1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng tại xã yên nhân thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa

85 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát triển đã chỉ rõ, trong quá trình xây rựng và hoàn thiện chính sách, luật pháp về quản lý tài nguyên thiên nhiên, thì thiếu sự tham gia của c

Trang 1

TRỊNH NHÂN TƯỜNG

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ YÊN NHÂN, THUỘC VÙNG ĐỆM KHU BẢO

TỒN THIÊN NHIÊN XUÂN LIÊN, TỈNH THANH HÓA”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2012

Trang 2

ĐĂT VẤN ĐỀ

Yên Nhân là một xã thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa, nằm trong lưu vực thượng nguồn Sông Khao, vùng phòng hộ đầu nguồn Sông Chu Về tài nguyên, môi trường và cộng đồng dân cư ở đây đang có một tiềm năng to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội Với diện tích đất lâm nghiệp rộng lớn chiếm 85% tổng diện tích đất tự nhiên, phần lớn là đất rừng tự nhiên Đây

là nguồn tài nguyên quý giá và phong phú nhất của địa phương Mặt khác địa bàn

xã nằm trong khu vực có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi là tiềm năng để phát triển nhiều loại cây rừng, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi Cùng với truyền thống đoàn kết dân tộc và những kiến thức bản địa phong phú, lao động dồi dào cũng là nguồn tài nguyên quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội va ổn định cuộc sống cho người dân địa phương

Tuy nhiên trong nhiều năm qua do khai thác và sử dụng rừng chưa hợp lý, hoạt động săn bắn và khai thác gỗ trái phép mỗi ngày một gia tăng đã làm cho diện tích rừng tự nhiên của xã Yên Nhân bị thu hẹp, chất lượng rừng suy giảm, khả năng cung cấp lâm sản, các chức năng phòng hộ, cải tạo môi trường sinh thái, vv… không đáp ứng được nhu cầu; tình trạng hạn hán, lũ lụt xảy ra hàng năm gây nhiều thiệt hại cho hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, dẫn đến tình rạng kinh tế xã hội chậm phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu

Để khắc phục đói nghèo người dân phải khai thác lâm sản, săn bắn động vật trong khu bảo tồn thiên nhiên Ngoài ra còn săn bắn động vật hoang dã từ khu bảo tồn thiên nhiên di chuyển ra vùng đệm, tạo ra sự di chuyển một chiều của động vật hoang dã từ khu bảo tôn thiên nhiên ra vùng đệm và bị mất dần qua hoạt động săn bắn của người dân Quá trình đó đã làm cho tài nguyên động vật rừng ngày càng cạn kiệt, gây khó khăn cho công tác quản lý rừng nói chung và công tác bảo tồn tính

đa dạng sinh học nói riêng

Trước những thay đổi đó con người ngày càng hiểu được tầm quan trọng của rừng Ngày nay nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách và dự án cho hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Thế nhưng hiện tượng săn bắn,

Trang 3

khai thác gỗ trái phép vẫn thường xuyên xảy ra làm cho tài nguyên rừng vẫn tiếp tục suy giảm Những kết quả nghiên cứu gần đây đã cho thấy một trong những nguyên nhân chủ yếu là do chưa phát huy được năng lực cộng đồng, lực lượng xã hội gần nhất với người dân Các dòng họ, các già làng, các tổ chức quần chúng và mỗi thành viên có thể khuyến khích và giám sát nhau thực hiện chính sách của nhà nước và những quy định của cộng đồng có lợi cho hoạt động bảo vệ và phát triển tài nguyên

Vậy làm thế nào để nâng cao năng lực nội sinh của cộng đồng, phát huy những tiềm năng sẵn có và lôi cuốn cộng đồng tham gia vào các hoạt động quản lý tài nguyên rừng vì mục tiêu phát triển bền vững của địa phương Đây là những băn khoăn, trăn trở không chỉ của chính quyền các cấp, các nhà khoa học mà của cả người dân địa phương

Nhằm góp phần giải quyết vấn đề trên đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp

quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng tại xã Yên Nhân, thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” đã được thực hiện

Đề tài tiến hành nghiên cứu những giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Góp phần thúc đẩy quá trình nâng cao nhận thức và kiến thức của cộng đồng, tạo điều kiện cho việc kết hợp những kinh nghiệm truyền thống với khoa học hiện đại để hình thành những cách thức mới trong quản lý rừng, thúc đẩy việc liên kết các ngành các cấp, phát huy tổng hợp những nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn cho việc sử dụng tối ưu tài nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của địa phương và đất nước

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ RỪNG TRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG 1.1 Nhận thức chung về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

1.1.1 Khái niệm về quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

Rừng là một bộ phận tài nguyên mà đặc điểm của chúng quyết định đến đặc điểm của nhiều cán bộ tài nguyên khác, chúng có ý nghĩa nhất đối với sự tồn tại của thiên nhiên nói chúng và con người nói riêng, chúng cũng dễ bị biến đổi nhất dưới những tác động của con người và có nhu cầu khẩn thiết nhất về quản lý hiệu quả Chính vì vậy trên thế giới, lịch sử quản lý rừng được phát triển từ rất sớm Đầu thế

kỷ XVIII, các nhà Lâm học Đức [41] đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loài đều tuổi, cũng vào thời điểm đó các nhà Lâm học Pháp [42] cũng đã

đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng đối với rừng khác tuổi khai thác chọn Trong thời kỳ này, hệ thống quản lý rừng phần lớn dựa trên các mô hình kiểm soát quốc gia, vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng không được chú ý, Chính phủ giữ quyền pháp lý độc nhất kiểm soát toàn bộ các khu rừng

tự nhiên của quốc gia

Giai đoạn từ giữa thế kỷ XX trở lại đây, khi tài nguyên rừng ở nhiều Quốc gia đã bị giảm sút một cách nghiêm trọng, môi trường sinh thái và cuộc sống của đồng bào miền núi bị đe dọa thì phương thức quản lý tập trung như trước đây không còn thích hợp nữa Người ta đã tìm mọi cách cứu vãn tình trạng suy thoái tài nguyên rừng thông qua việc ban bố một số chính sách nhằm động viên và thu hút người dân tham gia quản lý và sử dụng tài nguyên rừng Phương thức quản lý rừng cộng đồng (hay lâm nghiệp cộng đồng) xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ và dần dần thay đổi thành các hình thức quản lý khác nhau như Lâm Nghiệp trang trại, Lâm nghiệp

xã hội ở (Nepan, Thái Lan, Philippin,…) Hiện nay, ở các nước đang phát triển, khi sản xuất Nông, Lâm nghiệp còn chiếm vị trí quan trọng đối với người dân nông thôn miền núi, thì quản lý rừng theo phương thức phát triển Lâm nghiệp xã hội là một hình thức mang tính bền vững nhất về cả phương diện kinh tế, xã hội lẫn môi trường sinh thái [27]

Trang 5

Những nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát triển đã chỉ rõ, trong quá trình xây rựng và hoàn thiện chính sách, luật pháp về quản lý tài nguyên thiên nhiên, thì thiếu sự tham gia của cộng đồng là một trong những nguyên nhân quan trọng làm giảm hiệu lực của các chính sách bảo vệ quản lý tài nguyên thiên nhiên Khi có những giải pháp thích hợp thì cộng đồng chính là lực lượng động viên, hỗ trợ, giám sát, và thậm chí cả cưỡng chế các thành viên thực hiện những hoạt động quản lý bền vững tài nguyên Ngược lại, vai trò của cộng đồng có thể hoàn toàn bị

mờ nhạt trong hoạt động quản lý tài nguyên Đôi khi họ còn trở thành lực lượng đối lập lại với nhà nước trong hoạt động quản lý tài nguyên Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đã khặng định ở phần lớn các vùng nông thôn miền núi của Philippines, Indonesia, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan, v.v…, những cộng đồng địa phương giữ một vị trí quan trọng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên [44]

Khái niệm cộng đồng được hiểu là một nhóm người sống trên cùng một khu vực, và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung có thể có mối quan hệ gia đình với nhau (D’arcy Davis Case, 1990) Còn quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là một quản lý tài nguyên rừng dựa vào những tổ chức và luật

lệ cộng đồng mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đòng cho hoạt động quản lý Những giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp v.v…(Edwin Shanks, 1992) Trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước đang phát triển mà đặc biệt là ở vùng Châu Á –Thái Bình Dương, gia đình và cộng đồng được đánh giá cao

1.1.2 Vai trò của chính sách nhà nước đối với quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục tập quán của người dân địa phương Có những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng Nhưng cũng có những phong tục tập

