Sau hai năm học tập và rèn luyện, tôi đã tích lũy được vốn kiến thức quý báu và tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc cho một số trạng thái rừng tạ
Trên Thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng
1.1.1.1 Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là hình thức biểu hiện bên ngoài mối quan hệ qua lại bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường sống Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã, từ đó có cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp
Trong một thời gian dài, vấn đề duy trì và điều tiết cấu trúc rừng đã được bàn luận và có rất nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt là việc đề xuất các tác động xử lý đối với rừng tự nhiên nhiệt đới Nhiều phương thức lâm sinh ra đời và được thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới như phương thức chặt cải thiện tái sinh (RIF, 1927), phương thức rừng đều tuổi của Malaysia (MUS, 1945)
Baur G.N (1962) đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên Theo tác giả, các phương thức xử lý đều có hai mục tiêu rõ rệt: “Mục tiêu thứ nhất là nhằm cải thiện rừng nguyên sinh vốn thường hỗn loài và không đồng tuổi bằng cách đảo thải những cây quá thành thục và vô dụng để tạo không gian thích hợp cho các cây còn lại sinh trưởng Mục tiêu thứ hai là tạo lập tái sinh bằng cách xúc tiến tái sinh, thực hiện tái sinh nhân tạo hoặc giải phóng lớp cây tái sinh sẵn có đang ở trạng thái ngủ để thay thế cho những cây đã lấy ra khỏi rừng trong khai thác hoặc trong chăm sóc nuôi dưỡng rừng sau đó” Từ đó, Baur G.N đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều tuổi và các phương thức xử lý cải thiện rừng mưa
Catinot (1965) nghiên cứu cấu trúc hình thái rừng thông qua việc biểu diễn các phẩu đồ rừng, nghiên cứu các nhân tố cấu trúc sinh thái thông qua việc mô tả phân loại theo các khái niệm dạng sống, tầng phiến
Odum E.P (1971) đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, năm 1935 Khái niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu trúc trên quan điểm sinh thái học
Khi nghiên cứu tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục, Evans, J
(1984) xác định cơ tới 70 – 100 loài cây gỗ trên 1 ha, nhưng hiếm có loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài
1.1.1.2 Về mô tả hình thái cấu trúc rừng
Nguyễn Duy Chuyên (1988), đã khái quát đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết Kết quả nghiên cứu này làm cơ sở định hướng cho các giải pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên liệu
Kraft (1884) đã tiến hành phân chia những cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trưởng, kích thước và chất lượng của cây rừng Phân cấp của Kraft phản ánh được tình hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng nhưng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi
Richards P W (1952) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái Theo tác giả Richards P W, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phân thực vật đều thuộc thân gỗ Rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có ba tầng, ngoại trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ) Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây “Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây”
Khi nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên nhiệt đới, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau trong việc xác định tầng thứ, trong đó có ý kiến cho rằng, kiểu rừng này chỉ có một tầng cây gỗ mà thôi Richards P W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao là 6 –12m, 12–18m, 18-24m, 24-30m, 30-36m và 36-42m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao Odum E.P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto - Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả
Như vậy, hầu hết các tác giả khi nghiên cứu về tầng thứ thường đưa ra những nhận xét mang tính định tính, việc phân chia tầng thứ theo chiều cao mang tính cơ giới nên chưa phản ánh được sự phân phức tạp của rừng tự nhiên nhiệt đới
1.1.1.3 Về nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Khi chuyển đổi từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã sử dụng các công thức và hàm toán học để mô hình hoá cấu trúc rừng, xác định mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc của rừng
Raunkiaer (1934) đã đưa ra công thức xác định phổ dạng sống chuẩn cho hàng nghìn loài cây khác nhau Theo đó, công thức phổ dạng sống chuẩn được xác định theo tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cá thể của tong dạng sống so với tổng số cá thể trong một khu vực Để biểu thị tính đa dạng về loài, một số tác giả đã xây dựng các công thức xác định chỉ số đa dạng loài như Simpson (1949), Margalef (1958), Menhinik (1964),…và để đánh giá mức độ phân tán hay tập trung của các loài, đặc biệt là lớp thảm tươi, Đrude đã đưa ra khái niệm độ nhiều và cách xác định Đây là những nghiên cứu mang tính định lượng nhưng xuất phát từ những cơ sở sinh thái nên được đề tài lựa chọn và vận dụng
