TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Nghiên cứu của Odum (1971) và Geogre Baur (1964) đã chỉ ra mối quan hệ giữa rừng và các yếu tố hoàn cảnh trong hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới Hệ sinh thái này rất phức tạp, với từng nhân tố vận động theo quy luật riêng, do đó, để ổn định hệ sinh thái rừng, cần nắm vững các quy luật vận động và điều tiết hài hòa các mối quan hệ trong sự phức tạp đó Catinot R (1965) đã minh họa cấu trúc rừng thông qua các phẫu đồ ngang và đứng, tạo nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo.
Rừng tự nhiên thường không có tầng tán phân chia rõ ràng, dẫn đến những hạn chế trong việc phân loại Đặc biệt, rừng mưa nhiệt đới được nhiều tác giả phân chia thành các loại khác nhau.
Rừng thường được chia thành 3 tầng chính: tầng cây cao, tầng tán chính và tầng dưới tán Một số nghiên cứu, như của Walton, Myutt và Smith (1955), đã phân loại rừng ở Malaysia thành 5 tầng, bao gồm: tầng trội, tầng chính, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ.
Phân bố số cây theo đường kính là quy luật cơ bản trong cấu trúc lâm phần, được nhà khoa học Meyer đề cập lần đầu tiên vào năm 1934 Ông mô tả phân bố này bằng phương trình toán học dạng đường cong giảm liên tục, được gọi là hàm Meyer Đến nay, hàm này vẫn được nhiều tác giả sử dụng để mô tả cấu trúc lâm phần Bên cạnh đó, một số tác giả khác như Loetsch (1973) đã đề xuất sử dụng hàm Beta để điều chỉnh phân bố thực nghiệm, cùng với các nghiên cứu của J.L.F Batista và H.T.Z Docouto.
(1992), khi nghiên cứu rừng nhiệt đới tại Marsanhoo – Brazin đã dùng hàm Weibull để mô phỏng phân bố N/D
- Vê phân bố số cây theo chiều cao
Phương pháp kính điển phổ biến trong nghiên cứu thực vật là vẽ phẫu đồ đứng, giúp thể hiện sự phân bố và sắp xếp không gian của các loài cây Nhiều công trình nghiên cứu, như của Richards (1952) và Rollet (1979), đã áp dụng phương pháp này Có nhiều dạng hàm toán học khác nhau để mô hình hóa phân bố N/H, và việc lựa chọn hàm nào phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng tác giả cũng như đối tượng nghiên cứu cụ thể.
- Tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực
Giữa chiều cao và đường kính ngang ngực của cây trong lâm phần có mối quan hệ chặt chẽ, không chỉ trong một lâm phần mà còn giữa các lâm phần khác nhau Đường kính có thể được sử dụng để suy diễn chiều cao mà không cần đo cao trực tiếp Nhiều nghiên cứu cho thấy chiều cao tương ứng với từng cỡ kính tăng theo tuổi và mối quan hệ này được biểu diễn dưới dạng đường cong Đường cong này sẽ dịch chuyển lên khi tuổi lâm phần tăng Tiurin D.V (1927) đã phát hiện ra hiện tượng này khi xác lập đường cong chiều cao ở các cấp tuổi khác nhau.
(1967), đã mô phỏng quan hệ H/D theo phương trình:
A: tuổi lâm phần D: đường kính bi: Là tham số của phương trình
Sau đó tác giả nắn phương trình trên theo từng định kỳ và thấy ở từng cấp tuổi phương trình sẽ có dạng:
Mỗi loại cây yêu cầu một phương trình lựa chọn riêng biệt Có thể áp dụng nhiều phương trình để thử nghiệm và cuối cùng chọn ra phương trình phù hợp nhất Phương trình được lựa chọn phải có tỷ lệ tồn tại cao nhất trong các lâm phần được nghiên cứu.
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh
Theo các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả tái sinh rừng phụ thuộc vào mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố Cây con có vai trò quan trọng trong việc thay thế cây già cỗi, do đó, tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ Mặc dù nghiên cứu về tái sinh rừng đã bắt đầu từ hàng trăm năm trước, nhưng chỉ từ năm 1930, nghiên cứu về tái sinh rừng nhiệt đới mới được chú trọng Với sự phức tạp trong thành phần loài của rừng nhiệt đới, hầu hết các nghiên cứu chỉ tập trung vào các loài cây gỗ có ý nghĩa nhất định.
P.W Richard tổng kết quá trình nghiên cứu tái sinh cho thấy, cây tái sinh có dạng phân bố cụm, một số có dạng phân bố Poisson Van Steens
Năm 1956, nghiên cứu đã chỉ ra hai đặc điểm tái sinh quan trọng trong rừng mưa nhiệt đới: tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của các loài cây ưa sáng.
Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc
Rừng tự nhiên Việt Nam là rừng nhiệt đới với sự phong phú và đa dạng về loài, cấu trúc phức tạp Gần đây, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào cấu trúc rừng, vì nó là cơ sở quan trọng cho việc định hướng phát triển rừng và đề xuất biện pháp lâm sinh hợp lý.
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã nghiên cứu cấu trúc của rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Việt Nam, đề xuất mô hình gồm các tầng như tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết Đào Công Khanh (1996) và Bảo Huy (1993) đã sử dụng tổ thành loài cây để phân loại rừng, từ đó xây dựng các biện pháp lâm sinh hiệu quả Lê Sáu (1996) đã kết hợp hệ thống phân loại của Thái Văn Trừng với hệ thống của Loeschau, phân chia rừng khu vực Kon Hà Nừng thành 6 trạng thái khác nhau.
Bùi Thế Đồi (2001) đã nghiên cứu cấu trúc quần xã thực vật rừng trên núi đá vôi tại ba địa phương miền Bắc Việt Nam, nhằm làm rõ các đặc điểm sinh thái của khu vực này.
Nguyễn Văn Trương (1983) đã nghiên cứu cấu trúc rừng bằng cách xem xét sự phân tầng theo định lượng và chiều cao một cách cơ giới Vũ Đình Phương (1987) cho rằng việc xác định tầng thứ của rừng lá rộng thường xanh là cần thiết, nhưng chỉ chính xác khi rừng đã ổn định, khi đó ranh giới giữa các tầng rõ ràng hơn Đồng Sỹ Hiền (1974) đã sử dụng hàm Meyer và đường cong Pearson để phân tích phân bố số cây theo đường kính, làm cơ sở cho việc lập biểu thể tích và độ thon của cây trong rừng tự nhiên ở Việt Nam.
