1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây mun diospyros mun a chev ex lecomte trong giai đoạn 06 tháng tuổi ở vườn ươm

59 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nghiên cứu về gieo ươm cây thân gỗ Đối với công tác gieo ươm cây gỗ, trong giai đoạn cây mầm và cây non được coi là giai đoạn khó khăn nhất đời sống của cây, do đó các nhà lâm học c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

LÊ THANH HỒNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIEO ƯƠM VÀ

CHĂM SÓC CÂY MUN (Diospyros mun A.Chev ex Lecomte)

TRONG GIAI ĐOẠN 06 THÁNG TUỔI Ở VƯỜN ƯƠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HOC LÂM NGHIỆP

Đồng Nai, 2012

Hà nội, 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

LÊ THANH HỒNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT GIEO ƯƠM VÀ

CHĂM SÓC CÂY MUN (Diospyros mun A.Chev ex Lecomte)

TRONG GIAI ĐOẠN 06 THÁNG TUỔI Ở VƯỜN ƯƠM

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC

MÃ SỐ: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ ANH TUÂN

Đồng Nai, 2012

Trang 3

và bảo tồn đa dạng sinh học

Mun (Diospyros mun A.Chev ex Lecomte) thuộc họ Thị (Ebenaceae), là loài

cây bản địa, phân bố tự nhiên ở Hà Giang, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Khánh Hòa, Ninh Thuận [11] Đây là loài cây gỗ nhỡ, cao 10 – 15m, đường kính 20 – 30cm [11] Hiện đang thuộc nhóm loài quý hiếm cần bảo vệ (EN Alc,d, Bl +2a) và thuộc cả danh mục loài nguy cấp của IUCN Loài này mọc chủ yếu ở vùng núi đá vôi, hiện nay số lượng còn rất ít, cạn kiệt vì bị khai thác quá mức và sinh cảnh bị mất đi do nạn phá rừng [12]

Gỗ Mun có màu đen tự nhiên, thường được dùng làm đồ mỹ nghệ cao cấp, làm đũa rất có giá trị Do là loài cây có giá trị kinh tế cao, nên các quần thể mọc tự nhiên của Mun bị tìm kiếm ráo riết để khai thác làm cho số lượng cá thể giảm sút rất nhanh Mặt khác do khan hiếm về cây mẹ nên ít phát hiện thấy cây tái sinh tự nhiên, vì vậy việc xác định nội dung kỹ thuật nhân giống để bảo tồn ngoại vi loài cây này là rất cần thiết

Hiện nay có rất ít các công trình nguyên cứu về loài cây quý này, đặc biệt là

về kỹ thuật gieo ươm Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng chưa có quy phạm kỹ thuật gieo ươm loài cây Mun

Xuất phát từ những tồn tại đó, tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây Mun (Diospyros mun A.Chev ex

Lecomte) trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm” nhằm xác định công thức kỹ

Trang 4

thuật gieo ươm tốt nhất để phục vụ công tác bảo tồn, phục hồi, sản xuất loài cây quý này

Trang 5

Chương 1

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thiệu loài cây Mun

Tên Việt Nam: Mun

Tên tiếng Anh: Ebony

Tên khoa học: Diospyros mun A.Chev ex Lecomte

Họ Thị: danh pháp khoa học: Ebenaceae

Theo thông tin từ trang web chuyên về thực vật Jstor plant science, cây Mun được một nhà khoa học người Pháp phát hiện tại Phan Rang, Việt Nam năm 1924 Hiện tiêu bản của loài cây này ở nước ngoài được lưu giữ tại Bảo tàng thực vật Paris và Trung tâm sinh học và vườn thực vật Đại học Hamburg (CHLB Đức)

Đặc điểm hình thái

Mun là cây gỗ nhỡ, rụng lá, cao 7-18 m, đường kính đến 0,3 m hay hơn, cành nhánh nhẵn, tán rậm Vỏ ngoài đen, nứt dọc nông Lá đơn mềm, mọc cách, hình trứng nhọn, gân giữa và gân bên nổi rõ, dài 5,5-6,5 cm; rộng 2-2,2 cm, khi khô có màu đen Hoa nhỏ, màu vàng đơn tính; hoa đực mọc thành sim 3-5 hoa ở nách lá, hoa cái mọc đơn độc Hoa đực có đài hợp, hình cốc ngắn, ở phần trên chia thành 4 thùy, màu lục Tràng hợp thành ống, dài 5 mm, ở trên chia thành 4 thùy màu vàng Nhị 8; bao phấn hình mũi dùi, dài khoảng 3 mm Quả nhỏ, đường kính 1,5-2 cm nhẵn, đen,

vỏ dày, mang đài tồn tại xẻ 4 thuỳ [8]

Mùa hoa Mun thường vào tháng 7 Mun tái sinh bằng hạt và chồi, nhất là chồi rễ ở gần gốc

Phân bố

Cây Mun mọc rải rác hay thành từng đám trong trảng cây bụi cao rậm, chịu hạn ở vùng núi đá vôi Cây thấy mọc tự nhiên tại Lào và một số vùng ở Việt Nam

Trang 6

như Khánh Hòa (Vạn Ninh, Ninh Hòa, Diên Khánh, Cam Ranh: xã Cam Thịnh Đông), Ninh Thuận (Phan Rang-Tháp Chàm)

Công dụng

Lõi gỗ Mun khi khô có màu đen bóng, cứng và bền nên khó gia công, thường dùng làm đồ gỗ quý, thủ công mĩ nghệ cao cấp Quả và lá dùng để nhuộm đen lụa quý

1.2 Các nghiên cứu về gieo ươm cây thân gỗ

Đối với công tác gieo ươm cây gỗ, trong giai đoạn cây mầm và cây non được coi là giai đoạn khó khăn nhất đời sống của cây, do đó các nhà lâm học chủ yếu quan tâm đến ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái như ánh sáng, đất và hỗn hợp ruột bầu, kích cỡ túi bầu và chế độ chăm sóc đến sinh trưởng của cây con và tiêu chuẩn cây giống xuất vườn

