LỜI CẢM ƠN Sau thời gian tham gia chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp, chuyên ngành Lâm học, khoá học 2010 - 2013 tại cơ sở 2 - trường Đại học Lâm nghiệp, tác giả đã được Nhà trường
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Các nghiên cứu liên quan trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học
Tổ chức WWF (1989) định nghĩa “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất; là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật; là nguồn gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Còn Công ước đa dạng sinh học (1992) đưa ra khái niệm “Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh học trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái” để nói về sự ĐDSH trên trái đất Đến nay, người ta đã biết trên thế giới có hơn 1,4 triệu loài được mô tả và còn ít nhất gấp 2 lần con số này chưa được con người biết đến, chủ yếu là những loài côn trùng sống ở vùng khí hậu nhiệt đới Theo số liệu do Wilson cung cấp (1992) có khoảng 1.413.000 loài sinh vật đã được các nhà khoa học xác định và mô tả, chủ yếu là côn trùng và thực vật Một số lượng côn trùng, vi khuẩn và nấm vẫn chưa được mô tả Con số cuối cùng về các loài được mô tả có thể lên đến 5 triệu hoặc hơn nữa
Tuy nhiên, cũng còn rất nhiều loài chưa được biết đến, nhiều môi trường sống chưa được nghiên cứu điều tra như vùng biển sâu, vùng san hô, đất vùng nhiệt đới và vùng savan Dựa vào số lượng các loài đã có, có thể suy đoán rằng thế giới động, thực vật của trái đất phải bao gồm từ 5 triệu đến 10 triệu loài, thậm chí có thể tới 30 triệu loài Như vậy có thể nói rằng những bí ấn về thế giới sinh vật mà con người còn phải nghiên cứu là vô tận Ở Đông Dương có một số công trình nghiên cứu về thực vật như: Lecomte - Thực vật Đông Dương (1905, 1952); Guibier - Rừng Đông Dương (quyển những cây gỗ Đông Dương, 1926); Maurand - Lâm Nghiệp Đông Dương (1943); Humbert
(1938, 1950) Để phát triển kinh tế, con người vô tình đã huỷ hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá của chính mình Những cố gắng khắc phục hậu quả đó, trong những năm gần đây trên thế giới đã xây dựng được 1.500 vườn thực vật thế giới hiện lưu giữ ít nhất 35.000 loài thực vật (15% số loài thực vật hiện có) Riêng vườn thực vật Hoàng gia Anh Kew hiện có 25.000 loài (chiếm 10% của thế giới) Một sưu tập cây ở California có tới 72 trong số 110 loài Thông được biết
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về thực vật cũng còn rất nhiều công trình nghiên cứu về động vật được biết đến như:
George Finlayson (1928): Bước đầu đưa ra những nhận xét về một số loài thú gặp ở Việt Nam, Lào, Campuchia
Brousmiche (1887) đã giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú ở Bắc Bộ, chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế, dược liệu và khu phân bố của chúng
Năm 1904, De poussargues đã thống kê được 200 loài thú và loài phụ thú ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan Riêng ở Việt Nam phát hiện 117 loài và phụ loài
Boutan (1906) cho xuất bản cuốn sách “Mười năm nghiên cứu động vật Đông Dương” đã đưa khái quát chung về phân loại thú và một số dẫn liệu về hình thái, đặc điểm sinh học và phân bố về địa lý của 10 loài thú đặc biệt
Dollman và Thomas (1960) đã công bố một số kết quả nghiên cứu mô tả các dạng thú mới gặp lần đầu tiên ở nước ta Các nghiên cứu này chủ yếu phục vụ nghiên cứu hệ động vật
Vanpeneen (1969) trong tài liệu “Preliminary identification for mammals of South Viet Nam” đã mô tả sơ bộ 217 loài và phụ loài thú có ở miền Nam Việt Nam và ghi nhận khái quát về phân bố chung của chúng
Nhờ các cuộc khảo sát mà các loài mới đang dần được phát hiện, định danh, kể cả các loài động vật hoặc thú lớn Năm 1998 phát hiện ra loài Vượn cáo mới