Phạm Ngọc Giao (1996) đã nghiên cứu các lâm phần Thông đuôi ngựa ở khu vực Đông Bắc và xây dựng mô hình động thái tương quan Dt/D1.3, cho thấy mối quan hệ này tồn tại dưới dạng đường thẳng.
Các tác giả trong nước đều thống nhất rằng phương trình đường thẳng là phương pháp phù hợp nhất để xây dựng mối tương quan này Dựa trên đó, họ tiến hành dự đoán diện tích tán bình quân và xác định mật độ tối ưu cho từng lâm phần.
1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh
Tái sinh rừng là quá trình sinh học đặc thù của hệ sinh thái rừng, thể hiện qua sự xuất hiện của cây con từ các loài cây gỗ Quá trình này phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ, bằng cách kết hợp tái sinh tự nhiên với tác động hợp lý của con người để tạo ra thế hệ cây mới đáp ứng mục đích kinh doanh và phù hợp với điều kiện tự nhiên Tái sinh rừng mưa nhiệt đới có đặc điểm phân tán liên tục và theo vệt, với Việt Nam thích hợp cho cả hai kiểu tái sinh này Hiện tượng nảy mầm đồng thời cũng tạo ra các thế hệ rừng tiên phong thuần loài, như rừng Sau Sau và rừng Bồ Đề Tuy nhiên, rừng tự nhiên Việt Nam thường bị tác động không theo quy tắc, dẫn đến sự xáo trộn trong quy luật tái sinh.
Do đó, việc nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới là rất phức tạp và khó khăn
Từ năm 1962 đến 1969, Viện Điều tra-Quy hoạch rừng đã tiến hành điều tra tái sinh tự nhiên tại các tỉnh Quảng Bình, Nghệ An, Yên Bái, Quảng Ninh với sự hỗ trợ của chuyên gia Trung Quốc Diện tích ô tiêu chuẩn được thiết lập là 2000m² cho từng trạng thái, trong khi việc đo đếm tái sinh được thực hiện trên các ô có diện tích từ 100-125m² và kết hợp với điều tra theo tuyến Kết quả phân chia trạng thái rừng và đánh giá tái sinh đã được thực hiện, dẫn đến việc Vũ Đình Huề phân loại tái sinh thành 5 cấp độ: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu vào năm 1969 Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào số lượng tái sinh mà chưa chú trọng đến chất lượng của nó.
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) đã chỉ ra rằng ánh sáng là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng Việt Nam Trong khi đó, Đinh Quang Diệp (1993) nghiên cứu tại rừng Khộp vùng Easup - Đắc Lắc và kết luận rằng độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm mục và điều kiện lập địa đều có tác động đến số lượng và chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng Nghiên cứu này cho thấy quá trình tái sinh trong khu vực có dạng phân bố cụm.
Vũ Tiến Hinh (1991) đã nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên tại Hữu Lũng và Ba Chẽ, và kết luận rằng hệ số tổ thành của cây tái sinh và cây cao có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện dưới dạng một phương trình đường thẳng: n% = a + b N% Trong đó, n% là hệ số tổ thành của tầng cây tái sinh, còn N% là hệ số tổ thành của tầng cây cao.
Trần Xuân Thiệp (1995) đã tiến hành nghiên cứu định lượng cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau, cho thấy số lượng cây tái sinh dao động từ 8.000 đến 12.000 cây, cao hơn so với rừng nguyên sinh.
Lê Đồng Tấn (1993-1999) đã nghiên cứu quá trình phục hồi rừng tự nhiên tại tỉnh Sơn La, sử dụng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn 400m² kết hợp với các ô định vị Kết quả cho thấy, mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân lên đỉnh đồi, bất kể trên ba dạng địa hình và ba cấp độ dốc khác nhau, trong khi tổ hợp loài cây ưu thế vẫn giữ nguyên.
Nghiên cứu của Trương Quang Bích và các cộng sự (2002) về quá trình phục hồi rừng sau nương rẫy tại vườn Quốc gia Cúc Phương cho thấy sự biến động lớn trong số lượng cây tái sinh giữa các ô và ngay trong cùng một ô, với mật độ tái sinh thấp và phân bố không đồng đều.
Trần Ngũ Phương (2000)[14] khi nghiên cứu rừng nhiệt đới ở Việt
Nam đã nhấn mạnh, rừng tự nhiên có nhiều tầng, khi tầng trên già cỗi tàn lụi rồi tiêu vong, tầng kế tiếp sẽ thay thế,
Phạm Ngọc Thường (2003) đã nghiên cứu về tái sinh cây gỗ sau nương rẫy tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn, cho thấy rằng sự phân bố tái sinh cây gỗ theo chiều cao có dạng một đỉnh Tác giả sử dụng hàm phân bố Weibull để mô phỏng quy luật này và chỉ ra rằng mật độ cây tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi rừng.
Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là một vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao và nguồn gốc hình thành rừng Mặc dù quy trình tái sinh có những quy luật nhất định, nhưng các yếu tố tác động làm cho nó trở nên đa dạng và khó lường Việc nghiên cứu quá trình tái sinh là rất quan trọng, đóng vai trò quyết định trong kinh doanh rừng bền vững và là một phần không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên.
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Cung cấp thông tin chi tiết về hiện trạng và các chỉ tiêu sinh thái rừng là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch sử dụng và quản lý bền vững tài nguyên rừng, đồng thời hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội và các hoạt động lâm nghiệp cộng đồng trong khu vực nghiên cứu.
Bài viết xác định các đặc điểm cấu trúc và khả năng tái sinh của rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình tại Khu BTTN Thượng Tiến Đồng thời, bài cũng đề xuất những giải pháp nhằm quản lý bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu.