1.2.1 Ảnh hưởng của việc xử lý hạt giống tới nảy mầm của hạt

Hạt của nhiều loài cây gỗ nảy mầm dễ dàng khi có điều kiện thuận lợi về độ

ẩm và nhiệt độ Sự nảy mầm chậm trễ và không đều ở vườn ươm là một khó khăn lớn trong sản xuất cây con (Bonner, 1974 (dẫn theo Willan, 1992)) Tuy nhiên, loài cây khác nhau hạt sẽ có thời kỳ ngủ ở mức độ khác nhau, cần áp dụng các biện pháp

xử lý hạt để làm cho hạt nảy mầm với tỷ lệ cao, đồng đều trong thời gian ngắn nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí, thời gian tạo cây con Xử lý hạt giống bằng cách ngâm các chế phẩm ngoài tác dụng kích thích hạt nảy mầm thì còn được xem như là cách làm giàu các nguyên tố dinh dưỡng cho hạt Dự trữ chất dinh dưỡng trong hạt là nguồn nguyên liệu để xây dựng cơ thể cây con và dự trữ đó quyết định ở mức độ đáng kể thành công của cây con trong cuộc đấu tranh tìm thức

ăn và nước Vì vậy, đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm phương pháp xử lý hữu hiệu

để đảm bảo hạt sẽ nảy mầm nhanh và đồng đều trong vườn ươm Ở Ấn Độ, ngâm

hạt trong khoảng từ 2 – 48 giờ tuỳ theo loài cây đã làm cho hạt Acacia mearnsii nảy

mầm nhanh hơn (Pattanath, 1982 (dẫn theo Willan, 1992)) Ngâm hạt trong dung dịch nước ấm có pha nguyên tố vi lượng mangan, clorua 0,01 – 0,05%; CuSO4 0,004 – 0,2%; acid boric hay borax 0,02 – 0,03%; ZnSO4 0,01 – 0,02%,… để làm

Trang 7

giàu chất dinh dưỡng cho cây Xử lý hạt bằng chất diệt nấm, ví dụ như TMTD (Tetrametyl tiuram disulfate) theo tài liệu của Nezgovorov có tác dụng phòng nấm bệnh (dẫn theo Grodzinxki, Grodzinxki, 1981)

Willan (1992) thí nghiệm với hạt Robinia, công thức xử lý tốt nhất đã làm cho tỷ lệ nảy mầm cao hơn 10 lần so với đối chứng sau 10 ngày gieo Sự nảy mầm

của Eucalyptus delegatensis tốt hơn khi được xử lý bằng acid Giberelic Hạt

Leucaena hoàn toàn không nảy mầm ở đối chứng không xử lý, sau khi ngâm 24 giờ trong nước lạnh, ngâm 2 phút trong nước sôi thì nảy mầm 60% sau 13 ngày Ở Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy rằng xử lý hạt bằng cách ngâm vào dung dịch các nguyên tố vi lượng như Bo, Mangan, Kẽm riêng lẻ và phối hợp ở nồng độ 10 - 15mg/l trong 24 giờ đã có tác dụng làm tăng sức nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm của hạt Thông nhựa so với đối chứng Mangan dùng phối hợp với Bo làm tăng khả năng chịu đựng của cây mầm đối với tình trạng thiếu nước, không có hiện tượng cây héo khi độ ẩm đất xuống tới 10,8% (Nguyễn Ngọc Tân, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn

Sĩ Huống, 1973) Hạt được ngâm trong nước hay những dung dịch khác như Giberelin (GA3) thường với nồng độ 0,1 – 0,5% cũng cho tỷ lệ nảy mầm cao hơn nhiều so với công thức đối chứng (Trương Mai Hồng, 2003)

Theo Lê Đình Khả (1991) hạt Lim xanh có tỷ lệ nảy mầm là 100% khi cắt một phần vỏ hạt và ngâm 5 giờ trong nước ấm 400C Đối với những hạt có vỏ cứng

như hạt Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa) và Gõ mật (Sindora siamensis) cần dùng tác

động cơ giới phá bỏ một phần lớp vỏ cứng sau đó ngâm hạt vào nước có nhiệt độ

300C trong 48 giờ rồi cho nảy mầm ở 300C đạt tỷ lệ nảy mầm là 90,2% và 94% còn những hạt không xử lý thì có tỷ lệ nảy mầm chỉ là 25% và 9% Hạt Muồng hoa đào

(Cassia javanica) được chà nhám và ngâm trong nước ở 300C có tỷ lệ nảy mầm là 94% trong khi đối chứng chỉ là 5% (Trương Mai Hồng, 2003) Trung tâm khuyến nông Quốc gia đã khuyến cáo xử lý hạt bằng nước ấm 35 – 400C trong thời gian 3 –

4 giờ đối với Tếch (Tectona grandis), hay nước nóng 70 – 800C trong thời gian 2- 3

giờ đối với hạt Trám đen (Canarium nigrum) sau đó rửa chua và đem ủ cho nứt

nanh rồi đem gieo (www.khuyennongvn.gov.vn)

Trang 8

Do hạt Mun nhẹ, mỏng nên không phải xử lý bằng phương pháp cơ giới, do

đó đề tài sẽ xử lý hạt bằng phương pháp hoá học, ngâm ủ bằng các chế phẩm có chứa thành phần là các nguyên tố vi lượng hay các chất kích thích sinh trưởng

1.2.2 Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến sinh trưởng của cây con

Ánh sáng rất cần cho sự sinh trưởng của cây vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình quang hợp của thực vật Nếu thiếu ánh sáng cây vẫn sinh trưởng nhưng khi đó xảy ra hiện tượng mọc vống, cây có màu trắng vàng vì không tổng hợp được diệp lục, thời kỳ phân hoá chậm lại, ngược lại khi cường độ ánh sáng cao giai đoạn dãn của tế bào kế thúc sớm nên cây thường thấp (Trương Mai Hồng, 2005a) Cây con trong vườn ươm cần được bảo vệ tránh khỏi các ảnh hưởng của thời tiết không thuận lợi bên ngoài cho đến khi chúng đủ sức chịu đựng Che bóng sẽ làm giảm lượng nước bốc thoát hơi nước từ cây con và làm giảm nhiệt độ Mức độ che bóng cho cây con tuỳ thuộc vào đặc điểm sinh thái của loài và sự biến đổi của cây con trong quá trình sinh trưởng của chúng Trong trường hợp cây con được che bóng quá dầy có thể bị còi cọc, sinh trưởng chậm hay mọc cao, thân yếu, dễ bị sâu bệnh hại

Khi nghiên cứu về sinh thái hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non, Ekta

và Singh (2000) đã nhận thấy rằng cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sự nảy mầm, tỉ lệ sống sót và sức sinh trưởng của cây con Bên cạnh đó, độ khép tán của quần thụ cũng ảnh hưởng rõ rệt đến mật độ và sức sống của cây con (Orlov,1951; Alekseev, 1954 và Makxinov, 1971) (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)

Theo Sasaki và Mori (1981), một số loài như Shorea talura, Sovalis, Hopea helferei và Vatica odorata bị ức chế sinh trưởng khi bị chiếu sáng với cường độ trên

