Nghiên cứu vai trò của ánh sáng đến cây con trong giai đoạn vườn ươm Ánh sáng là nhân tố vật lý quan trọng nhất, chi phối sự sinh trưởng và pháttriển của thực vật.. Một số tài liệu nghiê
Trang 1TR ƯỜ NG Đ I H C LÂM NGHI P Ạ Ọ Ệ
=====***=====
NGUY N TH D Ễ Ị ƯƠ NG
NGHIÊN C U K THU T NHÂN GI NG VÀ NUÔI DỨ Ỹ Ậ Ố ƯỠ NG
CÂY CON CÂY MÁU CHÓ LÁ TO (Knema pierrei Warb)
LU N VĂN TH C SĨ KHOA H C LÂM NGHI P Ậ Ạ Ọ Ệ
HÀ N I, NĂM 2013 Ộ
Trang 2TR ƯỜ NG Đ I H C LÂM NGHI P Ạ Ọ Ệ
=====***=====
NGUY N TH D Ễ Ị ƯƠ NG
NGHIÊN C U K THU T NHÂN GI NG VÀ NUÔI DỨ Ỹ Ậ Ố ƯỠ NG
CÂY CON CÂY MÁU CHÓ LÁ TO (Knema pierrei Warb)
CHUYÊN NGÀNH: LÂM H C Ọ
MÃ S : 60.62.02.01 Ố
LU N VĂN TH C SĨ KHOA H C LÂM NGHI P Ậ Ạ Ọ Ệ
Ng ườ ướ i h ng d n khoa h c: 1 TS Đ ng Th nh Tri u ẫ ọ ặ ị ề
2 TS Nguy n Anh Dũng ễ
HÀ N I, NĂM 2013 Ộ
Trang 3MỞ ĐẦU
Rừng có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhiều lĩnh vực nhằm phục vụ cácnhu cầu của con người Rừng không những cung cấp các sản phẩm cho nền kinh tếquốc dân mà còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ đất, duy trì cân bằng sinh thái và bảo
vệ môi trường sống
Trong thời gian qua, dân số gia tăng kết hợp với tăng trưởng kinh tế đã tácđộng đến nhu cầu về các lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp ở Việt Nam Khi thu nhậptăng lên, cũng như các nhu cầu khác, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm từ gỗ cũngtăng Xu hướng này đã tăng thêm mâu thuẫn giữa mục đích bảo vệ và bảo tồn vớisản xuất và tiêu dùng, hậu quả của nó đối với ngành Lâm nghiệp là diện tích rừng
và đất rừng đã giảm liên tục từ năm 1945 đến đầu những năm 90 của thế kỷ trước.Trước những diễn biến tiêu cực về diện tích và chất lượng rừng, Chính phủ ViệtNam đã có nhiều chương trình nhằm nâng cao chất lượng và độ che phủ của rừngnhư Chương trình phủ xanh đất trồng đồi trọc (Chương trình 327), Chương trìnhtrồng mới 5 triệu ha rừng (Chương trình 661) vv Kết quả là đến năm 2012, độ chephủ của rừng ở nước ta đã tăng lên 39,7 % (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn, 2012)
Mặc dù đã được tăng lên trong thời gian qua, nhưng diện tích rừng hiện tạichủ yếu là rừng non mới trồng và rừng trồng thuần loài bằng những loài cây nhậpnội, sinh trưởng nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn Giá trị phòng hộ, bảo vệ môitrường, đa dạng sinh học của các loại rừng này không cao Nhiều nghiên cứu đãchỉ ra rằng: những lâm phần rừng hỗn loài, khác tuổi có khả năng phòng hộ và bềnvững cao hơn những lâm phần rừng thuần loài đều tuổi
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng cây bảnđịa vào trồng rừng và đã có những thành công bước đầu trong xây dựng rừng hỗngiao cây lá rộng bản địa Bên cạnh đó nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sự thànhcông của trồng rừng ở nhiệt đới phụ thuộc không chỉ vào đặc tính sinh học của loàicây, mà còn vào số lượng và chất lượng cây con cũng như nhiều nhân tố ngoại cảnh
Trang 4khác Rừng trồng được hình thành từ những cây con tốt sẽ sinh trưởng nhanh, cạnhtranh tốt với cỏ dại, nhanh khép tán, giảm chi phí trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng.
Ở Việt Nam, Máu chó lá to là cây bản địa, đường kính có thể đạt 40cm,chiều cao 10-15m, thân thẳng tròn, vỏ màu trắng nâu, thịt vỏ màu trắng hồng, cànhnon có khía và phủ lông màu nâu đỏ, có nhựa mủ màu đỏ Gỗ màu trắng vàng, nhẹ,thớ mịn, được dùng làm đồ gia dụng, tiện khắc, làm diêm, hạt được sử dụng trongngành dược liệu [6] Tuy nhiên, cho đến nay các công trình nghiên cứu về loài câynày có rất ít Do vậy, Máu chó lá to chưa được đưa vào trồng rừng sản xuất mà chỉ
có một số Vườn Quốc Gia trồng tại các vườn sưu tập thực vật với quy mô nhỏ
Để góp phần tìm hiểu về loài cây bản địa này, trong khuôn khổ luận văn tốt
nghiệp thạc sĩ, đề tài: "Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và nuôi dưỡng cây con
Máu chó lá to (Knema pierrei Warb) " được thực hiện là rất cần thiết, góp phần bổ
sung cơ sở khoa học cho việc xây dựng quy trình kỹ thuật nhân giống loài cây này
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Máu chó lá to có tên khoa học là Knema pierrei Warb thuộc họ Máu chó
(Myristicaceae) Ở Việt Nam, Máu chó lá to được biết đến là một loài cây gỗ lớn
có phân bố rộng và đa tác dụng Gỗ được dùng để làm trụ mỏ, đóng đồ dùng trongnhà, hạt dùng để làm thuốc Sau đây là một số thông tin, kết quả nghiên cứu về loàinày và các vấn đề liên quan trên thế giới và ở Việt Nam
Theo Li Yan Hui năm 1976, Knema pierrei Warb là cây gỗ lớn, cao 15 - 20
m, đường kính 20 - 40 cm, thân tròn thẳng Vỏ thân màu nâu xám, thịt vỏ màutrắng hồng Cành non có khía và phủ lông màu nâu đỏ, có nhựa màu đỏ Lá đơn,mọc cách, hình mác thuôn, đầu lá nhọn, gốc hình tim hay tròn, gân bên 14 - 20 đôi.Hoa đơn tính khác gốc Cụm hoa có cuống rất cứng Bao hoa 3 thuỳ Quả hình cầu,mọc đơn độc, vỏ dày, màu nâu, phủ lông dày [26]
1.1.2 Nghiên cứu về gieo ươm các loài cây thân gỗ
1.1.2.1 Ảnh hưởng của việc xử lý hạt tới nảy mầm của hạt
Hạt của nhiều loài cây gỗ có thể nảy mầm dễ dàng khi có điều kiện thuậnlợi về độ ẩm và nhiệt độ Tuy nhiên, cũng có nhiều loài cây hạt rất khó nảy mầm,
sự nảy mầm chậm trễ và không đồng đều ở vườn ươm là một khó khăn lớn trongviệc sản xuất cây con Loài cây khác nhau thì hạt sẽ có thời gian nảy mầm khácnhau, vì vậy trong sản xuất, cần áp dụng các biện pháp xử lý hạt để hạt nảy mầmvới tỷ lệ cao, đồng đều trong thời gian ngắn nhằm tiết kiệm được thời gian, nângcao chất lượng và chi phí tạo cây con
Trang 6Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm tìm phương pháp xử lý hữu hiệu
để đảm bảo hạt sẽ nảy mầm nhanh và đồng đều trong vườn ươm Tổng kết cácnghiên cứu đó được phân chia thành các phương pháp xử lý hạt chủ yếu sau:
- Phương pháp cơ giới: là phương pháp cắt, dùi, chà sát hoặc chích các lỗ nhỏtrên vỏ hạt trước khi gieo Như ở Ấn Độ, phương pháp chà sát đã thành công vớinhiều loại hạt như: Albizzia catechu, Acacia nilotica, Dichirostachys cinerea (Pottanath, 1982) [9].