2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Các đặc điểm sinh thái của trạng thái rừng thường xanh trung bình núi đất
- Về nội dung: Tính toán các chỉ tiêu bình quân, cấu trúc tầng cây cao, đa dạng sinh học cây gỗ, xây dựng các chỉ tiêu tăng trưởng
- Về không gian: 75 Ô tiêu chuẩn (400 m2/ô), tổng diện tích 03 ha được nghiên cứu tại Khu BTTN Thượng Tiến thuộc xã Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu hiện trạng và phân bố của các trạng thái rừng
- Hiện trạng các loại rừng;
- Đặc điểm phân bố tự nhiên
2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng
- Xác định các chỉ tiêu bình quân: mật độ (N/ha); đường kính (D1,3); chiều cao bình quân lâm phần (Hvn); tiết diện ngang (G); trữ lượng lâm phần (M/ha);
Để xác định cấu trúc tầng cây cao, cần phân tích công thức tổ thành và chỉ số đa dạng của tầng cây gỗ Việc mô tả phân bố số cây theo đường kính (N/D) và chiều cao (N/H) là rất quan trọng Đồng thời, xác định tương quan giữa đường kính và chiều cao lâm phần (D/H) cũng góp phần vào việc hiểu rõ hơn về cấu trúc rừng Cuối cùng, tính toán độ tàn che của rừng (P) sẽ giúp đánh giá tình trạng sinh thái của khu rừng.
2.3.3 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của các trạng thái rừng
- Các chỉ số mật độ tái sinh, thành tổ thành tái sinh, phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao, tỷ lệ cây có triển vọng
2.3.4 Đánh giá đa dạng sinh học cây gỗ
- Tính toán các chỉ số đa dạng sinh học.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra hiện trạng rừng
Mục đích: Xây dựng bản đồ hiện trạng rừng trên hệ thống ô định vị, tỷ lệ 1/1000
+ Sử dụng ảnh vệ tinh có độ phân giải 2,5m x 2,5m
+ Ảnh phải được nắn chỉnh hình học và lọc bỏ loại các nhiễu khác nếu có
+ Giải đoán ảnh vệ tinh xây dựng bản đồ hiện trạng rừng theo phương pháp tự động dưới sự hỗ trợ của các phần mềm giải đoán ảnh
+ Sau khi có bản đồ giải đoán, điều tra bổ sung thực địa, hoàn thiện bản đồ hiện trạng
+ Diện tích lô nhỏ nhất thể hiện trên bản đồ là 0,5 ha
* Trường hợp đặc biệt không có ảnh vệ tinh
- Sử dụng phương pháp khoanh lô dốc đối diện kết hợp máy định vị toàn cầu GPS;
Sử dụng hệ thống điểm và theo dõi GPS để xác định ranh giới trạng thái, nhằm tạo bản đồ hiện trạng rừng với tỷ lệ 1/1.000, phục vụ cho việc theo dõi diễn biến rừng Bản đồ sẽ bao gồm ranh giới trạng thái, địa hình và các địa vật liên quan.
+ Biên tập bản đồ trạng thái rừng ÔĐV tỷ lệ 1/1000;
+ Hệ thống phân loại rừng: Theo thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT, ngày 10/6/2009
- Thiết lập Ô định vị (ÔĐV): Toạ độ ÔĐV được xác định theo mã số và tọa độ thiết kế của đề án
+ Mã số OODV sinh thái rừng quốc gia: 98
+ Tọa độ thiết kế theo đề án:
Toạ độ tâm ÔĐV (m): (UTM_Indian): X: 545.000 Y: 2.285.000
- Thiết lập ô nghiên cứu (ÔNC), ô đo đếm (ÔĐĐ):
Thiết lập ÔNC: Mỗi ÔĐV lập 03 ÔNC;
+ Diện tích mỗi ÔNC: 01 ha;
+ Hình dạng ÔNC: Hình vuông;
Trong mỗi ô đất nông nghiệp (ÔNC), có 25 ô đất đai (ÔĐĐ) được thiết kế liên tục, đánh số từ 1 đến 25 theo thứ tự từ trái sang phải và từ trên xuống dưới Mỗi ô đất đai có diện tích 400m² với kích thước 20m x 20m.
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống ÔĐĐ trong ÔNC
2.4.3 Điều tra thực vật rừng
- Đo đếm cây gỗ : Đo đường kính 1,3m:
+ Đơn vị đo cm, lấy đến 0,1cm;
+ Đo tất cả các cây gỗ D1.3 ≥ 6 cm;
- Đo chiều cao vút ngọn:
+ Khối lượng: 39 ÔĐĐ (các ÔĐĐ có số hiệu lẻ);
+ Dụng cụ đo: Bằng máy đo chiều cao Vertex, Blum-lei; TruPulse + Đơn vị đo chiều cao: mét (m), lấy đến 0,1 m;
- Xác định phẩm chất cây:
+ Nội dung: Xác định phẩm chất theo ba cấp (k ý hiệu là a, b, c):
2.4.4 Thu thập số liệu cây tái sinh
- Khối lượng: 15 ô mẫu trên 01 ÔĐV;
- Diện tích thu thập: 16 m 2 (kích thước 4x4m);
- Vị trí: Tại một trong các góc của ÔĐĐ có số 1, 5, 13, 21, 25
- Phương pháp đo đếm cây tái sinh:
+ Xác định tên loài cây tái sinh;
+ Đo chiều cao vút ngọn, phân theo 7 cấp (< 0,5 m; 0,5-1m; 1,1-1,5m; 1,6 -2,0m; 2,1-3,0m; 3,1-5,0m, > 5,0m);
+ Xác định chất lượng cây: Phân theo tốt, xấu, trung bình;
+ Xác định nguồn gốc: Theo chồi, hạt cho từng loài, trong phiếu ghi theo số cây
2.4.5 Thu thập số liệu cây bụi, thảm tươi
- Khối lượng: 09 ô mẫu trên 01 ÔĐV
- Diện tích đo đếm cây bụi, thảm tươi là 16 m 2 , kích thước 4x4m
- Vị trí: Tại một trong các góc của ÔĐĐ có số 1, 13, 25
- Phương pháp đo đếm cây bụi:
+ Chiều cao phân ba cấp (< 2m; 2 đến 4 m; 4,1 đến 6 m);
+ Đếm tổng số cây trong ô mẫu;
- Phương pháp đo đếm thảm tươi:
+ Xác định tên loài chủ yếu;
+ Xác định chiều cao trung bình;
+ Xác định độ nhiều của các loài thảm tươi được phân theo tiêu chuẩn Đrude (đã được gộp cấp), trong phiếu ghi theo ký hiệu
Trong phương pháp đo đếm thảm tươi, độ che phủ được phân chia thành bốn cấp độ: Cop1 với độ che phủ dưới 30% mặt đất, Cop2 từ 30% đến 60%, Cop3 từ 61% đến 90%, và Soc với độ che phủ từ 91% đến 100% Các cấp độ này được ghi nhận trên phiếu độ nhiều, phản ánh mức độ tăng dần của độ che phủ.