(Propithecus tattersalli) ở Mađagaxca; một loài Khỉ có tên là Cercopithecus solatus ở Gabon; một loài Hoẵng mới vùng núi phía Tây Trung Quốc Năm 1990 phát hiện ra một loài Linh trưởng mới trên đảo nhỏ ở Superapui, cách thành phố Sao Paulo (Braxin) 65 km Trong một số năm gần đây, Việt Nam cũng đã phát hiện ra 03 loài thú lớn đó là Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) vào năm 1992, Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) vào năm 1994, Mang Trường Sơn (Canimuntiacus truongsonensis) vào năm 1998
Tại hội nghị các bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học lần thứ 10 (COP10) tổ chức năm 2010 tại Nagoya - Nhật Bản đã quyết định thông qua kế hoạch chiến lược thực hiện Công ước ĐDSH giai đoạn 2011 - 2020 và 20 mục tiêu về ĐDSH cho giai đoạn 2011 - 2020 nhằm mục tiêu bảo tồn sự ĐDSH trên phạm vi toàn cầu
1.1.2 Nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng
* Khái niệm quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng:
Khái niệm cộng đồng thường được hiểu là nhóm người sống trên cùng một khu vực và thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung có thể có quan hệ gia đình với nhau (D'arcy Davis Case, 1990) Còn quản lý tài nguyên trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng là quản lý tài nguyên mà trong đó phát huy được năng lực nội sinh của cộng đồng cho hoạt động quản lý Những giải pháp quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, làng xóm, của chính sách, luật pháp Trong khi các nước công nghiệp phát triển đề cao vai trò của cá nhân, thì các nước đang phát triển mà đặc biệt là ở vùng Châu Á - Thái Bình Dương, gia đình và cộng đồng được đánh giá cao Trong nhiều trường hợp, quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng đã đem lại những hiệu quả to lớn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái
Don Gilmour và Fischer [12] cho rằng quản lý rừng cộng đồng là các hoạt động kiểm soát và quản lý các nguồn tài nguyên rừng do người dân địa phương thực hiện, những người này sử dụng chúng cho các mục đích của cộng đồng và nó là một bộ phận hữu cơ của hệ thống canh tác Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng đó là hình thức quản lý các diện tích rừng của Nhà nước giao cho cộng đồng quản lý
* Chiến lược và chính sách cho quản lý tài nguyên rừng trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng:
Theo Bhargava (1997) [21], Chiến lược và Chính sách quản lý tài nguyên thiên nhiên miền núi trên cơ sở cộng đồng của các nước trong khu vực đều tiến hành theo những hướng:
(1) Bổ sung và sửa đổi chính sách để tăng quyền quản lý và sử dụng tài nguyên cho người dân và các cộng đồng Những giải pháp chủ yếu để tăng quyền quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng là: cấp giấy chứng nhận quyền quản lý sử dụng tài nguyên lâu dài cho hộ gia đình và cộng đồng, quy hoạch phát triển có sự tham gia của người dân, xây dựng những tổ chức và hương ước đảm bảo quyền sử dụng và phát triển tài nguyên, xây dựng những hợp đồng trách nhiệm giữa gia đình, cộng đồng với Nhà nước
(2) Kết hợp những giải pháp hỗ trợ kinh tế để khuyến khích với những giải pháp hành chính cứng rắn, chú trọng phát triển đồng bộ cả giải pháp khoa học công nghệ, giải pháp kinh tế và giải pháp xã hội cho quản lý tài nguyên
Những nghiên cứu có liên quan ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học
Việt Nam được công nhận là Trung tâm đặc hữu về loài, chứa đựng một phần hoặc toàn bộ trong 05 vùng chim đặc hữu (EBA) do Birdlife International xác định, 03 vùng sinh thái trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu do WWF xác định và
06 Trung tâm đa dạng sinh học về thực vật do IUCN xác định Toàn bộ đất nước Việt Nam nằm trong điểm nóng Inđô - Bơ Ma do tổ chức Bảo tồn Quốc tế xác định, là một trong những vùng sinh học bị đe dọa nhất và giàu có nhất trên thế giới [8]
