1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất phát triển sản xuất nông lâm nghiệp tại xã nam phong tỉnh hoà bình

104 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 903,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giải quyết vấn đề này thì công việc đầu tiên là phải tìm ra một phương án QHSDD NLN tối ưu cho xã Nam Phong, tạo tiền đề cho việc quy hoạch phát triển sản xuất NLN trên toàn xã, sắp x

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN HỮU VIÊN

Hà Nội, năm 2009

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là TNTN vô cùng quý giá, là TLSX đặc biệt Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng [18] Đất đai cần thiết cho mọi ngành sản xuất, mà đặc biệt là đối với sản xuất NLN thì đất đai vừa là đối tượng sản xuất, vừa là TLSX không gì có thể thay thế được, sản xuất ra của cải vật chất, lương thực thực phẩm nuôi sống con người Vì vậy, đất đai là tài sản rất quý báu của mỗi quốc gia

Nước ta với 3/4 diện tích đất đai là vùng đồi núi và trung du, diện tích đất đồng bằng nhỏ hẹp chỉ vào khoảng 1/4 diện tích đất đai toàn quốc Phần lớn dân số tập trung sinh sống ở vùng nông thôn, trung du và miền núi, đời sống kinh tế của nhân dân ở những vùng này vẫn dựa chủ yếu vào canh tác nông nghiệp, NLKH và lâm nghiệp với trình độ canh tác còn lạc hậu, KHKT phát triển chậm Hoà nhịp với

sự phát triển của đất nước, đời sống KTXH của các dân tộc vùng cao những năm gần đây đã có nhiều khởi sắc, từng bước vươn lên xoá đói giảm nghèo và làm giàu trên chính mảnh đất của mình Đạt được những thành tựu đáng khích lệ này, ngoài

sự nỗ lực của nhân dân địa phương còn phải kể đến sự trợ giúp của nhà nước, cộng với sự tiến bộ của KHKT, sự nhiệt tình năng nổ của đội ngũ KNKL và đặc biệt của các chủ trương chính sách đúng đắn, kịp thời của Đảng và Nhà nước giúp nhân dân

các dân tộc vùng cao vươn lên bằng con đường phát triển sản xuất NLN

Để đảm bảo cho sản xuất NLN tăng trưởng liên tục, lâu dài và bền vững cho vùng cao, nông thôn, miền núi, đòi hỏi công tác QHSDD nông, lâm nghiệp phải được chú trọng và quan tâm hàng đầu Công tác QHSDD phải là bước đi đầu tiên có tính chất hoạch định cho các bước tiếp theo Do đó cần phải có sự phối hợp, kết hợp, xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng nhằm phát huy tối đa những mặt thuận lợi của ĐKTN, KTXH, phù hợp với nguồn lực, với tâm tư nguyện vọng, phong tục tập quán của người dân địa phương

Trang 4

Nam Phong là một xã vùng cao của huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình, toàn

xã có 10 xóm, với 2 dân tộc chính là Kinh và Mường (người Mường chiếm tới 80%), toàn xã có 803 hộ và 3.867 nhân khẩu, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, nền sản xuất chủ yếu dựa trên thế mạnh là sản xuất NLN Tuy có thuận lợi về giao thông vì xã ở gần đường giao thông (Quốc lộ 6) nên thuận lợi cho việc đi lại nhưng Nam Phong là một xã vùng cao nên cũng gặp phải những khó khăn nhất định như: dân số đông trong khi diện tích đất canh tác NLN lại có hạn, chủ yếu là đất dốc, đất chưa sử dụng còn chiếm tỷ lệ khá cao, nhân dân thiếu kiến thức, kỹ thuật

và nguồn vốn đầu tư cho sản xuất Cán bộ và nhân dân trong xã còn gặp nhiều khó khăn trong việc thiếu kiến thức trong quản lý và sử dụng đất đai, trong những năm qua việc quản lý và sử dụng đất đai của xã tuy đã có nhiều thay đổi nhưng vẫn còn gặp phải khó khăn như: chưa được đo đạc địa chính, nhân dân chưa hiểu biết hết về luật đất đai và chính sách liên quan Việc sử dụng đất do thiếu hiểu biết của người dân trong xã trong quá trình sử dụng đất đã và đang ngày càng làm cho đất bị thoái hoá dần Để giải quyết vấn đề này thì công việc đầu tiên là phải tìm ra một phương