Xử lý số liệu
2.5 1 Tính các chỉ tiêu bình quân lâm phần a Chỉ tiêu mật độ (N/ha)
Tính toán số cây trong ÔNC thông qua số cá thể được đo đếm trong các ô đo đếm (ÔĐĐ) Tính theo công thức:
Trong nghiên cứu này, ni đại diện cho số lượng cây gỗ trong ÔĐĐ thứ i, trong khi Nô biểu thị mật độ cây trong ONC, với diện tích ONC là 1ha và mỗi ONC chứa 25 ÔĐĐ Chỉ tiêu đường kính bình quân, được tính bằng đường kính 1.3m (D1,3), phản ánh giá trị trung bình của đường kính tất cả các cây trong lâm phần.
Đường kính bình quân về tiết diện ngang của ONC được ký hiệu là Dg, trong đó N là tổng số cây trong ONC và di là đường kính tại vị trí 1.3 của cây thứ i Bên cạnh đó, cần tính chiều cao bình quân của các cây trong khu vực này.
1 d Chỉ tiêu tiết diện ngang
- Tính tổng tiết diện ngang trên ha: (G/ha)
Tổng tiết diện ngang được xác định như sau:
Trong đó, G ô tiết diện ngang của ô nghiên cứu, g i tiết diện ngang của cây thứ i trong ONC, n số cây trong ONC
Vì diện tích ONC = 1 ha, nên tổng tiết diện ngang của ONC cũng là tổng tiết diện ngang trên ha: G/ha = G ô
- Tiết diện ngang bình quân (gbq):
Trong đó: G/ha và N/ha là tiết diện ngang và số cây của ONC e Chỉ tiêu trữ lượng lâm phần (ONC)
- Tính thể tích cây đo đếm, áp dụng một trong các phương pháp sau:
Để tính thể tích cây theo tổ hình dạng, cần dựa vào Biểu chỉ số hình dạng từ Sổ tay điều tra quy hoạch rừng (trang 118-141) nhằm xác định tổ hình dạng Sau đó, sử dụng Biểu thể tích theo tổ hình dạng để tính thể tích cho từng cây đã đo Đối với những cây không đo cao, chiều cao sẽ được tính theo phương trình tương quan đã được xây dựng ở phần mục c.
+ Tính thể tích cây theo hình số thường f1.3 (được sử dụng khi không tìm được tổ hình dạng trong Sổ tay điều tra quy hoạch rừng)
Công thức tính tích số thể tích cây (Vi) được xác định bởi Vi = gi * hi * f1,3, trong đó gi là tiết diện ngang và hi là chiều cao vút ngọn của cây thứ i Hệ số f1,3 có giá trị tạm thời là 0.45 cho rừng tự nhiên và 0.5 cho rừng trồng.
(Đối với trường hợp đặc biệt cần có phương trình tính toán riêng như rừng ngập mặn và rừng khộp)
Mô Trong đó: M ô trữ lượng của ONC (1 ha), V i là thể tích cây thứ i, n là số cây trong ONC
Trong đó: S ô là diện tích ô (đơn vị m 2 )
2.5.2 Cấu trúc tầng cây cao a) Xác định công thức tổ thành
Hệ số tổ thành, theo Vũ Tiến Hinh, được xác định dựa trên các tiêu chí như tỷ lệ số cây, tỷ lệ tiết diện ngang, hoặc kết hợp giữa chúng cùng với tần suất xuất hiện Việc tính toán hệ số này phụ thuộc vào phương pháp thu thập số liệu trong ÔĐV.
Tổ thành loài cây được tính theo công thức của Daniel Mamillod:
IVi % là tỷ lệ tổ thành (độ quan trọng) của loài i so với tổng số loài
N i % là tỷ lệ số cây của loài i trong quần xã thực vật rừng, được tính theo công thức
Trong đó ni là số cây của loài i trong 1 ha; N là tổng số cây /ha
Gi% là tỷ lệ phần trăm của loài i trong tổng tiết diện ngang của quần xã thực vật Theo Daniel Marmilod, những loài có chỉ số IV ≥ 5% được coi là loài ưu thế trong tổ thành lâm phần Để xác định tổ thành theo nhóm gỗ, cần xếp loại nhóm gỗ dựa trên bảng phân loại theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 và bảng điều chỉnh phân loại gỗ tại Quyết định 334-CNR ngày 10/5/1988 của Bộ Lâm nghiệp Ngoài ra, việc xác định chỉ số đa dạng tầng cây gỗ cũng là một yếu tố quan trọng.
- Xây dựng danh lục loài cây gỗ với các thông tin: Tên phổ thông, tên khoa học, các loài nguy cấp, quý, hiếm
Danh lục loài cây gỗ (được xây dựng cho ODV):
Sách đỏ Việt Nam: Sử dụng tái bản năm gần nhất
Sách đỏ IUCN: Sử dụng Danh lục đỏ hàng năm
Nghị định 32/2006/ND-CP ngày 30/3/2006 của Chính phủ quy định về việc quản lý các loài thực vật rừng và động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Trong trường hợp Nghị định này được sửa đổi, cần tham khảo văn bản ban hành mới nhất để đảm bảo thông tin chính xác và cập nhật.
- Chỉ số giá trị quan trọng (Importance Valum Index-IVI)
Công thức IVI được tính bằng RD cộng với RF và RBA, trong đó RD đại diện cho mật độ tương đối, RF là tần suất xuất hiện tương đối, và RBA là tiết diện ngang tương đối tại vị trí D1,3 của thân cây.
Mật độ tương đối là tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể của một loài nghiên cứu so với tổng số cá thể của tất cả các loài trong ô mẫu.
Tần suất xuất hiện tương đối là tỷ lệ phần trăm số lượng cá thể của một loài nghiên cứu so với tổng số cá thể của tất cả các loài có mặt trong ô mẫu.
Diện tích tiết diện thân tương đối là một yếu tố quan trọng để xác định ưu thế loài, phản ánh diện tích mặt đất mà các cá thể của loài chiếm hữu để phát triển trên một hiện trường cụ thể (Honson và Churchbill 1961, Rastogi, 1999, Sharma, 2003) Tiết diện thân cây được tính tại vị trí D 1,3 m.