Các nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng còn phát triển mạnh mẽ khi các hàm toán học được đưa vào sử dụng để mô phỏng các quy luật kết cấu lâm phần Rollet B (1972) L’ đã biểu diễn mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính bằng các hàm hồi quy, phân bố đường kính ngang ngực, đường kính tán bằng các dạng phân bố xác suất, Belly (1973) sử dụng hàm Weibull để mô hình hoá cấu trúc đường kính thân cây loài Thông,…Tuy nhiên, việc sử dụng các hàm toán học không thể phản ánh hết những mối quan hệ sinh thái giữa các cây rừng với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh, nên các phương pháp nghiên cứu cấu trúc rừng theo hướng này không được vận dụng trong đề tài
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo Cơ sở phân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng Đại diện cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809), Shimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973)… Nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướng này, khi nghiên cứu ngoại mạo của Quần xã thực vật đã không tách khỏi hoàn cảnh sinh thái của nó, từ đó hình thành xu hướng phân loại rừng theo ngoại mạo sinh thái
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng Tuy nhiên, chưa thấy một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên và rừng trên núi Cấu trúc rừng trên núi thường được đề cập cùng với các đối tượng rừng khác nên chưa làm nổi bật những đặc điểm khác biệt về cấu trúc của loại rừng này so với các loại rừng khác Do đó, cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật cho rừng trên núi vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ
1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tại CHDCND Lào
1.2.1 Thực trạng phát triển lâm nghiệp ở nước Lào
Quốc gia Lào có diện tích 03 loại rừng là 15.954.601ha (chiếm 47% diện tích cả nước) Trong đó, rừng tự nhiên của nước Lào đã phân chia thành
3 loại chính như sau: Rừng Đặc dụng có diện tích 4.705.809 ha, rừng Phòng hộ có diện tích 8.045.169 ha, và rừng sản xuất có diện tích 3.203.623 ha Diện tích rừng tập trung chủ yếu ở 17 tỉnh Thông tin về diện tích rừng ở quốc gia Lào được trình bày chi tiết trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Diện tích 03 loại rừng của NCHDCND Lào
TT Tên tỉnh Tổng DT Phần trăm (%)
(ha) Rừng PH Rừng ĐD Rừng SX
Nguồn: Bộ Nông Lâm nghiệp, 2012
Kết quả bảng 1.1 cho thấy tỉnh Loungphabang có diện tích lớn nhất bởi vì diện tích rừng Phòng hộ chiếm tỷ lệ nhiều hơn, tổng diện tích rừng là 1.478.200ha, chiếm 9,02%; đứng thứ hai là tỉnh Xiengkhoang có diện tích 1.316.300ha chiếm 8,14%; tỉnh Bolykhamxay đứng thứ 04 có diện tích 1.223.101ha chiếm 7,54% và tiếp theo là các tỉnh khác
Năm (1982 - 1992), Cục Lâm nghiệp thuộc bộ Nông - Lâm nghiệp Lào tiến hành nghiên cứu, đánh giá tài nguyên rừng quốc gia cũng chia rừng nước Lào thành 3 loại rừng như: rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Ngoài ra con phân kiểu rừng thành 7 kiểu rừng chính như: (1) Kiểu Rừng thường xanh; (2) Rừng thường xanh vùng thấp; (3) Rừng thường xanh vùng cao; (4) Rừng thường xanh khô; (5) Rừng thường xanh khô vùng thấp; (6) Rừng nửa rụng lá; (7).Rừng nửa rụng lá vùng thấp Trong các kiểu rừng trên, Rừng nửa rụng lá chiếm diện tích lớn nhất là 35% diện tích cả nước; tiếp đến là các trạng thái rừng khác là Rừng thường xanh và Rừng thường xanh khô chiếm 5% diện tích cả nước; Rừng khộp chiếm 5% diện tích cả nước và Rừng lá kim chiếm 2% (Bộ Nông lâm nghiệp, 2012)
Năm 1959, Jules Vidal - người Pháp đầu tiên đã xây dựng hệ thống phân loại thảm thực vật trên quan điểm sinh thái phát sinh, tác giả phân chia rừng Lào thành 12 loài thảm thực vật rừng trong đó 7 loại ở vùng thấp và 5 loài ở vùng cao Hệ thống phân loại này đặt nền móng cho việc phân chia rừng tự nhiên nước Lào một cách tổng quát, các đơn vị cấp thấp phục vụ mục đích kinh doanh rừng chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ
Giai đoạn 1982-1992, Cục Lâm nghiệp thuộc bộ Nông Lâm nghiệp của Lào đã vận dụng hệ thống phân loại rừng của Jules Vidal (1959) để phân loại trạng thái của rừng thành 7 loại rừng
Năm 2007, Cục Lâm nghiệp thuộc bộ Nông Lâm nghiệp đã phân loài trạng thái hiện tại rừng thành 3 loại rừng, dựa vào cấu trúc tổ thành loài cây mục đích các tác giả đã xác định các loại hình xã hợp thực vật phục vụ mục đích kinh doanh, điều chế rừng
Có thể thấy việc phân chia trạng thái hiện tại của rừng ở nước Lào là rất cần thiết trong công tác nghiên cứu và trong sản xuất kinh doanh rừng Tuỳ mục tiêu cụ thể mà xây dựng các phương pháp phân chia khác nhau, nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các đặc điểm của đối tượng cần quan tâm