Trang 6

quán ngược lại với yêu cầu của quản lý bền vững tài nguyên rừng Vì vậy, quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng phải hướng vào phát huy được những phong tục tập quán

có lợi, và giảm dần những phong tục tập quán cản trở hoạt động quản lý bền vững tài nguyên (IUCN,1991) Tuy nhiên, phong tục, tập quán, nhận thức, kiến thức của nhân dân không phải là bất biến Chúng thay đổi không ngừng cùng sự tiến bộ của

xã hội Vì vậy, những giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng không chỉ phù hợp với đặc điểm nhận thức và kiến thức của người dân mà còn phải hướng đến làm thay đổi chúng theo chiều hướng có lợi cho hoạt động quản lý bền vững tài nguyên (IUCN,1991)

Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ không thực hiện được nếu thiếu sự hậu thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước Các tổ chức cộng đồng không phải

là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng Trong nhiều trường hợp tổ chức cộng đồng không giải quyết được một cách triệt để những vấn đề phức tạp của quản lý tài nguyên Khi có các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan chính quyền để giải quyết những vấn đề vượt khỏi quyền hạn của mình Vì vậy, các quy định của cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nước, không trái với các quy định của Nhà nước

1.1.3 Chiến lược và chính sách cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

Chiến lược và chính sách quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều tiến hành theo những hướng sau:

- Bổ sung và sửa đổi chính sách để tăng quyền quản lý rừng cho người dân

và các cộng đồng Những giải pháp chủ yếu để tăng quyền quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là: cấp giấy chứng nhận quyền quản lý sử dụng rừng và đất rừng lâu dài cho hộ gia đình và cộng đồng, quy hoạch phát triển có sự tham gia của người dân, xây dựng những tổ chức và hương ước đảm bảo quyền sử dụng và phát triển tài nguyên rừng, xây dựng những hợp đồng trách nhiệm giữa gia đình, cộng đồng với nhà nước [28]

Trang 7

- Kết hợp những giải pháp hỗ trợ kinh tế để khuyến khích với những giải pháp hành chính cứng rắn, chú trọng phát triền đồng bộ cả giải pháp khoa học công nghệ, giải pháp kinh tế và giải pháp xã hội cho quản lý rừng

- Những chương trình quản lý tài nguyên và chương trình phát triển nói chung của địa phương được xây dựng theo phương pháp cùng tham gia ở tất cả các giai đoạn lập kế hoạch Người ta xem đây là phương pháp cho phép phát huy đầy đủ nhất những nội lực của cộng đồng cho quản lý bền vững tài nguyên rừng

1.2 Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở một số nước trên thế giới

1.2.1 Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở một số nước trong khu vực

Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đang được xem như là một giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, hỗ trợ giải quyết tình trạng suy thoái tài nguyên Đã có không ít những mô hình quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc,… (Hirsch, 1999) Đây là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

Không giống như các phương thức quản lý rừng truyền thống chỉ quan tâm đến các vấn đề kỹ thuật và lực lượng chuyên trách liên quan tới quản lý hệ sinh thái

tự nhiên Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hòa giữa vấn đề kỹ thuật với vấn đề xã hội, trong đó đặc biệt chú ý phát huy vai trò của kiến thức bản địa và tổ chức quần chúng ở địa phương [1] Những người dân bản xứ cùng cộng đồng của họ và những cộng đồng địa phương khác có vai trò quan trọng trong quản lý rừng và bảo vệ môi trường, bởi lẽ họ đã được tích lũy vốn kiến thức truyền thống cùng với kinh nghiệm thực tế qua nhiều năm Chính phủ các nước cần nhận ra và khuyến khích sự tham gia của họ trong chiến lược quản lý tài nguyên và phát triển bền vững [43]

Vì vậy, con đường tốt nhất hiện nay để giảm tình trạng suy thoái tài nguyên rừng là phải dựa vào những người dân sống trong rừng, gần rừng và gắn bó với rừng Do vậy, cần phải thực hiện chính sách phân quyền và trao quyền cho họ trong việc quản lý và phục hồi các nguồn tài nguyên quý báu ấy [43],[44] Nhiều cuộc hội

Trang 8

thảo quốc tế về Lâm nghiệp cộng đồng đã đi đến những nhận định chung về yếu tố

cơ bản đảm bảo cho sự thành công của Lâm nghiệp cộng đồng, một trong những yếu tố đó là:

- Chính phủ các nước phải đưa ra những cam kết về mặt pháp lý ổn định, lâu dài như quyền sử dụng đất và các chủ trương phát triển nông thôn, miền núi dưới dạng các luật và các văn bản dưới luật để mọi người yên tâm đầu tư và sử dụng mảnh đất của mình một cách lâu dài Các chính sách về quản lý rừng mỗi khi ban hành phải thu hút được sự tham gia đông đảo của người dân địa phương, đặc biệt là các gia đình nghèo lâu nay sống bằng nghề rừng

- Việc hoạch định chính sách quản lý rừng phải thông qua đàm thoại và khảo sát thực tế tại các cộng đồng địa phương để tìm hiểu rõ nhu cầu và khả năng của người dân, tránh các chủ trương gò ép, duy ý chí được đưa từ trên xuống

- Các cấp quản lý trực tiếp (cấp thôn bản và cấp hộ gia đình) có vai trò đặc biệt quan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc động viên và huy động các nguồn lực của nhân dân, đến việc quản lý và sử dụng đất và rừng, đến việc giải quyết tranh chấp hay xung đột trong nội bộ cộng đồng Cho tới nay, cấp thôn bản ở một số nước trong đó có Việt Nam vẫn chưa chính thức được công nhận nằm trong bộ máy hành chính nhà nước; tuy nhiên, nó là một tổ chức tự quản của dân, do dân bầu ra cùng nhau bàn bạc và ra quyết định Chính vì vậy nhà nước phải làm sao phát huy hết vai trò to lớn nội tại của tổ chức này [15]

1.2.2 Đặc điểm về chính sách quản lý rừng ở một số nước trong khu vực

- Ở Ấn Độ

Đặc điểm nổi bật trong chính sách quản lý rừng của Ấn Độ đó là sự duy trì mối quan hệ thực chất giữa rừng với người dân các bộ tộc và những ngườ nghèo sống ở trong rừng và gần rừng, bảo vệ quyền lợi và nhận rừng và hưởng lợi từ rừng lâu đời của họ [15] Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng đất rừng của Chính phủ Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có sự thay đổi nhiều giữa các bang (CRES, 1997) Tại Ấn Độ, người ta nghiên cứu một số biện

Trang 9

pháp nhằm tạo ra hoặc tăng thêm các tổ chức địa phương có hiệu lực lâu dài cho quản lý rừng công cộng [40]

- Ở Nhật Bản

Nhật Bản hiện có 25.21 triệu ha rừng, trong đó rừng cộng đồng chiếm 10%, rừng tư nhân 60% và rừng quốc gia chỉ chiếm 30% [19] Từ sự đam mê và quan tâm đến văn hóa, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn nguồn tài nguyên rừng rất lớn Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật Bản đều được công bố rõ ràng để đẩy mạnh phát triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1980 [38]

- Ở Philippine

Từ những năm 1970 Chính phủ Philippine đã quan tâm đến phát triểm Lâm nghiệp xã hội, Nhà nước xây dựng các dự án Lâm nghiệp xã hội tổng hợp do Bộ tài nguyên thiên nhiên chủ trì và phối hợp với các bộ có liên quan, phân chia thành từng vùng phát triển Lâm nghiệp xã hội do giám đốc vùng phụ trách, xây dựng mạng lưới đến cấp huyện Philippine chú trọng chuyển giao kỹ thuật nông lâm kết hợp và kỹ thuật canh tác đất dốc (SALT) đến người nông dân để phát triển nông nghiệp Năm 1982, chính phủ xây dựng dự án phát triển Lâm nghiệp xã hội quốc gia công nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho cộng đồng

- Ở Thái Lan

Sử dụng đất đai được thông qua chương trình làm rừng, hộ nông dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng Người nông dân có trách nhiệm quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng Người nông dân nhận đất được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên đất rừng của Nhà nước ở những nơi phù hợp cho việc trồng cây nông nghiệp lưu niên Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, đã làm tăng mức độ an toàn cho người thuê đất trong thời gian sử dụng Do vậy đã ảnh hưởng tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và tăng sức sản xuất của đất (CRES 1997)

1.3 Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam

Trang 10

- Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc cộng đồng dân tộc lại có những đặc điểm riêng về văn hóa, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán truyền thống

và quan hệ sản xuất

- Cộng đồng làng, bản:

+ Làng, xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, đã có nhiều thể chế tồn tại lâu đời trong xã hội nông thôn Việt Nam

+ Thôn, bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành ở miền núi, trên cơ sở quan hệ sắc tộc, và kinh tế tự nhiên, tụ cấp, tự túc, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc quản lý, bảo vệ xây dựng và phát triển rừng

Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác như cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính, v.v… Một số loại hình cộng đồng đã được phát triển thành những tổ chức như các đoàn thể, có mục tiêu và điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ chức kinh

tế Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát triển lâm nghiệp tại các địa phương trong thời gian qua như Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, v.v…

1.3.2 Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ra cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn Phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [26]

