1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây sồi phảng lithocarpus fissus champ ex benth a camus tại một số vùng sinh thái ở việt nam

79 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá, phân tích một số đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên có Sồi phảng phân bố nhằm góp phần đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng, phục hồi rừng bằng cây Sồi phảng là cần thiết

Trang 1

- -

NGUYỄN DUY BIÊN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH

TỰ NHIÊN CỦA CÂY SỒI PHẢNG (LITHOCARPUS FISSUS

(CHAMP EX BENTH.) A.CAMUS) TẠI MỘT SỐ VÙNG

SINH THÁI Ở VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐÀO CÔNG KHANH

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái

Nó bảo đảm cho nguồn tài nguyên rừng có khả năng tái sản xuất mở rộng, nếu nắm được qui luật tái sinh, chúng ta sẽ điều khiển qui luật đó phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề quan trọng trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng

Hiện nay trong nhiều vùng rừng tự nhiên của nước ta đã mất rừng do sử dụng phương thức khai thác - tái sinh không đáp ứng được những lợi ích lâu dài của nền kinh tế và bảo vệ môi trường Các phương thức khai thác - tái sinh không hợp

lý đã và đang làm cho rừng tự nhiên suy giảm cả về số lượng và chất lượng Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha, tỷ lệ che phủ khoảng 43% trong đó chủ yếu là rừng tự nhiên, chất lượng tốt Đến năm 1999, theo số liệu thống

kê chỉ còn 10,9 triệu ha rừng, trong đó 9,4 triệu ha rừng tự nhiên và 1,5 triệu ha rừng trồng với độ che phủ tương ứng là 33,2%

Trong bối cảnh như vậy, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của ngành lâm nghiệp đối với sự ổn định xã hội, vấn đề đặt ra đối với ngành lâm nghiệp hiện nay là làm thế nào để phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững

Qua hơn 40 năm nghiên cứu và sử dụng cây bản địa để trồng rừng trên các vùng đã thu được nhiều kết quả nhưng cũng còn không ít hạn chế Thành quả chính

là sơ bộ chọn được gần 100 loài cây kể cả 30 loài cây nhập nội, bước đầu đáp ứng mục tiêu trồng rừng sản xuất và trồng rừng phòng hộ (theo quyết định 680/1986 của

Bộ Lâm nghiệp cũ) [5] Tiếp theo đã chọn được 50 - 52 loài cây bản địa cho trồng rừng sản xuất cung cấp gỗ lớn, gỗ nhỏ và lâm sản ngoài gỗ (theo quyết định 16/2005 của Bộ NN&PTNT) [7] bao gồm cả cây lá rộng, lá kim, tre mây và cây thân thảo Theo đó có 28 loài (11 loài gỗ lớn) đã được nghiên cứu tương đối có hệ thống và 50 loài đã được đưa vào sản xuất với quy mô khác nhau Gần 22 loài cây

gỗ lớn được trồng trên diện tích hàng trăm đến hàng ngàn ha nhưng cũng chỉ mới

Trang 3

có 18 loài có tiêu chuẩn ngành về quy trình hay quy phạm kỹ thuật trồng rừng Hạn chế chính của vấn đề này là tập đoàn cây trồng rừng còn quá nhiều chủng loài, dàn rộng và thiếu tập trung cho những cây mũi nhọn Phần lớn các loài được xác định chủ yếu dựa trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm và định tính, còn thiếu những kết quả nghiên cứu theo chiều sâu, theo định hướng căn cứ vững chắc để xây dựng kỹ thuật một cách hệ thống và khép kín, đáng chú ý là là chưa tập trung ưu tiên nghiên cứu một số loài cây chủ lực có tính mũi nhọn cho sản phẩm có giá trị cao đối với xuất khẩu

Theo yêu cầu chung của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2013) [12] đã có Quyết định số 1565/QĐ-BNN-TCLN phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp và Quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN (2104) [13] về kế hoạch phát triển và kinh doanh gỗ lớn giai đoạn 2014 – 2020

Để kịp thời phục vụ Đề án và Kế hoạch nói trên ngày 17/11/2014 Bộ NN & PTNT đã có Quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN (2014) [14] ban hành danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp

Một trong những mục tiêu quan trọng nhất đặt ra là phải đẩy mạnh trổng rừng cây bản địa để cung cấp gỗ lớn; do vậy trước hết phải khắc phục các hạn chế trên, cần tập trung ưu tiên nghiên cứu một cách hoàn chỉnh theo chiều sâu, có hệ thống cho 4 - 5 loài cây chủ lực là loài cây bản địa lá rộng có giá trị cao ví dụ như: Giổi xanh, Lát hoa, Dầu rái, Sao đen, Sồi phảng Đây cũng là những loài cây bản địa đã được đưa vào danh lục các loài cây bản địa phục vụ trồng rừng do Bộ NN & PTNT ban hành, nhưng phần lớn chưa được nghiên cứu từ đặc điểm sinh học, lâm học quần thể, sinh lý hạt giống, kỹ thuật gieo ươm đến trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng

Sồi phảng (Lithocarpus fissus (Champ ex Benth.) A.Camus) được biết đến

là loài cây gỗ lớn, đa tác dụng (lấy gỗ, phòng hộ, vỏ làm nguyên liệu chiết xuất ta nin) và có phân bố rộng Gỗ Sồi phảng rắn, không mối mọt, độ thon nhỏ thường được dùng làm nhà, làm trụ mỏ và các đồ dùng hàng ngày (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyền, 2006) Với đặc tính ưu việt là loài cây sinh trưởng nhanh, khả năng

Trang 4

chống chịu cao, tái sinh tự nhiên tốt, Sồi phảng thường được lựa chọn trồng ở những nơi điều kiện lập địa ít bị suy thoái hoặc làm giàu rừng hay phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái

Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu về cây Sồi phảng Tuy nhiên, các công trình đó mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chưa nghiên cứu sâu về đặc điểm tái sinh Việc đánh giá, phân tích một số đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên có Sồi phảng phân bố nhằm góp phần đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng, phục hồi rừng bằng cây Sồi phảng là cần thiết Chính vì lý do đó đề

tài “Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Sồi phảng

(Lithocarpus fissus (Champ ex Benth.) A.Camus) tại một số vùng sinh thái ở Việt Nam” được đặt ra nghiên cứu nhằm góp phần đề xuất biện pháp kỹ thuật gây

trồng, phục hồi rừng bằng cây Sồi phảng Đây cũng là cơ sở góp phần quản lý một loài cây bản địa đa tác dụng, có giá trị, bổ sung vào tập đoàn cây trồng cho các vùng sinh thái của Viê ̣t Nam, nhằm khai thác tối ưu những giá trị của rừng Sồi phảng tự nhiên, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và xoá đói giảm nghèo cho người dân

3 Đối tươ ̣ng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu là những lâm phần rừng tự nhiên có Sồi phảng là một trong những loài chiếm ưu thế ở một số địa phương

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

3.2.1 Về không gian: Nghiên cứu tập trung ở Đoan Hùng - Phú Thọ đại diện

cho vùng Trung tâm Bắc Bộ, Con Cuông - Nghệ An đại diện cho vùng Bắc Trung

Bộ và K’Bang - Gia Lai đại diện cho vùng Tây Nguyên Riêng nội dung theo dõi vật hậu chỉ thực hiện ở Đoan Hùng – Phú Thọ

Trang 5

3.2.2 Về thời gian: Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 5/2015 và kết

thúc vào tháng 10/2015

3.2.3 Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số đặc điểm lâm học

gồm: Phân bố tự nhiên, sinh thái, vật hậu, tái sinh, cấu trúc lâm phần

Hình 1: Địa điểm điều tra đặc điểm lâm học tại các tỉnh

Trang 6

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Những kết quả nghiên cứu của đề tài đem lại những ý nghĩa sau đây:

(1) Về lý luận: Góp phần bổ sung một số đặc điểm lâm học cây Sồi phảng ở Việt Nam

(2) Về thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở đề xuất biện pháp khoanh nuôi tái sinh tự nhiên cho cây Sồi phảng ở Việt Nam

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Phân loại, hình thái, công dụng

“capos” có nghĩa là hạt giống [22]

Trên thế giới, họ Dẻ (Fagaceae) có khoảng 900 loài, phần lớn phân bố ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhưng chưa thấy ở Nam Phi Phân bố tập trung nhiều nhất là ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài, ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Khamleck, 2004) [15]

Nghiên cứu về phân loại, theo Bentham và Hooker (1862-1885) (dẫn theo Nguyễn Tiến Bân, 1997) họ Dẻ chưa được coi là một taxon độc lập, các chi thuộc

họ Fagaceae được để trong họ Cupuliferae Nhưng một trường phái khác coi họ Dẻ

là một họ riêng gồm 7 - 9 chi và chia làm 2 - 5 phân họ, như hệ thống của Milchior (1964), hệ thống Menitsky (1984), Takhtajan A.L (1987), Soepadmo (1972)