1.2.2 Một số văn bản của nước Lào trong lĩnh vực bảo vệ tài nguyên rừng Để tăng cường công tác bảo vệ rừng bằng pháp chế, Ở nước Lào cũng có những văn bản nghị định liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng, tiêu biểu như:
Luật bảo vệ động vật hoang dã số 100/2007/QH, ngày 24/12/2007 Luật này quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã, phát triển và sử dụng các loại động vật thường
Luật Bảo vệ môi trường số 48/2001/TTg, ngày 4/6/2001 Luật này quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong bảo vệ môi trường
Tháng 10/1989 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 117/CT.HĐBT Về việc quản lý, sử dụng đất và tài nguyên rừng Nghị định đã nhận định phải bắt đầu thử nghiệm và tiến hành giao đất khoán rừng, với hình thức giao là:
Ngày 21/03/1997 Bộ trưởng, Bộ Nông - Lâm nghiệp ra quyết định số 0185/BT.NL về Quy chế bảo vệ và quản lý động vật, thu lại các vũ khí săn bắn động vật quý hiếm, quyết định ngày thả cá, thả động vật và cấm săn bắn động vật quốc gia, đó là ngày 13 tháng 7 hàng năm
Ngày 03/10/2003 Bộ trưởng, bộ Nông-lâm nghiệp ra quyết định số 0204/BT.NL về quy chế quản lý rừng sản xuất
1.2.3 Nghiên cứu xây dựng mô hình cấu trúc mẫu và vấn đề quản lý rừng bền vững
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng, định lượng các nhân tố cấu trúc và xây dựng các mô hình rừng mong muốn nhằm phục vụ khai thác, nuôi dưỡng và đề ra phương hướng, phương pháp điều chế rừng là vấn đề quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm Cục Lâm nghiệp (1996) đã đề xuất xây dựng mô hình cấu trúc rừng chuẩn dựa trên cơ sở những mô hình hoàn thiện đã có trong tự nhiên và dưới tác động điều tiết của con người; trong đó chú trọng đến điều tiết phân bố tổng diện ngang và cấu trúc đứng của lâm phần mẫu, trong thực tiễn sản xuất, sau khi phân chia rừng thành các loại, mỗi loại thuần nhất về một mặt nào đó như tổ thành, tầng thứ, phân bố số cây theo cỡ kính, có thể chọn được một loại trong các lô tốt nhất, có trữ lượng cao, năng suất sinh trưởng tốt, tổ thành cấu trúc hợp lý nhất, các thế hệ cây gỗ cũng cho phép có sản lượng ổn định, coi là mẫu chuẩn tự nhiên Quan điểm này có tính thực tiễn, dễ áp dụng trong sản xuất và nghiên cứu, theo hướng “mô phỏng tự nhiên” là hướng tiếp cận nghiên cứu sinh thái học hiện đại
Phần lớn các nghiên cứu về cấu trúc rừng nêu trên, nhất là các nghiên cứu sau này của các tác giả đã chú ý đến việc lựa chọn các mô hình lý thuyết thích hợp để mô tả các đặc điểm cấu trúc rừng Từ mô hình lý thuyết thích hợp các tác giả đã xây dựng mô hình cấu trúc mẫu làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với từng điều kiện và mục tiêu kinh doanh cụ thể để đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh ở các vùng rừng khác nhau của nước Lào Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC)được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ.Tiêu chuẩn QLRBV của FSC có
10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Hiện đã có 26 bộ tiêu chuẩn quốc gia hoặc vùng trên thế giới được FSC phê duyệt cho áp dụng Theo FSC Newsletter xuất bản ngày 31/8/2005, đã có 77 nước được cấp chứng chỉ QLRBV cho 731 khu rừng (đơn vị QLR) với diện tích 57.264.882 ha Để được công nhận QLRBV (được cấp chứng chỉ rừng-CCR) và duy trì được CCR các đơn vị quản lý rừng cần thực hiện được 10 nguyên tắc QLRBV trên cơ sở xác định được các cơ sở khoa học mấu chốt thuộc các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường phục vụ cho xây dựng kế hoạch quản lý rừng bền vững, đó là: Điều chỉnh được sản lượng rừng đưa về trạng thái cân bằng; đánh giá được tác động môi trường; đánh giá được tác động xã hội và duy trì được rừng có giá trị bảo tồn cao trên địa bàn mà đơn vị đó quản lý
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu được các đặc điểm cấu trúc và đa dạng của các trạng thái rừng tại Vườn Quốc gia Phou Khao Khoauay thuộc bản Hoay Lực, huyện Tha Pha Bath, tỉnh Bolykhamxay làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật bảo tồn và phát triển tại khu vực nghiên cứu
1 Đánh giá được hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu
2 Xác định được một số đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng thực vật tại Vườn Quốc gia Phou Khao Khoauay
3 Đề xuất được các giải pháp bảo tồn và phát triển rừng thuộc khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn Quốc gia Phou Khao Khoauay.
Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Một số quần xã thực vật rừng chính tại Vườn Quốc gia Phou Khao Khoauay
Về địa điểm: Đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu tại khu vực bản Hoay Lực, huyện Tha Pha Bath, tỉnh Bolykhamxay
Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong 8 tháng (từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2016).
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Phân loại các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu
2.3.2.Đặc điểm cấu trúc và đa dạng tầng cây cao
2.3.2.1 Cấu trúc tầng cây cao
2.3.2.2 Đặc trưng về mức độ phong phú và đa dạng loài
2.3.3 Đặc điểm tái sinh rừng
2.3.3.1 Tổ thành cây tái sinh
2.3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá tái sinh rừng
2.3.3.3 Mối quan hệ giữa tổ thành tầng cây cao với tổ thành tầng cây tái sinh
2.3.3.4 Ảnh hưởng của một số nhân tố tái sinh đến tái sinh tự nhiên
2.3.4 Đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu Đề tài tiến hành thu thập các tài liệu liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau như sách báo, giáo trình, tạp chí, các tài liệu khoa học đã công bố, mạng internet, cụ thể như: các kết quả nghiên cứu về cấu trúc rừng từ trước tới nay tại khu vực nghiên cứu, các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu, hệ thống bản đồ, cơ sở dữ liệu liên quan đến cấu trúc rừng
Từ các tài liệu này, những thông tin hữu ích và quan trọng sẽ được kế thừa có chọn lọc để phục vụ những nội dung nghiên cứu của đề tài như phân loại cấu trúc rừng, đặc điểm cơ bản của khu vực, công tác quản lý và phát triển rừng ở Vườn Quốc gia Phou Khao Khoauay
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
2.4.2.1 Thiết lập ô tiêu chuẩn nghiên cứu
Căn cứ vào đặc điểm của khu vực nghiên cứu, bản đồ hiện trạng rừng và kết quả điều tra sơ bộ khu vực bản Hoay Lực, đề tài đã tiến hành lập 10 ÔTC điển hình, mỗi ô có diện tích 1000m 2 để thu thập những thông tin theo phương pháp điều tra lâm học Các Ô tiêu chuẩn được lập trên nhiều dạng sinh cảnh khác nhau như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng phục hồi, rừng hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim, trảng cỏ cây bụi Thông tin về các ô tiêu chuẩn được trình bày chi tiết trong bảng 2.1 và hình 2.1
5 OTC05 ơ đồ bố trí ô tiêu chuẩn trong khu vực nghiên c các ô tiêu chu n ph c v nghiên c u
Dạng trạng thái rừng Địa điể
IV Dong nong kern ên cứu ểm lập ô tiêu chuẩn
Tat Lerk Tat Xay Khem nam mang Dern nhon kao Dong nong kern
TT OTC Dạng trạng thái rừng Địa điểm lập ô tiêu chuẩn
6 OTC06 IIIB Thang pai long xan
8 0TC08 IV Dong na xay
10 OTC10 IIIB Dong na xay Ô tiêu chuẩn được lập có dạng hình chữ nhật Sử dụng bản đồ, thước dây, địa bàn cầm tay để xác định vị trí tâm ô và góc vuông các cạnh theo phương pháp Pitago Chiều dài của OTC là 40m và song song với đường đồng mức, chiều rộng 25m và vuông góc với đường đồng mức
2.4.2.2 Điều tra trên ô tiêu chuẩn
Số liệu được thu thập trên các ÔTC, trong đó điều tra các tiêu chí sau:
Xác định tên loài cho từng cây, đo D 1.3 , H vn , D t , xác định phẩm chất cây
Tên loài cây được xác định trên rừng và ghi vào phiếu thu thập, cây không biết tên phải lấy tiêu bản để gửi giám định
- Đo D 1,3 dùng thước kẹp kính
- Đo chiều cao vút ngọn bằng thước đo cao Blumeleiss đơn vị đo tính lấy tròn đến 0,2m (ví dụ 14,2 m; 14,4 m; 14,6 m)
- Đường kính tán lá (Dt): dùng thước dây đo hình chiếu tán cây theo 2 chiều Đông Tây – Nam Bắc Sau đó lấy trị số trung bình với độ chính xác đến cm
- Xác định phẩm chất cây
Cây phẩm chất A: Cây gỗ khỏe mạnh, thân thẳng, đều, tán cân đối, không sâu bệnh hoặc rỗng ruột
Cây phẩm chất B: Cây có đặc điểm như thân hơi cong, tán lệch, có thể có u biếu hoặc một số khuyết tật nhỏ nhưng vẫn có khả năng sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành; hoặc cây đã trưởng thành, có một số khuyết tật nhỏ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến khả năng sinh trưởng hoặc lợi dụng gỗ
Cây phẩm chất C: Là những cây đã trưởng thành, bị khuyết tật nặng (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn …) hầu như không có khả năng lợi dụng gỗ; hoặc những cây chưa trưởng thành có nhiều khiếm khuyết (sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, cụt ngọn, sinh trưởng không bình thường …) khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đạt đến độ trưởng thành Kết quả đo được thống kê vào phiếu điều tra tầng cây cao (bảng 2.2)
Bảng 2.2: Mẫu biểu điều tra tầng cây cao OTC số: Diện tích OTC: Loại rừng: Địa hình: Độ dốc: Hướng dốc: Tọa độ (GPS): Ngày điều tra: Người điều tra:
(A, B, C) ĐT NB TB ĐT NB TB
- Xác định độ tàn che
Sử dụng phương pháp điều tra theo điểm bằng máy xác định độ tàn che KB-2 Trên mỗi ÔTC, xác định 100 điểm phân bố đều, nhìn vào kính của máy đo cường độ xác định độ tàn che nếu thấy tán lá tầng cây cao che kín, thì điểm đó ghi 1, nếu không có gì che lấp, ghi số 0 và nếu những điểm còn nghi ngờ thì ghi 1/2
* Với tầng cây tái sinh