- Phương pháp xử lý nhiệt: đây là phương pháp thường được áp dụng vì đơngiản, dễ làm, ít tốn thời gian và công sức Theo Matiat và cộng sự (1973), ngâmhạt Thông caribe 48 giờ trong nước ở nhiệt độ thường cho kết quả nảy mầm đồngđều hơn hạt không ngâm Bower và Eubio (1981) đã cho thấy rằng đối với hạt
Acacia mangium ở Sabah - Malaysia có sự tương quan chặt chẽ giữa nhiệt độ xử lý
của nước với tỷ lệ nảy mầm của hạt Kết quả cho thấy tỷ lệ nảy mầm của hạt tăngdần 5% đến 91%, khi nhiệt độ tăng từ 30oC đến 100oC Từ thí nghiệm trên, người
ta đã quy định xử lý hạt loại cây này như sau: Cho một thể tích hạt vào 5 thể tíchnước ở nhiệt độ 100oC khuấy đều trong 30 giây, rót hết nước nóng ra rồi tiếp tụcngâm trong nước gấp 20 lần thể tích hạt ở nhiệt độ thường để qua đêm Đối vớinhững loại có vỏ hạt rất cứng, với phương pháp đốt cũng cho kết quả hạt nảy mầm
nhanh và nhiều Ở Philippin hạt Aleurites moluccana được xử lý bằng cách trải ra
đất sau đó phủ một lớp cỏ tranh dày 3cm rồi đốt Ngay sau khi cỏ cháy hết thì chohạt vào nước lạnh Sự thay đổi nhanh chóng về nhiệt độ có thể làm cho hạt nứt ra
và đem gieo (Seeber và Agpaoa, 1976) [9]
- Phương pháp hóa học: Dùng các loại hoá chất để xử lý hạt giống là nhằmlàm cho vỏ hạt mỏng ra, nước và không khí có thể thấm qua vỏ hạt dễ dàng, kíchthích sự hoạt động của các men, tăng cường hoạt động trao đổi chất trong nội tạicủa hạt, do đó hạt nảy mầm nhanh hơn Các chất hoá học thường dùng là các loại
axit, các muối vô cơ như: H2SO4, HNO3, KNO3(0,l - 0,2%), MnSO4(0,03 - 0,2%),
ZnSO4(0,03 - 0,05%), CuSO4(0,001 - 0,01%),… với nồng độ và thời gian tuỳ theo
từng loại hạt Theo Kison và cộng sự (1983), ngâm hạt Gledisia triacanthos trong
Trang 7dung dịch H2SO4 trong 1 giờ; hạt Cezatonia siliqua trong 2 giờ sẽ cho kết quả nảy mầm tốt hơn Hạt loài Leucaena khi không được xử lý làm mỏng vỏ hạt, chúng
hoàn toàn không thấm nước và do đó không thể nảy mầm Sau khi ngâm axit(H2SO4) đậm đặc rồi ngâm nước tỷ lệ nảy mầm của lô hạt đạt 42% (Nisa vàQuadir, 1969) [9]
- Phương pháp sinh học: hạt giống sau khi qua cơ quan tiêu hóa của độngvật nảy mầm tốt hơn nhiều hạt bình thường Năm 1976, Goor và Barney đã nhốt dê
và cho ăn quả Acacia senegal và Ceratonia siliqua sau đó người ta nhặt hạt từ
phân của chúng Các hạt được các loài động vật nhai lại ợ ra sau khi nhai một phầncũng có tác dụng tương tự
Như vậy, có nhiều cách xử lý hạt khác nhau, tùy từng loại hạt mà áp dụngphương pháp xử lý hạt phù hợp để cho kết quả cao nhất và ít tốn kém nhất Trongcác phương pháp trên thì phương pháp xử lý hạt bằng nước nóng là đơn giản, dễlàm và ít tốn kém nhất Chỉ nên sử dụng phương pháp khác khi không sử dụngđược phương pháp này hoặc phương pháp này đạt hiệu quả không cao
1.1.2.2 Nghiên cứu vai trò của ánh sáng đến cây con trong giai đoạn vườn ươm
Ánh sáng là nhân tố vật lý quan trọng nhất, chi phối sự sinh trưởng và pháttriển của thực vật Tuy nhiên, ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng của thựcvật phụ thuộc vào nhiều yếu tố của ánh sáng như cường độ, chất lượng, thời lượngcũng như chu kỳ chiếu sáng (Khanna, 1981 [48]; Denslow, 1980 [39]; Popma vàBongers, 1988 [60])
Ở rừng mưa nhiệt đới, môi trường ánh sáng trong rừng thường không đồngnhất, vì thế các loài thực vật phải biến đổi để thích nghi với sự khác nhau về môitrường ánh sáng trong rừng Rất nhiều loài cây gỗ có thể tồn tại ở điều kiện dướitán rừng dày đặc và nó được coi là loài chịu bóng hoàn toàn Vì thế, sự hiểu biết vềtái sinh và diễn thế trong rừng nhiệt đới thì cần phải có thông tin về phản ứng củatừng loài cụ thể đối với mức độ chiếu sáng khác nhau Ý nghĩa sinh học của sựphản ứng ánh sáng của cây con thường được nghiên cứu thông qua “động thái của
lỗ trống” <Gap phase dynamics> (Augspurger, 1984 [27]; and Brokaw, 1985 [30]),
Trang 8một khái niệm ban đầu được phát triển nhằm lý giải cho sự phong phú về đa dạngloài trong rừng nhiệt đới.
Phản ứng chịu bóng của cây con lâu nay đã được đề cập trong lĩnh vựcnghiên cứu chuyên sâu, nhằm mục tiêu dự đoán sự phản ứng ánh sáng của thực vậttrong điều kiện tái sinh tự nhiên hoặc trong những thí nghiệm lâm sinh Rừng nhiệtđới được đánh giá là nơi có số lượng loài cây con chịu bóng thích hợp để phát triển
hệ thống đánh giá (Whitmore 1984) [81] Việc phân loại các loài thực vật rừngthành từng nhóm, dựa trên trạng thái diễn thế và sự chịu bóng (Whitmore, 1989)[82] đã dấy lên những vấn đề cần thảo luận, một sự tăng lên về nhận thức rằng rất cóthể sẽ có một sự liên tục về phản ứng che bóng giữa các cây con của những loàikhác nhau Thêm vào đó, các loài có thể không thể phân biệt về khoảng cách ánhsáng (Welden và cộng sự 1991) [79]
Một số tài liệu nghiên cứu nước ngoài về biến động của các nhân tố sinhthái dưới tán rừng và ảnh hưởng của nó đến sinh trưởng, phát triển của lớp cây táisinh đều chứng minh rằng: chế độ ánh sáng dưới tán rừng hỗn giao lá rộng nhiệtđới thường thấp hơn ở ngoài rừng và chỉ đạt 0,5 - 1,0% các tia bức xạ quang hợp(Xirli, 1954; Logan, 1996) và các loại rừng khác có thể đạt từ 1 - 2% cường độ ánhsáng hoàn toàn Trong khi đó đối với các loài cây chịu bóng chỉ cần ánh sáng 550-
1600 lux, tương đương với 0,5 - 1,5% lượng ánh sáng hoàn toàn
Những nghiên cứu về phản ứng ánh sáng cho cây rừng nhiệt đới châu Ámới chỉ giới hạn ở sự nảy mầm (Raich và Gong, 1990) [61] và số lượng cây controng rừng tự nhiên hoặc rừng đã bị tác động mạnh (Liew và Wong, 1973 [53];Brown and Whitmore, 1992 [31]; Turner và cộng sự, 1992 [72]) Nicholson (1960)[58]) so sánh nhu cầu ánh sáng của năm loài cây con họ Dầu ở điều kiện bị chebóng không hoàn toàn, nhưng mức độ ánh sáng quá cao để có ý nghĩa sinh thái.Sasaki and Mori (1981) [64] đã kết hợp giữa điều tra thực địa và thí nghiệm để
đánh giá khả năng chịu bóng của 4 loài cây bao gồm Shorea talure, S avails,
Hopea helferei, và Vatica odorata, kết quả cho thấy, sinh trưởng của cây con bị ức
chế khi cường độ ánh sáng cao hơn 50% Ashton và De Zoysa (1990) [26] cũng đã
Trang 9chứng minh sự hạn chế khả năng sinh trưởng của cây con trong điều kiện chiếu
sáng hoàn toàn ở loài Shorea trapezifolia ở Sri Lanka Trong một nghiên cứu khác, cây con Intsia palembanica sinh trưởng nhanh chủ yếu trong điều kiện chiếu sáng
Sự sống sót ban đầu của cây con ở điều kiện đất trồng rừng cũng phụ thuộcvào việc điều chỉnh ánh sáng trong giai đoạn vườn ươm Những cây con sinhtrưởng với cường độ ánh sáng thấp sẽ hình thành các lá chịu bóng Nếu bất ngờđưa chúng ra ngoài ánh sáng và kèm theo điều kiện ẩm độ, nhiệt độ thay đổi,chúng sẽ bị ức chế bởi ánh sáng mạnh Điều này có thể làm cho cây con bị chếthoặc giảm tăng trưởng cho đến khi các lá chịu bóng được thay thế bằng các lá ưa
Trang 10sáng (Kimmins, 1998) [83] Chế độ ánh sáng được coi là thích hợp cho cây con ởvườn ươm khi nó tạo ra tỷ lệ lớn giữa trọng lượng rễ/trọng lượng thân, hình tháitán lá cân đối, tỷ lệ chiều cao/đường kính Đặc điểm này cho phép cây con có thểsống sót và sinh trưởng tốt khi chúng bị phơi ra ánh sáng hoàn toàn Vì thế, tronggieo ươm nhà lâm học phải chú ý đến nhu cầu ánh sáng của cây con.
1.1.2.3 Nghiên cứu vai trò của nước đến cây con trong giai đoạn vườn ươm
Nước là nhân tố quan trọng nhất đối với tất cả các cơ thể sống trên trái đất.Chỉ cần giảm chút ít hàm lượng nước trong tế bào đã gây sự kìm hãm đáng kểnhững chức năng sinh lý quan trọng như quang hợp, hô hấp và do đó ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng của thực vật
Trong giai đoạn vườn ươm, cây con cần phải được cung cấp đủ về nhu cầunước Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây gỗ non Hệ rễ câycon trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng Nhiềunước sẽ tạo ra môi trường quá ẩm; kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếukhông khí Vì thế, việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho cây non ở vườnươm là việc làm rất quan trọng (Larcher, 1983;) [83]
Ảnh hưởng của chế độ nước đến sinh trưởng của cây đã được đề cập ở mức
độ tế bào trong những nghiên cứu của Kramer (1983) [49], Wang và cộng sự(1988) [78], Sands và Mulligan (1990) [62] vv… Về mặt hình thái, Boyer(1968)[28] cho rằng sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với chế độ tưới nước, khi thiếu
nước lá cây thường nhỏ Tổng trọng lượng khô của của bạch đàn Eucalyptus
globulus bị giảm nhiều trong điều kiện thiếu nước, nguyên nhân do sự phát triển
của lá mới bị hạn chế dẫn đến tổng diện tích lá giảm (Metcalfe và cộng sự,1989)[54] Đối với loài Thông đỏ sự nảy chồi và tỷ lệ sống bị giảm rất nhiều trongđiều kiện độ ẩm không khí thấp Rễ của loài này cũng có xu hướng ngừng pháttriển khi bị thiếu nước (Wilcox, 1968) [21]
Một số nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của tưới tiêu đến dinh dưỡngcủa thực vật cho thấy sự vận chuyển dinh dưỡng trong đất phụ thuộc vào sự dichuyển của nước (Mengel và cộng sự, 1982; Duryea và McClain, 1984) [40], vì
Trang 11thế điều này hoàn toàn hợp lý khi cho rằng sự hấp thụ dinh dưỡng thông qua hệ rễthực vật có thể trở nên dễ dàng hơn bằng việc áp dụng tưới tiêu để điều chỉnh hàmlượng nước trong đất ở vườn ươm Sự thiếu hụt nước có thể làm chậm lại sự sinhtrưởng một phần vì lượng dinh dưỡng hấp thụ bị giảm xuống Sự thiếu hụt nước cóthể hạn chế sự kéo dài và phát triển của rễ (Day và MacGillivrary, 1975) [36], vìvậy dẫn đến sự giảm diện tích mặt rễ có khả năng hấp thụ được chất dinh dưỡng.Fabiao và cộng sự (1985) [42] cho rằng cả sinh khối rễ và sự phân bố của chúngtrong lòng đất được cho là bị ảnh hưởng bởi hàm lượng nước trong đất.