Năm 1996, Takhtajan A.L đã đưa ra một hệ thống phân loại riêng khác với các hệ thống phân loại cũ, ông đồng ý với quan điểm của Kupriantova (1962) tách

chi Nothofagus ra khỏi họ Fagaceae thành một họ riêng (Khamleck, 2004) [15] Ngoài ra một số tác giả như Lecomte H (1929-1931) đã công bố họ Dẻ (Fagaceae)

ở Đông Dương có 150 loài Camus A (1938) cũng nghiên cứu nhiều về họ Dẻ và đặt tên khoa học cho nhiều loài thuộc họ này

Nghiên cứu của Hickel R.et Camus A (1910) (dẫn theo Đỗ Văn Chính, 2005) [10] đã mô tả tương đối đầy đủ về đặc điểm hình thái và phân loại đến chi, loài thuộc họ Dẻ ở Việt Nam, Lào và Campuchia Còn nghiên cứu của Eseepadmo (1972) và của Liao, Jih-Ching (1996) (dẫn theo Đỗ Văn Chính, 2005) đã giới thiệu

Trang 8

khá chi tiết về phân loại, phân bố, giá trị sử dụng của các loài thuộc họ Dẻ ở Malaysia và Đài Loan

Theo Liu Maosong and Hong Bigong (1998) [50] họ Dẻ ở Trung Quốc là một trong những họ quan trọng nhất ở khu vực ôn đới và cận nhiệt đới, có 7 chi, trong đó có khoảng 352 loài và các biến thể khác Sự phân bố của loài phong phú

về chỉ số loài đặc hữu và các mối quan hệ của chúng với các đặc điểm khí hậu và địa lý của họ Dẻ cũng đã được nghiên cứu

Theo Huang Chengchiu, Chang Yongtian, Hsu Yongchun & Jen Hsienwei (1998) [42] tại Trung Quốc có 7 chi và 294 loài, trong đó có 163 loài đặc hữu, ít nhất có 3 loài đã được giới thiệu Tại Trung Quốc cây Sồi phảng ngoài tên khoa học

(Lithocarpus fissuss (Cham Ex Benth.) A Camus) còn được chấp nhận với tên khác là (Castanopsis fissa (Champ Ex Benth.) Rehd Et Wils) [43]

Theo Chamlong Phengklai (2006) [38] tại Thái Lan họ Dẻ gồm có 4 chi với

119 loài, 2 phân loài và 2 giống bản địa

1.1.1.2 Hình thái:

Sồi phảng được mô tả khá kỹ về đặc điểm hình thái Đây là cơ sở khoa học cho việc định loại và phân biệt Sồi phảng với những loài khác, đặc biệt là với những loài cùng chi với nó Việc mô tả hình thái loài nhìn chung có sự thống nhất cao giữa các tác giả ở nhiều quốc gia và tổ chức nghiên cứu khoa học khác nhau

Theo Manos, Paul S., Zhe-Kun Zhou anh Charles H Canon, (2001) [51], Li Shou Zhui [46] thì Sồi phảng là cây gỗ nhỡ, chiều cao khoảng 20m, thân thẳng, phân cành cao, vỏ mỏng màu xám nhạt với các vết nứt dọc theo thân, vỏ dày 3 – 5mm, cây non có vỏ nhẵn Lá đơn mọc cách, có là kèm sớm rụng, phiến lá có hình trứng ngược hoặc mác ngược, dài 12 – 18cm, rộng 5 – 8cm, bề mặt trên nhẵn, bề mặt dưới màu xám xanh được phủ lông ngắn mềm màu gỉ sắt, gân bên 14 – 20 rõ ràng Hoa đơn tính cùng gốc, hoa đực dạng bông đuôi sóc ở cuối cành, hoa có dạng bông ngắn; bao hoa có 3 ô, mỗi ô có 2 noãn; cụm hoa dài 6 – 15cm, 1 hoa thường

có 5 – 7 quả tập trung trên một cuống Quả hạch, không có cuống, dài 1,5cm và rộng 0,8 – 1cm Quả đơn hoặc 2 – 3 quả trong một đấu, quả hình trứng ngược, đầu

có mũi nhọn ngắn

Trang 9

1.1.1.3 Công dụng:

Hầu hết các loài trong họ Dẻ cho gỗ cứng, nặng, ít bị mối mọt, có thể dùng làm nhà, đóng tàu xe, làm cầu, trụ mỏ, đồ gia dụng Ngoài ra vỏ cây có nhiều tanin

dùng để thuộc da, nhuộm vải có giá trị Đặc biệt, các loài thuộc chi Castanopsis có

thể xếp vào loại cây đa tác dụng vừa cho gỗ, củi, hạt, tanin và thân cây dùng trồng nấm (Khamleck, 2004) [16][35]

1.1.2 Phân bố và sinh thái

Là loài cây mọc nhanh, ưa sáng nên có phân bố rộng ở rừng nhiệt đới ẩm thường xanh ở Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Malaysia… thường gặp Sồi phảng ở

độ cao dưới 1.600m so với mực nước biển [51]

1.1.3 Sinh trưởng, tái sinh và trồng rừng

Chưa cập nhật được thông tin gì về sinh trưởng và tái sinh của loài này ở trên thế giới ngoại trừ một số kết quả trong các thí nghiệm về phương thức trồng, bón phân, biện pháp canh tác ở Trung Quốc

Theo Wang J, Wang ZH, Yang L, Ren H (2008) [52] khi nghiên cứu về tác động của lớp đất phủ trên bề mặt hạt giống và số lần tưới nước đến tỷ lệ này mầm của hạt giống và khả năng sinh trưởng của cây con Sồi phảng cho thấy rằng ảnh hưởng của lớp đất phủ trên bề mặt tới sự nảy mầm của hạt giống phụ thuộc vào điều kiện độ ẩm của lớp đất nền Khi số lần tưới nước là 1 lần/ngày thì độ dày lớp đất phủ bề mặt hạt giống có thể hạn chế tỷ lệ nảy mầm của hạt giống và làm tăng tỷ

lệ chết đối với cây con, trong khi tưới nước 2 – 3 lần/ngày, bao gồm cả cải thiện điều kiện độ ẩm của lớp đất nền, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự nảy mầm của hạt giống và sinh trưởng của cây giống Sinh trưởng của cây giống Sồi phảng đã được tăng cường đáng kể bởi lớp đất phủ trên bề mặt Thí nghiệm trên đã chỉ ra rằng việc giữ một lớp đất phủ trên bề mặt có thể ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt giống và

sự sống sót của cây giống Sồi phảng

Theo Feng Sui-qi (2010) [40] khi nghiên cứu so sánh kết quả trồng rừng hỗn giao giữa loài Sổi phảng với Thông mã vĩ theo các tỷ lệ hỗn giao khác nhau tại trang trại Nam Bình tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, kết quả cho thấy tỷ lệ hỗn giao khác nhau đã ảnh hưởng đáng kể đến khả năng sinh trưởng đường kính ngang ngực,

Trang 10

chiều cao vút ngọn, lượng tăng trưởng, suất tăng trưởng và trữ lượng của rừng trên một đơn vị diện tích Trồng rừng hỗn giao giữa loài Sồi phảng với Thông mã vĩ có thể nâng cấp tính ổn định của rừng và năng suất của đất lâm nghiệp Nghiên cứu tỷ

lệ hỗn giao khác nhau giữa các mô hình bao gồm các công thức thí nghiệm: thuần loài Sồi phảng, tỷ lệ 7 Sồi phảng + 3 Thông mã vĩ, 5 Sồi phảng + 5 Thông mã vĩ, 3 Sồi phảng + 7 Thông mã vĩ và thuần loài Thông mã vĩ Kết quả cho thấy tỷ lệ hỗn giao 7 Sồi phảng + 3 Thông mã vĩ có lượng tăng trưởng cao nhất, tiếp theo là tỷ lệ 5 Sồi phảng + 5 Thông mã vĩ và thuần loài Thông mã vĩ cho lượng tăng trưởng thấp nhất Như vậy, tỷ lệ hỗn giao thích hợp là 7 Sồi phảng + 3 Thông mã vĩ giúp cho tăng trưởng về đường kính và chiều cao cho cả hai loài này đạt cao nhất