Mỗi ÔTC đặt 5 ÔDB, mỗi ô diện tích 25m 2 , bố trí 5 ô 4 góc còn 1 ô ở giữa Trong ÔDB điều tra cây tái sinh như sau: Xác định tên loài cây tái sinh theo 7 cấp chiều cao (< 0,5m, 0,6 đến 1m, 1,1 đến 1,5m, 1,6 đến 2,0m, 2,1 đến 3,0m, 3,1 đến 5,0m, > 5,0m), các loài được phân theo chất lượng (khoẻ, yếu, trung bình), phân theo nguồn gốc (chồi, hạt) cho từng loài, ghi theo cách bỏ phiếu, hàng tổng ghi bằng chữ số ả rập Kết quả ghi vào phiếu điều tra (bảng 2.3)
Bảng 2.3: Phiếu điều tra cây tái sinh OTC số: Diện tích OTC: Loại rừng: Địa hình: Độ dốc: Hướng dốc: Tòa độ (GPS): Ngày điều tra: Ngườiđiều tra:
Tốt TB Xấu Chồi Hạt
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Việc chỉnh lý tài liệu quan sát, lập các dãy phân bố thực nghiệm, biểu đồ thực nghiệm, tính toán các đặc trưng mẫu,… được xử lý đồng bộ trên máy tính bằng phần mềm Excel và phần mềm SPSS 19.0
2.4.3.1.Phân loại trạng thái rừng Để phân loại trạng thái rừng, đề tài sử dụng phương pháp phân loại của Loeschau (1960) được Viện Điều tra Quy hoạch rừng nghiên cứu và bổ sung Căn cứ vào tổng tiết diện ngang ( G m 2 / ha ), trữ lượng ( M m 3 / ha ), độ tàn che (P) và một số thông tin điều tra ngoài thực địa, tiến hành phân chia trạng thái cho từng ô đo đếm Cụ thể tiêu chuẩn phân chia các trạng thái rừng như sau:
+ Kiểu trạng thái II: Rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác trắng, kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, chủ yếu là những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng mọc nhanh, nó có thể chia thành 2 kiểu phụ:
Kiểu phụ IIA: Rừng phục hồi còn non và đặc trưng bởi lớp cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và kết cấu một tầng, đường kính
D < 10 cm, G < 10 m 2 /ha, rừng có trữ lượng nhỏ Thuộc đối tượng nuôi dưỡng
Kiểu phụ II B : Rừng cây tiên phong phục hồi phát triển đã lớn, đặc trưng tổ thành gồm những cây tiên phong hoặc có tính chất tiên phong ưa sáng, mọc nhanh, thành phần loài đã phức tạp, đã có sự phân hoá về tầng thứ và tuổi Đường kính cây cao phổ biến bình quân D > 10 cm, G > 10 m 2 /ha.Thuộc đối tượng nuôi dưỡng
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Vườn Quốc gia (VQG) Phou Khao Khouay có diện tích 200.000ha nằm trên địa giới của các huyện Tha Pha Bạt; huyện Hom, huyện Long Xan huyện
Tu La Khom tỉnh Viên Chăn và huyện Packngum, huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Viêng Chăn VQG Phou Khao Khouay cách trung tâm Thủ đô Vientiane 65 km về phía Đông Bắc, có tọa độ địa lý:
+ Phía Đông xuất phát từ Năm Thoai
+ Phía Tây giáp với hồ chứa nước Năm Ngum, xuất phát từ Bản khu 3 đi đến Năm Ngao, Năm Pot
+ Phía Nam giáp với chân núi Phu Khao Khouay, núi Phu Na Xay, Phu Ho xuất phát từ đường lên núi Khao Khouay đi dọc theo chân núi Khao Khouay, chân núi Na Xay, chân núi Enông đến Nậm Nhoong đến thác Năm Thoai
+ Phía Bắc giáp với chân đồi núi Phunhom (huyện Long Xan) xuất phát từ Năm Thoai, Năm Pa, dọc theo Phunhom đến Khu 3
VQG Phou Khao Khouay thuộc vùng núi cao, có độ dốc lớn như núi Phu Xang (cao 1666m), núi Koong Khau (cao 1458m), núi Phu Pha Đăng (cao 1621m), núi Phu Kau Nang (1186m) Địa hình thẳng đứng và núi non là đặc trưng của khu vực này Từ đồi núi phía Nam nhìn xuống sẽ thấy đồng bằng Năm Ngưm có độ dốc rất lớn, khoảng 85% và có hệ thống suối chảy về phía Nam Do đó người ta mới gọi là “núi Phou Khao Khouay”
Hình 3.1: Bản đồ ranh giời VQG Phou Khao Khouay
Phou Khao Khouay có khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng mang sắc thái khí hậu lục địa rõ rệt Hàng năm ở đây có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ đầu tháng 5 và kéo dài đến hết tháng 11, thường tập trung vào tháng 8 và tháng 9 Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Chế độ nhiệt: ở khu vực trong năm hình thành 2 mùa rõ rệt: mùa nóng kéo dài 7 tháng, từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình tháng là 27 ÷
29 0 C, với tháng nóng nhất là tháng 4 Mùa lạnh kéo dài 4 tháng (từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau), nhiệt độ trung bình tháng 22 ÷ 25 0 C, với tháng 2 là tháng lạnh nhất
Chế độ ẩm: độ ẩm tương đối biến động theo mùa, tháng 5 ÷ tháng 11, độ ẩm tương đối khoảng 75 ÷ 85%, trong các tháng 12 ÷ 4, do có gió mùa đông bắc lạnh, khô nên độ ẩm giảm xuống còn 64 ÷ 69%, giá trị bình quân độ ẩm cả năm là 73%
Lượng bốc hơi: theo số liệu ở trạm Napheng, lượng bốc hơi trung bình tháng giao động trong khoảng 52 ÷ 74mm, trong đó các tháng mùa mưa trung bình khoảng 68 ÷ 74mm
Chế độ gió trong khu vực có 2 mùa gió chính: gió Tây Nam trùng với mùa mưa, thịnh hành từ tháng 4 đến tháng 11 Gió Đông Bắc trùng với mùa khô, thịnh hành từ cuối tháng 11 đến tháng 3 năm sau Đáng chú ý là Gió mùa Đông Bắc khi qua lãnh thổ Việt Nam bị biến tướng trở nên khô hanh hơn, điều này càng thúc đẩy quá trình khô hạn của khu vực nghiên cứu Giữa
2 mùa có những thời kỳ gió chuyển tiếp