Sự thích nghi và thích ứng của thực vật đối với sự khô hạn đã được nghiêncứu rất sâu Cơ bản bao gồm 2 cơ chế khác biệt Cơ chế thứ nhất, lượng nước hữuhiệu thấp sẽ làm giới hạn sự thoát hơi nước và quang hợp do sự giảm độ mở củakhí khổng (Cowan, 1982; Li và cộng sự, 2000; Makela và cộng sự 1996;Chunyand và cộng sự, 2000) [34] Cơ chế thứ hai, lượng nước tiềm tàng của thựcvật thấp hoàn toàn ảnh hưởng xấu đến thực vật Sự vận chuyển nước trong xylem
có thể bị gián đoạn bởi những lỗ hổng (bong bóng), và lượng nước tiềm tàng thấpcũng hạn chế khả năng sinh trưởng của thực vật (Friensch, 1977; Chunyand vàcộng sự, 2000) [34]
Nhiều yếu tố sinh trưởng của thực vật có phản ứng rất nhạy cảm với sự rốiloạn nước Ở phạm vi tế bào, sự thiếu hụt về lượng nước tiềm tàng ở lá ảnh hưởngđến sự mở rộng của tế bào, sự hoạt động của khí khổng, quang hợp, hô hấp, sự dichuyển cũng như sự tổng hợp vách tế bào (Kramer, 1983) [49] Đặc điểm sinh lý
có liên quan rộng rãi với sự chịu hạn của bạch đàn bao gồm cả sự điều chỉnh khảnăng thấm lọc (Wang và cộng sự 1988 [78]; Sands và Mulligan 1990 [62]), đặcbiệt hơn là tính co dãn của mô (Clayton-Greene, 1983) [32], làm tăng hàm lượngnước trong lá đối với những lá có lượng nước tiềm tàng (Myers and Neales, 1984)[57] và khả năng chống chịu tốt hơn của chất nguyên sinh với sự khô hạn (Ladiges,1974) [50]
Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh sự ảnh hưởng của ức chế nước đến sựsinh trưởng và vấn đề phân loại khô hạn ở cây trồng thân thảo Tổng lượng vật
Trang 12chất khô giảm xuống trong điều kiện khô hạn (Kramer, 1983) [49] Sự phát triểncủa lá thể hiện một sự phản ứng rất nhạy bén với sự ức chế nước thông qua sựgiảm xuống rõ rệt về tỷ lệ lá (Boyer, 1968) [28] Vấn đề phân loại khô hạn và sinhtrưởng của cây con loài Đào phản ứng mạnh mẽ với sự ức chế nước (Steinberg vàcộng sự, 1990) [69], tuy nhiên cường độ phản ứng giữa các cơ quan là khác nhau.Tổng lượng sinh khối giảm rõ rệt khi hàm lượng nước được vận chuyển thấp hơnnhiều so với hàm lượng nước bão hòa.
Sự tồn tại và phát triển của chồi ngọn ảnh hưởng bởi sự thiếu hụt độ ẩm bêntrong cũng được chứng minh là có ảnh hưởng quyết định tới sự sinh trưởng chiềucao của loài Thông đỏ (Stone, 1980 [70]; và Clements, 1970 [33]) Rễ Thông đỏphản ứng rất nhạy bén với độ ẩm đất và có xu hướng ngủ khi hàm lượng nước bịgiới hạn (Wilcox, 1986 [80] Strothman (1967) [71] chứng minh rằng sự kéo dàicủa hệ rễ bị ảnh hưởng rõ rệt bởi sự cạnh tranh độ ẩm hơn là sự thiếu hụt ánh sáng
Sự thiếu hụt nước trong đất có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây con loài
Eucalyptus globulus bởi sự rút ngắn quá trình phát triển của lá mới, điều này kéo theo
sự giảm diện tích lá và lượng vật chất khô (Metcalfe và cộng sự, 1989) [54]
1.1.2.4 Nghiên cứu vai trò của phân bón đến sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm
Phân bón có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực vật, nó khôngnhững có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rấtlớn đến sự hình thành và phát triển cơ thể thực vật Cây trồng cần cung cấp cácchất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Các chất dinh dưỡng này bao gồmcác nguyên tố đa lượng và vi lượng , chúng đều có trong đất và được cây trồng hấpthụ qua rễ Tuy nhiên, số lượng các nguyên tố này, đất không có khả năng cungcấp đủ cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng do đó phải bón phân bổ sung.Công tác chuẩn bị vườn ươm có thể có ảnh hưởng lâu dài đến năng suất củarừng trồng thông qua sự ảnh hưởng đến chất lượng ban đầu của cây giống (Van denDriessche, 1982) [75] Chất lượng cây con trong vườn ươm có thể ảnh hưởng đếnnăng suất rừng xuyên suốt chu kỳ của rừng trồng Vì thế việc áp dụng bón phân một
Trang 13cách đúng đắn có tác dụng tăng cường khả năng sinh trưởng của cây con sau khitrồng ngoài thực địa, đồng thời giúp tăng cường khả năng chống chịu với điều kiệnhạn hán và lạnh của cây trồng (Fisher and Mexal, 1984) [43] Theo Hary andStanley, 1996 [45]; Mullin and Bowdery, 1978 [56], sinh trưởng của cây trồngngoài thực địa và tình trạng dinh dưỡng của vườn ươm có mối quan hệ rất chặt chẽvới nhau Phân bón thường có tác dụng làm tăng kích cỡ của cây giống, điều này cólợi cho cây trồng trong điều kiện thực tế - nơi mà cây trồng phải cạnh tranh với cácloài khác để phát triển Sự tồn tại và sinh trưởng về chiều cao của loài Linh sam(Douglas-fir) ngoài thực địa được đánh giá là tăng lên nhờ vào phân bón ở giai đoạnvườn ươm, điều này cũng giúp tăng trưởng kích thước của cây con (Smith và cộng
sự, 1966 [68]; Van den Driessche, 1984 [76]) Những kết quả tương tự cũng đượctìm thấy trong một nghiên cứu khác với cây con loài Muồng đen (Kannan andPaliwal, 1995 [47])
Giữa hàm lượng dinh dưỡng khoáng ở vườn ươm và sinh trưởng chiều caocủa cây con sau khi trồng ngoài thực địa có một mối quan hệ tích cực (van denDriessche 1980a) [73] Hàm lượng Nitơ trong cây dao động từ 1,7% đến 2,3%thường ảnh hưởng đến cây con biểu hiện thông qua việc tăng cường khả năng sốngsót và sinh trưởng chiều cao của cây sau khi trồng ngoài thực địa (Duryea andMcClain, 1984) [40] Kết quả nghiên cứu về sự tồn tại và sinh trưởng chiều cao củaloài Linh sam trồng ngoài thực địa cho thấy một sự tăng lên rõ rệt về chất lượng củarừng nhờ vào phân bón hữu cơ và vô cơ trong giai đoạn vườn ươm, điều này đượcghi nhận trong một thí nghiệm bón phân có tác dụng làm tăng kích thước của câycon (Smith và cộng sự, 1966) [68] Lợi ích của bón phân trong giai đoạn vườn ươmđến sự sinh trưởng chiều cao sau khi trồng (không tính đến sự tồn tại) của loài Vânsam trắng cũng được ghi nhận bởi Mullin và Bowdery 1977 [55]
Tiêu chuẩn chất lượng cây giống có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sống sót
và sinh trưởng tốt của cây (Duryea, 1985; Gleason và cộng sự 1990) [44] Nhữngtiêu chuẩn về hình thái và đặc điểm sinh lý có liên quan chặt chẽ đến khả năng pháttriển của cây trồng ngoài thực địa Vì thế việc chăm sóc ở giai đoạn vườn ươm có
Trang 14thể sử dụng như là một giải pháp làm thay đổi sinh lý của cây con nhằm thích nghiđược với môi trường mới sau này Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành nhằm thayđổi hàm lượng dinh dưỡng cho cây con ở giai đoạn vườn ươm để đáp ứng nhữngnhu cầu cần thiết của một điều kiện lập địa trồng rừng cụ thể (Phais và Kramer,
1983 [59]; Etter 1969 [41]; Van den Driesscches, 1980b [74]; Kannan và Paliwal,
1995 [46])
Trong những năm gần đây, nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Nhật,Trung Quốc đã sử dụng nhiều chế phẩm phân bón qua lá có tác dụng làm tăngnăng suất phẩm chất nông sản, không làm ô nhiễm môi trường như Atonik,Yogen (Nhật Bản); Cheer, Organic (Thái Lan); Bloom Plus, Solu Spray-NGrow (Hoa Kỳ); Đặc đa thu, Đặc phong, Diệp lục tố .(Trung Quốc) Nhiềuchế phẩm đã được khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ởViệt Nam [16]
1.1.3 Nghiên cứu về gieo ươm cây Máu chó lá to
Cho đến thời điểm hiện tại thì đề tài chưa tìm được nghiên cứu nào về kỹthuật gieo ươm và chăm sóc cây Máu chó lá to trên thế giới
- Về phân loại:
Theo Phạm Hoàng Hộ (2000) và Nguyễn Tiến Bân (2003) thì họ Máu chó
Myristicaceae ở Việt Nam có khoảng 22 loài gồm toàn các cây gỗ rừng (chia ra 3
chi: Horsfieldia, Knema và Myristica).