Theo Li Po Lin Shaohui (2001) [49] khi nghiên cứu về bón phân cho loài cây Sồi phảng trồng được 1 năm tuổi tại huyện Tây An, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã cho thấy khả năng sinh trưởng đáng kể so với không bón phân Trong năm đầu tiên sau khi bón phân chuồng, chăm sóc tổng hợp với phân bón Sồi phảng có mức tăng trưởng chiều cao tăng 81% so với không bón phân, còn với bón phân urê

có mức tăng trưởng 42% so với không bón Trong năm thứ ba, tăng trưởng chiều cao của cả hai thí nghiệm bón phân trên đều có sự tăng trưởng đáng kể so với không bón phân, nhưng ở các năm tiếp theo sự khác biệt về tăng trưởng giảm dần

Chen Bo, Jiang Zhurong, Zhang Jie, Wu Zhongqing, Xu Yingbao, Chen Hongyue (2009) [39] khi nghiên cứu sinh trưởng của các biện pháp canh tác khác nhau tới khả năng sinh trưởng của cây Sồi phảng, tác giả đã tiến hành trồng thử nghiệm 12 công thức áp dụng các biện pháp canh tác khác nhau trên các vùng đất đồi tại một huyện phía Bắc của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Bằng cách thiết lập

12 ô mẫu cố định lâu dài (đánh số từ 1 đến 12) và thu thập số liệu sinh trưởng của tất cả các cá thể của quần thể Sồi phảng, rồi tiến hành so sánh sinh trưởng của tất cả các cá thể của quần thể Sồi phảng, sau đó tiến hành so sánh sinh trưởng của cây theo các biện pháp: (i) chăm sóc khác nhau; (ii) mật độ trồng khác nhau (500 cây/ha, 800 cây/ha, 1.000 cây/ha, 1.200 cây/ha); (iii) kích thước hố khác nhau (30 x

30 x 30cm; 40 x 40 x 40cm; 50 x 40 x 30cm; 50 x 50 x 50cm) Kết quả cho thấy khả năng sinh trưởng khác nhau khá rõ rệt giữa 12 ô mẫu, biện pháp chăm sóc ở ô

Trang 11

số 12 cho khả năng sinh trưởng tốt nhất, mật độ trồng ở ô số 8 (800 cây/ha) cho khả năng sinh trưởng tốt nhất, kích thước hố khác nhau ở ô số 6 (50 x 50x 50cm) cho khả năng sinh trưởng tốt nhất Trên cơ sở phân tích cụm, hiệu quả tăng trưởng của

12 ô mẫu thí nghiệm các tác giả đã chia thành 3 loại: lô sinh trưởng nhanh, lô sinh trưởng trung bình và lô sinh trưởng chậm

Cà ổi đấu nẻ, Kha thụ chẻ [47]

Về danh pháp quốc tế Sồi phảng cũng được nhiều nhà khoa học gọi với tên khác nhau Ở Việt Nam tên khoa học của Sồi phảng được sử dụng gồm có:

Lithocapus fissus (Champ Ex Benth.) A Camus; Castanopsis fissa (Champ Ex Benth.) Rehd Et Wils [45]; Quercus fissa (Champ Ex Benth.) [45]; Pasania fissa(Champ Ex Benth.) Oerst [45]; Castanopsis cerebrina Barnett [4]

Họ Dẻ (Fagaceae) là một trong 10 họ có số loài lớn nhất (Nguyễn Tiến Bân, 1997; Viện địa lý, 1999) [1], [36] Chính vì vậy, họ Dẻ là đối tượng nghiên cứu khá phức tạp, không những chúng có số loài lớn mà còn có vùng phân bố rộng, chủ yếu

là cây gỗ lớn (Nông Văn Tiếp, Lương Văn Dũng, 2007) [29] Hai nhà khoa học người Pháp là Hickel R và Camus A là những người đầu tiên đã có nhiều công trình nghiên cứu về họ Dẻ ở Việt Nam và Đông Dương Theo các tác giả này, Họ

Dẻ có 3 chi: Quercus, Lithocarpus, Castanopsis, với tổng số 157 loài (Lecomte M

H (1993) [48]

Các kết quả nghiên cứu về số lượng loài trong họ Dẻ ở Việt Nam cũng rất khác nhau Tuy nhiên, các kết quả đều cho thấy họ Dẻ là một trong những họ có nhiều loài nhất nước ta Theo Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978) về phân loại thực vật học, tác giả cho rằng Fagaceae là họ duy nhất nằm trong bộ Fagales, ở Việt Nam có 5 chi: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus và Quercus (dẫn theo Nông Văn Tiếp và Lương Văn Dũng (2007) [29] Trần Đình Lý và cộng sự (1993)

Trang 12

[20] nghiên cứu họ Dẻ ở Việt Nam đã nhận xét họ Fagaceae có 5 chi gồm 100 loài Trong đó chủ yếu là các loài thuộc các chi Castanopsis, Lithocarpus và Quercus, đây là những loài cung cấp gỗ và cho quả ăn được Lê Trần Chấn và cộng sự (1999) (dẫn theo Nguyễn Toàn Thắng, 2008) [26] đã chỉ ra họ Dẻ là một trong 10 họ lớn nhất Việt Nam với 213 loài Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [4] đã chỉ ra rằng trên thế giới họ Dẻ là một họ lớn gồm 7 chi có trên 600 loài, ở Việt Nam có 5 chi và khoảng 120 loài Theo Phạm Hoàng Hộ (1993, 2000) [13] [14] thì Việt Nam

có 215 loài thuộc họ Dẻ Theo Trần Hợp (2002) [15] thì họ Dẻ là họ duy nhất thuộc

bộ Dẻ, và mô tả khá chi tiết về hình thái, đặc điểm sinh thái và vùng phân bố của 5 chi Dẻ với 59 loài Theo Nguyễn Tiến Bân (2003) [2] thì họ Dẻ ở Việt Nam có 6 chi gồm: Castanea, Castanopsis, Fagus, Lithocarpus, Quercus và Trigonobalanus với 216 loài Hiện nay chúng ta vẫn sử dụng theo hệ thống phân loại này

Về phân loại, do là họ có số lượng loài rất lớn nên các nghiên cứu ở nước ta mới chỉ tập trung vào phân loại các phân họ và chi, việc phân loại đến loài còn rất ít nghiên cứu

1.2.1.2 Hình thái

Sồi phảng hay Dẻ bốp đã được mô tả là cây gỗ lớn, cao 20 – 25m, đường kính có thể tới 80cm, thân thẳng phân cành cao, gốc có bạnh vè nhỏ Vỏ màu xám nhạt Cành thẳng, tỉa cành tự nhiên tốt, mỗi năm có 2 vòng cành Lá đơn mọc cách,

có là kèm sớm rụng, lá hình trứng ngược hoặc ngọn giáo, dài 17 – 18 cm rộng 4 – 8cm đầu có mũi nhọn ngắn, đuôi hình nêm, mép lá ở 3/4 phía đầu có răng cưa nhọn; gân bên 16 – 18 đôi kéo dài tới đỉnh răng cưa Màu sắc 2 mặt lá phân biệt rõ, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới phủ lông ngắn màu gỉ sắt óng ánh Cuống lá dài 1,5 – 2cm Hoa đơn tính cùng gốc; bông đuôi sóc đực dựng đứng nghiêng, bao hoa 6, nhị

10 – 12; bông đuôi sóc cái dài 5 – 6 cm, hoa cái thưa trải đều trên bông Đấu có cuống ngắn 0,4 cm; đường kính 1,7 – 1,8 cm bọc 1/2 – 2/3 quả, phía trong phủ nhiều lông mịn, phía ngoài phủ lông vàng óng ánh Vảy trên đấu thưa, hình thuôn dài, xếp thành nhiều hàng không đều Quả hình trụ đầu có mũi nhọn ngắn, dễ rời khỏi đấu, dài 2,5 cm, đường kính 1,5cm; sẹo phẳng hoặc hơi lồi, đường kính 0,6 – 0,7 cm Khi chín quả màu nâu vàng Rễ cọc ngắn không ăn sâu, hệ rễ bên thường

Trang 13

rộng hơn đường kính tán lá Cây có khả năng liền rễ (Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên, 2006) [5]

1.2.1.3 Công dụng:

Gỗ Sồi phảng có lõi mầu nâu đến vàng sẫm, vân hơi thẳng, kết cấu mịn, mềm và hơi nặng, dễ chế biến nhưng kém chịu mục mọt Được dùng làm gỗ xây dựng, làm dụng cụ gia đình, hòm Vỏ cây và đấu quả chứa nhiều tanin Hạt dùng làm thuốc trị đau họng, lá dùng ngoài trị đòn, ngã tổn thương và ghẻ lở [47]

Theo Lê Mộng Chân và Lê Thị Huyên (2000) [4] thì gỗ Sồi phảng là gỗ cứng, không mối mọt, độ thon nhỏ thường được dùng làm nhà, làm trụ mỏ và các