Từ những năm 1960, Việt Nam đã tiến hành những bước chính thức đầu tiên nhằm bảo tồn thiên nhiên thông qua việc ban hành những Nghị định về bảo vệ một số khu rừng và một số loài quý hiếm như Hổ và Voi, cũng như nghiêm cấm các hành vi, phương thức săn bắn phá hoại nơi cư trú của chúng Năm 1972, một sắc lệnh về bảo vệ rừng được ban hành dẫn đến việc tuyển mộ 10.000 kiểm lâm viên, được biên chế vào mọi cấp ở hầu khắp đất nước
Khung pháp lý liên quan đến bảo tồn ĐDSH ngày càng được hoàn thiện Năm 1991 Chính phủ đã thông qua kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 - 2000 Từ đó đã ra đời Luật Bảo vệ môi trường năm 1994, hình thành nên bộ máy quản lý môi trường từ trung ương đến địa phương Đến nay, đã có rất nhiều văn bản luật và dưới luật có liên quan đến việc bảo tồn đa dạng sinh học được ban hành như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004), Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2005), Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2003), Luật Thủy sản năm
2003, Luật Đa dạng sinh học năm 2008, nhiều dự án, chương trình lớn cũng được thực hiện nhằm phát huy tích cực công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Đồng thời đã tham gia nhiều công ước liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học như công ước Ramsar (1988); Công ước di sản văn hóa thế giới (1987); Công ước CITES (1994); Công ước về đa dạng sinh học (1994); Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học (2004) và Hiệp định Asean về BTTN và các tài nguyên thiên nhiên
1.2.2 Nghiên cứu về quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên này là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới [18].
Ngày nay ở Việt Nam, quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng đã được nhận thức như một trong những giải pháp hiệu quả để quản lý tài nguyên thiên nhiên vùng cao Đó là cách quản lý mà mọi thành viên cộng đồng đều được tham gia vào quá trình phân tích đánh giá thực trạng, xác định nguyên nhân và hình thành giải pháp để phát huy mọi nguồn lực của địa phương cho bảo vệ, phát triển và sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tuy nhiên, các giải pháp để khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên thiên nhiên ở mỗi hoàn cảnh cụ thể sẽ khác nhau Nó phụ thuộc vào đặc điểm của nguồn tài nguyên hiện có, vào chính sách, luật pháp Nhà nước, vào những quy định của cộng đồng, làng xóm, những phong tục, tập quán, ý thức tôn giáo, nhận thức và kiến thức, kinh nghiệm và trình độ của người dân v.v Trong nhiều trường hợp ở nước ta, sự phụ thuộc này vẫn chưa được làm sáng tỏ đầy đủ Đây là lý do vì sao việc nghiên cứu nhằm xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở cộng đồng ứng với mỗi nhóm dân tộc cùng toàn bộ phức hệ các điều kiện tồn tại của họ vẫn luôn được đặt ra ở Việt Nam
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan tới quản lý rừng dựa vào cộng đồng, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau:
- Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu tài nguyên môi trường rừng (1998), khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, theo các tác giả thì chính cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về những tài nguyên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết mối quan hệ kinh tế - xã hội trong cộng đồng Họ có khả năng phát triển loài cây trồng vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương Cộng đồng dân cư địa phương vừa là người thực hiện các chương trình quản lý tài nguyên, vừa là người hưởng lợi từ hoạt động quản lý tài nguyên, nên những giải pháp quản lý tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học phù hợp với phong tục, tập quán, những nhận thức, kiến thức của họ có tính khả thi cao