Nghiên cứu của Phạm Hoàng Hộ năm (1999), Máu chó lá to (Máu chó hạnhnhân) là cây gỗ lớn, cao đến 15m, nhánh tròn, lúc non có lông Lá có phiến to, dàiđến 30 - 40 cm, rộng 6 - 9 cm, thon hẹp, đáy tròn hay hơi hình tim, mặt dưới mốc,
Trang 15gân phụ hơn 30 cặp, gân tam cấp hình thang; cuống 1 - 2 cm Hoa đực chùm, cólông sét, cọng 6 - 7 mm; bao hoa 4 mm, hình bầu, bao phấn 11 Nang 22 - 26 x 18 -
20 mm, đầy lông sét, quả bì [6]
Nghiên cứu của Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Máu chó lá to là cây gỗnhỡ, cao 10 - 15 m, đường kính có thể lên tới 40 cm Thân thường có múi tròn, vỏnhẵn, loang lổ, vết đẽo chảy nhiều nhựa đỏ Cành tròn nhiều lỗ vỏ trắng Lá đơn mọccách hình trái xoan thuôn dài 12 - 23 cm, rộng 4 - 7 cm, đầu và đuôi lá nhọn dần Hoađơn tính khác gốc, hoa tự đực chùm viên chùy ở nách lá, bao hoa 3 thùy, nhẵn, nhị 13
- 15 chỉ nhị hợp thành một trụ rỗng, bao phấn đính phía ngoài trụ nhị Quả đại hìnhtrứng hơi bẹt, đường kính 3 - 4 cm, vỏ hóa gỗ, hạt có vỏ giả bao bọc [5]
- Công dụng:
Gỗ của Máu chó lá to dùng làm đồ gia dụng, dùng trong xây dựng, hạtdùng trong y học làm thuốc trị các bệnh ngoài da
1.2.2 Nghiên cứu về gieo ươm các loài cây thân gỗ
1.2.2.1 Ảnh hưởng của việc xử lý hạt giống tới nảy mầm của hạt
Ở Việt Nam đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về gieo ươmcây thân gỗ Có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu như sau:
Lê Đình Khả (1991), khi nghiên cứu xử lý hạt Lim xanh cho thấy: khi cắtmột phần vỏ hạt và ngâm 5 giờ trong nước ấm 40oC có tỷ lệ nảy mầm là 100%
Đỗ Thị Ngân (2003) cho rằng: đối với hạt Huỷnh nên ngâm trong nước ấm
40 - 45oC để nguội dần trong 8 giờ Hạt Ràng ràng mít đục lỗ rồi ngâm trong nướcnóng 60 - 65oC để nguội dần trong 8 giờ Các hạt Dẻ đỏ, Kháo vàng, Giang và Nứa
lá to ngâm hạt trong nước nguội 4 giờ [9]
Nguyễn Ngọc Minh (2011) cho rằng: phương pháp kích thích nảy mầm cóhiệu quả nhất đối với Hồ đào là rửa sạch hạt giống và ngâm nước ấm 35oC đểnguội dần trong thời gian 10 giờ [8]
Trần Hữu Biển, Vũ Thị Lan (2012) khi nghiên cứu về tỷ lệ nảy mầm củahạt Lò bo đã kết luận: công thức xử lý hạt tốt nhất là ngâm trong nước ấm 60oCtrong 1 giờ cho tỷ lệ nảy mầm cao nhất (85%) sau 4 ngày và thế nảy mầm sau 2
Trang 16Lâm Công Định (1964) đã khuyến cáo ở mức độ 75% cường độ ánh sáng là
điều kiện tốt nhất cho sinh trưởng của Mỡ (Manglietia sp) trong giai đoạn 100
-110 ngày tuổi Nguyễn Ngọc Tân (1989) đã nghiên cứu nhu cầu ánh sáng cho cây
Hồi (Illicium verum Hook), cấu tạo giải phẫu của lá, hoạt động trao đổi nước và sự
tích lũy diệp lục cũng như N, P, K trong lá thay đổi dưới các điều kiện chiếu sángkhác nhau Tỷ lệ che sáng 60% là phù hợp nhất cho sinh trưởng của cây trong giaiđoạn vườn ươm [20]
Nguyễn Hữu Thước và các cộng sự (1966) đã nghiên cứu nhu cầu ánh sángcủa cây Lim và đã kết luận rằng: với mức che sáng 50% sinh trưởng về chiều cao,đường kính và tổng lượng hữu cơ cho kết quả tốt nhất [20]
Đặng Thịnh Triều (2003) đã nghiên cứu nhu cầu ánh sáng cho cây Vạng trứngtrong giai đoạn vườn ươm đã kết luận: ở mức độ che 20% cường độ ánh sáng sẽ chosinh trưởng chiều cao và tổng trọng lượng khô của cây con đạt mức cao nhất [20]
Trang 17Hà Thị Hiền (2008) khi nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinhtrưởng của cây con Dẻ đỏ trong giai đoạn vườn ươm tại Hòa Bình cho thấy: Chesáng có tác dụng làm giảm nhiệt độ, tăng ẩm độ không khí và đất dưới giàn che,thoáng mát, do đó làm giảm tác hại ánh sáng trực xạ của mặt trời đối với cây controng giai đoạn vườn ươm Đối với khu vực phía Bắc, việc che sáng cho cây controng giai đoạn vườn ươm đặc biệt quan trọng Trong những tháng nắng nóng củamiền Bắc, nhiệt độ trung bình cao, cường độ chiếu sáng mạnh, độ ẩm không khíthấp cộng với gió Lào thổi vào từng đợt rất khô nóng làm ảnh hưởng không tốt đếncây con trong vườn ươm Chính vì vậy, việc che sáng cho cây giúp cải thiện điềukiện sống, giúp cây con sinh trưởng phát triển tốt trong giai đoạn vườn ươm Kếtquả nghiên cứu chế độ che sáng thích hợp cho cây con Dẻ đỏ: giai đoạn 0 - 1 tuổithì che 75% ánh sáng trực xạ là tốt nhất, giai đoạn 1 - 2 tuổi thì che 50% ánh sángtrực xạ là tốt nhất [4].
Hà Thị Mừng (2010) khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh lý, sinh thái câyKháo vàng, Giáng hương đã cho thấy: Tỷ lệ che sáng thích hợp cho Kháo vànggiai đoạn 1 - 6 tháng tuổi là che 75% ánh sáng trực xạ, giai đoạn 7 tháng đến 4năm tuổi là 50% Cây 24 tháng tuổi ở công thức tốt nhất có Hvn = 93,11cm; Do =9,7 mm; với Giáng hương tỷ lệ che thích hợp cho cây 6 tháng tuổi là 50%, 12tháng tuổi là 25% Giai đoạn 2 năm tuổi, Giáng hương cần 100% ánh sáng tựnhiên Cây 24 tháng tuổi ở công thức tốt nhất có Hvn = 86,2cm; Do = 9,6 mm [10]
Đoàn Đình Tam (2011), đã nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che bóng đếncây Vối thuốc ở giai đoạn vườn ươm cho thấy: giai đoạn 3 tháng tuổi thì công thứctốt nhất là che bóng 50%; giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi thì công thức tốt nhất là chebóng 25% [15]
Như vậy, ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu xác địnhnhu cầu ánh sáng của cây trong giai đoạn vườn ươm Các kết quả nghiên cứu đềucho thấy: che sáng có tác dụng làm giảm tác động cực đoan của điều kiện môitrường bất lợi (cường độ ánh sáng trực xạ cao, độ ẩm không khí thấp ) đến sinhtrưởng của cây con và đa số cây con trong giai đoạn vườn ươm đều cần được che
Trang 18sáng Mỗi loài cây, mỗi giai đoạn tuổi khác nhau sẽ thích hợp với một mức độ chesáng khác nhau Chính vì vậy cần phải có những công trình nghiên cứu để xác địnhchế độ che sáng thích hợp cho mỗi loài Điều này rất có ý nghĩa thực tiễn trongcông tác sản xuất cây giống phục vụ trồng rừng ở nước ta.