50% ánh sáng toàn phần trong giai đọan đầu ở vườn ươm

Trong 6 tháng đầu, việc che bóng không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây con Dầu song nàng nhưng từ tháng 6 trở đi thì cây bị ảnh hưởng rõ rệt, chỉ cần che 25 – 50% cho thấy cây sinh trưởng vượt trội so với không che hay che trên 50% ánh sáng (Nguyễn Tuấn Bình, 2002) Theo Vũ Thị Lan (2007) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây con Gõ đỏ 6 tháng tuổi

Trang 9

trong vườn ươm cho thấy, dàn che thích hợp cho Gõ trong 6 tháng đầu thích hợp nhất 25-50% Nhìn chung các kết quả nghiên cứu đều cho thấy che bóng là cần thiết cho sự sinh trưởng của cây con so trong giai đoạn vườn ươm, tuy nhiên mức độ che bóng tối ưu là phụ thuộc vào từng loài

Đối với cây con Mun thường mọc trong trảng cây bụi cao rậm, do đó thử nghiệm các mức che ánh sáng để có thể giúp cây con sinh trưởng và phát triển tốt là cần thiết

1.2.3 Ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng cây con

Hỗn hợp ruột bầu được coi như là giá đỡ và chứa chất dinh dưỡng nuôi cây đảm bảo cây phát triển trong giai đoạn vườn ươm Chất lượng của hỗn hợp ruột bầu

là một trong các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con Một hỗn hợp đất tốt hội đủ các điều kiện lý - hoá tính giúp cây con sinh trưởng khoẻ mạnh Một hỗn hợp đất với đầy đủ các chất dinh dưỡng nhưng nếu các tính chất vật

lý, chế độ nước không thuận lợi thì cây trồng cũng không sinh trưởng tốt Tính chất vật lý của đất bao gồm: thành phần các cấp hạt đất, cấu trúc đất, độ xốp, độ thoáng khí, độ ẩm đất Tính chất hóa học của đất bao gồm: chất hữu cơ trong đất, khả năng hấp phụ của đất, các nguyên tố dinh dưỡng có trong đất, mức độ dễ tiêu của chúng trong đất, khả năng trao đổi Cation và Anion của đất đối với cây trồng Hỗn hợp ruột bầu thay đổi tùy theo loài cây và phải có các đặc điểm sau: hỗn hợp phải nhẹ, nhưng phải đủ độ chặt để cây con được vững chắc khi vận chuyển; đủ dinh dưỡng, không thay đổi tính chất cho đến khi xuất vườn Khi gieo ươm cây con Chiêu liêu

nước (Terminalia calamansanai) có thể cải thiện tình trạng dinh dưỡng của ruột bầu

bằng cách trộn thêm vào các loại phân NPK 16:16:8; phân Super photphat và phân hữu cơ hoai Hàm lượng thích hợp là NPK 1%, Super photphat 1%, phân hữu cơ hoai là 15 – 20% sẽ giúp cây con sinh trưởng tốt hơn trong giai đoạn 6 tháng tuổi (Nguyễn Văn Thêm & Phạm Thanh Hải, 2004) Nguyễn Xuân Quát (1985) đã xác định được ảnh hưởng của hỗn hợp ruột bầu và yêu cầu chất lượng cây con Thông

nhựa (Pinus merkusii) (dẫn theo Nguyễn Duy Bình, 1997) Theo Nguyễn Duy Bình (1997), việc phân bón có tác dụng xúc tiến sinh trưởng của Xoài cánh (Swintonia minuta) tốt hơn so với không bón phân Hỗn hợp ruột bầu có chứa 2% NPK có tác

Trang 10

dụng thúc đẩy sinh trưởng tốt hơn so với không bón phân NPK Theo Nguyễn Tuấn Bình (2002), khi thử nghiệm liều lượng phân super lân từ 0 – 10% (so với trọng lượng bầu) để bón cho cây con Dầu song nàng thì liều lượng 3% cho thấy cây sinh trưởng tốt nhất Đối với liều lượng NPK từ 0 – 6% thì mức bón thích hợp là từ 1 – 3% đối với cây con Dầu song nàng

Vũ Thị Lan (2007) trong nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây con Gõ đỏ 6 tháng tuổi trong vườn ươm, dinh dưỡng ruột bầu bao gồm 80-85% đất (lấy trên nền đất xám phù sa cổ ở Đồng Nai) + 15-20% phân chuồng và 3-4%NPK/trọng lượng ruột bầu

Những kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhu cầu về phân bón là rất cầnthiết Tuy nhiên để bón phân có hiệu quả, tiết kiệm chi phí thì phải thử nghiệm với một số liều lượng phân bón để chọn ra được mức bón phân phù hợp, thí nghiệm bón phân cho cây con trồng trong bầu được tính theo trọng lượng bầu

1.2.4 Các công trình nghiên cứu về cây Mun

Hiện nay các công trình nghiên cứu cả ở trong nước và thế giới về cây Mun còn rất ít và chủ yếu là các công trình nghiên cứu mô tả về đặc điểm hình thái và vật hậu của loài cây này Các nghiên cứu ở nước ngoài ít có thông tin về loài cây này, chủ yếu là các thông tin mô tả về hình thái vật hậu, phân loại và một số ít thông tin

về đặc điểm sinh thái (theo trang web của theplanlist_ www.theplanlist.org), Ở Việt Nam thì cũng chủ yếu là các mô tả về hình thái vật hậu của loài này như các công trình của Phạm Hoàng Hộ (1993), và Lê Mông Chân –Lê Thị Huyên (2003)

Năm 1991, Trạm nghiên cứu khoa học thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương (1985) tiến hành xây dựng vườn thực vật, trong đó có trồng 0,5 ha cây Mun, tuy nhiên không thấy có chi tiết hướng dẫn về việc gieo ươm loài cây Nói tóm lại, Mun

là một loài cây gỗ quý hiếm có giá trị kinh tế cao đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu về gây trồng loài cây này còn quá ít ỏi, vì thế việc nghiên cứu gieo ươm loài cây này sẽ có giá trị đóng góp vào việc bảo tồn và phát triển loài cây này

Trang 11

Xác định được kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc của cây Mun trong giai đoạn

06 tháng tuổi ở vườn ươm

Mục tiêu cụ thể

- Xác định một số chỉ tiêu gieo ươm của hạt Mun bao gồm: trọng lượng 1.000 hạt, độ thuần, lượng nước tối thiểu của hạt, tỷ lệ nảy mầm kiểm nghiệm, tỷ lệ nảy mầm vườn ươm, thế nảy mầm