Ngày nay ở Việt nam, quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đã được nhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp

Trang 11

để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì sự phồn thịnh của mỗi gia đình và cộng đồng

Để trao quyền quản lý rừng cho cộng đồng Nhà nước đã thực hiện chính sách giao đất giao rừng Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi trường thuận lợi cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng Việt Nam Chủ trương giao đất khoán rừng

đã được Đảng và Nhà nước ta đề ra và thực hiện từ năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nước lại có những điều chỉnh, bổ xung kịp thời chu phù hợp với thực tế Nhìn tổng quát, quá trình giao đất giao rừng có thể chia thành các giai đoạn sau:

Thời kỳ 1968 – 1982:

Đây là thời kỳ phát triển kinh tế kế hoạch hóa tập trung trên cơ sở phát triển kinh tế quốc doanh và hợp tác xã Đất nông nghiệp, lâm nghiệp được giao cho hai thành phần kinh tế cơ bản: Quốc doanh và hợp tác xã (kể cả tập đoàn sản xuất sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng), chưa giao đất cho hộ gia đình [23]

Thời kỳ 1982 -1992:

Trong lâm nghiệp nhà nước ta đã có chính sách giao đất giao rừng cho các hợp tác xã và các hộ gia đình trong hợp tác xã để sản xuất nông, lâm nghiệp, nhất là vào giai đoạn cuối thời kỳ này, chủ trương, chính sách giao đất giao rừng đến hộ gia đình đã được cụ thể và đẩy mạnh hơn

Thời kỳ 1993 đến nay:

Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, ngành lâm nghiệp chuyển từ khai thác lợi dụng rừng là chính sang lâm nghiệp xây dựng phát triển rừng, nông lâm kết hợp, từ lâm nghiệp lấy quốc doanh làm chính sang lâm nghiệp xã hội gắn liền với phát triển kinh tế nhiều thành phần đi lên sản xuất hàng hóa, phát triển kinh

tế hộ gia đình, làm vườn rừng, trại rừng, nông lâm kết hợp Trong báo cáo chiến lược phát triển lâm nghiệp đã khẳng định quản điểm: Phát triển lâm nghiệp xã hội, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia kinh doanh rừng, tổ chức cho đồng bào dân tộc sống ở trong rừng và gần rừng có đời sống ổn định, chuyển họ từ người phá rừng thành người bảo vệ rừng Một trong những mục tiêu của các ngành lâm

Trang 12

nghiệp là: “Đưa 1 triệu hộ nông dân vào kinh doanh nghề rừng theo phương thức nông lâm kết hợp, tạo việc làm cho 2 triệu lao động với 6 - 7 triệu nhân khẩu, gắn với công tác định canh định cư vùng đồng bào dân tộc ít người” [20]

Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp trên đã làm cho rừng có chủ thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng, đất đai, lao động, tiền vốn tại chỗ Cùng với các chính sách tích cực khác của nhà nước trong thời gian qua đã làm cho độ che phủ của rừng tăng lên nhanh chóng (từ năm 1992 đến năm 2010 độ che phủ của rừng tăng từ 28% lên 39,1%) Trồng rừng được đảm bảo với tỷ lệ thành rừng cao, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của nhân dân, một bộ phận dân cư đã giàu lên từ nghề rừng, mở ra hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường tiêu thụ ở nhiều nơi, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn, miền núi

1.3.3 Những nghiên cứu chính liên quan đến quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác giao đất lâm nghiệp ở nước ta, mỗi chính sách nghiên cứu đều có cách tiếp cận riêng và có những nhận định riêng về tác động và kết quả chính sách này đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội của cùng trung du miền núi

- Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia “Chương trình hành động lâm nghiệp nhiệt đới” của cộng đồng Quốc tế Dự án “Tổng quan về lâm nghiệp Việt Nam” với mã hiệu VIE -08-037 đã được tiến hành và kết thúc vào năm 1991, dự án

đã có những đóng góp quý báu vào việc đánh giá hiện trạng lâm nghiệp Việt Nam thời điểm lúc đó và đưa ra những khuyến cáo về việc định hướng phát triển ngành lâm nghiệp cho đến năm 2000 và một số năm tiếp theo

- Dự án “Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp” đây là dự án xuất phát từ yêu cầu cấp bách đối với nước ta sau khi luật bảo vệ và phát triển rừng đã được ban hành, mục tiêu của dự án là tìm hiểu học tập và hợp tác để tìm ra các giải pháp chiến lược thực thi có hiệu quả mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp, trong điều kiện hoàn cảnh của Việt Nam

Trang 13

- Đề tài “Định hướng và các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn miền núi” tác giải Trần Thanh Bình đã đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần ổn định và phát triển kinh tế xã hội nông thôn miền núi [31]

- Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần xây dựng chính sách quản lý và khuyến khích phát triển rừng của các hộ gia đình nông dân” của nhóm tác giả Nguyễn Đình Tư và Nguyễn Văn Tuấn được thực hiện với các mục tiêu:

+ Nghiên cứu, phân tích các cơ sở lý luận vào cơ sở thực tiễn của việc xây dựng hệ thống chính sách, chế độ quản lý và khuyến khích phát triển rừng cho các

hộ gia đình nông dân

+ Trên cơ sở tổng kết đánh giá hệ thống chính sách, chế độ hiện hành, bước đầu đề xuất các khuyến nghị về việc hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách quản lý

và khuyến khích phát triển rừng của các hộ gia đình nông dân [32]

- Công trình “Tăng cường công tác giao đất lâm nghiệp và khuyến khích trồng rừng trên đất được giao”, của tác giải Đoàn Diễm đã đưa ra những tồn tại trong việc quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp, đưa ra những kiến nghị đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp trong thời gian tới

- Dự án phát triển Lâm nghiệp xã hội Sông Đà bắt đầu vào năm 1993 Dự án này đã chú ý làm việc với “ Nhóm sử dụng rừng” hơn là với các đơn vị quản lý hành chính lâm nghiệp Dự án tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những

“nhóm bảo vệ rừng” và hỗ trợ dân bả xây dựng những quy chế bảo vệ rừng Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của dân bản tránh sự phá hoại rừng từ những bản bên cạnh Củng cố tổ chức cấp thôn bản và xã là việc làm cần thiết tiếp theo Những Ban quản lý thôn bản mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm nghiệp trong bản được thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn bản hàng năm Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính để

Trang 14

giới thiệu tăng cường thực thi quản lý Lâm nghiệp cộng đồng đó là: Quyền sử dụng, nghiên cứu địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực

Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia, từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điều đáng chú ý

là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng [36]

Vì vậy quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng, góp phần xóa đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững

1.3.4 Những bài học kinh nghiệm cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

ở Việt Nam

Từ kết quả phân tích trên đây có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản

lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam như sau:

- Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là phương thức quản lý dựa vào những

tổ chức và luật lệ cộng đồng Nó cần thiết cho cả quản lý tài nguyên thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhận và đặc biệt có ý nghĩa ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng thực thi pháp luật chưa cao

- Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ thành công khi lấy lợi ích cộng đồng làm mục tiêu và lồng ghép được với mục tiêu của quốc gia và khu vực

- Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ thành công khi có hai yếu tố quyết định là tổ chức cộng đồng và luật lệ cộng đồng cho quản lý rừng, Chúng phải do cộng đồng xây dựng lên và phù hợp với những thể chế và chính sách của Nhà nước

về quản lý tài nguyên nói chung, tài nguyên rừng nói riêng

Trang 15

- Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ thành công khi nó đảm bảo chia sẻ hợp lý các lợi ích từ hoạt động quản lý Công đồng không thể tích cực tham gia quản lý rừng khi không nhìn thấy lợi ích cho chính mình trong quản lý rừng

- Sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng giữa Nhà nước với cộng đồng, giữa các đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản

lý rừng dựa vào cộng đồng

- Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách và thể chế Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng quản lý của các hộ gia đình

Trang 16

CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Phát huy năng lực nội sinh của cộng đồng nhằm quản lý bền vững tài nguyên rừng, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái ở xã Yên Nhân thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá

2.1.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài

- Làm rõ được thực trạng quản lý rừng ở xã Yên Nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý rừng ở địa phương

- Đánh giá vai trò của cộng đồng, những yếu tố thúc đẩy và cản trở sự tham gia của cộng đồng trong hoạt động quản lý rừng ở địa phương

- Đề xuất những giải pháp lôi cuốn cộng đồng tích cực tham gia quản lý rừng

ở địa phương

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài lựa chọn xã Yên Nhân, là xã vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá, là một địa bàn đang có yêu cầu cấp bách về quản lý hiệu quả tài nguyên rừng để làm đối tượng nghiên cứu Đây là xã

có diện tích tự nhiên rộng lớn, tài nguyên rừng còn tương đối phong phú, nhưng tiềm năng sản xuất của rừng chưa được phát huy, người dân sống chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Con người ở đây phần lớn là dân tộc Thái với những tập quán canh tác lạc hậu, kém bền vững không có điều kiện tiếp cận với kỹ thuật mới, họ là những người có sức tác động mạnh mẽ nhất đến biến đổi tài nguyên thiên nhiên và cũng là những người chịu nhiều thiệt thòi do tác động của quá trình phát triển