- Xác định chỉ số phong phú loài
+ Sử dụng chỉ số phong phú Fisher
S = α + α, trong đó S đại diện cho tổng số loài trong mẫu, N là tổng số lượng cá thể, và α là chỉ số đa dạng loài trong quần xã thực vật Để tính toán α, có thể áp dụng một trong hai phương pháp sau.
Chạy giá trị alpha* từ 0 đến 300 với bước nhảy 0,001, sau đó tính toán S* tương ứng Tiếp theo, xác định giá trị alpha* mà có độ chênh lệch |S*-S| hoặc (S*-S)^2 nhỏ nhất Giá trị này chính là chỉ số đa dạng sinh học Fisher mà chúng ta cần tìm.
- Sử dụng phương pháp tính gần đúng (xấp xỉ) theo công thức biến đổi của Magurran, 1991 như sau:
S/N = {(1-x)/x}*{-ln(1-x) } (1) α = N(1-x)/x (2) Trong đó: S là tổng số loài trong mẫu,
N là tổng số cá thể trong mẫu, α là chỉ số đa dạng Fisher, và x là số thực nghiệm nhỏ hơn 1 để kết quả bên phải gần bằng bên trái của phương trình (1) Sau khi tính giá trị x bằng phương pháp gần đúng, ta thay vào phương trình (2) để tính α.
+ Sử dụng chỉ số phong phú Menhinick
Trong đó: N là số cá thể của tất cả các loài trong ONC, m là số loài thống kê được R càng lớn thì mức độ phong phú loài càng cao
+ Sử dụng chỉ số Margalef:
Trong đó: N là số cá thể của tất cả các loài trong ONC, m là số loài thống kê được R càng lớn thì mức độ phong phú loài càng cao
Hàm số liên kết Shannon – Wiener (H) được sử dụng để đánh giá sự đa dạng sinh học trong ONC, thông qua chỉ số H, giúp xác định sự giàu có về thành phần loài và sự phong phú về số lượng cá thể của các loài.
KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU
Đặc điểm tự nhiên
3.1.1.Vị trí, địa hình, địa mạo
Vị trí thiết lập Ô định vị nghiên cứu sinh thái 98 thuộc Tiểu khu 236, xã
Thượng Tiến, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình
Tọa độ UTM_VN2000 tại X = 544.381 và Y = 2.285.434 nằm trên dãy núi Bãi Lai, nơi có địa hình núi trung bình với độ cao khoảng 750 m so với mặt nước biển Địa hình ở đây bao gồm các dải núi độc lập và các dãy núi phụ, chủ yếu có hướng Tây Bắc - Đông.
Khu vực nghiên cứu có địa hình hiểm trở với nhiều dãy núi nhỏ và khe suối, dẫn đến việc bị chia cắt mạnh Độ dốc trung bình của khu vực này đạt khoảng 30 độ.
35 0 nhiều nơi có độ dốc tới 40- 45 0
Khu vực rừng bảo tồn Thượng Tiến nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có các đặc trưng cơ bản sau
- Khí hậu: Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông lạnh và khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa hè nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 9
Chế độ nhiệt của khu vực này có nhiệt độ bình quân năm đạt 23,5°C, với nhiệt độ trung bình mùa nóng là 25°C và mùa lạnh là 20°C Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm dao động từ 5-8°C Nhiệt độ cao nhất từng ghi nhận lên tới 41°C vào tháng 6, trong khi nhiệt độ thấp nhất có thể giảm xuống 0°C vào tháng 1 Tại các thung lũng, có những ngày nhiệt độ hạ dưới 10°C trong năm.
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân năm là 1.400-1.600mm, mưa tập trung vào các tháng 7, 8 (chiếm khoảng 80% lượng mưa trong năm)
Chế độ ẩm tại khu vực này có độ ẩm bình quân năm đạt 75%, với mức cao nhất vào tháng 3-4 lên tới 80% và thấp nhất vào tháng 1-2 là 65% Lượng bốc hơi bình quân hàng năm là 1.300mm Trong những tháng khô hạn, độ ẩm có thể giảm xuống còn 40-50%, gây ra tình trạng nóng bức và khô, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của cây cối.
Khu vực Thượng Tiến chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính: gió Đông Bắc vào mùa khô và gió Đông Nam vào mùa mưa Gió Đông Bắc, thường mang theo không khí lạnh, có thể gây hại cho cây cối trong những ngày khô hanh với độ ẩm thấp.
Hệ thống sông suối trong vùng có đặc điểm ngắn và độ dốc cao, dẫn đến dòng chảy mạnh trong mùa mưa và nguy cơ lũ lụt Trong khu vực ô định vị, hai hệ thủy chính là sông Bôi, chảy theo hướng đông nam và đổ vào sông Đáy Hệ thống suối phía nam ô định vị cung cấp nước sạch và hỗ trợ sản xuất nông nghiệp cho xã.
Điều kiện khí hậu và thuỷ văn tại khu vực Ô định vị sinh thái rừng Quốc gia rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của các loài động thực vật rừng.
Đá mẹ là yếu tố quan trọng trong địa chất của huyện Kim Bôi, nơi mà đất đai khu vực nghiên cứu sinh thái được hình thành từ sự phong hóa của các loại đá mẹ như sa thạch, phiến thạch và các đá biến chất khác.
- Một số loại đất chính:
+ Đất Feralít mầu vàng trên núi thấp: Phân bố ở độ cao từ 300 - 700m, hình thành trên các loại đá mẹ sa thạch, phiến thạch
Đất đá vôi thung lũng có tính kiềm, được hình thành từ quá trình phong hóa của đá sa thạch, đá biến chất và đá vôi Loại đất này rất thích hợp cho việc trồng một số loại cây ăn quả có múi như cam, chanh và bưởi.
Theo báo cáo về Quy hoạch bảo tồn và Phát triển bền vững Khu BTTN Thượng Tiến giai đoạn 2013 - 2020, độ che phủ rừng đạt 90,5% tổng diện tích tự nhiên Thảm thực vật rừng được phân loại thành 8 kiểu chính và phụ.
Rừng kín lá rộng thường xanh trên núi đất dưới 700m là một kiểu thảm thực vật phổ biến trong khu vực, mặc dù đã bị tác động Thành phần thực vật chủ yếu bao gồm các loài như Đen lá rộng, Ba bét, Kháo xanh, Ba soi và Lá nến Dưới tán rừng, thảm thực vật tươi tốt phát triển mạnh, trong khi lớp cây tái sinh và cây bụi lại kém phát triển hơn.