- Xác định được công thức xử lý hạt, hỗn hợp ruột bầu, mức độ che sáng và liều lượng Đạm, loại đất và kích thước bầu

- Đề xuất biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây Mun

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Việc gieo ươm được tiến hành tại vườn ươm thuộc xã Gia Tân 2, huyện

Thống Nhất tỉnh Đồng Nai nằm cách Quốc lộ 20 khoảng 600m

- Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, tháng lạnh nhất cũng không dưới 23,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.860 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82% Tổng năng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 110 – 120 kcal/cm2, lượng mưa tương đối lớn, trung bình năm 1.700 – 1.800 mm Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4

năm sau ( Nguồn http://www.thuviendongnai.gov.vn)

- Thời gian thực hiện: 6 tháng từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012

2.3 Vật liệu thí nghiệm:

- Hạt giống:

Địa điểm thu hái: tỉnh Ninh Thuận

Trang 12

Quả được thu hái vào khoảng tháng 9, tháng 10 năm 2010 và cất trữ hạt ở tủ lạnh ở nhiệt độ khoảng 16 oC

- Đất gieo ươm: Đất gieo ươm cây con được lấy từ xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, sử dụng tầng đất mặt có chiều dày khoảng 20 -30 cm, loại đất đen có kết von, loại đất đỏ bazan và đất nâu đỏ Hỗn hợp ruột bầu gieo trồng gồm đất + phân chuồng + xơ dừa + tro trấu trộn theo tỷ lệ: (90:5:2,5:2,5)

- Chế phẩm xử lý hạt: Hạt được xử lý bằng Atonik, Vipac, rong biển, trước khi gieo trong các thí nghiệm và thuốc trừ nấm bệnh Viben C 50 BTN

- Túi bầu Polyetylen, có kích thứớc 14cmx22cm, 17cmx24cm, 20cmx26cm

để cấy cây con

2.4 Nội dung nghiên cứu:

Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung sau đây:

- Các chỉ tiêu ban đầu của hạt giống và chỉ tiêu gieo ươm: trọng lượng 1000 hạt, độ thuần, lượng nước tối thiểu của hạt, tỷ lệ nảy mầm, thế nảy mầm

- Ảnh hưởng của một số chất xử lý hạt đến chất lượng nảy mầm của hạt và sinh trưởng của cây Mun trong giai đoạn vườn ươm

- Ảnh hưởng của thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Mun trong giai đoạn vườn ươm

- Ảnh hưởng mức độ che sáng và chế độ bón phân (Đạm) đến sinh trưởng của cây Mun trong giai đoạn vườn ươm

- Ảnh hưởng loại đất gieo ươm và kích thước bầu đến sinh trưởng của cây Mun giai đoạn gieo ươm

- Các biện pháp kỹ thuật gieo ươm

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Xác định một số chỉ tiêu gieo ươm của hạt cây Mun

+ Vật liệu thí nghiệm: hạt giống, giấy thấm, hộp nhựa, cân điện tử, tủ sấy hạt, hộp nhôm

+ Chỉ tiêu đo đếm:

Trang 13

- Độ thuần của hạt (PP: percentage purity of seed): là tỷ số phần trăm giữa khối lượng hạt thuần (hạt sạch) chứa trong mẫu kiểm nghiệm và khối lượng mẫu kiểm nghiệm, độ thuần của hạt cho biết tỷ lệ hạt thuần so với tạp vật và các phần hạt khác Hạt sau khi thu hái sẽ được tách lấy những hạt thuần và các hạt lép, hạt xấu để riêng Cân trọng lượng hạt thuần và trọng lượng mẫu thử với 3 lần lặp lại và tính theo công thức

Khối lượng của phần hạt sạch (g)

Độ thuần (%) = - - x 100 [2.1]

Khối lượng mẫu kiểm nghiệm (g)

- Trọng lượng 1000 hạt: trọng lượng (kg hay g) của 1000 hạt thuần Đếm lấy

100 hạt thuần đem cân bằng cân có độ chính xác đến 0,01g với 3 lần lặp, sau đó lấy trung bình của 3 lần lặp nhân với 10 ta có trọng lượng 1000 hạt Từ trọng lượng

1000 hạt, tính số hạt trên 1g hay số hạt trên 1kg

- Độ ẩm hạt (hàm lượng nước) là tỷ số phần trăm giữa lượng nước chứa trong hạt và khối lượng tươi của hạt, tính theo công thức

100 (%)

1 2

3

M M

M M Mc

Trong đó: M1 là trọng lượng bì (hộp đựng mẫu, kể cả nắp), M2 là trọng lượng

bì và hạt trước khi sấy, M3 là trọng lượng bì và hạt sau khi sấy

(Hàm lượng nước được xác định bằng cách cân và sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ

103oC±2oC trong vòng 17±1 giờ)

Kiểm nghiệm nảy mầm được thực hiện trên môi trường giấy thấm và cát ẩm

- Tỷ lệ nảy mầm của hạt (Gp: Germination percentage): phần trăm số hạt nảy mầm trên tổng số hạt kiểm nghiệm, tính theo công thức

Số hạt nảy mầm

Gp (%) = - x 100 [2.3]

Tổng số hạt kiểm nghiệm

Trang 14

- Thế nảy mầm: năng lực nảy mầm (GE: germination energy): Là tỷ số phần trăm giữa số hạt nảy mầm (cho cây mầm bình thường) trong 1/3 thời gian đầu của thời kỳ nảy mầm so với tổng số hạt kiểm nghiệm, tính theo công thức

Số hạt nảy mầm trong 1/3 thời gian đầu

Ge (%) = - x 100 [2.4] Tổng số hạt kiểm nghiệm

- Tỷ lệ sống của cây mầm (Ts%) là tỷ số phần trăm giữa số cây mầm sống và sinh trưởng bình thường trong thời gian theo dõi thí nghiệm so với tổng số hạt đem gieo, tính theo công thức

Tổng số cây cấy vào bầu

- Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn (St %), là tỷ số phần trăm giữa số cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn so với tổng số cây sống trong bầu, tính theo công thức

Số cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

St (%) = - - x 100 [2.7]

Tổng số cây sống trong bầu

2.5.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật xử lý hạt đến sinh trưởng của cây Mun giai đoạn vườn ươm

+ Vật liệu thí nghiệm: các chế phẩm dùng để xử lý hạt (Atonik, Vipac, Rong biển và Vitamin B1) có nồng độ là 0,05%