1.2.2.3 Nghiên cứu vai trò của nước đến cây con trong giai đoạn vườn ươm
Nước là thành phần bắt buộc của tế bào sống Có nước thực vật mới hoạtđộng bình thường được Nhưng hàm lượng nước trong thực vật không giống nhau,thay đổi tùy thuộc loài hay các tổ chức khác nhau của cùng một loài thực vật Vớithực vật, khi hàm lượng nước trong tế bào giảm, một loạt chức năng sinh lý quantrọng như quang hợp, hô hấp sẽ bị kìm hãm và do đó ảnh hưởng đến sinh trưởngcủa cây Nước không chỉ đóng vai trò như một dung môi, một chất phản ứng mànước còn tham gia vào cấu trúc của tế bào Ngoài những vai trò quan trọng trên,nước còn là một yếu tố nối liền cây với môi trường bên ngoài và điều hoà nhiệt độcủa cây Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng Sự dưthừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây gỗ non Hệ rễ cây con trong bầucần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng Nhiều nước sẽ tạo ramôi trường quá ẩm; kết quả rễ cây phát triển kém hoặc chết do thiếu không khí Vìthế, việc xác định hàm lượng nước thích hợp cho cây con ở vườn ươm là việc làmrất quan trọng
Tuy nhiên, ở nước ta còn ít các công trình nghiên cứu nhu cầu về nước chocây con ở giai đoạn vườn ươm, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Đặng Thịnh Triều (2004) khi nghiên cứu nhu cầu nước tưới cho cây Vạngtrứng đã khuyến cáo không nên tưới đẫm nước cho cây để tránh hiện tượng cây bịmọng nước, khi đem trồng rừng sẽ dẫn đến tỷ lệ chết cao [21]
Đoàn Đình Tam (2011) khi nghiên cứu về nhu cầu nước tưới cho cây Vốithuốc cho thấy: trong giai đoạn vườn ươm (cây từ 2 - 4 tháng tuổi) thì tưới 1 ngày
1 lần với liều lượng nước tưới là 70 ml/chậu hay 2,1 lít/m2cho sinh trưởng của Vốithuốc là tốt nhất [15]
Mặc dù các nghiên cứu về ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng cây
Trang 19con ở Việt Nam còn ít Tuy nhiên, qua những nghiên cứu này cho thấy, nước tướicũng có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng cây Nếu tưới nhiều nước (vượt quá nhucầu) cây sẽ mọng nước ảnh hưởng không tốt đến kết quả trồng rừng hoặc cây sẽ bịúng nước mà chết Nếu tưới ít, cây thiếu nước sẽ sinh trưởng kém Do đó xác địnhlượng nước tưới thích hợp để cây sinh trưởng phát triển tốt, đồng thời đảm bảo tỷ
lệ sống khi đem trồng rừng là một việc làm rất cần thiết
1.2.2.4 Nghiên cứu vai trò của phân bón đến sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm
Trong giai đoạn vườn ươm, những yếu tố được đặc biệt quan tâm là Đạm,Lân, Kali và các chất phụ gia
Đạm (N) là chất dinh dưỡng cần cho sinh trưởng và phát triển của câytrồng Mặc dù hàm lượng trong cây không cao, nhưng Nitơ lại có vai trò quantrọng bậc nhất Thiếu Nitơ cây không thể tồn tại Nitơ là thành phần quan trọngcấu tạo nên tất cả các axit amin và từ các axit amin tổng hợp nên tất cả các loạiprotein trong cơ thể thực vật Vai trò của protein đối với sự sống của cơ thể thựcvật là không thể thay thế được Nitơ có mặt trong axit nucleic, tham gia vào cấutrúc của vòng porphyril, là những chất đóng vai trò quan trọng trong quang hợp và
hô hấp của thực vật Nói chung, nitơ là dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thànhphần chính của protein, vào quá trình hình thành các chất quan trọng như aminoaxit, men, nhiều loại vitamin trong cây như B1, B2, B6… Nitơ thúc đẩy cây tăngtrưởng, đâm nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh Nếu thiếu đạm, cây sinhtrưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng Nhưng nếu bón thừađạm cũng gây tác hại cho cây Biểu hiện của triệu chứng thừa đạm là cây sinhtrưởng quá mức, cây dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu xanh đậm [83]
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng Lân có tácdụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ Lâncần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự phát triển của rễ, rahoa, sự phát triển của hạt và quả Cây được cung cấp đầy đủ lân sẽ tăng khả năngchống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất chua và kiềm Nếu thiếu lân,
Trang 20kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây phồng cứng, lá màu xanh đậm, sauchuyển dần sang vàng; thân cây mềm, thấp; năng xuất chất khô giảm Ngoài ra,thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử dụng đạm Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽđổi màu xanh thẫm, tím, tím nâu hay đỏ Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫnđến lá có màu xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm Khi thừalân không thấy tác hại nghiêm trọng như thừa nitơ [83]
Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá trìnhđồng hóa của cây, điều khiển quá trình sử dụng nước, thúc đẩy quá trình sử dụngđạm ở dạng NH4+ , giúp cây tăng sức đề kháng, cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâubệnh, chịu hạn và rét Do vậy, nếu thiếu kali, thì cây có biểu hiện về hình thái rất
rõ như lá hơi ngắn, phiến lá hẹp và có màu lục tối, sau chuyển sang vàng, xuất hiệnnhững chấm đỏ, lá bị khô (cháy) rồi rủ xuống …
Đi đầu trong lĩnh vực này có thể kể đến Nguyễn Hữu Thước (1963),Nguyễn Ngọc Tân (1985), Nguyễn Xuân Quát (1985), Trần Gia Biển (1985) các tác giả đều đi đến kết luận chung rằng mỗi loại cây trồng có yêu cầu về loạiphân, nồng độ, phương thức bón, tỷ lệ hỗn hợp phân bón hoàn toàn khác nhau Đểthăm dò phản ứng của cây con với phân bón, Nguyễn Xuân Quát (1985) và HoàngCông Đãng (2000) đã bón lót super lân, clorua kali, sulphat amôn với tỷ lệ từ 0 -6% so với trọng lượng ruột bầu Đối với phân hữu cơ, các tác giả thường sử dụngphân chuồng hoai (phân trâu, phân bò và phân heo) với liều lượng từ 0 - 25% sovới trọng lượng bầu [16]
Năm 1989, Trương Thị Thảo đã nghiên cứu về dinh dưỡng NPK đối vớiThông nhựa đã cho thấy dinh dưỡng không những ảnh hưởng đến sinh trưởng của câyThông nhựa mà còn ảnh hưởng đến khả năng nhiễm bệnh của cây Bón phân hợp lýlàm tăng sức đề kháng của cây đối với bệnh phấn trắng Năm 2009, Lê Quốc Huy, HàThị Mừng cho thấy bón N, P2O5, K2O ở mức 38,17 mg N/kg đất bầu + 76,33 mg
P2O5/kg đất bầu + 22,9 mg K2O/kg đất bầu là thích hợp nhất cho sinh trưởng của cả 3loài Kháo vàng, Dẻ đỏ và Giáng hương giai đoạn 2 - 8 tháng tuổi [16]
Lê Văn Sơn và Nguyễn Duy Tiến, (2012) khi nghiên cứu ảnh hưởng của
Trang 21phân bón đến cây con Re gừng trong giai đoạn vườn ươm đã cho thấy: cây con Regừng được bón thúc bằng cách tưới phân NPK (5:10:3) với nồng độ 5% (100 gNPK hòa tan trong 2 lít nước) có tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng tốt hơn tướinước phân chuồng ngâm và không bón thúc [14].
Từ kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong nước cho thấy đối vớitừng loài cây, từng giai đoạn phát triển khác nhau thì yêu cầu về phân bón cũngkhác nhau Các tác giả đã xác định lượng phân bón phù hợp để cây con của cácloài cây đó sinh trưởng nhanh, chất lượng tốt
1.2.3 Nghiên cứu về gieo ươm cây Máu chó lá to
Cũng như trên thế giới, cho đến thời điểm hiện tại thì đề tài chưa tìm đượcnghiên cứu nào về kỹ thuật gieo ươm và chăm sóc cây Máu chó lá to ở Việt Nam
* Thảo luận:
Thông qua phần Tổng quan trên cho thấy: vai trò của việc xử lý hạt, ánhsáng, nước tưới, phân bón đến cây con trong giai đoạn vườn ươm rất quan trọng
Cụ thể:
- Mỗi loại hạt đều có đặc điểm sinh lý riêng nên cần có những biện pháp xử
lý hạt khác nhau để đạt hiệu quả nảy mầm nhiều nhất và nhanh nhất Trong cácbiện pháp xử lý hạt thì biện pháp xử lý hạt bằng nhiệt là đơn giản, dễ làm và ít tốnkém nhất
- Ánh sáng là nhân tố quan trọng nhất đối với thực vật bởi vì ánh sáng lànguồn năng lượng cần thiết cho quá trình tổng hợp chất hữu cơ Tuy nhiên, mỗiloài cây khác nhau thì có nhu cầu ánh sáng khác nhau Trong điều kiện vườn ươm,cây con phải chịu những ảnh hưởng bất lợi của cường độ ánh sáng mạnh Vì thếnghiên cứu chế độ che bóng thích hợp cho từng loài cây là việc làm hết sức cầnthiết Việc che bóng cho cây không chỉ có tác dụng làm hạn chế ảnh hưởng xấucủa cường độ ánh sáng mạnh mà còn điều hòa nhiệt độ và làm giảm quá trình mấtnước ở cây con
- Nưới tưới trong giai đoạn vườn ươm là rất cần thiết Các nghiên cứu đềuchỉ ra rằng: lượng nước tưới có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, nếu tưới thiếu
Trang 22nước cây nhanh chóng sẽ chết, nếu tưới thừa nước cây sẽ bị ngập úng vì vậy cầnphải xác định lượng nước tưới là đủ cho cây Tuy nhiên trong quá trình nuôi dưỡngcây cần chú ý lượng nước tưới thích hợp để cây không bị mọng nước bởi vì khimang đi trồng rừng những cây bị mọng nước thường có tỷ lệ sống thấp hơn nhữngcây không mọng nước Vì vậy, xác định lượng nước tưới phù hợp để cây sinhtrưởng tốt, khỏe mạnh là cần thiết.
- Phân bón cũng là nhân tố rất cần thiết cho cây khi còn nhỏ Tuy nhiêncũng như nước nó cũng cần chủng loại phân và liều lượng phân phù hợp để sinhtrưởng, phát triển tốt nhất
Nhận biết được sự ảnh hưởng của các nhân tố ánh sáng, nước tưới và phânbón đối với sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm, đã có rất nhiều cáccông trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới về ảnh hưởng của các nhân tốnày đến các loài cây khác nhau và kết quả đều xác định được liều lượng thích hợpcủa các nhân tố này trong các giai đoạn phát triển khác nhau của rất nhiều loài cây.Tuy nhiên, đối với họ Máu chó nói chung và loài cây Máu chó lá to nói riêng thìcác nghiên cứu này còn rất ít Cho đến thời điểm hiện tại thì đề tài chưa tìm thấycông trình nghiên cứu về phương pháp xử lý hạt và ảnh hưởng của các nhân tố ánhsáng, nước tưới, phân bón đến cây con Máu chó lá to Chính vì vậy, đề tài
"Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và nuôi dưỡng cây con Máu chó lá to
(Knema pierrei Warb)" là rất cần thiết.
Trang 23Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
* Mục tiêu chung:
Góp phần xác định cơ sở khoa học xây dựng hướng dẫn kỹ thuật nhân giốngcây Máu chó lá to
* Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được biện pháp kỹ thuật tạo cây con Máu chó lá to từ hạt
- Nghiên cứu ảnh hưởng của nhân tố ánh sáng, nước tưới và phân bón đếnsinh trưởng của cây con Máu chó lá to
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2013 đến tháng 8/2013 tại vườn ươmTrung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ (huyện Đoan Hùng, tỉnhPhú Thọ)
2.4 Nội dung nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt
2.4.1.1 Thu hái hạt giống và xác định một số chỉ tiêu chất lượng hạt giống
2.4.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý và thời gian ngâm đến tỉ lệ nảy mầm của hạt.