3.1.5 Cấu trúc rừng và tổ thành thực vật
- Tầng vượt tán có những loài Đen lá rộng, Kháo xanh, Ngõa khỉ tạo thành tầng tán không liên tục với chiều cao từ 10 – 20m
- Tầng ưu thế sinh thái gồm rất nhiều loài tham gia tạo thành tầng tán liên tục Gồm các loài Ba soi, Ba bét, Hoắc quang,
3 2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Theo thống kê năm 2017 tại UBND xã Thượng Tiến, tổng dân số là 1.098 người, trong đó dân tộc Mường chiếm 97% (1.041 người), dân tộc Kinh chiếm 2% (20 người) và phần còn lại thuộc về dân tộc Thái Mật độ dân số đạt 20 người/km² với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên ổn định ở mức 1% Cộng đồng dân cư tại đây có truyền thống định canh, định cư, sống chủ yếu bằng nền văn minh lúa nước và tổ chức nhiều lễ hội văn hóa truyền thống đặc sắc của vùng cao Tây Bắc.
Dân số trong khu vực nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng, với mỗi dân tộc có phong tục và phương thức canh tác riêng Sự khác biệt này ảnh hưởng đến tài nguyên thiên nhiên và rừng trong khu vực Do đó, cần có chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ cộng đồng phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
3.2.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp
3.2.2.1 Sản xuất nông nghiệp a)Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp: Đây là ngành sản xuất chủ đạo trong xã nhưng do diện tích đất nông nghiệp ít, năng suất cây trồng thấp, nhiều nơi chỉ có 1 vụ nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn Diện tích cây trồng trong xã: Lúa 243,2ha, năng suất đạt 41 tạ/ha, sản lượng 997 tấn; Ngô 24,7 ha, năng suất 40 tạ/ha, sản lượng 99,8 tấn; Sắn 70 ha; Lạc 2,5 ha và Mía 4,6 ha
Trong xã, chăn nuôi đa dạng với 360 con trâu, 250 con bò, 2.700 con lợn, 120 con dê và 16.000 con gia cầm Ngoài ra, một số hộ còn nuôi thêm 40 con nhím và 100 tổ ong để phát triển kinh tế Các loài vật nuôi, đặc biệt là trâu và bò, chủ yếu được chăn thả tại các bãi cỏ ven rừng và thả rông trong rừng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Diện tích rừng trong Ô định vị
Bảng 4.1: Diện tích Ô định vị sinh thái 98 Stt Loại đất, loại rừng Ký hiệu Diện tích (ha)
1.1 Rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX giàu TXG 12,49 1.2
Rừng gỗ tự nhiên núi đất LRTX trung bình TXB 84,83
II Đất chƣa có rừng 2,68
1 Đất có cây gỗ tái sinh núi đất DT2 2,68
Kết quả bảng trên cho thấy Ô định vị có độ che phủ 97,3% diện tích (100ha), trong đó:
- Đất có rừng: 97,32 ha chiếm 97,32 % diện tích ô định vị
Ô định vị sinh thái rừng Quốc gia 98 có diện tích 2,68 ha, chiếm 2,7% tổng diện tích, và đặc trưng bởi trạng thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình.
Hình 4.1A: Hiện trạng rừng nền ảnh vệ tinh - OĐV 98
Hình 4.1B: Hiện trạng rừng OĐV 98
Kết quả phân tích xử lý số liệu
4.2.1 Các chỉ tiêu bình quân
Theo hướng dẫn của Viện ĐTQH rừng, việc áp dụng biện pháp kỹ thuật và xử lý số liệu Ô định vị đã cho kết quả phân tích và tổng hợp các chỉ tiêu bình quân một cách hiệu quả.
3 Ô nghiên cứu thuộc Ô định vị sinh thái rừng Quốc gia 98 như sau:
Bảng 4.2: Các chỉ tiêu định lƣợng Ô định vị sinh thái Quốc gia 98
Qua kết quả tính toán các chỉ tiêu lâm học bình quân 3 Ô nghiên cứu trong bảng 03 cho thấy:
Các chỉ tiêu bình quân lâm phần bao gồm mật độ cây gỗ đạt 1.098 cây/ha, đường kính bình quân là 17,1 cm, chiều cao vút ngọn trung bình 10,3 m, tiết diện ngang trung bình 25,3 m²/ha và trữ lượng bình quân 186,7 m³/ha.
ÔNC II đạt các chỉ tiêu bình quân lâm phần ấn tượng với mật độ cây gỗ là 742 cây/ha, đường kính bình quân đạt 24,8 cm, chiều cao vút ngọn trung bình là 10,3 m, tiết diện ngang bình quân 35,9 m²/ha và trữ lượng bình quân lên tới 305,9 m³/ha.
ÔNC III có các chỉ tiêu bình quân lâm phần nổi bật, bao gồm mật độ cây gỗ đạt 767 cây/ha, đường kính bình quân là 20,8 cm, chiều cao vút ngọn trung bình 10,7 m, tiết diện ngang bình quân 26,1 m²/ha và trữ lượng bình quân lên tới 213,1 m³/ha.