+ Thời gian xử lý là 12 giờ Hạt sau khi xử lý sẽ được kiểm tra nảy mầm trong các hộp nhựa, các hạt được đặt giữa 2 lớp giấy, trong một tuần kiểm tra nảy mầm 2 – 3 lần và những hạt đã nảy mầm sẽ đem trồng vô các bầu đất Thành phần ruột bầu giống nhau ở tất cả các công thức, gồm đất đen có kết von + phân chuồng

Trang 15

+ xơ dừa + tro trấu theo tỷ lệ (90:5:2,5:2,5) Đất được lấy ở tầng mặt, độ sâu từ 0 –

30 cm Các công thức đều được che bóng 50% trong 06 tháng đầu Các biện pháp chăm sóc (làm cỏ, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh…) đánh giá sự sinh trưởng của cây con sau gieo 6 tháng tuổi Công thức xử lý hạt giống bố trí như Bảng 2.1:

Bảng 2.1 Bảng công thức xử lý hạt gieo ươm

- Số cây trên đơn vị thí nghiệm: 49 cây

- Tổng số cây trên đơn vị thí nghiệm: 6 x 3 x 49 = 882 cây

+ Chỉ tiêu đo đếm:

- Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm: Tỉ lệ nảy mầm (G%); thế nảy mầm GE(%),

tỷ lệ sống của cây mầm (Ts %) theo công thức [2.3], [2.4], [2.5]

Trang 16

- Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng cây con bao gồm: Chiều cao cây(cm), đường kính cổ rễ (mm); Số lá trên cây; tỷ lệ sống chết, chất lượng cây con

2.5.3 Nghiên cứu ảnh hưởng thành phần hỗn hợp ruột bầu đến sinh trưởng của cây Mun giai đoạn vườn ươm

+Vật liệu thí nghiệm:

Thành phần hỗn hợp ruột bầu gieo ươm bao gồm:

Đất đen có kết von + phân chuồng hoai (phân bò )+ xơ dừa + tro trấu được trộn theo các tỷ lệ công thức (R1, R2, R3, R4, R5 ) các thành phần hỗn hợp ruột bầu được trộn đều rồi vô bầu có kích thước 17cmx24cm Hạt giống đã nảy mầm sau 1 tuần tuổi được cấy vào bầu, sau đó lấp đất với bề dày 1 cm Bầu được đặt nửa chìm nửa nổi trên luống, xếp xít nhau Đất được lấy ở tầng mặt, độ sâu từ 0 – 30 cm Các

công thức đều được che bóng 50% trong 06 tháng

Bảng 2.2 Bảng công thức thành phần hỗn hợp ruột bầu

+ Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ 1 nhân tố

Sơ đồ bố trí thí nghiệm thành phần ruột bầu đến sinh trưởng của cây con:

Trang 17

- Tổng số cây trên đơn vị thí nghiệm: 5 x 3 x 49 = 735 cây

- Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con sau gieo trồng thời gian 6 tháng

- Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng cây con bao gồm: Chiều cao cây(cm), đường kính cổ rễ (mm); Số lá trên cây; tỷ lệ sống chết, chất lượng cây con

2.5.4 Nghiên cứu ảnh hưởng mức độ che sáng và liều lượng đạm đến sinh trưởng của cây Mun giai đoạn vườn ươm

+ Vật liệu thí nghiệm:

Lưới che cây con (các mức từ 25%, 50%, và 75%) và phân Đạm chia thành 4 mức nồng độ 0%; 0,1%; 0,3%; 0,5% Thời gian bón phân cho cây con: 1 lần/ 2 tuần Hạt giống đã nảy mầm sau 1 tuần tuổi được cấy vào bầu, sau đó lấp đất với bề dày 1cm Bầu được đặt nửa chìm nửa nổi trên luống, xếp xít nhau Thành phần ruột bầu giống nhau ở tất cả các công thức, gồm đất đen có kết von + phân chuồng + xơ dừa + tro trấu theo tỷ lệ (90:5:2,5:2,5) Các biện pháp chăm sóc (làm cỏ, tưới nước,

phòng trừ sâu bệnh…)

+ Thí nghiệm được bố trí theo kiểu lô phụ, lô chính có 3 mức che sáng ở các mức từ 25% (A1); 50% (A2) và 75% (A3) và đối chứng không che (A0), lô phụ có

4 mức bón phân Đạm 0% (N1); 0,1% (N2); 0,3% (N3) và 0,5% ( N4)

Sơ đồ bố trí thí nghiệm độ che sáng đến sinh trưởng cây con

Trang 18

Tổng số cây thí nghiệm: 16 x 3 x 49 = 2352 cây

- Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con sau gieo trồng thời gian 06 tháng

- Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng cây con bao gồm: Chiều cao cây (cm),

đường kính cổ rễ (mm); Số lá trên cây; tỷ lệ sống chết, chất lượng cây con

2.5.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của loại đất gieo ươm và kích thước bầu đến sinh trưởng của cây Mun giai đoạn vườn ươm

+ Vật liệu thí nghiệm:

Sử dụng tầng đất mặt có chiều dày khoảng 20 -30 cm gồm đất đen có kết von (Đ1); đất đỏ bazan (Đ2); đất nâu đỏ (Đ3) và sử dụng túi bầu Polyetylen, có kích thước 14cmx22cm (KT1), 17cmx24cm (KT2) và 20cmx26cm (KT3) (kế thừa những kết quả từ việc xử lý hạt để chuẩn bị nguồn hạt gieo ươm)

Ngoài đất làm ruột bầu như trên, thành phần ruột bầu còn được bổ sung thêm phân chuồng, xơ dừa, tro trấu theo tỷ lệ (90:5:2,5:2,5) Các công thức đều được che bóng 50% trong 06 tháng đầu

Bảng 2.3 Bảng ký hiệu công thức loại đất và kích thước bầu

Nhân tố A: loại đất gieo ươm

Nhân tố B: kích thước bầu dùng để gieo ươm

- Số công thức: 3 x3 = 9

Trang 19

- Số lần lặp lại: 3

- Số cây trên đơn vị thí nghiệm: 49 cây

Tổng số cây trên đơn vị thí nghiệm: 9 x 3 x 49 = 1323 cây

Theo dõi quá trình sinh trưởng và phát triển của cây con sau gieo trong thời gian 06 tháng tuổi

- Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng cây con bao gồm: Chiều cao cây(cm),

đường kính cổ rễ (mm); Số lá trên cây; tỷ lệ sống chết, chất lượng cây con

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Mỗi lô thí nghiệm của một công thức được tiến hành đo đếm các cây còn sống Thời gian đo đếm được thực hiện theo định kỳ 2, 4 và 6 tháng tuổi Chỉ tiêu

và cách thức đo đếm như sau:

- Đường kính cổ rễ (Do, mm) được đo bằng thước kẹp Palme với độ chính xác 0,1 mm; đo hai chiều vuông góc, sau đó lấy giá trị trung bình làm kết quả đo

- Chiều cao thân cây (H, cm) được đo bằng thước kỹ thuật với độ chính xác 0,1 cm; mỗi cây đo hai lần, sau đó lấy giá trị trung bình làm kết quả đo

- Số lá trên một cây được lấy bình quân trên 3 cây thuộc cấp sinh trưởng trung bình theo các định kỳ đo đếm

2.6.2 Phương pháp xử lý số liệu

2.5.2.1 Một số chỉ tiêu kiểm nghiệm chất lượng sinh lý hạt giống

Việc kiểm nghiệm các chỉ tiêu sinh lý hạt giống được thực hiện theo tiêu chuẩn ngành số TCN-33-2001 và dựa trên tiêu chuẩn của Hội kiểm nghiệm Quốc tế (ISTA, 1999) Các chỉ tiêu kiểm nghiệm là: trọng lượng 1.000 hạt, tỷ lệ nảy mầm và thế nảy mầm của hạt

- Độ thuần (độ sạch) là tỷ số phần trăm giữa khối lượng hạt thuần (hạt sạch) chứa trong mẫu kiểm nghiệm và khối lượng mẫu kiểm nghiệm, xác định theo công thức 2.1

- Khối lượng 1000 hạt là khối lượng tính bằng gam của 1.000 hạt thuần

Trang 20

Áp dụng phương pháp cân khối lượng của ISTA Mẫu hạt để xác định khối lượng 1.000 hạt được lấy ra từ phần hạt sạch đã loại bỏ tạp chất Thông thường khối lượng hạt được tính bằng 4 lần lặp của các mẫu, số hạt trong mỗi lần lặp là 25 hạt Sau khi cân mẫu hạt qua các lần lặp kết quả tính được trọng lượng 1.000 hạt và số hạt trong 1 kg hạt

- Độ ẩm hạt (Hàm lượng nước) là tỷ số phần trăm giữa lượng nước chứa trong hạt và khối lượng tươi của hạt, xác định theo công thức 2.2

- Tỷ lệ nảy mầm (Gp %) là tỷ số phần trăm giữa số hạt nảy mầm (cho cây mầm bình thường) so với tổng số hạt kiểm nghiệm, xác định theo công thức 2.3

- Thế nảy mầm (Ge %): Là tỷ số phần trăm giữa số hạt nảy mầm (cho cây mầm bình thường) trong 1/3 thời gian đầu của thời kỳ nảy mầm so với tổng số hạt kiểm nghiệm, xác định theo công thức 2.4

- Tỷ lệ sống của cây mầm (Ts%) là tỷ số phần trăm giữa số cây mầm sống và

sinh trưởng bình thường trong thời gian theo dõi thí nghiệm so với tổng số hạt đem gieo, xác định theo công thức 2.5

2.5.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả gieo ươm

+ Tỷ lệ cây sống (Sp %), là tỷ số phần trăm giữa số cây sống sót trong bầu so với tổng số cây mầm cấy vào bầu, xác định theo công thức 2.6

+ Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn (St %), là tỷ số phần trăm giữa số cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn so với tổng số cây sống trong bầu, xác định theo công thức 2.7

2.5.2.3 Một số chỉ tiêu thống kê mô tả và thống kê phân tích

Tất cả các số liệu đo đếm về sinh trưởng đường kính (D0, mm), chiều cao (H, cm) của cây Mun ở các giai đoạn tuổi khác nhau trên các công thức đều được xử lý

bằng phương pháp thống kê

Những tính toán thống kê mô tả và kiểm định các giả thuyết được thực hiện bằng phần mềm thống kê SPSS 13.0 và bảng tính Excel Sau đó, những kết quả tính toán được tổng hợp thành bảng và đồ thị để phân tích

Trang 21

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số chỉ tiêu gieo ươm của hạt cây Mun

Quả sau khi thu hái được trải mỏng trên sàn, hong khô tự nhiên, thông thoáng và đảo đều để đảm bảo độ ẩm quả đồng đều Kết qủa xác định một số chỉ tiêu gieo ươm như sau:

3.1.1 Độ thuần của hạt

- Khối lượng của phần hạt sạch: 1337 g

- Khối lượng mẫu kiểm nghiệm (sau khi thu hái ở Ninh Thuận): 1350 g

Theo công thức [2.1]

Khối lượng của phần hạt sạch (g) 1337g

Độ thuần (%) = - x 100 = - = 99,04%

Khối lượng mẫu kiểm nghiệm (g) 1350 g

Ảnh 1: (a) Hạt Mun sau khi thu hái ở Ninh Thuận; (b) sau khi loại hạt lép

Trang 22

- Trọng lượng 1000 hạt: 163,67g

- Số hạt/1 kg = 6110 hạt

3.1.3.Lượng nước chứa trong hạt

- Trọng lượng bì (Hộp đượng mẫu, cả nắp đậy) M1: 30g

- Trọng lượng bì và hạt trước khi sấy M2 : 46,65g

- Trọng lượng bì và hạt sau khi sấy M3: 44,07g

Theo công thức [2.2]

100 (%)

1 2

3

M M

M M Mc

30 65 , 46

07 , 44 65 , 46

3.1.5 Năng lực nẩy mầm (sức nẩy mầm, thế nẩy mầm) (GE)

- Tổng số hạt đem kiểm nghiệm (số hạt được xử lý): 6000 hạt

- Tổng số hạt nảy mầm trong 1/3 thời gian đầu: 4305 hạt

- Tổng số hạt gieo thí nghiệm (hạt đã nảy mầm): 5292 hạt

- Tổng số cây mầm sống bình thường: 4994 cây mầm

Theo công thức [2.5]

Số cây mầm sống bình thường 4994

Ts (%) = - x 100= - x 100= 94,36 %

Tổng số hạt gieo thí nghiệm 5292

Trang 23

3.1.7 Tỷ lệ cây sống

- Số cây còn sống trong bầu: 4314 cây

- Số cây cấy vào bầu: 5292 cây

Theo công thức [2.6]

Số cây sống trong bầu 4314

Sp (%) = - x 100 = - x 100 = 81,52%

Tổng số cây cấy vào bầu 5292

3.1.8 Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

- Số cây còn sống trong bầu: 4314 cây

- Số cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn: 3441 cây

Theo công thức [2.7 ]