- Lê Trọng Cúc (2002) [10] nghiên cứu mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, làm sao phát triển kinh tế được mà vẫn có thể giữ gìn, bảo vệ được thiên nhiên Bảo tồn là liên kết được việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nhiên đặc thù với nhu cầu phát triển có thể chấp nhận được của một bộ phận dân cư mà cuộc sống của họ phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên đó bao gồm ba thành phần chính sau: (i) Nếu như nhu cầu phát triển cộng đồng địa phương đó có thể đáp ứng bởi các nguồn thay thế thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn; (ii) Nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống vẫn chưa được đáp ứng Vì thế, trước hết cần phải nỗ lực cải tiến kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên (tiếp cận phát triển kinh tế); (iii) Cộng đồng địa phương có đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nếu như họ có thể tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên, từ đó họ có thể chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong ít nhất một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương có thể đáp ứng, thông qua sử dụng và khai thác tài nguyên một cách bền vững và hợp lý (tiếp cận tham gia quy hoạch)
Báo cáo tại hội thảo quốc gia về “cuộc sống và môi trường của người dân miền núi được bền vững”, Võ Quý (1999) [19] cho rằng để duy trì cuộc sống, nhiều người sinh sống trong các Khu bảo tồn buộc phải khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây mà đáng ra họ phải góp phần bảo vệ từ đó làm giảm tính đa dạng sinh học của rừng Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn nói trên phải chú ý đến vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp mà chủ yếu tìm các biện pháp hữu hiệu cải thiện mức sống của người dân nghèo, đồng thời nâng cao nhận thức của họ về bảo vệ thiên nhiên và môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, kể cả đất và rừng mà họ có trách nhiệm bảo vệ và họ được quyền quyết định về cách sử dụng tốt nhất cho cuộc sống của họ và cho cả cộng đồng
Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam, Đa dạng sinh học (2005) Bảo vệ hệ sinh thái rừng giúp cung cấp nhiều giá trị gián tiếp cho lĩnh vực phát triển, như: (i)
Cung cấp “sự an toàn” về kinh tế cho các cộng đồng nghèo sống trong và xung quanh các Khu bảo tồn; (ii) Ngăn chặn lũ lụt đối với vùng hạ lưu và cung cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu; (iii) Bảo vệ lưu vực cho các hồ thủy điện và cung cấp cho ngành công nghiệp nước sạch và năng lượng ổn định; (iv) Bảo tồn tính đa dạng sinh học nông nghiệp bản địa quan trọng và cung cấp bãi ươm cho các quần thể cá; (v)
Hỗ trợ bảo tồn đa dạng di truyền, các loài và cảnh quan cho các thế hệ mai sau
Nhận xét và đánh giá chung
Qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về những vấn đề liên quan tới đề tài, luâ ̣n văn có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học đang là một chủ đề nóng rất được quan tâm nghiên cứu Sự thành lập nhiều tổ chức, ký kết các công ước, nghị định về bảo tồn đa dạng sinh học của các nước trên thế giới cho thấy mức độ quan tâm của nhân loại tới vấn đề này Nhiều giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học đã được quan tâm thực hiện, trong đó giải pháp dựa vào cộng đồng được đặc biệt chú trọng
- Các công trình nghiên cứu cũng đã bắt đầu chú ý tới ảnh hưởng của cộng đồng, của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tới việc bảo tồn đa dạng sinh học tại các Khu BTTN, Vườn quốc gia và đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện sinh kế, tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo tồn Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn còn rất hạn chế, chưa thực sự sự đi sâu vào việc đánh giá sự phụ thuộc của cộng đồng vào tài nguyên rừng, các giải pháp thực hiện còn thiếu đồng bộ, kém tính hiệu quả Do vậy, chưa thực sự khuyến khích được cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học Các nghiên cứu chưa cân đối được giữa bảo tồn phát triển với khai thác sử dụng Mức độ tham gia của cộng đồng đối với công tác bảo tồn phát triển rừng còn khá hạn chế Ở Việt Nam:
- Đa số nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá đa dạng sinh vật, ít chú trọng đến mối quan hệ giữa sự tồn tại của đa dạng sinh vật với các yếu tố liên quan như xã hội, chính sách, thể chế cộng đồng, điều kiện tự nhiên