Trang 17

2.3 Nội dung nghiên cứu và giới hạn của đề tài

2.3.1 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tiến hành nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau đây:

- Nghiên cứu thực trạng quản lý rừng và sự tham gia của cộng đồng ở khu vức nghiên cứu

- Nghiên cứu vai trò của cộng đồng, nhân tố cản trở hoặc thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quản lý bền vững tài nguyên rừng ở địa phương

- Đề xuất một số giải pháp lôi cuốn cộng đồng vào quản lý tài nguyên rừng

2.3.2 Giới hạn của đề tài

Trong khuôn khổ gới hạn của thời gian và điều kiện nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào phân tích thực trạng quản lý rừng, những nguyên nhân và giải pháp cho việc nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng mà không xác định những biện pháp

kỹ thuật cụ thể hay những điều khoản chi tiết của các chính sách kinh tế xã hội cho quản lý rừng Kết quả chính sách của đề tài sẽ là những giải pháp định hướng cho việc tăng cường năng lực và lôi cuốn cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, hình thành môi trường thuận lợi cho phát triển phương thức quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp luận

Theo quan điểm hệ thống rừng vừa là một bộ phận của hệ thống tự nhiên vừa

là một bộ phận của hệ thống kinh tế xã hội; hay nói cách khác, rừng là bộ phận của

hệ thống kinh tế - sinh thái - nhân văn

- Rừng là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, bởi vì sự tồn tại và phát triển cuả nó phụ thuộc những quy luật của tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong hệ thống tự nhiên như hệ thống tự nhiên nh địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, sinh vật, v.v… Do quan hệ chặt chẽ với các yếu tố tự nhiên mà có thể quản

lý rừng bằng tác động vào các yếu tố tự nhiên Trên quan điểm hệ thống có thể xem những giải pháp quản lý rừng như là những giải pháp điều khiển hệ thống tự nhiên

Trang 18

theo chiều hướng thúc đẩy sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất của hệ sinh thái rừng

- Rừng cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng, khai thác lâm sản, làm nương, đốt rẫy, đốt than, săn bắt chim thú, v.v…Các hoạt động này lại phụ thuộc vào mứcc sống, cơ cấu ngành nghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận v.v… Ngoài ra, rừng cũng tác động mạnh mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua cung cấp nguyên liệu, năng lượng và thông tin cho nhiều hoạt động kinh tế của con người nó có tác động tới nhiều yếu tố của hệ thống kinh tế từ sản xuất, phân phối, lưu thông, tiêu dùng, tích luỹ v.v… Vì quan hệ chặt chẽ với các yếu tố trong

hệ thống kinh tế nên có thể quản lý rừng bằng việc tác động vào những yếu tố kinh

tế Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế đến hiệu quả của hoạt động quản lý rừng và xây dựng những giải pháp kinh tế cho quản lý rừng được xác định như một trong những nhiệm vụ chủ yếu của đề tài

- Rừng cũng là một thực thể xã hội, sự tồn tại và phát triển của rừng phụ thuộc nhiều vào hoạt động của con người Hoạt động của họ theo hướng bảo vệ và phát triển rừng hay làm suy thoái huỷ hoại nó luôn bị chi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức về giá trị của rừng, ý thức với luật pháp nhà nước, trách nhiệm với cộng đồng, kiến thức về kinh doanh rừng, những phong tục, tập quán liên quan đến quản lý rừng v.v…Rừng và hiệu quả của hoạt động quản lý rừng cũng phụ thuộc vào những vấn đề thể chế và chính sách như hoạt động của hệ thống tổ chức nhà nước trong lĩnh vự quản lý bảo vệ rừng, các chính sách đất đai, chính sách sở hữu và sử dụng rừng ở địa phương Rừng và hiệu quả của quản lý rừng còn phụ thuộc vào sự hiện diện của các tổ chức cộng đồng và những quy định của cộng đồng Chúng hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyên truyền vận động người dân, động viên và giám sát họ thực hiện những chính sách nhà nước Tổ chức và luật lệ cộng đồng sẽ gắn kết những hộ gia đình đơn lẽ thành lực lượng mạnh mẽ đủ sức thực hiện những chương trình quản lý rừng vì quyền lợi của mỗi gia đình và cộng đồng

Do rừng có liên quan chặt chẽ với các yếu tố xã hội nên có thể quản lý rừng bằng

Trang 19

tác động vào những yếu tố xã hội Đây là lý do ví sao trong đề tài này việc phân tích ảnh hưởng của những yếu tố xã hội đến hiệu quả của quản lý rừng được coi là một nội dung quan trọng Những giải pháp xã hội cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

sẽ là những giải pháp tác động vào các mối quan hệ xã hội để lôi cuốn cộng đồng vào hoạt động quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin trong luận văn

Đề tài sử dụng một số phương pháp để thu thập các thông tin phục vụ nghiên cứu như sau:

2.4.2.1 Phương pháp kế thừa tư liệu

Phương pháp kế thừa tư liệu được sử dụng để thu thập những thông tin về hoạt động quản lý rừng của một số nước trong khu vực, những thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn của địa phương,…

- Những tài liệu và kinh nghiệm quản lý rừng của các nước trong khu vực: Thái Lan, Ấn Độ, Philippine v.v…

- Những tài liệu về chính sách lâm nghiệp Việt Nam: tổng kết chính sách giao đất khoán rừng, chính sách thuế lâm nghiệp, luật bảo vệ và phát triển rừng

- Đề tài đã sử dụng báo cáo tổng hợp công tác hàng năm của Uỷ ban nhân dân huyện Thường Xuân, các tài liệu niên gián thống kê của tỉnh Thanh Hoá, báo cáo tổng kết hàng năm của những chương trình và dự án lớn đã thực hiện ở địa phương

- Những tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn của địa phương: Tài liệu khí hậu thuỷ văn, kết quả điều tra đất, thực vật, động vật, tài liệu thống kê tài nguyên đất đai, dân số và lao động, chính sách kinh tế - xã hội, tài liệu

về lịch sử làng xã v.v…

- Những tài liệu khác có liên quan đến quản lý rừng ở địa phương: Chương trình phát triển lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá, tổng quan dự án 661, chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020, v.v…

2.4.2.2 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)

Trang 20

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) được sử dụng để thu thập nhanh những thông tin ban đầu về các vấn đề hiện trạng tự nhiên, kinh tế, xã hội có liên quan đến quản lý rừng ở địa phương Đề tài đã phỏng vấn 4 cán bộ quản lý ở huyện Thường Xuân, 8 cán bộ xã Yên Nhân và phỏng vấn 42 hộ gia đình có mức sống khác nhau ở xã Yên Nhân

+ Những hộ gia đình được phỏng vấn và là các hộ có mức sống khác nhau, đại diện cho những trình độ nhận thức, mức độ khai thác tài nguyên và trình độ quản lý tài nguyên khác nhau

- Các chủ đề phỏng vấn như sau:

+ Các vấn đề xã hội của quản lý tài nguyên như chính sách, luật pháp, quy định của cộng đồng, làng xóm, phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, quan niệm của dòng họ, kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của bản thân, của gia đình, quan hệ tương hỗ của họ hàng, làng xóm và của cộng đồng xã hội v.v…,

+ Các vấn đề kinh tế của quản lý tài nguyên như kinh tế thể chế, kinh tế hộ gia đình, hoạt động thị trường, dòng hàng hoá và dịch vụ trong quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng v.v…

+ Những kiến thức bản địa có liên quan đến quản lý rừng như kỹ thuật khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên động vật, thực vật, công nghệ canh tác, kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật sử dụng các dòng năng lượng, đấu tranh với thiên tai v.v…

+ Thực trạng quản lý rừng ở xã Yên Nhân, ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội nhân văn đến hiệu quả quản lý rừng và những giải pháp nhằm góp phần quản lý sử dụng bền vững tài nguyên rừng ở địa phương

Trang 21

2.4.2.3 Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia (PRA)

Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia được áp dụng để kiểm tra kết quả, xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy, cản trở, thách thức với quá trình quản lý tài nguyên rừng và quá trình phát triển nói chung ở công đồng, lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị về chính sách cho quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng

Khi thực hiện PRA đề tài đã tổ chức 6 cuộc thảo luận với những nhóm người dân, cán bộ thôn, cán bộ xã, các nhà quản lý cấp huyện, và cán bộ kỹ thuật có nhiều kinh nghiệm ở địa phương

- Một số công cụ PRA được lựa chọn trong quá trình khảo sát:

+ Lược sử thôn bản: Công cụ lược sử thôn bản được sử dụng để tìm hiểu quá trình hình thành các buôn làng, quá trình di cư, chuyển đổi các hình thái tổ chức sản xuất, diễn biến của hoạt động sử dụng rừng và đất rừng, sự thay đổi về quan điểm, nhận thức, kiến thức của người dân và những nguyên nhân thay đổi này ở địa phương

+ Xây dựng biểu đồ hướng thời gian: Công cụ này được sử dụng để phân tích tình hình, sự kiện, hiện tượng của thôn, bản theo thời gian và những ảnh hưởng của chúng đến quản lý sử dụng tài nguyên rừng

+ Phân tích lịch mùa vụ: Công cụ này được sử dụng để đánh giá tiềm năng

và kinh nghiệm canh tác của thôn, bản; thu thập thông tin về bố trí cơ cấu cây trồng, biện pháp kỹ thuật gieo trồng ở địa phương để có thể xem xét đánh giá các kiến thức bản địa cổ truyền tương ứng

+ Phân tích kinh tế hộ gia đình: Phân tích tình hình kinh tế, tiềm năng phát triển của các hộ gia đình trong thôn bản

- Tổng hợp và phân tích dữ liệu

+ Cùng với cán bộ lãnh đạo của Khu bảo tồn thiên nhiên, cán bộ kiểm lâm, cán bộ địa chính xã nghiên cứu các dữ liệu đã thu thập được và lập danh sách những vấn đề và những cơ hội hành động có thể chấp nhận các vấn đề được sắp xếp theo lĩnh vực, được thảo luận, đánh giá và trình bày trong một bản danh sách đầy đủ

Trang 22

+ Xếp hạng các vấn đề đã được liệt kê

Kết quả thu được là danh sách các vấn đề được các nhóm cư dân của thôn bản nhất trí xếp hạng ưu tiên theo mức độ hữu ích của chúng

2.4.2.4 Phương pháp chuyên gia

Để kiểm tra mức chính xác của các thông tin thu được, nâng cao tính đúng đắn của các giải pháp được đề xuất Đề tài đã sử dụng phương pháp chuyên gia là phương pháp dực vào kinh nghiệm và hiểu biết rộng của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau, kinh nghiệm mà họ đã có được trong quá trình nghiên cứu tại địa phương để kiểm tra những thông tin thu được trong đề tài, kiểm tra các giả thuyết được nêu ra, và hình thành một cách nhanh chóng những giải pháp phát triển

có hiệu quả

Báo cáo sơ bộ của đề tài được gửi cho một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý rừng và phát triển nông thôn miền núi, xin ý kiến phản biện của họ Những ý kiến đó sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng ở địa phương

Trang 23

CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Ở KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên ở khu vực nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

Xã Yên Nhân cách trung tâm huyện Thường Xuân 45km về phía Tây Bắc, nằm trên trục đường tỉnh lộ Thường Xuân đi Bát Mọt, có toạ độ địa lý từ 19013’10’’ đến vĩ độ 20007’47’’ vĩ độ Bắc và 105004’58’’ độ kinh Đông

- Phía Bắc giáp huyện Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa

- Phía Nam giáp xã Nhân Khao, Xuân Liên, huyện Thường Xuân

- Phía Đông giáp huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá

- Phía Tây giáp xã Bát Mọt, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hoá

Xã Yên Nhân nằm trong lưu vực thượng nguồn Sông Khao thuộc vùng phòng hộ đầu nguồn sông Chu, mặt khác ở vị trí cuối của huyện Thường Xuân, do

đó việc mở mang sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu hàng hoá với bên ngoài gặp nhiều khó khăn

3.1.2 Điều kiện địa hình

Xã Yên Nhân được bao bọc xung quanh bởi những dãy núi cao liên kết với nhau tạo thành một đường biên khép kín Địa hình thấp dần từ phía Bắc xuống phía Nam Đặc trưng địa hình ở đây có các đỉnh núi cao: Bù rinh 1280m (phía Bắc); Bù hòn hàn 1208m (Phía Nam); Bù Ginh 1183 m(phía Đông); Cò nghe 840m (Phía Tây)… Địa hình bị chia cắt rất mạnh, đã tạo nên hàng trăm khe suối lớn nhở khác nhau Độ dốc bình quân 230, độ cao trung bình 600m Do đặc thù của địa hình cao

và dốc nên có rất ít thung lũng được hình thành vì vậy diện tích canh tác đất nông nghiệp trên địa bàn toàn xã rất ít chưa tạo được thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp

3.1.3 Điều kiện khí hậu thuỷ văn

3.1.3.1 Khí hậu

Trang 24

Khu vực nghiên vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới, gió mùa nói chung và ảnh hưởng của tiểu vùng khí hậu phía Tây tỉnh Thanh Hoá Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn Bái Thượng cho biết:

- Nhiệt độ trung bình năm 23,10C Sự biến thiên nhiệt độ trong năm tương đối lớn Tháng có nhiệt độ cao nhất lên tới 400C và tháng có nhiệt độ thấp nhất xuống dưới 100C

- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm 2220 mm Số ngày mưa trong năm tại huyện Thường Xuân 160 ngày/năm Tháng 9 có lượng mưa cao nhất (387 mm), tháng 2 có lượng mưa thấp nhất (33 mm) Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 10

- Độ ẩm tương đối trung bình năm: 85%

- Gió: Trên địa bàn xã Yên Nhân chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió Tây Nam

+ Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, thường có mưa phùn, giá rét và có sương muối, đã gây ảnh hưởng đến công tác sản xuất và sinh trưởng của cây trồng v.v…

+ Gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 9 làm cho khí hậu nóng và khô Gió này thường thổi theo đợt, mỗi đợt từ 5 – 10 ngày

3.1.3.2 Thuỷ văn

Trên địa phận xã Yên Nhân có sông Khao chảy qua có chiều dài 3 km Ngoài

ra còn có 2 hệ suối lớn: Suối Tu chảy từ phía Bắc (đỉnh Bù Rinh) và suối Khèn bắt nguồn từ xã Bát Mọt chảy qua thôn Mỵ thôn Khong gặp suối Ken rồi chảy ra sông Khao Do địa hình cao, dốc nên các sông suối có độ nghiêng lớn vì vậy tốc độ dong chảy rất mạnh Về mùa mưa thường gây lũ lớn và làm sạt lở đường giao thông Lưu lượng nước của các con suối đảm bảo đủ nước tưới cho nông nghiệp, chạy máy thuỷ điện mi ni phục vụ sinh hoạt cho dân cư trên địa bàn

3.1.4 Điều kiện đất đai

Theo kết quả điều tra đất trên địa bàn xã Yên Nhân có 3 nhóm đất chính sau:

Trang 25

+ Đất bồi tụ: Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi tụ, lắng đọng của các dòng chảy Phân bố chủ yếu bên sông suối Đặc điểm tầng đất này, nhiều mùn và chất hữu cơ, độ dốc dưới 150 Đất bồi tụ chiếm 5 – 10 % diện tích tự nhiên Phần lớn loại đất này được sử dụng vào suất nông nghiệp

+ Đất dốc tụ: Đất dốc tụ được hình thành dưới chân đồi do quá trình sói mòn rửa trôi từ trên cao xuống Phân bố chủ yếu ở các chân đồi, có độ dốc 100 – 150 Tầng đất dày, tương đối nhiều mùn và chất hữu cơ Đất dốc tụ chiếm 10 -15 % diện tích tự nhiên Hiện nay nhân dân sử dụng đất này làm đất thổ cư, vườn tạp và một

số đưa vào sản xuất nông nghiệp và nông lâm kết hợp

+ Đất Feralit: Đất này được hình thành từ đá mẹ Granit, đá cát, phiến thạch Đặc điểm tầng đất từ trung bình đến dày, độ dốc từ 10 – 250 có nơi lớn hơn 350 Đất Feranit chiếm 80 % diện tích tự nhiên toàn xã, chủ yếu đất là đất có rừng Ngoài

ra còn có một số diện tích đất trống đồi núi trọc

- Rừng tự nhiên: 8711,43 ha Rừng gỗ 5698,02 ha phân bố chủ yếu ở phía Bắc của xã, độ cao trên 400 m Rừng hỗn giao gỗ và tre nứa 1723,92 ha; rừng tre nứa 1289,49 ha phân hầu hết ở các thôn và các độ cao

- Rừng trồng: 325.1 ha Bao gồm các loài cây: Luồng, Trẩu, Quế, Mỡ, Keo Phân bố ở độ cao dưới 400 m và ở 5 thôn (trừ thôn Mỏ không cố diện tích rừng trồng)

3.1.5.2 Đặc điểm thảm thực vật rừng

1) Kiểu rừng:

Trang 26

Theo kết quả điều tra của Viện Điều tra quy hoạch rừng, trong khu vực nghiên cứu chủ yếu gặp các kiểu rừng sau đây:

- Rừng kín thường xanh chủ yếu cây lá rộng á nhiệt đới núi thấp

Kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800 m đến 1200 m, ít bị tác động, còn giữ được tính nguyên sinh về cơ bản Tổ thành thực vật chủ yếu các loài cây thuộc họ Thầu dầu (Euphoribiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Xoan(Meliaceae), họ Re (Lauraceae) Ngoài ra còn có các loài cây họ Bứa (Gutiferaceae), họ Côm (Elucraceae), họ Sim (Myrtaceae)

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rẫy

Đây là kiểu rừng non phục hổi lại trên đất dẫ mất hoàn toàn lớp phủ thực vật,

ưu thế thuộc về các loài cây ưa sáng, mọc nhanh như: Màng tang ( Litse cubeba),

Mò (Litse monopetala), Hu đay (Trema orientalis) Sếu (Celtis orientalis), Sau sau (Mytilaria laosensis), Nhội (Bischofia javanica) v.v…

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt đới sau khai thác Đây là kiểu quần thụ có nguồn gốc của kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp Rừng ở đây bị tác động mạnh qua việc khai thác gỗ xây dựng và thương mại Các loại cây gỗ lớn có giá trị kinh tế cao đã bị khai thác chọn đến cạn kiệt Tán rừng bị phá vỡ nhiều nơi đã tạo điều kiện cho các loài cây ưa sáng kém giá trị kinh tế thâm nhập

- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng hỗn giao Giang hoặc Nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt

Thành phần thực vật chủ yếu là Giang hặc Nứa và lác đác có các loài cây lá rộng còn sót lại như: Dẻ, Vạng, Lim xẹt, Lõi thọ, Trám, Ngát… đất dưới tán rừng còn tương đối tốt nhưng tái sinh của các cây gỗ rất kém, do mật độ Giang, Nứa quá dày thiếu ánh sáng và các hạt giống từ các cây mẹ khó lọt được xuống đất

- Kiểu phụ sinh thứ nhân tác Giang hoặc Nứa thuần loại phục hồi sau nương rẫy

Trang 27

Kiểu ưa hợp này là kết quả của quá trình canh tác nương rẫy và lửa rừng nhiều lần, các loại cây gỗ không còn khả năng tái sinh nhanh như trước nữa, đã phải nhường lại cho Giang và Nứa Sau khi thâm nhập hai loài này nhanh chóng lan rộng trở thành rừng kín thường xanh Giang hoặc Nứa thuần loài dày đặc Các loài cây khác không còn chỗ trống để tái sinh

- Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác

Trạng thái này phân bố gần các làng bản ven đường, đây cũng là hậu quả trực tiếp của quá trình canh tác nương rẫy lâu dài và chăn thả gia súc Đất bị rửa trôi mạnh, tầng đất mỏng và xấu chỉ thích hợp với các loài cây bụi và cỏ Hiện tượng tái sinh các loài cây gỗ hoàn toàn không thấy

2) Thực vật rừng:

Theo tài liệu điều tra của Viện điều tra quy hoạch rừng đã phát hiện được trong khu vực nghiên cứu hiện có 752 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 440 chi,

130 họ và được phân bổ như sau:

Bảng 3.1 Thành phần thực vật ở khu vực nghiên cứu

Trang 28

- Nhóm cấy cho dược liệu: Có 156 loài, một số loài có giá trị thường gặp như: Trầm gió (đã khai thác kiệt), Thổ phục linh, Cẩu tích, Thảo quyết minh, Ích mẫu, Mã tiền long, v.v…

- Nhóm cây cho bộ phận ăn được: có 40 loài gồm các cây cho tinh bột, quả, rau, dầu ăn như: Trám, Sấu, Sim, Chay, Xoay, Bứa, Dâu da đất, … các loài cho rau như: Bầu, Bí, Me, Lá lốt, Rau tàu bay, Rau sắng…

- Nhóm cây cho sợi và vật liệu đan lát: 23 loài, đáng chú ý nhất là các loài thuộc phân họ tre nứa có khả năng cung cấp nguyên liệu hàng thủ công, mỹ nghệ Một số loài thuộc nhóm song, mây là nguồn tài nguyên quan trọng dùng để đan lát, đặc biệt là Song mật là loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao

- Nhóm cây làm cảnh và cây bóng mát: 80 loài, đa số các loài phong lan, các loài trong họ Mua, họ Thu hải đường, họ Bóng nước,…

- Nhìn chung hệ thực vật trong khu vực nghiên cứu đa dạng, phong phú và

có giá trị cao về khoa học và kinh tế Đây là hệ thực vật tiêu biểu cho tỉnh Thanh Hoá và rừng miền Bắc Việt Nam (Thành phần loài thực vật trong khu vực nghiên cứu được thể hiện trong phụ lục 01)

Hiện nay khu hệ thực vật đang bị tác động bởi các hoạt động khai thác gỗ trái phép, một số loài đang có nguy cơ bị tiệt chủng trong vùng Vì vậy cần có những biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển hệ thực vật có giá trị cao này

3) Động vật rừng:

Theo điều tra từ các thợ săn trên địa bàn xã cho biết động vật trước đây rất phong phú về chủng loại và số lượng, có nhiều loại động vật quý hiếm Song do rừng bị tàn phá và săn bắn của con người, động vật rừng đã giảm đi rất nhiều về số lượng và chủng loại, Hiện nay chỉ còn các loài động vật có ít giá trị như: Lợn rừng, Nhím, Hoẳng, Gà rừng và một số loài Bò sát, Lưỡng cư với số lượng không đáng

kể, phạm vi cư trú hẹp

- Khu hệ thú:

+ Thành phần loài: Qua kết quả điều tra của Khu bảo tồn thiên nhiên năm

2010 đã ghi nhận 55 loài thú thuộc 8 bộ, 25 họ Trong các loài thú ghi nhận trong

Trang 29

khu vực có 12 loài bằng phương pháp quan sát trực tiếp ngoài rừng, 32 loài có mẫu trong các gia đình thợ săn và 10 loài qua phỏng vấn thợ săn Riêng nhóm rơi và chuột hiện chưa được nghiên cứu kỹ

+ Các loài thú quý hiếm: Trong tổng số 55 loài có 20 loài thú được ghi trong sách đỏ Việt Nam Trong đó nhóm đang nguy cấp (V), 2 loài và nhóm bị đe doạ 1 loài (B1)

- Khu hệ chim

+ Thành phần loài: Kết quả đợt khảo sát ghi nhận 136 loài chim thuộc 11 bộ,

29 họ Có 3 loài chim lớn là Gà rừng, Hồng hoàng và gà lôi trắng

+ Các loài quý hiếm: Trong tổng số 136 loài có 8 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 8 loài ghi trong sách đỏ thế giới là những loài có vùng phân bố hẹp và đang

bị đe doạ mang tính toàn cầu

+ Các loài đặc hữu: Khu vực nghiên cứu là một phần của khu vực chim đặc hữu miền núi thấp miền trung nên các loài chim đặc hữu ở đây có thể có: Khướu mỏ dài, Khướu mỏ dẹt đuôi ngắn, Gõ kiến đầu đỏ, Thày chùa đít đỏ Do thời gian khảo sát không nhiều nên số loài chim đặc hữu mới chỉ tìm thấy 2 loài là: Khướu mỏ dài (jaboyilleia danjoui) (đặc hữu của Việt Nam) và Thày chùa đít đỏ (Megalaim lagrandierri) (đặc hữu của Việt Nam và Lào)

- Khu hệ bò sát, ếch nhái:

+ Thành phần loài: Bò sát: 3 bộ, 14 họ, 34 loài; Ếch nhái: 1 bộ 5 họ, 19 loài + Các loài quý hiếm: Qua kết quả điều tra của Viện điều tra quy hoạch rừng

đã xác định được 15 loài quý hiếm ghi trong sách đỏ Việt Nam (chiếm 28,31% tổng

số loài xác định được), trong đó có mười 13 loài bò sát và 3 loài ếch nhái

+ Các loài đặc hữu: Trong khu vực nghiên cứu hiện chưa tìm thấy loài đặc hữu hẹp của vùng Xuân Liên Trong thành phần loài chỉ có 2 loài (chiếm 3,28 % tổng số loài) đặc hữu Việt Nam là: Rùa hộp trán vàng (Cistoclemmys galbinifrons)

và ếch vạch (Rana microlineata)

Nhận xét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vục nghiên cứu:

Trang 30

Là một xã nằm ở xa trung tâm kinh tế, văn hoá xã hội huyện, giao thông đi lại khó khăn, Yên Nhân thực sự khó khăn trong việc phát triển sản xuất và giao lưu kinh tế với bên ngoài Địa hình cao và dốc, chia cắt mạnh gây khó khăn trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như mở mang diện tích Hệ thống sông suối nhiều thuận lợi nguồn nước tưới tiêu trong sản xuất nông lâm nghiệp và sinh hoạt, nhưng cũng gây ra không ít khó khăn cho việc xây dựng, cải tạo đường giao thông trên địa bàn