án QHSDD NLN tối ưu cho xã Nam Phong, tạo tiền đề cho việc quy hoạch phát triển sản xuất NLN trên toàn xã, sắp xếp cũng như phân bổ lại quỹ đất trên địa bàn

xã sao cho việc sử dụng đất có hiệu quả, tổng hợp và lâu dài, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của nhân dân trong xã, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá cho thị trường

Với mục tiêu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng các kiến thức đã được học, xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất NLN, phục vụ thực

tiễn sản xuất, tôi đã chọn đề tài:"Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp tại xã Nam Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình"

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm 1929, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide của Wiscosin, kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng đất NLN và nghỉ ngơi giải trí Năm

1966 hội Đất học và Hội nông dân học Mỹ cho đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng QHSDD [14]

Tại Đức tác giả Haber năm 1972 đã xuất bản tài liệu "Khái niệm về sử dụng đất khác nhau", đây được coi là lý thuyết sinh thái về QHSDD dựa trên quan điểm

về mối quan hệ hợp lý giữa tính đa dạng của hệ sinh thái cũng như sự ổn định của chúng với năng suất và khả năng điều chỉnh [14]

Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO

tổ chức nhiều hội nghị về PTNT và QHSDD Các hội nghị này khẳng định rằng quy hoạch vùng nông thôn trong đó quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, chế biến nhỏ… cũng như quy hoạch cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thông phải dựa trên cơ sở quy hoạch đất đai [14]

Các phương pháp lập kế hoạch quản lý tài nguyên được loài người tìm tòi và sáng tạo đều phát huy được hiệu quả ở từng thời điểm nhất định tuy nhiên hầu như tất cả đều được xây dựng bằng cách tiếp cận một chiều - cách tiếp cận từ trên xuống (Top down Approach ), do vậy chứa đựng một nhược điểm lớn là thiếu sự đóng góp của cộng đồng, những nghiên cứu về quy hoạch và quản lý rừng cộng đồng ở Nepal

Trang 6

(Gilmuor, 1997) đã chứng tỏ rõ ràng ưu thế và cách tiếp cận mới - tiếp cận lấy người dân làm trung tâm (People's centered approach) trong công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển của cộng đồng [6]

Về nghiên cứu hệ thống canh tác, FAO (1990) xuất bản cuốn phát triển hệ thống canh tác (Farming system development) Công trình đã khái quát phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều (từ trên xuống), không phát huy được tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn Thông qua nghiên cứu và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới - phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân, nhằm phát triển các hệ thống trang trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững [7]

Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 các phương pháp điều tra, đánh giá truyền thống đần được thay thế bằng các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia: phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), thực chất phương pháp này xuất phát từ thực tiễn ở Ấn Độ và được các nhà khoa học nghiên cứu và phát triển hoàn thiện dần Phương pháp này đã chứng minh ưu thế và hiệu quả nổi trội ở các quốc gia và vùng lãnh thổ

- Năm 1985, tại Hội nghị RRA ở Đại học KhonKean (Thái Lan) cụm từ "Sự tham gia/ người tham gia "được sử dụng với sự tiếp tục của RRA

- Từ thời điểm năm 1987 đến năm 1998, người ta chia ra 4 loại RRA:

+ RRA cùng tham gia (Participatory RRA)

+ RRA thăm dò (Exploratory RRA)

+ RRA chủ đề (Topical RRA)

+ RRA giám sát (Monotoring RRA)

Trong đó RRA cùng tham gia là giai đoạn chuyển đổi đầu tiên sang PRA [15]

- Tiếp theo đó là sự tiếp nhận PRA của các tổ chức quốc tế như Ford Foundation, SIDA Hiện tại đã có tài liệu chuyên khảo về PRA ở mức độ quốc tế [23]