Số cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn 3441

St (%) = - x 100 = - x 100 = 79,76%

Tổng số cây sống trong bầu 4314

Tóm lại, kết quả xác định một số chỉ tiêu gieo ươm cho thấy, hạt Mun có độ thuần rất cao (99,04%), Lượng nước chứa trong hạt khá thấp (15,5%) nên có thể áp dụng phương pháp cất trữ khô Tỷ lệ nảy mầm của hạt rất cao đạt 97,83%, hạt có sức sống rất tốt với năng lực nảy mầm của hạt là 71,75% Tuy nhiên, tỉ lệ cây con sản xuất thuộc loại trung bình (79,76%), vì vậy cần phải có lượng hạt nhiều hơn số lượng cây con cần trồng để bù đắp số cây con đã bị chết Mặc dù hạt có sức sống khoẻ nhưng do hạt rất mỏng, nhẹ, cây mầm yếu nên khả năng sống sót sau khi gieo

bị hạn chế

3.2 Kết quả đánh giá ảnh hưởng của kỹ thuật xử lý hạt

3.2.1 Ảnh hưởng của xử lý hạt đến chất lượng nảy mầm của hạt

Mục đích của thí nghiệm là có thể tạo điều kiện thuận lợi cho hạt vừa nảy mầm nhanh và đều, qua đó theo dõi ảnh hưởng của việc xử lý đến quá trình sinh trưởng của cây trong giai đoạn đầu khi cây con chưa đủ khả năng để hấp thu dinh dưỡng tốt Trên cơ sở kết quả kiểm nghiệm các chỉ tiêu sinh lý hạt giống của việc

xử lý hạt được được trình bày ở Bảng 3.1

Trang 24

Bảng 3.1: Kết quả nảy mầm của hạt sau khi xử lý

Công thức Số hạt

xử lí

Số hạt nảy mầm

Tỷ lệ nảy mầm của hạt (%)

Thời gian nảy mầm sớm nhất (ngày, sau khi xử lý)

Thời gian kết thúc nảy mầm (ngày)

95.5 96 96.5 97 97.5 98 98.5 99

Trang 25

Từ bảng 3.1 và phụ lục 1.1 cho thấy không có sự khác biệt giữa các công thức xử lý hạt (sig <0,05), tỷ lệ nảy mầm của các công thức là rất cao đạt từ 96,5-98,5 % Nhìn chung tỷ lệ nẩy mầm giữa các công thức là khá đồng đều mặt dù ở 3 công thức X2, X3 và X5 đạt tỷ lệ nẩy mầm là 98,5% (so với 96,5 % ở công thức đối chứng)

Xét về thời gian nẩy mầm, thời gian bắt đầu nẩy mầm là từ 4-5 ngày và thời gian kết thúc nảy mầm giao động từ 10-14 ngày giữa các công thức thực nghiệm Thời gian bắt đầu và kết thúc nẩy mầm ở ba công thức X1, X2 và X4 là sớm nhất (bắt đầu nẩy mầm từ ngày thứ 4 và kết thúc vào ngày thứ 10) Trong khi đó ở công thức đối chứng thời gian này kéo dài hơn (bắt đầu từ ngày thứ 5 và kết thúc sau 14 ngày) Kết quả ở Bảng 3.1 cũng chỉ ra rằng, thời gian hạt nảy mầm của hạt Mun là khá nhanh so với nhiều loài cây loài cây gỗ quý khác được tổng hợp trong sổ tay Kỹ thuật gieo ươm một số loài cây rừng (1995) Cụ thể như Gõ đỏ (8-20 ngày) và gõ mật (7-28 ngày)

Từ kết quả trên cho thấy hạt Mun là loại hạt dễ nẩy mầm và chỉ cần xử lý đơn giản bằng nước ấm là có thể cho tỷ lệ nẩy mần rất cao, và thời gian nẩy mầm là khá nhanh

3.2.2 Ảnh hưởng của xử lý hạt đến sinh trưởng cây con

Kết quả đo tính một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây Mun trong giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm được ghi vào Bảng 3.2 dưới đây

Bảng 3.2: Sinh trưởng cây Mun con dưới ảnh hưởng của xử lý hạt

Số lá/cây

D0

(mm)

H(cm)

Số lá/cây

D0

(mm)

H(cm)

Số lá/câyX0 (1) 110 1,62 13,43 4,3 2,99 29,3 12,3 4,45 51,4 24,5X1 (2) 123 1,64 14,35 5,3 3,18 31,5 12,6 4,58 51,9 28,9X2 (3) 105 1,65 14,30 5,2 3,19 29,6 13,6 4,92 54,8 31,5X3 (4) 112 1,68 14,84 5,3 3,21 30,1 13,0 4,97 57,4 32,6X4 (5) 136 1,64 14,88 5,3 3,07 33,3 12,7 4,78 54,0 30,1X5 (6) 130 1,64 14,05 4,9 2,95 29,7 12,1 4,73 53,4 31,2

Trang 26

Ghi chú: Công thức X0, X1, X2, X3, X4, X5 được mã hóa tương ứng 1, 2, 3, 4, 5, 6

Giai đoạn 2 tháng tuổi

Giai đoạn 4 tháng tuổi

Giai đoạn 6 tháng tuổi

0 10 20 30 40 50 60 70

Hình 3.2a Đường kính Do (mm) dưới ảnh

hưởng của các công thức xử lý hạt

Hình 3.2b Chiều cao Hvn (cm) dưới ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt

Kết quả bảng 3.2 cho thấy việc xử lý hạt giống không chỉ ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt giống mà còn ảnh hưởng tới sinh trưởng của cây con Mun, cụ thể như sau:

Ở giai đoạn 2 tháng tuổi

Theo Bảng 3.2 đường kính gốc (cổ rễ) trung bình của cây Mun dưới sự ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt X0, X1, X2, X3, X4, X5 tương ứng là 1,62 mm, 1,64mm, 1,65mm, 1,68 mm 1,64 mm và 1,64mm Chiều cao trung bình cây con dưới sự ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt X0, X1, X2, X3, X4 và X5 tương ứng là 13,43 cm, 14,35cm, 14,30 cm, 14,84 cm, 14,88 cm và 14,05 cm, và số lá trung bình/cây dưới sự ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt tương ứng là 4,3 lá 5,3 lá , 5,2 lá, 5,3 lá, 5,3 lá và 4,9 lá