Chế độ mưa: lượng mưa trung bình hàng năm ở VQG Phou Khao Khouay là 1936,1mm (giao động từ 1700 ÷ 2100mm) Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa chiếm khoảng 80 ÷ 90% tổng lượng năm Trong đó tháng có lượng mưa lớn nhất thường là tháng 8, tháng có lượng mưa nhỏ nhất là tháng 12
Phía Tây của VQG gồm có sông Năm Leuk, con sông này chảy về phía Đông nam, sông Năm Mang dài 14 km, chạy qua Vườn Quốc gia về phía Nam và còn nhiều con sông khác
Mặc dù có một số con kênh đào thoát nước ra những bờ dốc phía Bắc, phía Đông Nam và các vùng phía Tây Nam của Vườn quốc gia, nhưng hệ thống thoát nước chính lại nằm ở vùng trung tâm Đường rãnh thoát nước ở Phou Khao Khouay chủ yếu dẫn xuống phía Đông Nam, chảy về Nam Leuk và dẫn xuống hướng dòng chảy về con sông phụ lưu ở Nam Gnong
Hầu hết khu vực được bảo phủ bởi những lớp đất màu nâu nhiệt đới điển hình, đất này có thành phần cơ giới nhẹ, dễ bị rửa trôi, các chất hữu cơ bị khoáng hóa vừa bị lửa rừng đốt cháy, trở nền nghèo mùn và chua Tuy nhiên, một số những loại đất màu mỡ có xuất hiện ở những vùng thung lũng và ven sông Tuy nhiên, dọc theo vùng cao Nam Gnong Nam Koui và vùng đất thấp Nam Keuk và Nam Mang thì đất đai có phần màu mỡ hơn, nhưng cũng không tránh khỏi những hạn chế do cấu tạo đất và điều kiện địa hình mang lại
VQG Phou Khao Khouay có thảm rừng nguyên sinh với những cảnh quan địa lý rất độc đáo và và đa dạng, thành phần loài động, thực vật phong phú, khoảng 80% diện tích rừng ẩm nhiệt đới đang còn trong tình trạng rừng nguyên sinh hay gần như nguyên sinh, ở đây phổ biến có hai kiểu rừng:
+ Kiểu rừng hỗn hợp cây lá rộng, lá kim cận nhiệt đới, điển hình Pơ mu,
Sa mu, Thông ba lá, Thông hai lá, Kim giao, Thông tre và có nhiều loại khác
+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với thành phần loài phong phú gồm các loại Sến, Lát hoa, Lim xanh … với trữ lượng lớn trong đó:
Rừng tre nứa, đồng cỏ 6%
Những rừng cây thường xanh có dọc suốt khu vực trung tâm của Vườn quốc gia, ở vùng lòng chảo của Nam Leuk và Nam Mang Loại rừng này thuộc nhiều họ cây khác nhau và là loài cây điển hình của các phần khác ở Đông nam Á Những khu rừng tùng bách thường xuất hiện ở những vùng đất cát, nghèo dinh dưỡng, đặc biệt ở phía tây khu vườn quốc gia, nơi những khu rừng này thường xuất hiện với những cánh đồng cỏ
VQG hiện là nơi cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm như voi, hổ, cầy, mang,…đặc biệt có đến 22 loài dơi, 170 loài chim, 26 loài động vật lưỡng cư, 5 loài rùa, 9 loài thằn lằn và 9 loài rắn.
Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số và dân tộc
Theo dọc đồng bằng Năm Ngưm (Sông Ngưm) và đồng bằng sông Mekong, có 4113 hộ gia đình gồm 25.265 người Về phía Bắc có 6 bản đã sinh sống dọc theo thung lũng Long Xan, có 375 hộ gia đình gồm 2650 người Dọc theo hồ chứa nước Năm Ngưm có 476 hộ gia đình gồm 3199 người
Thành phần dân tộc của dân cư sinh sống trong và xung quanh VQG chủ yếu là: Lao Sung, Lao Theung, Hmong và Lao Lum
Cơ hội về việc làm của người dân rất ít, kế sinh nhai truyền thống từ lịch sử lâu đời của người dân địa phương chủ yếu là làm nương rẫy, làm vườn, chăn nuôi và thu hái đặc sản rừng để mang bán kiếm ăn từng ngày từng tháng.
Dân tộc Lao Lum phần lớn theo phật giáo Lao Theung theo đạo phật cơ đốc, Lao Sung theo đạo Vật Linh và 80% dân tộc Hmong theo đạo Vật Linh
3.2.4 Cơ sở hạ tầng và dịch vụ
- Giao thông vận tải: có tuyến đường giao thông thuận lợi như đường số 13 (từ thủ đô Vientiane vào trong phía nam của Lào), đường 15 (từ Vientiane đến nhà máy thủy điện Năm Ngưm) và còn nhiều đường khác như đường Thabok đi qua khu bảo tồn tới Muang Hom, Long Xan…, tạo điều kiện rất thuận lợi đi lại tới thủ đô Vientiane
- Giáo dục: nhìn chung, về giáo dục ở đây kém phát triển, mặc dù có trường học trong 74 bản, nhưng tỷ lệ người mù chữ rất cao
- Y tế và sức khỏe cộng đồng: cơ sở vật chất y tế trong khu vực còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, đội ngũ y tế với trình độ chuyên môn chưa cao nên hầu hết người bệnh đều phải đưa đi điều trị tại thủ đô Vientiane
- Vị trí địa lý, chính trị, kinh tế ổn định, tạo điều kiện cho nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp
- Lực lượng lao động khá dồi dào, người dân rất chịu khó trong sản xuất nông lâm nghiệp và quan tâm, gắn bó với rừng
- Hệ thống tổ chức ngành lâm nghiệp đầy đủ
- Có hệ thống giao thông thủy, bộ rất thuận lợi, tiện cho việc giao lưu tiêu thụ hàng hoá Nông, lâm nghiệp và phát triển kinh tế
- Các cơ sở y tế, giáo dục, thông tin văn hóa xã hội cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, học tập và tiếp nhận các thông tin cho mọi đối tượng trên địa bàn
- Trình độ dân trí nhìn chung còn thấp nên việc tiếp thu các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ xây dựng rừng và phát triển kinh tế còn chậm