đồ dùng hàng ngày

Theo Nguyễn Bá Chất (1999) [7], Sồi phảng là loài cây rất thích hợp để làm

gỗ trụ mỏ, là một trong những loài cây dùng để trồng rừng bổ sung trong khoanh nuôi, nhất là những vùng tạo rừng để cung cấp gỗ mỏ bởi khả năng cung cấp hạt giống, sinh trưởng nhanh, có tính quần hợp cao

1.2.2 Phân bố và sinh thái

Sồi phảng phân bố tự nhiên ở các rừng thứ sinh từ các tỉnh phía Bắc như Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái đến các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Thường gặp Sồi phảng mọc ở độ cao 50 – 1.200m so với mực nước biển Sồi phảng là cây

ưa sáng, lúc nhỏ thích hợp với độ tàn che 0,5 – 0,6; thường mọc ở sườn ngoài bìa rừng hoặc ở những chỗ trống trong rừng tự nhiên Do thân tròn thẳng, phân cành cao, độ thon nhỏ nên Sồi phảng rất thích hợp cho việc trồng rừng cung cấp gỗ lớn (Lê Mộng Chân, 2006) [5]

Kết quả nghiên cứu về nhóm loài sinh thái của Viện Điều tra quy hoạch rừng (1971) cho thấy Sồi phảng thường sống với các loài Lim xanh, Dẻ, Ràng ràng, Chẹo tía, Re, Máu chó, Gội, Táu, Xoan đào, Phần lớn gặp trong rừng thứ sinh, có khi chúng chiếm tỷ lệ cao trong tổ thành Một số nơi như ở Tiên Yên (Quảng Ninh), Quỳ Châu (Nghệ An) có những quần thụ Sồi phảng chiếm 75-80% tổ thành loài

Lập địa trồng thích hợp cho Sồi phảng là nơi đất ẩm mát, thoát nước, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, pH = 4-5, tầng đất 40-50cm, nhiệt độ bình quân

Trang 14

từ 18-250C và lượng mưa 1.500-2.000mm/năm, độ cao dưới 800m so với mực nước biển (trang web Agriviet.com)

1.2.3 Sinh trưởng, tái sinh và trồng rừng

Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng, Nguyễn Văn Huy (1990) [16] cho thấy Sồi phảng là loài cây có sinh trưởng nhịp điệu, mỗi năm có hai mùa sinh trưởng, đó

là mùa Xuân và mùa Hạ, tạo thành hai vòng cành liền nhau Mỗi năm Sồi phảng đổi trục một lần, một chồi bên mọc thấp hơn, đỉnh sinh trưởng cũ ngừng sinh trưởng và teo đi Sồi phảng ở tuổi 2 và 3 có sự đổi ngọn đặc biệt, từ một vị trí nách lá sát đất, một chồi phát triển mạnh, sau 1 năm cao hơn chồi cũ, sau đó thay thế chồi cũ

Theo Nguyễn Bá Chất (1999) [2], lượng tăng trưởng hàng năm của Sồi phảng khác nhau giữa cây tự nhiên và cây trồng, giữa các độ tàn che khác nhau Sồi phảng mọc tự nhiên có lượng tăng trưởng hàng năm cao nhất từ tuổi 8 đến tuổi 15, còn ở rừng trồng cao nhất ở tuổi 6 đến tuổi 15 Sồi phảng trồng luôn có lượng tăng trưởng cao hơn cây mọc tự nhiên ở cùng độ tuổi

Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của Sồi phảng dưới một số trạng thái rừng tự nhiên, Nguyễn Bá Chất (1999) [2] cũng cho thấy Sồi phảng có khả năng tái sinh hạt và chồi rất mạnh Tuy nhiên số lượng cây Sồi phảng tái sinh hạt có sự khác biệt giữa các độ tàn che Nơi độ tàn che nhỏ (0,3) thì số lượng cây tái sinh có chiều cao lớn hơn 1m luôn cao hơn ở nơi có độ tàn che cao (0,6)

Nghiên cứu về chọn giống Sồi phảng đến nay vẫn còn ít được quan tâm Xuất phát từ nhu cầu sản xuất thực tiễn là hàng năm nước ta cần khoảng 800kg hạt giống Sồi phảng để trồng khoảng 2.000hecta ở các vùng Tây Bắc, Trung Tâm, Đông Bắc và Bắc Trung Bộ thì việc chọn giống Sồi phảng càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Chiến lược phát triển giống cây lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020

đã được Bộ NN&PTNT ban hành theo số 62/2006/QĐ-BNN ngày 16/8/2006 thì cây Sồi phảng là một trong những loài được ưu tiên phát triển giống phục vụ công tác trồng làm giàu rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh

Kết quả điều tra ban đầu của dự án “nâng cao chất lượng rừng giống một số loài cây bản địa phục vụ làm giàu rừng và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh” do Trung

tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản – Viện KHLN Việt Nam thực hiện cho thấy tại các

Trang 15

tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ninh và Nghệ An hiện có khoảng 39 hecta rừng cây

mẹ Sồi phảng có thể tuyển chọn và chuyển hóa thành rừng giống

Trong thời gian qua Công ty lâm nghiệp Con Cuông (Nghệ An) đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tuyển chọn các cây trội từ 30 hecta rừng Sồi phảng nhằm chuyển thành rừng giống Sồi phảng, lấy hạt giống và tạo cây con cung cấp cho thị trường quanh vùng

Như vậy, nghiên cứu chọn giống Sồi phảng tại một số địa phương mới chỉ dừng lại ở mức độ chuyển hóa rừng giống từ rừng trồng sẵn có mà chưa có các nghiên cứu hệ thống từ khâu khảo nghiệm xuất xứ, chọn lọc cây trội đến khảo nghiệm hậu thế và nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhân giống để cung cấp giống

có chất lượng cao cho trồng rừng tại các vùng lâm nghiệp trọng điểm Đây cũng là vấn đề tồn tại cần nghiên cứu giải quyết trong thời gian tới

Nghiên cứu xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài bằng các loài cây lá rộng bản địa trên đất rừng thoái hoá ở các tỉnh phía Bắc, Nguyễn Bá Chất và Hoàng Văn Thắng (2004) [25] đã sử dụng cây Sồi phảng để trồng hỗn loài với các loài cây bản địa khác như Lim xanh, Trám trắng, Vạng trứng và Re gừng tại Cầu Hai – Phú Thọ Trong 2 năm đầu Sồi phảng và các loài cây lá rộng bản địa đã được che bóng bởi lớp cây phù trợ là Keo tai tượng và Cốt khí Đến tuổi 3 và 4 đề tài đã tiến hành tỉa cành và tỉa thưa lớp cây phù trợ, tạo điều kiện về không gian dinh dưỡng cho Sồi phảng và các loài cây bản địa khác sinh trưởng, phát triển tốt hơn Do được tác động các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp nên mặc dù được trồng trên đối tượng đất rừng thoái hoá nhưng ngay trong những năm đầu Sồi phảng đã đạt mức tăng trưởng là 1,6cm/năm về đường kính và 1,5m/năm về chiều cao Đến tuổi 6 một

số cây Sồi phảng trong mô hình đã ra hoa, kết quả Sau 7 năm thực hiện mô hình cho thấy Sồi phảng còn lại với tỷ lệ sống đạt 90 - 92% tuỳ theo từng công thức thí nghiệm và hiện tại Sồi phảng đang sinh trưởng phát triển tốt và rất có triển vọng Kết quả nghiên cứu này cho thấy Sồi phảng có thể trồng hỗn loài theo hàng với các loài cây lá rộng bản địa khác trên đối tượng đất rừng đã thoái hoá ở các tỉnh phía Bắc

Trang 16

Nghiên cứu tạo rừng hỗn loài giữa Sồi phảng và Luồng ở Cầu Hai - Đoan Hùng - Phú Thọ (Nguyễn Thị Nhung, 2004) [18] và ở Bình Thanh – Cao Phong – Hoà Bình (Hoàng Văn Thắng, 2008) [24], các tác giả cho thấy Sồi phảng trong mô hình hỗn loài với Luồng sinh trưởng tương đối tốt và cũng rất có triển vọng

Nghiên cứu làm giàu rừng bằng cây Sồi phảng cũng đã được một số tác giả quan tâm Sử dụng Sồi phảng và một số loài cây bản địa khác trồng làm giàu theo rạch cho các đối tượng rừng thứ sinh nghèo tại Cầu Hai, Nguyễn Bá Chất (1995) [3] cho thấy Sồi phảng có tỷ lệ sống cao (>85%), tăng trưởng bình quân chung về đường kính là 1,3cm/năm và chiều cao 1,2m/năm, cây trồng sinh trưởng tốt và ít bị sâu bệnh Từ kết quả nghiên cứu về lâm nghiệp trang trại ở Phú Thọ, trong chương trình hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam – Thụy Điển, Nguyễn Bá Chất (1993) đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật gây trồng Sồi phảng và một số loài cây bản địa khác Đây

là cơ sở bước đầu để các địa phương miền Bắc áp dụng trồng rừng cho loài cây này, nhưng chưa hoàn thiện, chưa sát thực tế