2.4.2 Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến sinh trưởng của cây Máu chó lá to trong giai đoạn vườn ươm.
Trang 242.4.3 Ảnh hưởng của chế độ nước tưới đến sinh trưởng của cây Máu chó lá to trong giai đoạn vườn ươm.
2.4.4 Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến sinh trưởng của cây Máu chó lá to trong giai đoạn vườn ươm.
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp nghiên cứu kỹ thuật nhân giống từ hạt.
a) Thu hái hạt giống và xác định một số chỉ tiêu chất lượng hạt giống.
Khi quả Máu chó lá to chín, vỏ quả chuyển từ màu xanh vàng sang màu nâuxám thì thu hái quả Sau khi thu hái, quả được tách lấy hạt và xác định các chỉ tiêuchất lượng hạt giống
- Độ thuần: là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng hạt thuần khiết so với khốilượng mẫu kiểm nghiệm, được xác định theo công thức:
Ki=
C B A
Trong đó: Kilà độ thuần của mẫu kiểm nghiệm i
K là độ thuần của lô hạt
A là khối lượng hạt tốt (g/1000 hạt)
B là khối lượng hạt xấu (g)
C là khối lượng tạp vật (g)
- Trọng lượng 1000 hạt: trọng lượng (kg hay g) của 1000 hạt thuần Đếm lấy
100 hạt thuần đem cân bằng cân điện tử có độ chính xác đến 0,01g với 3 lần lặp, sau
đó lấy trung bình của 3 lần lặp nhân với 10 ta có trọng lượng của 1000 hạt Từ trọnglượng 1000 hạt tính số hạt/1g hay số hạt/1kg
- Độ ẩm hạt (hàm lượng nước) là tỷ số phần trăm giữa lượng nước chứatrọng hạt và khối lượng tươi của hạt, tính theo công thức:
100(%)
1 2
3 2
x M M
M M Mc
−
−
Trong đó: M1 là trọng lượng bì (hộp đựng mẫu, kể cả nắp)
M2là trọng lượng bì và hạt trước khi sấy
Trang 25M3là trọng lượng bì và hạt sau khi sấyLấy 1 mẫu hạt khoảng 50 g, hạt được cắt nhỏ, trộn đều rồi chia thành 2 phần.
2 hộp nhôm được sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 105oC trong thời gian 1 giờ sau đó lấyhộp ra cho vào bình hút ẩm để nguội dần rồi đem cân trọng lượng Cho 2 mẫu hạt
đã cắt nhỏ trên vào 2 hộp và đem sấy trong tủ sấy ở nhiệt độ 1050c trong 17 giờ Khi
đủ thời gian quy định, lấy hộp đựng mẫu hạt ra đặt vào bình hút ẩm từ 30 - 45 phút
để hạt nguội dần và cân lại bằng cân điện tử với độ chính xác 0,001 g
b) Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý và thời gian ngâm đến nảy mầm của hạt
Bố trí thí nghiệm theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, lặp lại 3 lần, mỗi lần lặp sửdụng 100 hạt đồng nhất về kích thước, màu sắc Các công thức xử lý hạt giống cụthể như sau:
Bảng 2.1: Công thức thí nghiệm xử lý hạt giống Máu cho lá to
Công thức thí nghiệm
Nhiệt độ nước ngâm
CT lặp lại 3 lần, dung lượng mẫu 100 hạt/ lần lặp
Xác định các chỉ tiêu tỷ lệ nảy mầm, tốc độ nảy mầm và lựa chọn công thức
xử lý hạt tốt
Trang 26- Tốc độ nảy mầm là số ngày bình quân cần thiết cho hạt nảy mầm Thời gianbắt đầu nảy mầm (ngày thứ) được xác định là ngày đầu tiên hạt bắt đầu nảy mầm.Thời gian nảy mầm (ngày) được tính từ khi hạt bắt đầu nảy mầm đến khi liên tụctrong 5 ngày số hạt nảy mầm không bằng 1% số hạt đem thí nghiệm.
Tốc độ nảy mầm được tính theo công thức:
Thí nghiệm về ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng cây Máu chó
lá to được thực hiện như sau: hạt sau khi nảy mầm thì chọn những cây mầm khỏemạnh để cấy vào bầu có kích thước 9 x 13 cm Đất đóng bầu là đất đỏ vàng pháttriển trên đá mẹ Phiến thạch sét (Fs), đất có trộn thêm phân chuồng và phân NPKvới tỷ lệ: 89% đất + 10% phân chuồng hoai + 1% NPK (5:10:3) Để tạo mức độ chesáng khác nhau, cây con được đặt trong các buồng che sáng có kích thước 1 m chiềudài + 1 m chiều rộng + 1 m chiều cao và được che bằng lưới nilon màu đen Đề tàidùng lưới nilon có độ che sáng khác nhau để làm buồng che với các công thức thínghiệm là:
Trang 27S1: che 92,15% (ánh sáng nhận được 7,85%)
S2: che 76,04% (ánh sáng nhận được 23,96%)
S3: che 70,5% (ánh sáng nhận được 29,5%)
S4: không che (đối chứng)
Việc xác định cường độ ánh sáng thông qua thiết bị cảm biến lượng tử ánhsáng (Delta-T Devices)
Thí nghiệm bố trí 3 lần lặp, mỗi lặp 30 cây Các chỉ tiêu không theo dõi nhưnước tưới, phân bón được khống chế như nhau, chế độ chăm sóc cây con (nhổ cỏ,phá váng) trong giai đoạn vườn ươm được thực hiện đầy đủ
- Các chỉ tiêu theo dõi gồm: tỷ lệ sống, Hvn, Do, số lá trên cây, chất lượngcây được đo mỗi tháng 1 lần
- Cường độ quang hợp và xác định cường độ ánh sáng thích hợp cho quang hợp.+ Xác định lượng bức xạ sinh lý cây nhận được ở các công thức thí nghiệm:dùng thiết bị cảm biến lượng tử ánh sáng (Delta-T Devices) để đo mật độ lượng tửcủa ánh sáng mà cây quang hợp được có bước sóng từ 400 - 700 nm trong thời gian
từ 5 giờ sáng đến 7 giời tối (đảm bảo khi có ánh sáng mặt trời thì thiết bị nhận đượchết) Bốn cảm biến được đặt ở bốn công thức thí nghiệm gồm ba công thức che sáng
và một công thức đối chứng, không che, mật độ lượng tử được máy tự động đo 30giây một lần trong một ngày và lưu lại bằng bộ lưu dữ liệu tự động (CR800 -Campbell Scientific) Dữ liệu được truyền sang máy tính và tính phần trăm lượngánh sáng tại mỗi công thức thí nghiệm trên tổng lượng ánh sáng tại công thức đốichứng
+ Xác định cường độ ánh sáng thích hợp cho cây: Khi cây được 4 tháng tuổi,
sử dụng máy đo quang hợp (Li-Cor LI-6400XT; Li-Cor, Lincoln, NE, USA) đocường độ quang hợp của từng công thức thí nghiệm với các cường độ ánh sáng khácnhau Cường độ ánh sáng được đặt với mật độ lượng tử giảm dần 2000, 1500, 1000,
800, 600, 400, 200, 100, 50 và 0 µmol/m2/giây Tại mỗi cường độ ánh sáng đocường độ quang hợp phản ánh qua lượng CO2 mà lá cây hấp thụ được(µmol/m2/giây) Mỗi công thức thí nghiệm đo 3 cây tiêu chuẩn
Trang 28Hình 2.1: Thiết bị cảm biến lượng tử
đo cường độ quang hợp và độ mở khí khổng cho từng công thức thí nghiệm ở cácthời gian khác nhau trong ngày Thời gian bắt đầu đo vào lúc 6h30' sáng, sau đó cứcách 2h30' đo lại 1 lần 1 ngày đo 5 lần tại các thời điểm: 6h30'; 9h00'; 11h30';14h00'; 16h30' Mỗi công thức thí nghiệm đo 3 cây tiêu chuẩn, mỗi cây 2 lá Láchọn đo là các lá mới trưởng thành được sinh ra trong điều kiện thí nghiệm
Hình 2.3: Máy đo quang hợp (Li-Cor LI-6400XT; Li-Cor, Lincoln, NE, USA)
Trang 29- Xác định số lá và diện tích lá:
+ Số lá được xác định bằng phương pháp đếm trực tiếp trên cây
+ Diện tích lá: diện tích lá được quét bằng máy quét Canon Lid 210 và xácđịnh bằng cách sử dụng Fiji, một phần mềm mã nguồn mở để phân tích hình ảnh(Schindelin và cộng sự, 2012)
Hình 2.4: Máy quét Canon Lid 210
Sau khi thí nghiệm kết thúc, cây con được thu hoạch và chia thành rễ, thân
và lá Đem sấy ở nhiệt độ 65oC đến trọng lượng không đổi Thân, rễ, lá được cân đểtính trọng lượng khô cho từng phần tương ứng
2.5.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của nước tưới đến sinh trưởng của cây con Máu chó lá to.