- Đất đai có độ dày từ trung bình đến dày chiếm diện tích tương đối lớn, mặt khác hàm lượng mùn và lân dễ tiêu còn cao cho nên thích hợp cho việc phát triển cây lương thực, cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp

- Trên địa bàn xã còn nhiều diện tích rừng gỗ tự nhiên có trữ lượng cao Tổ thành loài cây phong phú và đa dạng, ngoài diện tích rừng tre nứa, song mây có tiềm năng sản xuất hàng hoá Đây là thế mạnh để đầu tư và phát triển lâm nghiệp ở địa phương

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội và nhân văn

3.2.1 Đặc điểm lịch sử hình thành xã Yên Nhân

- Từ xa xưa Yên Nhân là một vùng đất hoang vắng, là nơi ở của muôn thú, ít người qua lại Vào khoảng thế kỷ XVIII mới có một số người của họ Lang và họ Vi đến sinh sống, chung lòng vật lộn với thiên nhiên và dần dần họ biến vùng đất hoang vu thành những bản làng

- Từ 1970 đến 1992: Tốc độ tăng dân số nhanh, hệ thống canh tác nương rẫy

và lúa nước mang lại hiệu quả thấp, không có thị trường tiêu thụ lâm sản dẫn đến nhân dân nghèo đói triền miên trong giai đoạn này hiện tượng phá rừng làm rẫy còn diễn ra gay gắt, tài nguyên rừng suy giảm đến mức báo động

- Từ 1993 đến 1998: Nhà nước tăng cường các biện pháp quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, nghiêm cấm đốt rừng làm nương rẫy, Nhân dân địa phương gặp nhiều khó khăn vì thiếu đất canh tác, hiện tượng hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên, sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả do thiên tai, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu

Trang 31

- Từ 1998 đến nay: Rừng phục hồi sau nương rẫy phát triển tạo nhiều sản phẩm như: Nứa, Giang, Cây dược liệu,… đã góp phần làm tăng thu nhập của người dân, tạo công ăn việc làm Tuy nhiên đời sống nhân dân vẫn gặp nhiều khó khăn do diện tích đất nông nghiệp ít, năng suất thấp nên hoạt động săn bắn, khai thác gỗ trái phép vẫn còn diễn ra gay gắt, tài nguyên rừng vẫn tiếp tục suy giảm

3.2.2 Đặc điểm kinh tế

3.2.2.1 Cơ sở hạ tầng

- Về Giao thông: Có tuyến đường tỉnh lộ Thường Xuân – Bát Mọt chạy qua trung tâm xã và địa bàn 4 thôn: Thôn Lửa, thôn Chiềng, thôn Na Nghịu, thôn Mỵ với tổng chiều dài 14 km Đây là tuyến giao thông trọng điểm của xã để giao dịch với trung tâm kinh tế huyện và các xã lân cận do mật độ các phương tiện giao thông đi lại nhiều, mặt khác do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu (mưa, lũ,…), nên mặt đường xuống cấp nghiêm trọng, gây cản trở cho việc đi lại trên địa bàn

- Về thuỷ lợi: Trong 6 thôn của xã có 5 đập và mương máng để phục vụ cho nông nghiệp Số đập nước và mương máng này chỉ mới xây dựng tạm thời, chất lượng đã xuống cấp Công suất tưới tươi của một số đập không đáp ứng được nước tưới cho sản xuất nông, lâm nghiệp

- Về năng lượng điện: Hiện nay trong khu vực chưa có đường điện lưới, người dân ở đây thường dùng máy phát điện nhỏ đặt ở các sông, suối Theo số liệu điều tra trong xã hiện nay có tới 80% số hộ có máy phát điện Tuy nhiên về mùa khô do nguồn nước cạn, dòng chảy yếu nên dòng điện không đủ mạnh để phục vụ cuộc sống sinh hoạt ở mức độ bình thường

Trang 32

Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất ở xã Yên Nhân

Đất nông nghiệp

Đất lâm nghiệp

Đất chuyên dùng

Đất ở Đất chưa

sử dụng

Diện …

Trang 33

số giống của Trung Quốc, năng xuất từ 10 – 20 tạ/ ha Vụ mùa thường cấy vào nửa đầu tháng 7 thu hoạch vào tháng 9 -10, với các giống X20, X21, CR 203 và một số giống của Trung Quốc, nếp địa phương, năng suất 12 -22 tạ/ ha

Nhìn chung diện tích lúa nước của xã rất hạn chế và hầu như không có khả năng mở rộng diện tích, để nâng cao sản lượng, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn thì cần thiết phải đầu tư thâm canh tăng năng suất Đặc bịêt là khâu thuỷ lợi và

kỹ thuật thâm canh lúa nước

- Chăn nuôi

Chăn nuôi là một trong những hoạt động quan trọng mang lại thu nhập và để giải quyết thiếu hụt lương thực Gia súc thường nuôi bao gồm: Trâu, bò, lợn, gà,…Số lượng gia súc này phân bổ hầu hết các gia đình trong thôn, xã Theo số liệu điều tra mới đây, trong xã hiện có đàn gia súc khá lớn chủ yếu là sở hữu tư nhân cụ thể như sau: Số trâu 1745 con; số bò 607 con; số lợn 1468 con; Dê 340 con; Gia cầm khoảng 30 000 con; …Bình quân mỗi hộ có hơn 2 trâu, 1 bò, 2 lợn, 30 gia cầm, cho thu nhập bình quân: 2.920.000đ/ hộ/ năm góp phần quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân lao động

Nhìn chung về chăn nuôi kỹ thuật còn lạc hậu, dịch bệnh thường xảy ra hàng năm, thiếu hệ thống dịch vụ thú y tại địa phương Mặt khác do thiếu vốn nên việc đầu tư giống mới cho chăn nuôi chưa được chú ý

2) Tình hình sản xuất lâm nghiệp

Nghề rừng là một thế mạnh của xã nhưng chỉ được chú ý đến trong những năm gần đây Công tác bảo vệ rừng trong những năm qua còn kém hiệu quả do đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu còn sống dựa vào khai thác

Trang 34

lâm sản tự nhiên từ rừng là chính và đặc biệt khi rừng chưa có chủ, đã làm cho diện tích rừng tự nhiên suy thoái cả về số lượng và chất lượng rừng hiện còn chủ yếu là rừng tre nứa trữ lượng thấp và rừng phục hồi sau khi khai thác kiệt

3.2.3 Đặc điểm xã hội và nhân văn

3.2.3.1 Thành phần dân tộc, dân số và lao động

- Thành phần dân tộc: Trên địa bàn xã có 3 dân tộc anh em đang cư trú (dân tộc Thái, Mường và dân tộc Kinh), trong đó chủ yếu là dân tộc Thái

Bảng 3.3 Thống kê dân số theo thành phần dân tộc năm 2010

Người Hộ Người Hộ Người Hộ

có thôn lên tới trên 1238 người và có thôn chỉ có 267 người Phân bố dân số khôn tương xứng với diện tích quản lý (Thôn Mỵ có 1238 nhân khẩu, diện tích tự nhiên

có 888,05 ha Thôn Na Nghịu có 780 nhân khẩu quản lý sử dụng 4736,5 ha diện tích tự nhiên,…) Sự phân bố đất canh tác nông nghiệp (lúa nước) đã chi phối sự phân bố dân cư Ở những vùng có diện tích đất canh tác nông nghịêp lớn đã tập chung nhiều dân sinh sống, mặc dù ở đớ đất lâm nghiệp bị hạn chế, chính vì thế sẽ

Trang 35

xuất hiện sự mất cân đối về vốn đầu tư của các dự án khi phân bố trên các cộng đồng thôn, bản, hộ gia đình

- Lao động và việc làm: Theo số liệu điều tra (năm 2010) của xã Yên Nhân:

Bảng 3.4 Tình hình lao động và phân loại kinh tế hộ

Hình 3.2 Biểu đồ biểu thị kinh tế hộ gia đình ở xã Yên Nhân

Toàn xã có 1482 lao động chiếm 38,7 % tổng dân số, lao động nam chiếm 48,7%; lao động nữ chiếm 52,3% tổng số lao động Lao động phân bố tương đối đồng đều trong các hộ gia đình Thôn có lao động nhiều nhất là thôn Mỵ (431 lao

Trang 36

động); thôn có số lao động ít nhất là thôn Mỏ (100 lao động) Song sự phân bố lao động theo ngành nghề không đồng đều, chủ yếu lao động nông nghiệp giản đơn

Việc làm: Nhân dân ở đây việc làm chủ yếu là sản xuất thuần nông Ngoài việc sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ những ngày nhàn rỗi người dân phải vào rừng khai thác lâm sản (gỗ xây dựng, tre nứa và các lâm sản khác) để tăng thu nhập