- Do sức ép của thị trường nên hiện tượng khai thác lâm sản, tàn phá tài nguyên rừng nhất là rừng phòng hộ vẫn còn xảy ra, rừng tự nhiên hiện có cũng khó bảo tồn nguyên vẹn
Tóm lại:Qua phân tích đánh giá những thuận lợi, khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu cho thấy bên cạnh những thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương thì vẫn còn rất nhiều khó khăn Đặc biệt là với một nền kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đời sống của người dân nghèo nàn, lạc hậu,… Mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp nhưng cho đến nay người dân vẫn chưa thể sống được bằng chính nghề rừng Các diện tích rừng tự nhiên bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng, suy giảm đa dạng sinh học và mất cân bằng sinh thái Nhiều loài động thực vật đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Vì vậy, nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tại một số trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu sẽ góp phần đưa ra những biện pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đây.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Phân loại các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu
Việc phân loại đúng trạng thái hiện tại của rừng có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định rõ đối tượng nghiên cứu Đề tài sử dụng theo hệ thống phân loại trạng thái rừng của Loschau (1963; 1973), các trạng thái rừng thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới được phân biệt dựa trên những nhân tố biểu thị ngoại mạo (độ tàn che, số tầng rừng, dạng sống) và cấu trúc lâm phần, như đường kính bình quân (D 1.3 ), chiều cao bình quân (H), tiết diện ngang (G /ha ), trữ lượng (M /ha ) và số cây (N cây/ha ) Sử dụng những biến định lượng này để phân loại các trạng thái rừng có ưu điểm là đơn giản, dễ đo đạc và tính toán, dễ ứng dụng để thiết kế các biện pháp lâm sinh Mặt khác, chúng cũng là những nhân tố phản ánh rõ rệt tình trạng, năng suất và khả năng cung cấp gỗ của các lâm phần Mặc dù vậy, việc phân loại các trạng thái rừng dựa trên nhiều biến phân loại không phải lúc nào cũng dễ dàng Đề tài đã chọn các chỉ tiêu định lượng về đường kính bình quân; tổng tiết diện ngang và trữ lượng để phân loại trạng thái rừng hiện tại cho các ô tiêu chuẩn tại khu vực nghiên cứu Kết quả xử lý được tổng hợp tại bảng 4.1
Bảng 4.1: Phân loại trạng thái rừng hiện tại
Từ kết quả ở bảng 4.1 cho thấy: theo phân loại của Loeschau đối tượng nghiên cứu gồm 02 trạng thái rừng là IIIB và IVa
Trạng thái rừng III B : Rừng bị tác động với mức độ thấp, trữ lượng rừng còn cao, cấu trúc rừng chưa bị phá vỡ, rừng còn giàu trữ lượng, có độ tàn che trên 0,7 , tổng tiết diện ngang của lâm phần ∑G = 21 - 26 m 2 /ha, trữ lượng rừng > 250 m 3 /ha Trạng thái này bao gồm 3 OTC (chiếm 30% số OTC nghiên cứu) là OTC số 6, 9 và 10
Trạng thái IV: Đây là rừng thứ sinh phục hồi, đã phát triển đến giai đoạn ổn định, trữ lượng và sản lượng cao, có độ tàn che > 0,7, ∑G > 26 m 2 /ha, ∑GD > 40 > 5 m 2 /ha Trạng thái này bao gồm 7 OTC (chiếm 70% số OTC nghiên cứu) Cấu trúc rừng tương đối phức tạp, tầng tán gồm có 3 tầng chính là: tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái (tầng giữa) và tầng dưới tán Tầng vượt tán là những cây gỗ lớn có đường kính và chiều cao vượt trội vươn hẳn lên khỏi tầng tán chính và tạo thành những vòm tán không liên tục Tầng ưu thế sinh thái, đây là tầng tán chính của rừng bao gồ những cây thân thẳng, tán tròn và hẹp, tán của các cây rừng nối tiếp nhau tạo thành những vòm tán liên lục Tầng dưới tán, bao gồm những cây mọc rải rác dưới tán rừng, chiều cao thấp, sống trong điều kiện chịu bóng nhiều.
Đặc điểm cấu trúc và đa dạng tầng cây cao
4.2.1 Cấu trúc tầng cây cao
4.2.1.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Tổ thành thực vật cho biết số loài tham gia và số cá thể của từng loài trong thành phần cây gỗ của rừng Tổ thành là nhân tố cấu trúc sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến các nhân tố sinh thái và hình thái khác của rừng
Tổ thành là một trong số các nhân tố nói lên mức độ thuận lợi của môi trường sống, là cơ sở để điều chế rừng Đây còn là một trong những chỉ tiêu quan trọng dùng để đánh giá tính bền vững, tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái rừng, nó ảnh hưởng đến định hướng kinh doanh và khả năng lợi dụng rừng Tổ thành loài cây càng phức tạp bao nhiêu thì rừng càng có tính cân bằng và ổn định bấy nhiêu
Tổ thành được coi là nhân tố biểu thị tỷ trọng của mỗi loài cây hay nhóm loài cây nào đó trong lâm phần trong đó, tỷ trọng mỗi loài hay nhóm loài được gọi là hệ số tổ thành và công thức biểu thị hệ số tổ thành của các loài cây trong lâm phần được gọi là công thức tổ thành Đề tài biểu thị công thức tổ thành theo hai tiêu chí là: Theo tỷ lệ số cây (N%) và theo tỷ lệ số cây và tỷ lệ tiết diện ngang (IV%)