Để xác định nhu cầu nước tưới của cây, đề tài tiến hành như sau:
- Cây con 1 năm tuổi được cấy vào bầu thí nghiệm Để cây sống ổn định thìbắt đầu tiến hành thí nghiệm
- Ngâm bầu ngập vào chậu nước, để 2 – 3 h cho bầu đạt chế độ bão hòađồng ruộng, sau đó lấy ra, để ráo nước rồi đem cân để xác định trọng lượng banđầu Bọc kín bầu bằng túi nilon để ngăn sự thoát hơi nước của đất, như vậy nếulượng nước bị hao hụt trong bầu thì chủ yếu là thoát ra từ lá do quá trình hô hấp.Bằng cách này ta có thể biết được nhu cầu thực của cây thông qua quá trình hô hấp,trao đổi Trong quá trình thí nghiệm, cứ 7 ngày cân lại để xác định lượng nước bốchơi qua lá từ đó tính lượng nước cần tưới bù
Trang 30Thí nghiệm được thực hiện với 3 công thức:
CT1: Đối chứng ( không tưới)
CT2: Tưới thúc bằng phân NPK (5:10:3) nồng độ 5% (225g/4,5 lít nước/90 bầu)CT3: Tưới thúc bằng phân NPK (5:10:3) nồng độ 10% (450g/4,5 lít nước/90 bầu)CT4: Tưới thúc bằng phân NPK (5:10:3) nồng độ 15% (675g/4,5 lít nước/90 bầu)CT5: Tưới thúc bằng phân NPK (5:10:3) nồng độ 20% (900g/4,5 lít nước/90 bầu)Thí nghiệm được bố theo khối ngẫu nhiên đầy đủ, lặp lại 3 lần, 30 cây/lặp.Mỗi tháng tưới 1 lần các ngày khác tưới nước lã đủ ẩm cho cây ở tất cả cáccông thức Các chỉ tiêu theo dõi gồm: tỷ lệ sống, Hvn, Do, chất lượng cây Kết thúcthí nghiệm, cây được thu hoạch và sấy khô để xác định sinh khối khô của cây theotừng bộ phận rễ, thân, lá
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được phân tích, xử lý theo các phương pháp thống kê Quátrình tính toán xử lý số liệu được thực hiện trên máy tính theo chương trình Excel
và SPSS 16.0 và được mô phỏng các bảng biểu và đồ thị
Kiểm tra thống kê ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu nghiên cứu,dùng các phương pháp phân tích phương sai 1 và 2 nhân tố
Trang 31+ Phân tích phương sai một nhân tố:
Trước khi tiến hành phân tích phương sai đề tài tiến hành kiểm tra các điềukiện về tính chuẩn và sự bằng nhau của các phương sai bằng bảng kiểm địnhLevene (Test of Homogeneity of Variances)
Trong bảng phân tích phương sai giá trị thống kê F tính được với mức ýnghĩa P (Sig.) > 0,05 thì chấp nhận giả thiết Ho nghĩa là các công thức thí nghiệmkhông ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Nếu giá trị F tính được với mức ý nghĩa P
≤ 0,05 thì bác bỏ giả thiết Ho, nghĩa là các công thức thí nghiệm khác nhau có ảnhhưởng khác nhau đến kết quả thí nghiệm
Trong trường hợp bác bỏ giả thiết Ho, nghĩa là các công thức thí nghiệm khácnhau có ảnh hưởng khác nhau đến kết quả thí nghiệm thì đề tài tiếp tục dùngphương pháp so sánh nhiều cặp công thức với nhau để tìm ra công thức có ảnhhưởng tốt nhất theo tiêu chuẩn Bonferroni và Ducan
Trang 32Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Đoan Hùng cách thành phố Việt Trì 50 km về phía Tây Bắc, có tổngdiện tích tự nhiên 30.244,5 ha; gồm 27 xã và một thị trấn
Phía Bắc giáp huyện Phù Ninh
Phía Đông giáp huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Phía Tây giáp huyện Thanh Ba và Hạ Hòa
3.1.2 Địa hình, địa thế
Đoan Hùng có địa hình đa dạng, ít phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi những khesâu và hệ thống suối đan dầy Cụ thể phân chia địa hình trong huyện thành hai kiểuchính như sau:
- Kiểu địa hình núi thấp: Phân bố tập trung ở trung tâm vùng, khu vực nàyđịa hình thấp và ít dốc, độ cao trung bình 350 m, độ dốc bình quân 20º Địa hìnhthoải dần theo hướng Đông - Tây, kiểu địa hình này thuận lợi cho sản xuất kinhdoanh lâm nghiệp
- Kiểu địa hình đồi: Phân bố chủ yếu trong huyện, độ dốc bình quân 15º, gồmnhững đồi riêng biệt hoặc liền dải Kiểu địa hình này thuận lợi cho trồng cây lâmnghiệp, ăn quả và cây công nghiệp dài ngày Ngoài ra, xen giữa các ngọn đồi làthung lũng nhỏ hẹp có thể trồng lúa hoặc cây ngắn ngày
Nhìn chung, cả hai kiểu địa hình đều thích hợp cho trồng rừng và phát triểncây công nghiệp dài ngày
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Nền địa chất của khu vực nghiên cứu tương đối đơn giản, chủ yếu là các loại
đá trầm tích và đá biến chất tạo ra đất feralit vàng đỏ hay đỏ vàng phát triển trên đáphiến thạch Mica, phiến thạch sét và Gnai Tầng phong hóa khá dày (trên 2 m).Ngoài ra, ở khu vực còn có các dạng đất trung gian, đất dốc tụ
Trang 33Đất có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, độ xốp lớp đất mặtcao, khả năng thấm nước và giữ nước tốt, độ pH từ 3.9 - 5.4, hàm lượng chất hữu
cơ tương đối cao
3.1.4 Khí hậu, thủy văn
Khí hậu
Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Phú Thọ (2006 – 2012) cho thấy,Đoan Hùng mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa rõrệt: Mùa đông khô hanh kéo dài, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều
- Nhiệt độ:
+ Nhiệt độ trung bình năm 23.1ºC
+ Mùa khô hanh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng lạnh nhất là tháng 12.+ Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, tháng nóng nhất vào tháng 7, nhiệt độtrung bình 28 ºC, nhiệt độ cao nhất 39ºC
Thủy văn
Trong khu vực có hai con sông là sông Lô và sông Chảy, ngoài ra còn hệ
Trang 34thống kênh mương, suối dày đặc, thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và tưới tiêu.
Trong những năm gần đây, Đoan Hùng đã tích cực đầu tư khai thác nguồnnước tự nhiên bằng nhiều công trình thủy lợi, hồ đập chứa nước Tuy nhiên, do độche phủ rừng thấp, lưu lượng nước trong các dòng suối không ổn định, tác dụngcung cấp nước sản xuất nông lâm nghiệp không phát huy được, nhiều năm khô hạngây thiệt hại cho sản xuất nông lâm nghiệp
Qua đó cho thấy, để hạn chế xói mòn đất và lũ lụt, biện pháp tốt nhất là tăngcường trồng rừng trên các đối tượng đất trống đồi núi trọc
3.1.5 Hệ thực vật rừng
Là vùng Trung tâm lâm nghiệp của Bắc Bộ, nằm giữa hai vùng sản xuất lâmnghiệp Tây Bắc và Đông Bắc khu vực này đã từng là nơi có mặt 780 loài thực vậtcủa 477 chi thuộc 120 họ Trong thành phần thực vật có nhiều loài cây gỗ có giá trịkinh tế như: Lim xanh, Chò nâu, Gội, Ràng ràng, Giổi, các loài thuộc họ Sồi giẻ,các loài thuộc họ Tre nứa Dược liệu có: Ba kích, Thiên niên kiện Các loài trong
họ Cau dừa có: Cọ, Mây
Do quá trình khai thác cạn kiệt, tập quán canh tác nương rẫy, hiện nay phầnlớn còn lại là rừng thứ sinh nghèo kiệt, rừng phục hồi sau nương rẫy, nhiều loài câybản địa quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các cơ quan nghiên cứu,trong những năm qua huyện đã khôi phục lại được một diện tích đáng kể rừng bằng cácbiện pháp khoanh nuôi, cải tạo và trồng rừng mới Hiện tại đã có rất nhiều các lâmphần đang ở trong trạng thái rừng IIIa1, IIIa2, IIa, IIb đang được khoanh nuôi bảo vệ
Theo đánh giá của các cơ quan chuyên ngành, khả năng phục hồi tự nhiên ởđây có triển vọng nếu tiếp tục đi theo con đường xúc tiến tái sinh tự nhiên kết hợpcùng với tái sinh nhân tạo với các kỹ thuật lâm sinh phù hợp
3.2 Đặc điểm điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động
- Dân số, dân tộc
Theo số liệu niêm giám thống kê đến tháng 12 năm 2011, dân số vùng là 107.754
Trang 35người, trong đó dân số nông ngiệp: 101.247 người, dân số thành thị: 6.507 người.