Dự án nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng tự nhiên bị suy thoái

ở miền Bắc Việt Nam (Dự án RENFODA – Rehabilitation of Natural Forest in Degraded Watershed Area in the North of Vietnam) do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam [4] tiến hành đã sử dụng Sồi phảng và một số loài cây lá rộng bản địa khác như Dẻ đỏ, Lim xanh, Trám trắng để trồng làm giàu rừng theo rạch và theo đám cho đối tượng rừng thứ sinh nghèo kiệt tại Bình Thanh – Cao Phong – Hoà Bình Sau 4 năm thí nghiệm cho thấy trong các loài cây trồng làm giàu rừng, Sồi phảng là loài cây có tỷ lệ sống cao, đạt 95,4 - 96,3% và sinh trưởng tương đối tốt Tăng trưởng bình quân tại tuổi 4 về đường kính là 1,4cm/năm và về chiều cao là 1,5 m/năm, chưa có sự khác nhau về sinh trưởng giữa cây trồng theo rạch và trồng theo đám ở tuổi này Tuy nhiên, kết quả bước đầu này cho thấy Sồi phảng là loài cây rất

có triển vọng trong việc trồng làm giàu rừng, nâng cao chất lượng rừng thứ sinh nghèo kiệt của nước ta

Năm 1993, đội sản xuất Lâm nghiệp Cộng Hoà, Lâm trường Cẩm Phả đã phối hợp với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trồng được 2ha rừng Sồi phảng thuần loài trên đối tượng đất rừng sau khi khai thác Bạch đàn, mật độ ban đầu là

Trang 17

500 cây/ha Sau 7 năm trồng (1999), rừng đã khép tán, mật độ còn lại 300 cây/ha, chiều cao bình quân đạt 8 - 9m, đường kính ngang ngực bình quân đạt 10 - 11cm, hình thành quần thụ Sồi phảng sinh trưởng tốt và rất có triển vọng

Ngoài các khu rừng trồng thí nghiệm về biện pháp kỹ thuật gây trồng, Sồi phảng còn được trồng trong các vườn sưu tập thực vật ở một số Vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Điển hình như ở Vườn Quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Xuân Sơn, Khu di tích lịch sử đền Hùng, Khu vườn sưu tập thực vật của Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ (Đại Lải - Vĩnh Phúc), Khu vườn sưu tập thực vật của Cầu Hai (Phú Thọ), trong các mô hình này Sồi phảng được trồng thành các ô từ 20 - 40 cây Kết quả theo dõi cho thấy Sồi phảng trồng ở các địa phương đều có khả năng sinh trưởng tốt Tuy nhiên mức độ tăng trưởng của chúng phụ thuộc vào từng điều kiện lập địa cụ thể Từ các kết quả trồng rừng bằng cây Sồi phảng Bộ Nông nghiệp &PTNT đã ban hành danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất ở 9 vùng sinh thái lâm nghiệp theo quyết định số 16/2005/QĐ-BNN, trong đó Sồi phảng là cây trồng rừng thích hợp cho vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ Theo quyết định số 4961/QĐ-BNN-TCLN ngày 17/11/2014 của Bộ NN&PTNT về danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp thì Sồi phảng được xếp vào là 1 trong các loài cây chủ yếu trồng rừng sản xuất ở vùng Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ

Trên thực tế, việc trồng rừng bằng cây Sồi phảng ở các địa phương còn rất hạn chế, các rừng Sồi phảng hiện có chủ yếu là do quá trình phục hồi tự nhiên được bảo vệ tốt, mà hình thành

Trang 18

chưa có tổng kết đánh giá, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về cây Sồi phảng Các nghiên cứu về chọn giống và kỹ thuật trồng rừng thâm canh Sồi phảng

ở trong nước vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt là nghiên cứu về đặc tính lâm học Các nghiên cứu về đặc điểm tái sinh loài cây này trong rừng tự nhiên còn rất ít ỏi Đây

là những vấn đề cần thiết phải nghiên cứu, góp phần làm căn cứ đểđề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng, phục hồi rừng bằng cây Sồi phảng, một loài cây bản địa gỗ lớn có triển vọng cho trồng rừng ở Việt Nam

Trang 19

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nội dung nghiên cứu:

Đề tài đặt ra nghiên cứu các nội dung sau đây:

2.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và vật hậu của loài Sồi phảng

2.1.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái nơi loài Sồi phảng phân bố 2.1.3 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng ảnh hưởng đến TSTN của cây Sồi phảng

2.1.3.1 Đặc điểm phân loại trạng thái rừng có Sồi phảng phân bố

2.1.3.2 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao

2.1.3.3 Cấu trúc tầng thứ

2.1.3.4 Cấu trúc mật độ tầng cây cao

2.1.3.5 Thành phần loài cây đi kèm

2.1.3.6 Đặc điểm phân bố số cây n/D1.3, n/Hvn của Sô ̀i phảng

2.1.3.7 Cấu trúc độ tàn che tầng cây cao

2.1.4 Một số đặc điểm tái sinh của loài Sồi phảng

2.1.4.1 Cấu trúc tổ thành cây tái sinh

2.1.4.2 Mật độ cây tái sinh

2.1.4.3 Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao và theo nguồn gốc

2.1.4.4 Ảnh hưởng của tầng cây bụi, thảm tươi

2.1.4.5 Phân bố tần suất cây tái sinh

2.1.4.6 Chất lượng cây tái sinh

2.1.5 Đề xuất biện pháp khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên bằng cây Sồi phảng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu chung

Cây rừng luôn sinh trưởng, phát triển theo thời gian và phụ thuộc vào điều kiện lập địa Vì vậy, nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài cây là vấn đề rất phức tạp đòi hỏi phải có thời gian lâu dài thì mới có thể xác định được các đặc tính của

Trang 20

chúng Chính vì vậy, phương pháp tiếp cận của đề tài dựa trên nguyên tắc “Lấy không gian thay thế thời gian” để làm cơ sở nghiên cứu cho đối tượng Sồi phảng

Sơ đồ các bước nghiên cứu như sau:

Đề tài luận văn áp dụng phương pháp kế thừa số liệu của đề tài cấp Bộ:

“Nghiên cứu chọn giống và kỹ thuật gây trồng cây Sồi phảng và Gáo trắng cung cấp gỗ lớn ở một số vùng trọng điểm của Lê Minh Cường (2009 – 2013) chủ trì và thực hiện”

Đề tài kết hợp với điều tra khảo sát, bố trí thí nghiệm ngoài thực địa, phân tích trong phòng, sử dụng thống kê toán học trong lâm nghiệp để xử lý và phân tích

Tổng hợp, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu

Thu thập, kế thừa các tài liệu, số liệu đã có

Điều tra, thu thập số liệu tại hiện

trường nghiên cứu

Hình thái vật hậu;

Thời điểm

ra hoa, kết quả, quả chín

Đề xuất biện pháp kỹ thuật khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên bằng

Mật độ, tổ thành, chất lượng, nguồn gốc tái sinh

Biện pháp khoanh nuôi tái sinh

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu tổng quát

Trang 21

số liệu với sự trợ giúp của phần mềm SPSS 13.0 và Excel trên máy vi tính (Nguyễn

Hải Tuất, Vũ Tiến Hinh và Ngô Kim Khôi, 2006) 41

2.2.2 Phương pháp xác định vị trí nghiên cứu:

Qua tham khảo các tài liệu đã công bố về phân bố của loài Sồi phảng, kết hợp khảo sát hiện trường ở 3 vùng sinh thái Trung tâm Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên, phân chia làm 3 khu vực nghiên cứu gồm:

- Khu vực1: Kiểu rừng lá rộng thường xanh, trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt tại Đoan Hùng - Phú Thọ

- Khu vực 2: Kiểu rừng lá rộng thường xanh, trạng thái rừng nghèo sau khai thác mạnh tại Con Cuông - Nghệ An

- Khu vực 3: Kiểu rừng lá rộng thường xanh, trạng thái rừng nghèo sau khai thác mạnh tại K’Bang - Gia Lai

2.2.3 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu:

2.2.3.1 Phương pháp kế thừa:

Thu thập tài liệu cơ bản về khu vực nghiên cứu có liên quan đến đề tài + Tài liệu về điều kiện tự nhiên và dân sinh kinh tế trong khu vực nghiên cứu