Kết quả phân tích phương sai một nhân tố (xem Phụ luc 2.1) về đường kính

cổ rễ cho F = 1,607 và Sig = 0,156 (>0,05) đã chứng minh rằng sinh trưởng về đường kính của các công thức xử lý hạt không có sự khác biệt rõ rệt, ngoại trừ ở công thức xử lý hạt bằng Vipac (0,05%) (X3) cây con đạt đường kính cổ rễ đạt lớn nhất (1,68mm)

Kết quả phân tích phương sai một nhân tố (xem Phụ lục 2.1) cũng cho thấy xác suất của F đối với chỉ tiêu về cả chiều cao (có F = 4,621 và Sig = 0,000 <0,05)

Trang 27

và số lá trung bình/cây (có F = 9,781 và Sig = 0,000 <0,05) đều nhỏ hơn 0,05 nói lên rằng sinh trưởng chiều cao và số lá trung bình/ cây của các công thức xử lý hạt

Ở giai đoạn 4 tháng tuổi

Theo Bảng 3.2 đường kính cổ rễ cây con dưới ảnh hưởng của các công thức

kê ở giai đoạn 04 tháng tuổi Theo tiêu chuẩn Duncan cho thấy đối với trung bình

về đường kính ở giai đoạn này được chia thành chia thành 02 nhóm: nhóm 1 là nhóm có trung bình về đường kính thấp nhất, xấp xỉ nhau ứng với công thức X5, X0, X4 và đạt thấp nhất là công thức X5 (2,95 mm), nhóm 2 là nhóm có trung bình

về đường kính cao nhất và xấp xỉ nhau ứng với công thức X4, X1,X2, X3 trong đó công thức X3 (xử lý bằng Vipac 0,05%) đạt cao nhất (3,21 mm)

Còn đối với trung bình về chiều cao ở giai đoạn này được chia thành 02 nhóm, nhóm 1 có các trị số trung bình đạt thấp và đạt thấp nhất là công thức X0 (Đối chứng), nhóm 2 có chiều cao trung bình được xem là tốt nhất và đạt cao nhất

Trang 28

ở công thức xử lý Rong biển 0,05 % (X4) là 33,25 cm Tuy nhiên số lá trung bình/cây ở 04 tháng tuổi dưới ảnh hưởng giữa các công thức xử lý hạt không có sự khác biệt về mặt thống kê (F = 1,214; Sig = 0,301 > 0,05) trừ công thức X2 (xử lý hạt bằng nước ấm 70 độ C) đạt giá trị cao nhất (13,6 lá)

Ở giai đoạn 6 tháng tuổi

Theo Bảng 3.2, đường kính cổ rễ cây Mun con dưới sự ảnh hưởng của các nghiệm thức xử lý hạt X0, X1, X2, X3, X4, X5 tương ứng là 4,45 mm, 4,58 mm, 4,92 mm, 4,97 mm, 4,78, mm và 4,73 mm Chiều cao trung bình cây con dưới sự ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt tương ứng là 51,4 cm, 51,9 cm, 54,8 cm, 57,4 cm, 54 cm và 53,4 cm Số lá trung bình/ cây dưới sự ảnh hưởng của các công thức xử lý hạt X0, X1, X2, X3, X4 và X5 tương ứng là 24,5 lá, 28,9 lá, 31,5 lá, 32,6

Theo tiêu chuẩn Duncan (xem Phụ lục 2.3) cho thấy đối với trung bình về đường kính được chia thành chia thành 03 nhóm, nhóm 1 là nhóm có trung bình về đường kính thấp nhất, ứng với công thức X0 (4,4 mm) và X1 (4,58mm), nhóm 3 là nhóm có trung bình về đường kính cao nhất và xấp xỉ nhau ứng với công thức X5, X4, X2, X3 trong đó công thức X3 đạt cao nhất (4,97 mm) Còn đối với trung bình

về chiều cao ở giai đoạn này được chia thành 02 nhóm, nhóm 1 có các trị số trung bình đạt thấp hơn nhóm 2 và đạt thấp nhất là (51,4 cm) ở công thức X0, nhóm 2 có chiều cao trung bình được xem là tốt nhất và đạt cao nhất là (57,4 cm) ở công thức X3 kế đến là ở công thức X2, X4 Đối với trung bình số lá/cây được phân thành 3 nhóm, nhóm 1 là nhóm có số lá trung bình/cây thấp nhất (24,5 lá) ứng với công thức X0, nhóm 3 là nhóm công thức có số lá trung bình/cây nhiều nhất ứng với công thức X4, X5, X2, X3 và đạt cao nhất là công thức X3 (32,6 lá)

Trang 29

Tóm lại ở giai đoạn 06 tháng tuổi cho thấy công thức thức X2 (xử lý bằng Altonik 0,05%) và X3 (Vipac 0,05%) có các chỉ tiêu sinh trưởng tốt hơn so với các công thức còn lại Như vậy, chế phẩm Altonik và Vipac đã giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn so với các công thức xử lý hạt khác

Như vậy việc xử lý hạt cho thấy không những tác động tích cực đến chất lượng nảy mầm mà còn có tác động đến quá trình phát triển của cây con so với những hạt được gieo mà không có xử lý Kết luận trong nghiên cứu này có điểm tương đồng với một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của biện pháp xử lý hạt cho một số loài cây rừng của nhiều tác giả như Lê Đình Khả (1996), Trương Mai Hồng (2003), việc xử lý hạt ban đầu có tác dụng cho hạt kích thích nảy mầm nhanh

và đồng đều hơn, giúp cây con phát triển nhanh hơn

Mặc dù hạt Mun dễ nẩy mầm theo phương pháp xử lý bằng nước ấm thông thường, nhưng việc sử dụng chế phẩm Altonik và Vipac nồng độ 0,05% thời gian ngâm sau 12 giờ để xử lý hạt còn có tác dụng thúc đẩy cây con sinh trưởng và phát triển tốt hơn

3.3 Ảnh hưởng của thành phần ruột bầu đến sinh trưởng cây con

Hỗn hợp ruột bầu gieo ươm được xem như là môi trường cung cấp dinh dưỡng cho cây con; một hỗn hợp ruột bầu tốt sẽ giúp cho rễ cây dễ dàng hấp thu tốt các dinh dưỡng có sẵn để cung cấp cho cây con Do đó mục đích của thí nghiệm này là thử nghiệm ảnh hưởng của hàm lượng phân chuồng hoai, xơ dừa và tro trấu trong thành phần ruột bầu đến sinh trưởng của cây Mun ở giai đoạn vườn ươm Kết quả tính toán một số chỉ tiêu sinh trưởng dưới các công thức thí nghiệm thành phần ruột bầu khác nhau được tổng hợp ở Bảng 3.3

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w