4.2.2 Cấu trúc tầng cây cao
4.2.2.1 Tổ thành thực vật (IV%) Để biểu thị tổ thành rừng của ÔĐVST 98 đã sử dụng công thức tổ thành cho cả hai đối tượng tầng cây cao và tầng cây tái sinh Tập hợp kết quả đo đếm về số cây và đường kính của các ô đo đếm cho từng ô nghiên cứu để tính tổ thành thực vật được kết quả tại các bảng sau:
Bảng 4.3A: Tổ thành thực vật Ô nghiên cứu I
TT Tên loài N Tổ thành
Bảng 4.3B: Tổ thành thực vật Ô nghiên cứu II
TT Tên loài N Tổ thành
Bảng 4.3C: Tổ thành thực vật Ô nghiên cứu III
TT Tên loài N Tổ thành
Các loài ưu hợp thực vật trong các ô nghiên cứu
- Đen lá rộng (7,7) + Ớt sừng (5,7) + Còng (4,9) + Táu muối (5,1) +
Kháo xanh (3,1) + Sồi phảng (11,2) + Chân chim (3,2)+ Dâu da đất (2,2) + Nóng lá nâu (1,8)+ Sung rừng quả nhỏ (2.2) + Loài khác (52,9)
- Ba soi lông tơ (9,5) + Ba bét (9,8) + Ngõa khỉ (5,0)+ Kháo (6,7) + Đẻn lông (4,7) + Đen lá rộng (4,3) + Sung (2,9) + Nóng (2,7) + Dẻ kết (3,9) + Thẩu tấu (3.5) + Loài khác (46,7)
- Đen lá rộng (10,5) + Kháo (8,2) + Dung sạn (4,9) + Ớt sừng (3,5) +
Sung (4,4) + Ba soi lông tơ (3,9) + Dẻ cau (2,9) + Cứt ngựa (2,0) + Ba bét (2,5) + Sồi núi (9,9) + Loài khác (47,5)
Kết quả từ ba bảng tổ thành thực vật thuộc Ô định vị sinh thái rừng Quốc gia 98 cho thấy sự đa dạng phong phú của thành phần loài ưu hợp thực vật Trung bình, mỗi ô nghiên cứu ghi nhận hơn 90 loài thực vật Các loài thực vật xuất hiện chủ yếu nằm trong danh lục thực vật của vùng Tây Bắc, bao gồm các loài như Kháo, Ba soi lông tơ, Ba bét, và Ngõa khỉ.
4.2.2.2 Chỉ số đa dạng sinh học tầng cây gỗ Để tính toán các chỉ số đa dạng trên các ô nghiên cứu thuộc Ô định vị sinh thái rừng Quốc gia 98 đã áp dụng chỉ số phong phú loài của Magurran, mức độ đa dạng loài của Shannon-Wiener, chỉ số ưu thế của Simpson và kích thước loài (Margalef ) Kết quả được thống kế dưới đây:
Bảng 4.4: Chỉ số đa dạng tầng cây gỗ các ô nghiên cứu
TT Chỉ số ÔNC I ÔNC II ÔNC III
1 Chỉ số phong phú Menhinick (R) 2,84 3,38 3,25
4 Chỉ số ưu thế Simpson (D) 0,96 0,96 0,96
Kết quả tính toán trên cho thây chỉ số đa dạng sinh học và chỉ số phong phú ở cả 3 ô nghiên cứu có tính đa dạng loài cao
4.2.2.3 Phân bố N/Hvn, N/D 1.3 a) Phân bố N/ Hvn:
Tập hợp số cây theo cấp chiều cao và vẽ biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao giúp nghiên cứu quy luật phân bố N/Hvn của các loài cây gỗ Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua các biểu đồ phân bố, cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phân bố chiều cao của cây trong từng ô nghiên cứu.
Hình 4.2: Biểu đồ Phân bố N - Hvn ÔNC I; ÔNC II; ÔNC III
Phân bố N-Hvn cho thấy sự giảm dần số lượng cá thể theo chiều cao, với sự tập trung chủ yếu ở khoảng 8 - 15 m, cho thấy rừng vẫn đang trong giai đoạn phát triển Sự tập trung lớn số lượng cá thể ở một cấp chiều cao cụ thể dẫn đến cạnh tranh về ánh sáng và không gian dinh dưỡng, gây ra quá trình đào thải tự nhiên.
Tập hợp số cây theo cấp đường kính và vẽ biểu đồ phân bố số cây theo cấp đường kính giúp chúng ta hiểu rõ quy luật phân bố N/D của các loài cây gỗ Kết quả nghiên cứu được thể hiện qua biểu đồ phân bố, cho thấy sự phân bố của các cây gỗ theo kích thước đường kính.
Hình 4.3: Biểu đồ Phân bố N/D 1.3 ÔNC I; ÔNC II; ÔNC III
Phân bố N-D1.3 trong các ô nghiên cứu tuân theo quy luật phân bố khoảng cách và giảm dần Đường cong biểu diễn giữa phân bố lý thuyết và thực nghiệm có xu hướng tiệm cận, thể hiện rõ ràng trong các ô này.
Trong ba ÔNC, ÔNC I và III là trạng thái rừng trung bình với sự giảm mạnh số lượng cá thể ở cấp kính 30 đến 50 Số lượng cá thể từ cấp kính 8 đến 26 ổn định, nhưng giảm dần từ cấp kính 30 đến 40 Ngược lại, ÔNC II là loại rừng giàu, với số lượng cá thể chiếm ưu thế từ cấp kính 8 đến 30, nhưng giảm dần từ cấp kính 32 đến 88 Điều này cho thấy sự đa dạng trong sinh trưởng của cây rừng tự nhiên.
Mối quan hệ giữa đường kính và chiều cao của cây rừng rất chặt chẽ, phản ánh đặc trưng riêng của từng lâm phần Từ mối quan hệ này, có thể xác định chiều cao tương ứng cho từng cỡ kính mà không cần đo đạc toàn bộ Việc mô phỏng quy luật cấu trúc này giúp tối ưu hóa quy trình nghiên cứu và quản lý rừng.
D1.3- Hvn có thể sử dụng nhiều hàm số ứng dụng, do đó việc lựa chọn hàm số thích hợp khá quan trọng thông qua hệ số tương quan
Hình 4.4: Biểu đồ Tương quang D 1,3 – H vn ÔNC I y = 6,0459ln(x) - 6,1762
Biểu đồ tương quan D1,3 - Hvn
Hình 4.5: Biểu đồ Tương quang D 1,3 – H vn ÔNC II y = 5,4338ln(x) - 3,4634
Biểu đồ tương quan D1,3 - Hvn
Biểu đồ tương quan D1,3 - Hvn
Biểu đồ Tương quan D 1.3 – H vn ÔNC III cho thấy mối quan hệ giữa D 1.3 và H vn trong các ô nghiên cứu Việc áp dụng phương trình Logarithmic để mô phỏng tương quan này đã cho kết quả với hệ số tương quan R đáng chú ý.