+ Các loại bản đồ chuyên dùng của khu vực nghiên cứu

+ Các tài liệu tham khảo về lĩnh vực nghiên cứu của các tác giả trong vàngoài nước

2.2.3.2 Lập ô tiêu chuẩn (OTC) và dung lượng mẫu:

a) Điều tra sơ bộ:

Tiến hành nghiên cứu bản đồ hiện trạng rừng, tìm hiểu các trạng thái rừng Sau đó sơ thám, quan sát các hiện trạng rừng, tìm hiểu khái quát về sự phân bố của Sồi phảng, tìm hiểu sơ bộ về tài nguyên thực vật rừng, đất đai, khí hậu … của khu vực nghiên cứu để nắm được địa điểm, diện tích, khối lượng công việc phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch và thời gian điều tra ngoại nghiệp

Điều tra được thực hiện trên ô tiêu chuẩn Diện tích ô tiêu chuẩn là 2500 m2

Số lượng ô tiêu chuẩn (09 OTC) căn cứ vào rừng điều tra Cứ 10-15 ha chọn một ô

Trang 22

tiêu chuẩn Diện tích ô tiêu chuẩn nên chiếm tổng diện tích là 0,1 % - 0,5 % đối với

rừng tự nhiên (theo TCVN 8927:2013 do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn

Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố)

b) Điều tra tỉ mỉ:

- Lập OTC:

Lập ô tiêu chuẩn điển hình để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng có Sồi phảng tái sinh phân bố Ô tiêu chuẩn phải bố trí tại các vị trí có tính đại diện cao ở 3 khu vực nghiên cứu Địa hình trong ô phải tương đối đồng nhất, các loài cây phân

bố tương đối đều, cây sinh trưởng bình thường Các ô tiêu chuẩn không đi qua các khe, qua đỉnh hoặc có đường mòn hay đường ô tô chạy qua

+ Công cụ lập ô tiêu chuẩn (OTC): Sử dụng địa bàn, thước dây, sơn đỏ và dao, cuốc …

+ Để thuận tiện cho việc đo đạc, tiến hành lập OTC với chiều dài cùng chiều với đường đồng mức, chiều rộng vuông góc với đường đồng mức Diện tích mỗi OTC là 2.500m2 (50m x 50m) Mỗi khu vực nghiên cứu điều tra 3 OTC, tổng số là9OTC với tổng diện tích là 22.500m2

- Lập ODB để điều tra cây tái sinh:

+ Phương pháp lập ô dạng bản (ODB): Trong ô tiêu chuẩn lập 5 ODB để điều tra cây tái sinh theo vị trí: 1 ô ở tâm, 4 ô ở 4 góc của ô tiêu chuẩn Cụ thể như hình vẽ sau:

Hình 2.2: Sơ đồ lập ODB để điều tra cây tái sinh

Trang 23

Lập ô dạng bản (ODB) để điều tra cây tái sinh Diện tích mỗi ODB là 25m2

(5m x 5m) Số ODB ở mỗi khu vực là 3 x 5 = 15 ô,tổng số ODB ở cả 3 khu vực là

mẹ Mỗi khu vực tiến hành điều tra tái sinh xung quanh 4 gốc cây mẹ tương đương với số ODB là 4 x 12 = 48 ODB

Tổng số ô dạng bản cả 3 khu vực nghiên cứu là: 48 x 3 = 144 ODB

Trên mỗi ô dạng bản tiến hành xác định các chỉ tiêu: Loài cây, chiều cao vút ngọn, phẩm chất cây, nguồn gốc tái sinh của tất cả các cây có đường kính nhỏ hơn 6cm Phẩm chất cây tái sinh phân làm 3 cấp:

+ Cây tốt (A): là cây sinh trưởng tốt, thân tròn thẳng, tán lá phát triển đều, không sâu bệnh, khuyết tật

+ Cây trung bình (B): là cây sinh trưởng bình thường, ít khuyết tật

+ Cây xấu (C): là cây sinh trưởng kém, cong queo, khuyết tật, sâu bệnh Cây triển vọng là cây thuộc loài mục đích, sinh trưởng tốt, chiều cao vượt trên lớp cây bụi, thảm tươi xung quanh, và có phẩm chất trên trung bình

2.2.3.3 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp:

Nội dung thu thập số liệu cho từng nội dung, cụ thể như sau:

a Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và vật hậu loài Sồi phảng

Đề tài sử dụng phương pháp quan sát thực địa, lấy mẫu về đo đếm đồng thời thu thập các thông tin từ cán bộ lâm nghiệp có kinh nghiệm trong vùng nghiên cứu nhằm xác định được các nội dung sau:

- Đặc điểm hình thái: Mô tả đặc điểm thân cây, tán cây, vỏ cây, cành cây, lá cây, rễ và hoa, quả của cây Sồi phảng

- Đặc điểm vật hậu: Xác định mùa ra lá, mùa ra hoa kết quả,…

Trang 24

Chọn 5 cây mẹ Sồi phảng làm cây tiêu chuẩn để nghiên cứu đặc điểm hình thái và vật hậu tại Đoan Hùng – Phú Thọ Cây được lựa chọn là cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, không cong queo, sâu bệnh, đã cho quả ổn định ít nhất là trong 3 năm

Trên mỗi cây mẹ đánh dấu 3 cành tiêu chuẩn trung bình ở 3 vị trí tán: ngọn, giữa và dưới tán Các chỉ tiêu được quan sát và theo dõi gồm: Thời kỳ thay đổi lá; Thời kỳ ra chồi, ra hoa, nở hoa, kết quả; Thời kỳ quả chín, rơi rụng; Mô tả và chụp ảnh hình thái, kích thước lá, hoa, quả, hạt; Chu kỳ sai quả Các chỉ tiêu vật hậu được theo dõi, quan sát trong 3 năm liên tục

b Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái nơi loài Sồi phảng phân bố

* Đặc điểm nhân tố khí hậu:

Tiến hành thu thập tài liệu khí tượng của trạm khí tượng thủy văn của 3 khu vực nghiên cứu Kết quả được ghi vào bảng 2.1sau:

Bảng 2.1: Nhiệt độ (T) và lượng mưa (P) trung bình ở 3 khu vực

T(0C)

P(mm)

* Điều tra nhân tố đất đai:

Tiến hành đào 3 phẫu diện điển hình cho 3 khu vực nghiên cứu và lấy mẫu

về phân tích các chỉ tiêu như P205,Ca2+, kết hợp tham khảo tài liệu nghiên cứu về đất của 3 khu vực nghiên cứu Kết quả được ghi vào bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2: Đặc điểm đất nơi có Sồi phảng phân bố

Cation trao đổi (me/100g)

Độ chua trao đổi (me/g)

P205 K20 Ca2+ Mg2+ H+ Al3+

c Nghiên cứu một số đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Sồi phảng

(1) Điều tra đặc điểm tái sinh của lâm phần:

Trang 25

Cây tái sinh được điều tra trong các ODB, gồm các cây có đường kính < 6

cm Các chỉ tiêu xác định là:

- Xác định tên loài cây theo tên phổ thông và tên khoa học, loài không biết lấy tiêu bản để giám định, chiều cao vút ngọn, tình trạng sinh trưởng, nguồn gốc tái sinh (theo hạt hay theo chồi)

- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước sào, lấy đến cm

- Xác định phẩm chất cây tái sinh với từng cá thể và phân chia làm 3 cấp chất lượng là: Tốt, trung bình và xấu

- Tỷ lệ % cây tái sinh tốt, trung bình, xấu được tính theo công thức:

N % = 𝑛

Trong đó: N% là tỷ lệ phần trăm cây tốt, trung bình, xấu

n là tổng số cây tốt, trung bình, xấu

N là tổng số cây tái sinh

- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Được xác định theo tái sinh hạt hoặc tái sinh chồi

- Xác định tần suất cây tái sinh loài Sồi phảng được tính theo công thức:

Lx= Số ODB có loài Sồi phảng xuất hiện

Tổng số ODB đo đếm x 100 (2.2)Trong đó: Lx là tần suất xuất hiện của loài Sồi phảng

Nếu: Lx > 70% cây tái sinh có phân bố đều

Lx < 70% cây tái sinh có phân bố không đều

Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.3 như sau:

Bảng 2.3: Bảng điều tra cây tái sinh tự nhiên

Trang 26

(2) Điều tra sinh trưởng của cây mẹ (Sồi phảng):

Chọn cây mẹ (Sồi phảng) có đủ tiêu chuẩn Dt ≥ 8m, cây sinh trưởng bình thường, không sâu bệnh, không cụt ngọn làm tâm Xác định: Hvn, D1.3, Hdc, Dt, phẩm chất Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.4 như sau:

Bảng 2.4: Bảng điều tra sinh trưởngcủa cây mẹ (Sồi phảng)