3.2.3.2 Mức sống của người dân địa phương

Tổng sản lượng lương thực toàn xã đạt 1200 tấn thóc/năm (đã quy đổi), bình quân đầu người 310 kg thóc/ năm Sản xuất lương thực đạt năng suất bình quân 3-4 tấn/ha/năm Hiện nay thu nhập chính của các hộ gia đình là từ sản phẩm nông nghiệp (chủ yếu là lúa và sắn) và chăn nuôi gia súc Ngoài ra có 60% tổng số hộ gia đình trong xã thu nhập thêm từ nguồn sản xuất phụ như khai thác sản phẩm nứa nan, mộc, xây dựng, buôn bán nhỏ,… Số hộ có kinh tế khá chiếm 8,9% (61 hộ), trung bình 53,9% (366 hộ), hộ nghèo có 251 hộ chiếm 37,2%

3.2.3.3 Tình trạng văn hoá xã hội

1) Về giáo dục:

Xã có một trường Trung học cơ sở tại trung tâm, hai trường tiểu học Yên Nhân I và trường tiểu học Yên Nhân II, một trường ở trung tâm xã, một trường ở thôn Khong

Bảng 3.5 Thực trạng giáo dục ở xã Yên Nhân

1 Trường Tiểu Học Yên Nhân I 18 468

2 Trường Tiểu Học Yên Nhân II 14 322

3 Trường Trung Học cơ sở Yên Nhân 10 349

Ngoài ra các thôn khác cũng có một phòng học tiểu học và một phòng học mầm non Hệ thống trường học các cấp nay đã được xây dựng kiên cố nhờ có vốn của dự án ADB Nhưng khả năng phục vụ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thực

tế, trang thiết bị dạy và học thiếu thốn, lạc hậu

2) Về y tế:

Trang 37

Ở trung tâm xã đã xây dựng được một nhà mái bằng với quy mô 3 phòng bằng nguồn tài trợ của ODA Trạm y tế xã có 5 nhân viên y tế phục vụ khám và chữa bệnh cho nhân dân

3) Văn hoá – Thông tin:

Chưa có nhà văn hoá xã và khu vui chơi thể thao, dịch vụ thương mại, chỉ có một vài hộ kinh doanh, buôn bán nhỏ các mặt hàng tiêu dùng nhưng chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Nhận xét chung về điều kiện kinh tế xã hội và nhân văn ở khu vực nghiên cứu:

Qua số liệu điều tra thu nhập về hiện trạng kinh tế xã hội ở khu vực nghiên cứu Có thể đánh giá một cách khái quát như sau:

- Tình hình kinh tế xã hội ở xã Yên Nhân chậm phát triển, cơ cấu ngành nghề chủ yếu sản xuất thuần nông Diện tích canh tác lúa nước ít, phân bố không đồng đều giữa các thôn Trong sản xuất thiếu vốn đầu tư, chưa mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào thực tiễn sản xuất, trình độ lao động thủ công đơn giản, thiếu việc làm dẫn đến dư thừa lao động nhàn dỗi khi hết mùa vụ

- Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, trình động dân trí thấp, khả năng tiếp cận các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội từ ngoài vào còn ít, tỉ lệ tăng dân số còn cao Nền kinh tế mang tính tự cung tự cấp, chưa phổ cập được tiến bộ khoa học

kỹ thuật trong canh tác nông lâm nghiệp

- Cơ sở hạ tầng đang còn thấp kém và lạc hậu, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân Trong khi đó nhu cầu về đời sống, xã hội ngày càng cao, áp lực của sự gia tăng dân số đòi hỏi lương thực ngày càng nhiều, nhu cầu vốn

để sản xuất, đất đai canh tác nông nghiệp, đất ở nông thôn, công ăn việc làm v.v…

Trang 38

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng quản lý rừng và sự tham gia của cộng đồng ở khu vực nghiên cứu

4.1.1 Các hình thức quản lý rừng hiện nay trong khu vực nghiên cứu

Ở xã Yên Nhân hiện đang tồn tại ba hình thức quản lý rừng chủ yếu đó là: Rừng do cộng đồng quản lý, rừng của hộ gia đình và rừng do Ban quản lý rừng đặc dụng quản lý

1) Rừng và đất rừng do cộng đồng quản lý

Qua số liệu kiểm kê rừng ở xã Yên Nhân cho thấy có 2136,8 ha diện tích rừng và đất rừng do các tổ chức cộng đồng trong xã tham gia quản lý, các tổ chức cộng đồng tham gia quản lý rừng gồm có Hội cựu chiến binh, Hội nông dân Gần như toàn bộ đất rừng đều ở xa dân cư, thuộc đất phòng hộ nên rừng chủ yếu cũng là rừng phòng hộ

3) Rừng do Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên quản lý:

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên có diện tích tự nhiên 23.610 ha, nằm trong địa giới hành chính của 7 xã trong huyện, trong đó phần diện tích thuộc xã Yên Nhân là 1732.24 ha chủ yếu là rừng tự nhiên còn trữ lượng

4.1.2 Hoạt động bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng

4.1.2.1 Hoạt động bảo vệ rừng ở xã Yên Nhân

Xã Yên Nhân đã cơ bản hoàn thành việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng lâu dài, ổn định vào mục đích lâm nghiệp Sau giao đất lâm nghiệp rừng đã có chủ thực sự, ý thức bảo vệ và phát triển vốn rừng của nhân dân được nâng lên rõ rệt, kinh tế nghề rừng đã được quan tâm chú trọng

Trang 39

Xã tổ chức thực hiện Quyết định 245/1998/QĐ–TTg của Thủ tướng Chính phủ về trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp đã có tác dụng tích cực, nâng cao một bước nhận thức về trách nhiệm của chính quyền các cấp trong công tác quản lý bảo vệ rừng Quyết định số 38/QĐ –UB của Chủ tich Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa phê duyệt Đề án “Đổi mới công tác quản lý bảo vệ rừng theo hướng xã hội hóa” Ủy viên Lâm nghiệp xã cùng với Kiểm lâm viên phụ trách trên địa bàn tham mưu cho chủ tịch Ủy ban nhân dân xã chỉ đạo việc tổ chức xây dựng

và thực hiện qui ước bảo vệ rừng, thành lập tổ đội quần chúng tự nguyện tham gia công tác quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng ở thôn, bản bước đầu đã đem lại hiệu quả tích cực về phong trào bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng trên địa bàn

Mô hình tổ chức quản lý bảo vệ rừng của xã Yên Nhân

Đội bảo lâm thôn

Mỵ (5 người)

Đội bảo lâm thôn Khong (4 người)

Đội bảo lâm thôn Lửa (5 người)

Đội bảo lâm thôn

Mỏ (3 người)

CÁC HỘ GIA ĐÌNH

Trang 40

Đối với hợp tác xã đứng đầu là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện công tác quản lý theo pháp luật thông qua sự phối hợp với các ban ngành ở địa phương như: Hạt kiểm lâm, Khu bảo tồn thiên nhiên, các thôn xã, v.v…

Ban lâm nghiệp xã phụ trách công tác lâm nghiệp ở địa phương, cùng với kiểm lâm viên phụ trách địa bàn triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng ở địa phương

Ở mỗi thôn được thành lập 1 tổ đội quàn chúng thực hiện công tác bảo vệ rừng (gọi là Đội bảo lâm) gồm 3 - 8 người Đội bảo lâm được phân công kiểm tra rừng 2 lần một tháng và lực lượng trực tiếp tham gia công tác bảo vệ rừng ở địa phương

Tuy nhiên công tác quản lý bảo vệ rừng của xã còn gặp không ít khó khăn do đời sống nhân dân còn nghèo, người dân chưa được nhận thức đầy đủ về trách nhiệm trong quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, chưa nắm bắt kịp thời các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trong kinh doanh lợi dụng rừng, hoặc còn thờ ơ, không có biện pháp ngăn chặn việc khai thác lâm sản, săn bắt động vật rừng trên diện tích rừng và đất lâm nghiệp được giao

Tại hầu hết các thôn bản đang còn tình trạng khai thác Lâm sản trái phép, săn bắn, đánh bẩy động vật rừng, một số cán bộ cấp xã, cấp thôn bản chưa sâu sát, còn

né tránh trong việc đấu tranh ngăn chặn các hình thức vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng Tình trạng cháy rừng đã được hạn chế nhưng nguy cơ cháy rừng đang còn rất cao, do thói quen dùng lửa bừa bãi trong sinh hoạt, săn bắt động vật rừng, đặc biệt là hoạt động đốt ong lấy mật của nhân dân điạ phương vẫn chưa được khắc phục

Qua các cuộc thảo luận với các cán bộ chính quyền ở địa phương cho thấy: Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên trước hết là do công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, tập hợp các tầng lớp nhân dân cùng tham gia bảo vệ rừng còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được năng lực cộng đồng và cũng chưa nâng cao được nhận thức của người dân về công tác kinh doanh, lợi dụng rừng và phát triển kinh tế xã hội nghề rừng Để làm tốt công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương trước hết phải

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w