- Hvn của các ô nghiên cứu đạt R 2 = 0,5 - 0,7
4.2.4 Độ tàn che của rừng:
Dựa trên các trắc đồ ngang của tầng tán cây gỗ tại 03 ô nghiên cứu trong ÔĐVNCST 98 tại KBTTN Thượng Tiến, chúng tôi đã tiến hành tính toán diện tích che phủ của tầng cây gỗ cho từng ô và xác định độ tàn che trung bình cho lâm phần Kết quả tính toán được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng 4.5: Tổng hợp độ tàn che các ô nghiên cứu
TT ÔĐVNCST 98 DT đo đếm(m 2 /ô) DT tán (m 2 ) Độ tàn che
Cấu trúc tái sinh rừng tự nhiên
Tái sinh là một quá trình tuân theo các quy luật nhất định, phụ thuộc vào đặc điểm sinh học và sinh thái của từng loài cây, cũng như điều kiện địa lý và hoàn cảnh rừng Những quy luật này là cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp kỹ thuật nhằm thúc đẩy quá trình tái sinh hiệu quả Kết quả tổng hợp về mật độ cây tái sinh được thể hiện qua bảng dưới đây.
Bảng 4.6: Thống kê mật độ tái sinh ÔĐVNCST 98
Số lƣợng ÔTS điều tra
DT ô Tái sinh (m 2 /ô) N/ÔNC N/ha
Mật độ cây tái sinh dưới tán Rừng trung bình tại KBTTN Thượng Tiến đạt mức cao, với ÔNC I có mật độ 24.500 cây/ha, trong khi ÔNC II chỉ có 5.500 cây/ha, dẫn đến trung bình 13.625 cây/ha cho ba ô nghiên cứu Tuy nhiên, với mật độ tái sinh này, quá trình phục hồi rừng trong tương lai sẽ không được đảm bảo.
Mối quan hệ giữa lớp cây mẹ và lớp cây tái sinh trong lâm phần là rất quan trọng Kết quả điều tra cho thấy lớp cây tái sinh thể hiện khoảng 80-90% số loài có trong tầng cây gỗ, với 10-20% số loài mới xuất hiện nhờ quá trình gieo giống tự nhiên Mỗi ô điều tra có từ 8-20 loài thực vật khác nhau, chủ yếu là cây định vị của rừng nguyên sinh Thành phần cây tái sinh chủ yếu bao gồm Đen lá rộng, Kháo xanh, và các loài Dẻ, Nóng, Thôi chanh Đánh giá mật độ tái sinh theo chiều cao là cần thiết để xác định khả năng phục hồi bền vững của rừng, đặc biệt là lớp cây tái sinh có triển vọng cao (>1m).
Hình 4.7: Phân bố N-H cây tái sinh trong ÔĐV
Bảng 4.7: Phân bố số cây theo cấp chiều cao Cấp H
1,1- 1,5 1,6-2 2,1-3 3,1-5 >5 Tổng ÔNC_I 160 11 6 2 6 8 3 196 ÔNC_II 9 11 5 2 8 9 - 44 ÔNC_III 54 47 16 10 16 22 2 87
Kết quả điều tra cây tái sinh tại 15 ô cho thấy hơn 50% cây tái sinh có chiều cao dưới 1 mét, với sự ổn định dần ở các cấp chiều cao tiếp theo Tuy nhiên, sự phân bố này không đồng nhất giữa các ô nghiên cứu.
Chất lượng cây tái sinh được đánh giá dựa trên hai khía cạnh chính: phẩm chất và nguồn gốc Phẩm chất cây tái sinh được phân loại thành ba mức: Tốt, Trung bình và Xấu Nguồn gốc cây tái sinh bao gồm chồi và hạt.
Kết quả tổng hợp từ 15 ô nghiên cứu tái sinh cho thấy phẩm chất cây tái sinh đạt tốt và trung bình với 104 cây, chiếm hơn 83.3% tổng số cây Tuy nhiên, tỷ lệ này có sự biến động giữa các ô nghiên cứu; cụ thể, ô NC_III và II đạt 85.7%, trong khi ô NC_I có tỷ lệ thấp hơn một chút, khoảng 78.8%.
Cây tái sinh có nguồn gốc từ hạt chiếm tỷ lệ cao trong các ô điều tra, với mức trung bình đạt 79.0% trên ba ô nghiên cứu, dao động từ 57.6% đến 94.3% tổng số cây tái sinh.
Bảng 4.8: Tổng hợp chất lƣợng cây tái sinh
TT Phẩm chất ÔNC_I ÔNC_II ÔNC_III Tổng
TT Nguồn gốc ÔNC_I ÔNC_II ÔNC_III Tổng
Tổng 196 100 44 100 87 100 327 100 e) Số lượng cây tái sinh triển vọng
Kết quả thống kê cho thấy cây tái sinh ở Ô ĐVNCST 98 có mật độ thấp và không đều, nhưng tỷ lệ cây tái sinh có phẩm chất tốt và nguồn gốc từ hạt vẫn chiếm ưu thế Điều này rất quan trọng cho quá trình phục hồi rừng trong tương lai.
Bên cạnh mật độ và chất lượng cây tái sinh, lớp cây triển vọng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi rừng.
Bảng 4.9: Thống kê số lƣợng cây tái sinh triển vọng
Phẩm chất ÔNC-I ÔNC-II ÔNC-III N/ha
Số lượng cây tái sinh có triển vọng ở các ô nghiên cứu đạt tỷ lệ từ 1.500 đến 4.250 cây/ha, với trung bình 2.458 cây/ha cho 3 ô nghiên cứu, cho thấy đây là nguồn cây bổ sung quan trọng cho lớp cây gỗ tầng trên trong tương lai Tuy nhiên, ô nghiên cứu 1 và 2 có mật độ cây tái sinh triển vọng thấp, ảnh hưởng đến việc hình thành lớp cây kế cận sau này Về chiều cao bình quân cây bụi, thảm thực vật phân bố ở tầng B và C theo mô tả cấu trúc rừng, cho thấy lớp cây bụi chỉ có 5 loài xuất hiện trong 3 ô nghiên cứu, cho thấy sự đơn giản trong thành phần loài.
Cây bụi tại khu vực nghiên cứu có sự phân bố rõ rệt với 35 cá thể ở chiều cao dưới 2m và 8 cá thể ở chiều cao từ 2-4m, trong khi không ghi nhận cá thể nào ở chiều cao 4-6m Qua việc áp dụng công thức tính chiều cao, chúng tôi xác định rằng chiều cao trung bình của cây bụi ở các ô NC-I, II và III đều đạt 1.0m, tương tự như chiều cao trung bình của cây bụi tại ô ĐVNCST cũng là 1.0m.
Bảng 4.10: Thống kê cấp chiều cao tầng cây bụi
TT Tên loài Tổng