Các chỉ tiêu xác định là: Chiều cao vút ngọn, tình trạng sinh trưởng, nguồn gốc cây tái sinh (hạt hay chồi), phẩm chất cây tái sinh Kết quả điều tra được ghi

vào bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5: Bảng điều tra cây Sồi phảng tái sinh tự nhiên

xung quanh gốc cây mẹ

Trang 27

Điều tra những cây có D1.3 ≥ 6cm.Tên cây được ghi theo tên phổ thông và tên khoa học, loài chưa biết tên được lấy tiêu bản giám định

Đo Hvn, D1.3, Hdc và phẩm chất cây Công cụ đo đường kính là thước kẹp kính, đo chiều cao vút ngọn và chiều cao dưới cành là thước Blumeleiss kết hợp với sào đo cao Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.6 như sau:

Bảng 2.6: Bảng điều tra tầng cây cao

(5) Điều tra độ tàn che rừng:

Độ tàn che được xác định theo hệ thống xấp xỉ 200 điểm điều tra và bằng phương pháp mục trắc tại 5 điểm, một điểm ở tâm cây Sồi phảng tái sinh, 4 điểm ở

4 góc vuông cách cây tái sinh 2m

Tại mỗi khu vực nghiên cứu đề tài xác định 3 tuyến điều tra Các tuyến được

bố trí song song với đường đồng mức, mỗi tuyến điều tra có bề rộng là 1m Dọc theo tuyến vị trí của mỗi cây Sồi phảng, được xác định là 1 điểm điều tra

Tại mỗi điểm điều tra độ tàn che, dùng thước ngắm lên theo phương thẳng đứng Các điểm phân bố đều, trong tán là 1,0 điểm, mép tán là 0,5 điểm và ngoài tán là 0 điểm Độ tàn che tầng cây cao chính là tỷ lệ số điểm mà giá trị tàn che là 1 trên tổng số điểm điều tra

(6) Điều tra cây bụi, thảm tươi:

- Cây bụi là cây thân gỗ thuộc tầng thấp Chỉ tiêu xác định là: Tên loài cây,

số lượng, phẩm chất, Hvn được đo bằng thước mét, độ che phủ chung các loài được tính theo tỷ lệ phần trăm bằng phương pháp ước lượng

- Thảm tươi là lớp cây cỏ phủ trên bề mặt đất rừng

Trang 28

- Chỉ tiêu điều tra: Tên loài cây, chiều cao trung bình, độ che phủ chung được xác định bằng phương pháp ước lượng Loài nào không biết tên được lấy tiêu bản về giám định

- Lập ODB: Trên ODB, tiến hành đo đếm tất cả các tầng cây bụi, thảm tươi

và được ghi vào bảng 2.7 như sau:

Bảng 2.7: Bảng điều tra tầng cây bụi, thảm tươi

Khu vực: OTC số: ODB số:

STT Tên loài cây

chủ yếu

Hvn

(m)

Số lượng (cây)

Độ che phủ (%)

Chất lượng (%)

“SPSS 13.0” [31]

(1) Kiểm tra sự thuần nhất của các giá trị quan sát:

Tiêu chuẩn phi tham số 2của Kruskal Wallis để kiểm tra sự thuần nhất:

Nếu H >052 thì các mẫu không thuần nhất

Nếu H <2 thì các mẫu thuần nhất, có nghĩa là các mẫu có nguồn gốc từ 1

Trang 29

tổng thể

Trong trường hợp các giá trị quan sát được chia ra nhiều cấp chất lượng khác nhau thì việc kiểm tra sự thuần nhất của nhiều mẫu dựa chủ yếu vào việc so sánh tần số quan sát rơi vào các mẫu

(2) Công thức xác định tổ thành tầng cây cao

+ Phương pháp xử lý số liê ̣u đối với tầng cây cao:

Xác đi ̣nh tổ thành: được tính theo phương pháp của Daniel Marmillod và Vũ Đình Huề (1984), Đào Công Khanh (1996): IV% =

(2.6)

Trong đó:

- IV% là tỷ lê ̣ tổ thành (đô ̣ quan tro ̣ng của loài i);

- N% là % theo số cây của loài i trong lâm phần;

- G% là % theo tổng tiết diê ̣n ngang của loài i trong lâm phần

Một số đă ̣c điểm về cấu trúc của khu vực nghiên cứu như các đă ̣c trưng mẫu được chia tổ ghép nhóm các tri ̣ số quan sát theo công thức kinh nghiệm của Brooks và Carruthere (1953); căn cứ vào phân bố thực nghiê ̣m

Trang 30

để tiến hành mô hình hoá qui luâ ̣t cấu trúc tần số (cấu trúc N/D và N/H) theo những phân bố lý thuyết khác nhau (Weillbull, khoảng cách và phân bố giảm)

Theo Daniel Marmilod thì trong rừng nhiệt đới, loài cây nào có trị số IV % > 5% là loài ưu thế của lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), thì tỷ lệ chung của các loài ưu thế của rừng nhiệt đới hỗn loài phải chiếm trên 50% Dựa vào hai quan điểm trên, đề tài xác định loài ưu thế là những loài có IV %  5%

(3) Xác định tổ thành cây tái sinh:

Để xác định công thức tổ thành loài theo số cá thể, tôi áp dụng công thức sau:

Ki = 𝑚𝑖

Trong đó: Ki là tỷ lệ tổ thành của loài thứ i

mi là số cây của loài thứ i

N là tổng số cây điều tra Sau đó sử dụng dãy các giá trị Ki để viết công thức tổ thành theo quy định của giáo trình Lâm học Trường Đại học Lâm nghiệp:STH

Trang 31

Sc = π 𝐷 𝑇𝑇𝐵

4 (π= 3,1416) (2.10)

DTTB là đường kính tán trung bình 1 cây

(5) Xác định phân bố n/D13, n/Hvn của lâm phần và Sồi phảng

Xác định phân bố n/D13, n/Hvn của lâm phần và Sồi phảng để biết lâm phần

và Sồi phảng này tốt hay xấu, xây dựng mô hình cấu trúc tần số theo một số phân

bố lý thuyết thường gặp trong lâm nghiệp

Trang 32

Trong đó:

α và λ là 2 tham số của phân bố Weibull

Tham số α đặc trưng cho độ nhọn phân bố

Tham số λ đặc trưng cho độ lệch của phân bố

Nếu: α = 1 phân bố có dạng giảm theo hàm mũ

Nếu α = 3 phân bố có dạng đối xứng

a> 3 phân bố có dạng lệch phải

a< 3 phân bố có dạng lệch trái

+ Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:

Để kiểm tra mức độ phù hợp giữa phân bố lý thuyết là hàm Meyer với phân

bố thực nghiệm số cây theo đường kính thực nghiệm có thể dùng tiêu chuẩn phù hợp

Ngược lại, nếu 2𝑇í𝑛ℎ >052 tra bảng với bậc tự do k = m - r -1 thì giả thuyết

về sự phù hợp của phân bố lý thuyết đã chọn bị bác bỏ

Trang 33

2.2.3.4 Tổng hợp các số liệu phục vụ đề tài

- Số liệu điều tra 09 ÔTC sơ cấp để điều tra cây tầng cao tại Đoan Hùng – Phú Thọ, Con Cuông – Nghệ An và K’Bang – Gia Lai

- Số liệu 45 ô dạng bản nghiên cứu các đặc điểm cây tái sinh

- Số liệu 144 ô dạng bản để điều tra cây Sồi phảng tái sinh xung quanh gốc cây mẹ

- Số liệu 3 năm về theo dõi vật hậu tại Đoan Hùng – Phú Thọ

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm hình thái và vật hậu của loa ̀i Sồi phảng

3.1.1 Đặc điểm hình thái cây:

Sồi phảng (Lithocarpus fissus (Champ Ex Benth.) A Camus) thuộc họ Dẻ

(Fagaceae) Kết quả quan sát cây Sồi phảng tại Nghệ An, Phú Thọ và Gia Lai cho thấy loài cây này có một số đặc điểm là:

Sồi phảng là cây gỗ nhỡ đến gỗ lớn, cao từ 20 – 25m, đường kính có thể tới 80cm, thân thẳng, phân cành cao, có múi, gốc có bạnh vè nhỏ Cành thẳng, tỉa cành

tự nhiên tốt, mỗi năm có 2 vòng cành

Vỏ dày 3 – 5mm, cây non có vỏ nhẵn, vỏ có màu xám nhạt với các vết nứt dọc thân cây

Lá đơn mọc cách, có lá kèm sớm rụng, lá hình trứng ngược hoặc ngọn giáo, dài 17 – 18cm, rộng 4 – 8cm, đầu lá có mũi nhọn ngắn, đuôi hình nêm, mép lá ở 3/4 phía đầu có răng cưa nhọn; gân bên 16 – 18 đôi kéo dài tới đỉnh răng cưa Màu sắc

