghìn đồng/ hộ; nhóm hộ trung bình chi phí bình quân 55.243,6 nghìn đồng/hộ và nhóm hộ khá chi phí bình quân lớn nhất 163.366,7nghìn đồng/hộ

Bảng 4.12 Cơ cấu tổng chi phí theo nhóm HGĐ Đơn vị tính: ngàn đồng/năm

Nhóm kinh tế hộ Chi Phí

Nhóm hộ Trung bình Nhóm hộ Khá Bình quân nhóm hộ

4 Canh tác và khai thác từ rừng 71.100 8,2 156.100 6,3 190.000 6,46 139.066,7 6,63

6 Chi phí sinh hoạt GĐ 596.050 68,5 1.466.560 59,0 1.263.800 43,0 1.108,803 52,8

- Nhóm hộ Kém: Chi chủ yếu là sinh hoạt gia đình chiếm 68,5%, chi cho sản xuất nông nghiệp chiếm11,1%, chi cho canh tác và khai thác các sản phẩm từ rừng là 8,2%, chi chăn nuôi 7,7% và các khoản chi khác 4,5% và không có chi sản xuất Lâm nghiệp

Đề xuất các giải pháp KT-XH nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi của người dân địa phương đến TNR tại VQG BiDoup – Núi Bà

1 Angus McEwin (Nguyễn Tố Uyên, Thẩm Ngọc Diệp, Hà Minh Trí,Keith

Symington) (2007) Sinh kế bền vững cho các khu bảo tồn biển Việt nam,

2 Bộ NN&PTNT (2008), Đề án về chương trình đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng hệ thống rừng đặc dụng Việt nam giai đoạn 2008-2020 (Ban hành kèm theo quyết định số 2370/QĐ-BNN-KL ngày 05/8/2008), Hà Nội

3 Bộ NN&PTNT (2010), tờ trình Về việc xây dựng Nghị định về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng

4 Chi cục Kiểm lâm Đồng Nai (2005), Báo cáo tổng kết kỷ niệm 32 năm thành lập lực lượng Kiểm lâm Đồng Nai

5 Chính phủ (2006), Quy chế quản lý rừng, ban hành theo quyết định số

186/2006/QĐ-TTg, ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ

6 Chính phủ (2006), Phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng tây nguyên, ban hành theo quyết định số 813/2006/QĐ-TTg, ngày 07 tháng 06 năm 2006

7 Chính phủ (1994), quy định về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng ban hành theo quyết định số 202/QĐ-TTg ngày 02/5/1994

8 Chính phủ (2005), thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh tây nguyên, ban hành theo quyết định số 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005

9 Chính phủ (2005) Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

10 Chương trình Hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và Đối tác - Bộ NN&PTNT (2006),

Cẩm nang ngành lâm nghiệp – Chương Lâm sản ngoài gỗ, Hà Nội

11 Chương trình hỗ trợ đối tác ngành lâm nghiệp - quỹ bảo tồn Việt Nam (2010),

Báo cáo tham vấn xã hội Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, tỉnh Lâm Đồng

12 D.A Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), Quản lý vùng đệm ở Việt Nam,

13 Donovan D., Rambo A.T, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997), Những xu hướng phát triển vùng núi phía Bắc Việt nam, Tập 2 – Các nghiên cứu mẫu và bài học từ Châu Á, Trung tâm Đông Tây, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường - Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia,

14 Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Yến biên tập(2008), Hướng dẫn quản lý khu bảo tồn thiên nhiên một số kinh nghiệm và bài học quốc tế, IUCN tại Việt Nam.

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w