4.2.1.1 Công thức tổ thành theo số cây
Tổ thành theo phần trăm số cây tính theo công thức (2.1) và (2.2) làm chỉ tiêu biểu thị hệ số tổ thành Kết quả tính toán được tổng hợp tại bảng 4.2
Bảng 4.2 Công thức tổ thành theo số cây N%
OTC m tg Công thức tổ thành theo số cây N%
Sao S Cồng tía Ct Bách bệnh Bb
Xoay X Căm xe Cax Trường quánh Trq
Kết quả tại bảng 4.2 cho thấy
Số loài tham gia công thức tổ thành: dao động từ 2 đến 4 loài, trung bình là 3 loài Số loài tham gia công thức tổ thành cao nhất tại ô tiêu chuẩn số
2, 8, 9 và thấp nhất tại các ô tiêu chuẩn số 5, 6, 7
Số loài cây ưu thế: dao động từ 2 đến 3 loài Các loài cây ưu thế chủ yếu chiếm số lượng lớn trong quần xã thực vật rừng là: Sao, Sp1, Căm xe, Bách bệnh, trong đó loài Sao chiếm ưu thế lớn nhất, loài này chiếm ưu thế trong 100% số ô tiêu chuẩn điều tra
Công thức tổ thành theo chỉ số IV% từng ô tiêu chuẩn được tổng hợp tại bảng 4.3
Bảng 4.3 Công thức tổ thành theo chỉ số quan trọng IV%
OTC m tg Công thức tổ thành theo chỉ số quan trọng IV%
1 7 29,8S+15,9X+13,3Ct+11,4Cax+10,0Sp2+8,4Đ+7,1Trq+4,2CLK
2 8 18,7S+13,4Cax+11,9 Tht+11,3Sp2+7,3Trq+5,7Gđ+5,4R+5,1Ct+21,0CLK
4 9 20,2S+17,2Cax+13,0X+11,1Tht+10,0Trq+8,3R+6,9Cr+6,7X+6,5Th
8 7 28,1S+13,0Cax+11,5X+9,3Trq+7,8Bb+5,5R+5,5Xm+19,2CLK
9 7 23,1S+11,4X+11,0Cax+10,9Ct+7,3Trq+6,9Bb+6,7R+22,7CLK
Sao S Thầu tấu Tht Trường quánh Trq
Cồng tía Ct Re R Xăng mả Xm
Trâm vối Trv Côm rừng Cr Cơ nia Cn
Bách bệnh Bb Thị hồng Th
Kết quả tại bảng 4.3 cho thấy
Số loài tham gia công th bình là 7 loài Số loài tham gia công th
4, với 9 loài tham gia và th công thức tổ thành
Số loài cây ưu th loài cây ưu thế chủ yếu chi
Sao, Sp1, Căm xe, Bách b
Sao vẫn chiếm ưu thế l tra
* So sánh tổ thành rừng theo N% và IV%
So với công thức tổ th quan trọng IV% có số lo chiếm ưu thế trong công thức trong công thức tổ thành theo ch thức tổ thành tính theo IV%, hình thành theo N% với IV% đư
4.2.1.2 Phân bố Đường kính là m bản dùng để xác định th loài tham gia công thức tổ thành: dao động từ 5 đến 9 loài, trung loài tham gia công thức tổ thành cao nhất tại ô tiêu chu i 9 loài tham gia và thấp nhất tại các ô tiêu chuẩn số 7 với 5 loài tham gia loài cây ưu thế: dao động từ 2 đến 4 loài, trung bình là 3 loài Các u chiếm số lượng lớn trong quần xã thự Sao, Sp1, Căm xe, Bách bệnh, Thầu tấu, Cồng tía, Xoay, Trường quánh Loài lớn nhất và xuất hiện trong 100% số ô tiêu chu ng theo N% và IV% ới công thức tổ thành theo số cây thì công thức tổ thành theo ch ọng IV% có số loài cây tham gia công thức tổ thành và s ế trong công thức tổ thành thường cao hơn Một số lo thành theo chỉ tiêu N% nhưng lại không có m thành tính theo IV%, hình ảnh trực quan so sánh giữa công th i IV% được minh họa tại hình 4.1
.1 So sánh tổ thành theo IV% và N% của OTC 01 và 04 số cây theo đường kính (N/D 1.3 ) ng kính là một nhân tố được đánh giá rất quan trọng, là ch nh thể tích của cây, trữ lượng, sản lượng lâm ph n 9 loài, trung i ô tiêu chuẩn số i 5 loài tham gia n 4 loài, trung bình là 3 loài Các ực vật rừng là: ng quánh Loài ô tiêu chuẩn điều ành theo chỉ số ành và số loài cây ột số loài có mặt i không có mặt trong công a công thức tổ a OTC 01 và 04 ng, là chỉ tiêu cơ ng lâm phần Mặt khác, phân bố số cây theo cỡ đường kính là một phân bố tổng quát nhất khi nghiên cứu cấu trúc rừng nhiệt đới tự nhiên hỗn loài
Phân bố số cây theo đường kính ngang ngực (N/D1.3) là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của quy luật kết cấu lâm phần Phân bố N/D1.3 thể hiện quy luật sắp xếp, tổ hợp các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian Trong rừng tự nhiên, phân bố N/D1.3 hợp lý thì cây rừng tận dụng được tối đa điều kiện lập địa và tạo được năng suất sinh khối cao nhất Trong hoạt động kinh doanh và lợi dụng rừng, con người có thể điều tiết mật độ hợp lý, xác định được vốn rừng để lại, lượng khai thác và đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp, từ đó có thể điều chỉnh lại cấu trúc rừng hợp lý Kết quả nghiên cứu các đặc trưng phân bố N/D 1.3 được tổng hợp tại bảng 4.4
Bảng 4.4: Các đặc trưng mẫu về đường kính D1.3
OTC TB S S% Ex Sk Min Max
Max 21,4 9,8 52,8 0,629 1,225 11 48 Đường kính bình quân cây rừng biến động tương đối lớn giữa các OTC nghiên cứu Đường kính bình quân dao động từ 14,6 đến 21,4 cm trung bình đạt 19,1 cm Chênh lệch giữa giá trị đường kính lớn nhất và nhỏ nhất rất lớn, đường kính biến động từ 5cm đến 48 cm Do đó, hệ số biến động lớn dao động từ 36,8 % đến 52,8% trung bình 45,2%
Các chỉ tiêu độ lệch Sk ở tất cả các OTC đều có giá trị lớn hơn 0, cho thấy đỉnh đường cong lệch trái so với trị số trung bình Phần lớn đường kính cây rừng tập trung ở cỡ đường kính dự trữ và kế cận, có nghĩa là rừng đang trong giai đoạn phát triển Chỉ tiêu độ nhọn Ex hầu hết các OTC trước khai thác đều