2 mặt lá phân biệt rõ rệt, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới phủ lông ngắn màu gỉ sắt óng ánh, cuống lá dài 1,5 – 2cm

Hoa đơn tính cùng gốc; bông đuôi sóc đực dựng đứng nghiêng, bao hoa 6, nhị 10 – 12, bông đuôi sóc cái dài 5 – 6cm, hoa cái thưa trải đều trên bông

Đấu có cuống ngắn 0,4cm; đường kính 1,7 – 1,8cm bọc 1/2 - 2/3 quả, phía trong phủ nhiều lông mịn, phía ngoài phủ lông vàng óng ánh Vảy trên đấu thưa, hình thuôn dài, xếp thành nhiều hàng không đều Quả hình trụ, đầu có mũi nhọn ngắn, dễ rời khỏi đấu, dài 2,5 – 3cm, đường kính 1,5cm; sẹo phẳng hoặc hơi lồi, đường kính 0,6 – 0,7cm Khi chín quả màu nâu vàng (hình 3.1 và 3.2)

Trang 35

3.a (Thân cây) 3.b (Vỏ)

Hình 3.1: Cây Sồi phảng trong rừng tự nhiên

tại Đoan Hùng – Phú Thọ

3.c (Mặt dưới của lá) 3.d (Mặt trên của lá)

Trang 36

3.e (Hoa) 3.f (Quả)

Hình 3.2: Vỏ, lá, hoa, quả cây Sồi phảng

Nhìn về hình thái chưa phát hiện thấy có đặc trưng gì mới hay khác biệt mà cũng phù hợp với các tác giả trước đã mô tả và xác định

3.1.2 Đặc điểm vật hậu cu ̉ a Sồi phảng

Vật hậu theo thuật ngữ sinh học còn gọi là hiện tượng học sinh sản phản ánh mối quan hệ giữa các thời kỳ, giai đoạn khí hậu thời tiết với sự hình thành, xuất hiện hay tiêu vong các bộ phận sinh sản của cây chủ yếu là lá, hoa, quả, hạt từ các khâu phát lộc, nảy chồi, ra lá, rụng lá quyết định khả năng tái sinh của cây tự nhiên

và cung cấp giống cho trồng rừng

Vật hậu là hoạt động có tính chu kỳ của cơ quan dinh dưỡng (đâm chồi, ra lá non, rụng lá) và cơ quan sinh sản (hình thành nụ hoa, ra hoa, kết quả…) cũng là hiện tượng sinh học tự nhiên của các loài thực vật biến đổi có tính chu kỳ theo sự biến đổi của điều kiện khí hậu thời tiết (Thái Văn Trừng 1970)

Từ kết quả theo dõi các pha vật hậu và sản lượng quả và hạt tại Đoan Hùng - Phú Thọ được ghi ở bảng 3.1 và bảng 3.2 như sau:

Bảng 3.1: Đặc điểm vật hậu cuả Sồi phảng STT Hiện tượng vật hậu Thời gian Đặc trưng nhận biết

1 Cơ quan dinh dưỡng

2 Cơ quan sinh sản

Trang 37

Ba ̉ ng 3.2: Các pha vật hậu của Sồi phảng

Cơ quan sinh sản hình thành kéo dài trong gần 3 tháng kể từ lúc bắt đầu ra nụ hoa vào trung tuần tháng 3 đến lúc quả chín kết thúc vào thượng tuần tháng 6

Kết quả này cũng khá phù hợp với kết quả theo dõi vật hậu Sồi phảng năm

2009 ở Cầu Hai - Phú Thọ của Trương Tuấn Anh 2012 [1] Tuy đề tài không có điều kiện theo dõi vật hậu ở Con Cuông - Nghệ An và K’Bang – Gia Lai nhưng cũng theo tác giả này thì nhìn chung các pha vật hậu của Sồi phảng ở Phú Thọ được bắt đầu và kết thúc sớm hơn so với ở Nghệ An và Gia Lai do có độ cao tuyệt đối thấp hơn nhưng vĩ độ cao hơn

Điều khác biệt đó cần được chú ý nhất là đối với thời kỳ quả chín để đón lấy

và có kế hoạch thu hái kịp thời trước khi quả rụng để gieo ươm phục vụ cho trồng rừng Tuy nhiên theo kết quả mà tác giả đã công bố không nói đến đặc trưng nhận

27/1 10/3

0 /3 30/1

3 0/1

8/3

8 /3

1 1/3

17/4

7 /4 22/3

2 /3

6/5

/

5 12/5

2 /5

5/6

/

6 30/6

0 /6

30/7

0 /7

Trang 38

biết khi quả chín và thời kỳ quả rụng đây là 2 tiêu chí rất quan trọng vì có ý nghĩa thực tiễn rất lớn

Ở Đoan Hùng - Phú Thọ quả chín khi vỏ quả có màu xanh thẫm chuyển sang màu vàng và quả rụng từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 7 khi vỏ quả có màu cánh dán Cần chú ý tới 2 đặc trưng này để có kế hoạch thu hái quả đúng lúc quả chín rộ

để nâng cao được chất lượng sinh lý hạt giống cho trồng rừng và có biện pháp tác động hợp lý sau khi quả rụng để xúc tiến tái sinh tự nhiên cho phục hồi rừng

3.2 Đặc điểm sinh thái nơi loài Sồi phảng tái sinh và phân bố

3.2.1 Đặc điểm phân bố của loài Sồi phảng

Như phần tổng quan đã đề cập, Sồi phảng phân bố khá rộng gặp ở nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Lào, Malaysia, Myanma ở độ cao dưới 1.600m so với mực nước biển Ở nước ta Sồi phảng mọc tự nhiên trong các rừng thứ sinh ở các tỉnh miền Bắc như Quảng Ninh, Phú Thọ, Yên Bái, miền Trung như Nghệ An,

Hà Tĩnh… và Tây Nguyên như Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk…Kết quả điều tra thực địa được tổng hợp tại bảng 3.3

Bảng 3.3: Kết quả điều tra nơi phân bố của Sồi phảng

huyện

Ký hiệu OTC

Độ cao (m)

Độ dốc (độ)

Trạng thái rừng

1 Đoan Hùng -

Phú Thọ

ĐH03 21

ĐH01-030' - 21045' 105000 ' - 105020' 48-83

15-20

Rừng phục hồi sau khai thác kiệt

2 Con Cuông -

Nghệ An

CC03 18

Từ bảng 3.3 cho thấy: Sồi phảng phân bố khá rộng từ miền Bắc đến miền Trung và Tây Nguyên, trong phạm vi đề tài điều tra nghiên cứu thì có phân bố ở 7

vĩ tuyến từ 14000' đến 21045' vĩ độ Bắc và trên 4 kinh tuyến từ 108045' đến 104037'

Trang 39

kinh độ Đông Sồi phảng cũng có mặt ở những độ cao khác nhau như < 100m đến gần 800m so với mực nước biển, độ dốc từ 12 – 290, trên 3 vành đai thuộc vùng đồi trung du (Phú Thọ) và vùng núi thấp (Nghệ An) đến vùng núi trung bình (Gia Lai) Điều đó cho thấy tiềm năng gây trồng và phát triển loài cây này là khá lớn nếu chọn được nơi có điều kiện sinh thái phù hợp

3.2.2 Đặc điểm sinh thái của loài Sồi phảng

3.2.2.1 Đặc điểm khí hậu nơi có Sồi phảng phân bố:

Khí hậu có ảnh hưởng đến phân bố, cấu trúc, sinh trưởng, phát triển, khả năng ra hoa, kết quả và năng suất của quần thể rừng Nhóm nhân tố khí hậu bao gồm các nhân tố: Bức xạ mặt trời, nhiệt độ, nước, thành phần và sự vận động không khí Tất cả các nhân tố trên có liên quan chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng tổng hợp đến đời sống của quần xã thực vật rừng Như vậy nếu điều kiện khí hậu thay đổi nó

sẽ kéo theo sự thay đổi của lớp thảm thực vật

Những nghiên cứu cho thấy, khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến sinh trưởng và phát triển của thực vật thông qua chế độ nhiệt và chế độ nước, ánh sáng

Đặc điểm khí hậu vùng phân bố của Sồi phảng được tổng hợp ở bảng 3.4 như sau:

Bảng 3.4: Đặc điểm khí hậu các địa điểm có Sồi phảng phân bố

TT Địa điểm

Nhiệt độ ( 0 C) Lượng

mưa (mm)

Độ ẩm không khí (%)

Trạm quan trắc

Trung bình

TB cao tuyệt đối

TB thấp tuyệt đối

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w