- Nghiên cứu xã hội để phát triển phương thức quản lý đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng còn ít Vấn đề gắn lợi ích cộng đồng vào công tác bảo tồn chưa được nghiên cứu thấu đáo và thiếu các chính sách hỗ trợ
- Thiếu các nghiên cứu về BTTN gắn với bảo tồn văn hoá, truyền thống trong các hệ sinh thái - nhân văn, nhất là ở vùng Tây Nguyên
- Phương pháp lập kế hoạch bảo tồn thường tách rời với người dân, cộng đồng nên cần có nghiên cứu liên kết, phối hợp vấn đề phát triển cộng đồng dân cư trong vùng với kế hoạch hoạt động của khu bảo tồn
Việc thành lập Khu BTTN Tà Đùng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng trên núi cao Tây Nguyên, bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài đặc hữu và quý hiếm Công tác bảo tồn ở đây đã được quan tâm thực hiện, nhưng chủ yếu từ phía Ban quản lý và lực lượng Kiểm lâm của Khu bảo tồn, chưa có nhiều giải pháp huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học Vì vậy, đề tài nghiên cứu được đặt ra là thực sự cần thiết.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu đề tài
Thông qua các đánh giá về hiện trạng đa dạng sinh học tại Khu BTTN, đề xuất được các giải pháp bảo tồn sự đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng đân cư địa phương tại Khu BTTN Tà Đùng
- Đánh giá được tính đa dạng sinh học, các nguy cơ, mối đe dọa đến tài nguyên thiên nhiên và thực trạng công tác bảo tồn tại Khu BTTN Tà Đùng
- Xác định được khả năng chia sẻ lợi ích từ tài nguyên rừng, vai trò và mức độ tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN
- Đề xuất được các giải pháp bảo tồn sự đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng cho Khu BTTN Tà Đùng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thảm thực vật rừng và hệ động vật rừng phân bố tại khu phục hồi sinh thái của Khu BTTN Tà Đùng
- Cộng đồng cư dân địa phương trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại 3 xã thuộc Khu BTTN Tà Đùng.
Nội dung nghiên cứu
(1) Thực trạng về đa dạng sinh học tại Khu BTTN Tà Đùng (đa dạng loài thực vật, đa dạng loài động vật)
(2) Thực trạng khai thác và sử dụng tài nguyên rừng (Tình hình khai thác, sử dụng và những vấn đề liên quan giữa khai thác và công tác bảo tồn tài nguyên rừng)
(3) Cơ sở kinh tế xã hội của việc đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng tại Khu BTTN Tà Đùng (sự tham gia của người dân, chính sách giao khoán bảo vệ rừng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng )
(4) Các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại Khu BTTN Tà Đùng.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài
- Bảo tồn đa dạng sinh học là một nhiệm vụ cấp bách cần phải thực hiện, tuy nhiên sẽ không có bảo tồn phát triển nếu không có khai thác sử dụng Do vậy, quan điểm cân đối giữa 2 mục tiêu bảo tồn, phát triển rừng với phát triển sinh kế cho cộng đồng luôn được thể hiện trong suốt quá trình thực hiện đề tài
- Tài nguyên rừng cần phải bảo tồn là một thực thể sinh học, nó không tồn tại tách biệt mà chịu sự tác động tổng hợp của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau Do vậy, quan điểm điều tra, đánh giá tổng hợp được đề cập tới trong nghiên cứu
- Việc bảo tồn tài nguyên rừng cần có sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau, trong đó vai trò của cộng đồng có một vị trí rất quan trọng Do vậy, quan điểm tiếp cận có sự tham gia được đề cập tới trong đề tài
Các bước giải quyết vấn đề được thể hiện thông qua sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1 Tóm tắt các bước nghiên cứu của đề tài
Thu thập các thông tin, tài liệu hiện có về điều kiện tự nhiên, KT - XH
Khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu, lựa chọn địa điểm điều tra
Công tác bảo tồn tại khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng
Tính đa dạng sinh học và những giá trị phải bảo tồn tại khu
Các nguy cơ, mối đe dọa trực tiếp tới công tác bảo tồn ĐDSH tại khu BTTN
Thực trạng và hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu BTTN Tà Đùng
Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn đa dạng sinh học tại khu BTTN
Phân tích SWOT Đề xuất giải pháp
2.4.2 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
2.4.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu Đề tài kế thừa các nguồn số liệu, tài liệu sau:
- Các số liệu, tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng, tính đa dạng sinh học, các loài động thực vật quý hiếm tại Khu BTTN Tà Đùng
- Các báo cáo khoa học, báo cáo điều tra khảo sát, báo cáo tổng kết đề tài về tình hình thực hiện bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu BTTN Tà Đùng, tình hình thực hiện các dự án cải thiện sinh kế vùng đệm
- Số liệu, tài liệu về tình hình xâm phạm tài nguyên rừng của khu bảo tồn
- Số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
Từ các số liệu, tài liệu thu thập được tiến hành tổng hợp, thống kê, so sánh để xác định hiện trạng đa dạng sinh học hiện nay của khu vực nghiên cứu
2.4.2.2 Phương pháp thực hiện PRA
Do có sự khác biệt về ngôn ngữ giữa các dân tộc trong khu vực nghiên cứu nên phải kết hợp phỏng vấn đồng thời quan sát trên đối tượng cụ thể
Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được áp dụng để kiểm tra kết quả và xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy hay cản trở, thách thức quá trình phát triển của cộng đồng; lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị để bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên rừng tại địa phương
Nhiệm vụ nghiên cứu đòi hỏi những tìm hiểu về điều kiện tự nhiên và hệ thống xã hội, vì vậy công tác điều tra đã được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Thu thập các thông tin cơ sở và cập nhật các số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội
Bước 2: Tiến hành khảo sát sơ bộ hiện trường để lựa chọn điểm nghiên cứu Để các thông tin thu thập được cụ thể và đầy đủ, trước khi nghiên cứu thực địa phải tiến hành thiết kế cuộc khảo sát
- Người dân tham gia vào hoạt động phải đại diện cho cộng đồng người dân tại địa phương, cố gắng khảo sát hết các nhóm dân tộc chính sống trên địa bàn
- Thời gian khảo sát phù hợp với lịch thời vụ nông nghiệp ở địa phương để có thể xem xét đánh giá các kiến thức bản địa cổ truyền tương ứng
- Các câu hỏi phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ cơ sở đã được chuẩn bị theo hướng phỏng vấn bán định hướng, chỉ nêu các hướng trao đổi ý kiến, còn câu hỏi cụ thể thì tùy hoàn cảnh cụ thể đề ra cho phù hợp
- Đảm bảo thuận lợi về ngôn ngữ và cách thức giao tiếp trong quá trình phỏng vấn
Chọn xã nghiên cứu: Đã thực hiện điều tra tại 3 xã có nhiều hoạt động ảnh hưởng trực tiếp tới Khu BTTN Tà Đùng gồm: xã Phi Liêng, xã Đạ K'Nàng - huyện Đam Rông - tỉnh Lâm Đồng và xã Đăk Som - huyện Đăk G'Long - tỉnh Đăk Nông Khi tiến hành chọn mẫu khảo sát, các tiêu chuẩn chủ yếu cho việc lựa chọn là: thành phần dân tộc, địa hình và khả năng tiếp cận
Thành phần dân tộc được coi là yếu tố quan trọng với những ảnh hưởng của nó tới việc lựa chọn chiến lược phát triển đời sống và các hệ thống sản xuất của cộng đồng Dân tộc và phong tục tập quán còn ảnh hưởng đến quá trình đổi mới, việc chấp nhận các kỹ thuật mới và sự tham gia vào các hoạt động phát triển cũng như hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học
Khả năng tiếp cận được xem là yếu tố có ý nghĩa từ khía cạnh tiếp cận các dịch vụ đầu tư nông nghiệp, khả năng vay tiền ngân hàng, thông tin kỹ thuật, thị trường và các dịch vụ xã hội như trường học, trạm xá Địa hình ở một mức độ nào đó có liên quan đến khả năng tiếp cận, được coi là một chỉ tiêu lựa chọn vì ảnh hưởng của nó đến sự lựa chọn của nông dân trong các hoạt động sản xuất, đến điều kiện, cũng như đến các giải pháp quản lý khác