Mật độ dân số trung bình 356 người/km2 Dân số phân bố không đều, tậptrung ở các thị trấn, các xã vùng đồng bằng, trong khi đó các xã vùng cao có mật độdân số tương đối thấp
Đoan Hùng có hai dân tộc chung sống đan xen nhau là người Kinh và ngườiCao Lan Tuy nhiên chủ yếu là người Kinh, còn người Cao Lan không chiếm dưới2,5%, thường là chuyển từ nơi khác đến
- Lao động
Tổng số lao động thuộc vùng có 53.800 lao động, chiếm 48,6% tổng dân số.Trong đó chủ yếu là lao động nông - lâm nghiệp 40.300 người chiếm 75,2%, laođộng phi nông nghiệp 13.500 người, chiếm 24,8%
3.2.2 Thực trạng kinh tế và tình hình sản xuất kinh doanh
3.2.2.1 Đặc điểm chung nền kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế: những năm gần đây nền kinh tế của huyện đã có sựchuyển biến tích cực, xuất hiện những mô hình tốt tạo đà tiếp tục đổi mới và pháttriển đồng loạt các ngành nghề trong huyện
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: trong những năm qua, Đoan Hùng đã có sựchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng kinh tế nông lâmnghiệp, tăng nhanh kinh tế công nghiệp và dịch vụ Nhìn chung, sự chuyển biến cònchậm, phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2012 – 2022 đạt trung bình10% năm trở lên
3.2.2.2 Hiện trạng phát triển các ngành kinh tế
+ Đất trồng cây lâu năm: 6.199,5 ha
Trong những năm qua sản xuất nông nghiệp trong vùng có nhiều tiến bộ, đã
Trang 36tích cực áp dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất như giống, phân bón, thủy lợi,thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, tăng cường đưa những giống
có năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt vào sản xuất
- Chăn nuôi:
Theo số liệu thống kê năm 2011, Đoan Hùng có 1.049,204 con gia súc; tổng
số đàn gia cầm có 974.700 con Công tác ứng dụng khoa học vào chăn nuôi cónhiều cố gắng, đưa giống ngoại nhập vào sản xuất nhằm phát triển mạnh cả về sốlượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho xã hội
Nhìn chung các hộ chăn nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn và gia cầm các loại.Đây là hoạt động đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình và cung cấpphân bón cho sản xuất nông nghiệp
- Lâm nghiệp:
Huyện Đoan Hùng có 13.174,3 ha diện tích đất lâm nghiệp chiếm 53,23%diện tích đất tự nhiên của huyện Trong đó diện tích đất rừng sản xuất chiếm hơn90% diện tích đất lâm nghiệp của huyện, đất rừng phòng hộ và đặc dụng chỉ chiếm2% và 4,6% Trong những năm gần đây, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước cáchoạt động sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn huyện có nhiều chuyển biến tích cựctrên tất cả mọi lĩnh vực: trồng rừng, bảo vệ rừng, giao đất giao rừng, khai thác, chếbiến lâm sản đã đem lại hiệu quả phát triển kinh tế trên địa bàn Thông qua các dự
án 327, 661 đã đưa diện tích rừng trồng tăng lên đáng kể, góp phần nâng độ chephủ của rừng trên địa bàn huyện đạt 42,9% Tuy nhiên, các hoạt động sản xuất lâmnghiệp của huyện vẫn còn bộc lộ một số tồn tại đó là: quy mô sản xuất vẫn cònmanh mún, lạc hậu, chưa áp dụng công nghệ cao vào trong công tác chế biến vàkhai thác lâm sản gây lãng phí nguyên liệu và chất lượng sản phẩm không cao
Đoan Hùng có nhiều thuận lợi trong việc phát triển ngành công nghiệp giấy,hơn nữa lại nằm trong vùng thuận lợi trong việc giao thương kinh tế giữa các vùngnhờ có các đường giao thông quan trọng đi qua: Quốc lộ 2, đường sông
Ngành chế biến lâm sản trên địa bàn những năm gần đây có những bước pháttriển mạnh mẽ nhưng chủ yếu về mặt số lượng còn chất lượng và công nghệ phần
Trang 37nào vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển hiện nay của xã hội Trên địa bànhuyện Đoan Hùng có hơn 143 cơ sở chế biến, trong đó xưởng mộc gia dụng là 25,đóng đồ gia đụng là là 02 xưởng, sản xuất đũa là 03 xưởng và 113 xưởng xẻ Nhìnchung các xưởng chế biến đầu có công suất nhỏ, máy móc công nghệ lạc hậu, sảnphẩm làm ra còn kém cạnh tranh trên thị trường, hoạt động chế biến không ổn định.
Ngành công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp:
Ngành công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn huyện còn phát triểnchậm Công nghiệp khai khoáng mới chỉ dừng lại ở mức khai thác nguyên liệu thô,
sơ chế chưa chế biến Ngoài ra còn một số ngành nghề như sản xuất vật liệu xâydựng, đồ mộc, sửa chữa cơ khí nhỏ, chế biến nông sản đã được phát triển và mở rộngđến các xã Sản xuất cơ khí bước đầu được hình thành trong lĩnh vực chế biến chè,gỗm, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động trong cáckhu dân cư Giá trị sản xuất CN - TTCN chiếm 34% giá trị nền kinh tế vùng
Ngành thương mại - Du lịch:
Từ khi có chính sách mở cửa, nền kinh tế hàng hóa trên địa bàn huyện kháphong phú và đa dạng Tuy nhiên với vị trí là nơi chuyển giao giữa đồng bằng vàmiền núi thì tiềm năng phát triển thương mại của vùng còn chưa tương xứng Trongtương lai các loại hình này cần được phát triển nhằm giải quyết công ăn việc làmcho người lao động trong lúc nông nhàn
Hiện nay, trên địa bàn huyện chưa có tiềm năng du lịch nào được khai thácđưa vào sử dụng Trong thời gian tới nên kết hợp giữa du lịch cảnh quan trong vùngvới du lịch sinh thái nhằm đóng góp đáng kể cho nền kinh tế
3.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng
3.2.3.1 Giao thông
Đoan Hùng có mạng lưới giao thông phát triển, toàn huyện có 2 tuyến đườngquốc lộ 2 và quốc lộ 70 chạy qua các tuyến này cơ bản đã được dải nhựa Trong đó,
có 12 xã có đường quốc lộ đi qua và 16 xã có đường rải cấp phối Đến nay có 28/28
xã, thị trấn trong vùng có đường giao thông đến tận trung tâm xã, tạo thành mạnglưới nối liền với trung tâm huyện lỵ, các trung tâm kinh tế Hệ thống đường sông có
2 dòng sông Lô và sông Chảy
Trang 38Nhìn chung, mạng lưới giao thông phân bố tương đối đều nhưng các tuyếnđường còn ở cấp thấp, cần chú trọng cải tạo nâng cấp để người dân đi lại đượcthuận tiện, tăng cường thu hút đầu tư và giao lưu kinh tế Trong những năm tới cần
mở rộng nâng cấp các tuyến đường này để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xãhội cũng như nâng cao đời sống sinh hoạt của người dân
3.2.3.2 Thủy lợi
Toàn huyện có 70 km kênh mương, 14 trạm bơm với công suất tưới 1.400 ha
và tiêu 450 ha Hệ thống mương máng dẫn nước cũng liên tục được đầu tư cải tạo
và xây dựng mới Tổng diện tích đất được tưới có 3.200 ha, diện tích còn lại chôngchờ vào nước mưa, do không ổn định nên thường xuyên bị khô hạn
Nhìn chung, do địa hình của địa bàn tương đối phức tạp, các cánh đồng nhỏ
lẻ, phân tán, các thung lũng hẹp không bằng phẳng Vì vậy vấn đề thủy lợi củahuyện chủ yếu là đắp đập làm mương, phải giữ nước phục vụ việc tưới cho sản xuấtnông nghiệp theo phương thức tự chảy Tuy nhiên hiệu quả sử dụng của các hồ đậpcòn ở mức thấp, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp và khai thác có hiệu quả hơn nữa cáccông trình này
3.2.3.3 Giáo dục
Toàn huyện có 4 trường THPT với 112 lớp học, 56 trường THCS và tiểu họcvới 549 lớp học, có 29 nhà mẫu giáo với 144 lớp học Tổng số giáo viên các cấphọc là 1.238 người, trong đó THPT là 116 người, THCS là 144 người, tiểu học là
548 người và 278 giáo viên nhà trẻ mẫu giáo
Đến nay huyện đã hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục tiểu học – xóa
mù chữ Cuộc vận động xã hội hóa giáo dục bước đầu đã có kết quả, phong tràotoàn dân chăm lo phát triển giáo dục đào tạo, bảo vệ và chăm sóc trẻ em được chú
ý Tuy nhiên công tác giáo dục của huyện còn gặp nhiều khó khăn, số phòng họccòn thiếu, trong thời gian tới cần đầu tư nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu toàn diệncho nền giáo dục trong tương lai
3.2.3.4 Y tế
Trong những năm gần đây, công tác y tế trên địa bàn đã được nâng lên Hiện
Trang 39nay, trên địa bàn huyện có 02 bệnh viện, 28 trạm y tế xã, thị trấn Toàn huyện có
174 cán bộ y bác sỹ, tổng số giường bệnh có 162 giường bệnh Công tác phòngchống các loại bệnh dịch được chú trọng Hàng năm huyện thực hiện tốt các chươngtrình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, hiến máu nhân tạo, công tác kế hoạchhóa gia đình ngày càng được quan tâm và đạt được những thành tựu khả quan
Nhìn chung các cơ sở y tế trên địa bàn huyện cơ sở vật chất đã xây dựng từlâu, trang thiết bị y tế còn đơn sơ và thiếu, phần nào hạn chế khả năng khám chữabệnh cho nhân dân, trong những năm tới cần đầu tư nâng cấp
3.2.3.5 Văn hóa, thông tin
Hiện nay trên địa bàn huyện có đài phát thanh, truyền hình, 100% các xã đãđược phủ sóng truyền hình Hệ thống thông tin liên lạc được thông suốt, 19/19 xã,thị trấn trong vùng đã có điểm bưu điện văn hóa xã Hàng năm vào những ngày lễlớn của đất nước phòng văn hóa đã tổ chức tốt hoạt động thông tin tuyên truyền
Phong trào văn nghệ quần chúng không ngừng phát triển với nhiều loại hìnhphong phú, đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật của các tầng lớp nhân dân
3.3 Đánh giá về những thuận lợi và khó khăn
tư của Nhà nước
- Điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai của khu vực trên tương đối thuận lợi vàphù hợp với nhiều loài cây trồng lâm, nông, công nghiệp Đó là tiền đề để phát triểnngành lâm nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung
- Diện tích đất lâm nghiệp lớn, nhìn chung đất còn khá tốt, đất còn mang tínhchất đất rừng, nhiều nơi tầng đất dầy, có lượng mùn cao thuận tiện cho việc pháttriển sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn
- Nguồn lao động của khu vực khá dồi dào có thể huy động vào việc pháttriển lâm nghiệp cũng như các ngành khác
Trang 403.3.2 Khó khăn
- Là một huyện xuất phát điểm từ nền kinh tế còn thấp, quá trình đào tạonguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển như hiện nay, nguồn lao động
có trình độ khoa học kỹ thuật còn thiếu
- Ở một số xã vùng sâu của huyện có địa hình dốc nên khó khăn cho công tácxây dựng, quản lý và bảo vệ rừng cũng như triển khai các hoạt động sản xuất lâmnghiệp trên địa bàn
- Khí hậu của huyện nhìn chung là thuận lợi, song có một số yếu tố hạn chếnhư sương muối, gió hại, có các tháng khô hạn là những trở ngại cho các hoạt độngsản xuất lâm nghiệp trong khu vực
- Hệ thống cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội ở một số xã còn thiếu và thấp kém.Mạng lưới giao thông liên xã chưa được cải thiện đã ảnh hưởng không nhỏ đến pháttriển sản xuất và lưu thông hàng hoá, trong đó có sản phẩm từ rừng trồng sản xuấtcủa khu vực