- Đến năm 1994 đã có 2 cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại Ấn Độ, đến nay có hơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào phát triển các lĩnh vực:

Trang 7

+ Quản lý tài nguyên thiên nhiên

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Tổng quan

Từ xa xưa nhân dân ta đã tích luỹ nhiều kinh nghiệm và kiến thức quý báu về thực tiễn sản xuất nông nghiệp, được thể hiện và cô đọng trong những câu ca dao tục ngữ Nghiên cứu tiêu biểu là của nhà bác học Lê Quý Đôn từ thế kỷ 15 với tác phẩm "Vân Đài Loại Ngữ", ông đã khuyên nông dân áp dụng luân canh với cây họ đậu để tăng năng suất lúa [23]

Thời Pháp thuộc, những nghiên cứu về đất đai chủ yếu được tiến hành qua các nhà khoa học Pháp

Giai đoạn 1955 đến 1975, cả hai miền Bắc - Nam đều đã chú ý vào phân loại đất đai Công tác điều tra phân loại đã được tổng hợp một cách có hệ thống trong phạm vi toàn miền Bắc Nhưng sau năm 1975 các số liệu nghiên cứu về phân loại đất mới được thống nhất Xung quanh chủ đề phân loại đất đã có nhiều công trình khác triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở mức độ nghiên cứu cơ bản, thiếu biện pháp đề xuất cần thiết cho việc sử dụng đất, công tác điều tra phân loại đã không gắn liền với công tác sử dụng đất Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu phân hạng đất dựa trên cơ sở vùng địa lý thổ nhưỡng, cây trồng, tính đặc thù của địa phương, trình

độ thâm canh và năng suất cây nông nghiệp [23]

Trang 8

Nghiên cứu hệ thống canh tác ở nước ta được đẩy mạnh hơn từ sau khi đất nước thống nhất, Tổng cục địa chính đã tiến hành quy hoạch đất 3 lần vào các năm

1978, 1985 và 1995 Căn cứ vào điều kiện đất đai, ngành lâm nghiệp đã phân chia đất đai toàn quốc thành 7 vùng sinh thái [6]

Công tác QHSDD trên qui mô cả nước giai đoạn 1995 - 2000 đã được tổng cục địa chính xây dựng vào năm 1994 Trong đó việc lập kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác cũng được đề cập tới Báo cáo đánh giá tổng quát hiện trạng sử dụng đất và định hướng phát triển đến năm 2000 làm căn cứ để các địa phương, các ngành thống nhất triển khai công tác qui hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất [23]

1.2.2 Các nghiên cứu và thử nghiệm liên quan đến phương pháp QHSDD

Năm 1996, công trình "Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp ổn định ở vùng trung du miền núi nước ta" của tác giả Bùi Quang Toản đã đề xuất sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi và trung du [22]

Vấn đề sử dụng đất đai Gắn liền với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường ở vùng đồi núi Trung du phía Bắc Việt Nam, đã được Lê Vĩ (1996) [29] đề cập tới các khía cạnh sau:

+ Tiềm năng đất vùng trung du

+ Hiện trạng sử dụng đất vùng trung du

+ Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững

Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của Trường ĐHLN đã đưa ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất, đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bền vững trong điều kiện Việt Nam Trong

đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về: Quan điểm về tính bền vững; Khái niệm tính bền vững và PTBV; Hệ thống sử dụng đất bền vững, kỹ thuật sử dụng đất bền vững, các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất [9]

Năm 1997, Chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của Trường ĐHLN đã

đề cập đến các phương pháp tiếp cận có STG của người dân Các tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình [25] đã phối hợp

Trang 9

với các chuyên gia trong và ngoài nước biên soạn tài liệu với những vấn đề chính sau:

- Các khái niệm và tiếp cận trong quá trình tham gia

- Các công cụ của phương pháp ĐGNT có STG

- Tổ chức quá trình ĐGNT

- Thực hành tổng hợp

Tác giả Trần Hữu Viên (1997) [30] đã xây dựng tài liệu tập huấn về QHSDD

và giao đất lâm nghiệp có STG của người dân đã kết hợp phương pháp QHSDD trong nước và của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã trình bày về khái niệm và nguyên tắc chỉ đạo QHSDD và giao đất có người dân tham gia

Vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có STG của người dân mới được nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây Nghiên cứu đầy đủ nhất về QHSDD cấp xã được tác giả Vũ Nhâm thực hiện năm 1998 [16]

Tác giả Ngô Đình Quế và Đinh Thanh Giang (2001), nghiên cứu về mô hình canh tác nương rẫy hợp lý, nhằm nâng cao năng suất cây trồng, duy trì sản xuất của đất nương rẫy, thúc đẩy quá trình phục hồi độ phì đất bỏ hoá [17]

Đào Thế Tuấn (1989), Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng đã phát hiện hàng loạt vấn đề tồn tại và nguyên nhân của nó, đề xuất các mục tiêu và giải pháp khắc phục [27]

Trong khuôn khổ dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm nghiệp từ năm

1993 đã thực hiện nghiên cứu và thí điểm đầu tiên về QHSDD, giao đất lâm nghiệp cấp xã tại xã Tử Nê huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cò huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình Những kết luận rút ra từ thực tế cho thấy, cần có phương pháp quy hoạch

sử dụng đất một cách cụ thể và chi tiết, nên có sự điều chỉnh nhằm chánh những mâu thuẫn phát sinh sau quy hoạch [28]

Chương trình phát triển nông thôn miền núi Việt Nam - Thuỵ Điển giai đoạn

1996 - 2001 trên phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm quy hoạch phát triển NLN cấp xã trên cơ sở xây dựng

Trang 10

kế hoạch phát triển cấp thôn và hộ gia đình Tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành QHSDD, tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất 3 cấp: xã, thôn và hộ gia đình Phương pháp QHSDD dựa trên PRA căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất, với cách tiếp cận

từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn Tuy nhiên cũng bộc lộ một số mâu thuẫn giữa nhu cầu của cộng đồng với định hướng của Nhà nước và các kế hoạch của tỉnh, huyện [10]

Dự án phát triển LNXH Sông Đà đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp tại 2 xã của huyện Yên Châu (Sơn La) và Tủa Chùa (Lai Châu) trên cơ sở hướng dẫn của Cục kiểm lâm Với cách làm

6 bước và lấy cấp thôn bản làm đơn vị chính để quy hoạch và giao đất lâm nghiệp

và áp dụng cách tiếp cận LNXH đối với cộng đồng dân tộc vùng cao có thể là kinh nghiệm tốt Sự khác biệt với các chương trình khác là lấy cấp thôn bản làm đảm bảo quy hoạch phù hợp với kết quả nghiên cứu xã hội và cộng đồng Donovan năm 1997

ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam [6]

Năm 1999 và 2000 Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của Dự án khu vực lâm nghiệp Việt Nam - ADB đã nghiên cứu, thử nghiệm phương pháp và xây dựng tiểu dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra một số phương pháp quy hoạch NLN cấp

xã có STG của người dân để xây dựng tiểu dự án NLN cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị Kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng phương pháp này là:

+ Việc tiến hành quy hoạch phải dựa trên kết quả đánh giá và điều tra nguồn lực một cách chi tiết và đầy đủ

+ Tiến hành QHSDD là cơ sở quan trọng cho quy hoạch NLN

+ Tiến hành phân tích hệ thống canh tác làm cơ sở cho việc lựa chọn cây trồng và phương thức sử dụng đất

+ Quy hoạch NLN cấp xã phải được tiến hành từ lập kế hoạch cấp thôn bản bằng phương pháp có sự tham gia trực tiếp của người dân như PRA

Trang 11

+ Tổng hợp và cân đối kế hoạch cho phạm vi cấp xã trên cơ sở: định hướng phát triển chiến lược của huyện, tỉnh; khả năng hỗ trợ từ bên ngoài; đối thoại và thống nhất trực tiếp giữa đại diện các cộng đồng với nhau, giữa đại diện các cộng đồng với cán bộ tỉnh, huyện và dự án

+ Có sự nhất trí chung của toàn xã thông qua các cuộc họp cộng đồng cấp thôn hoặc xóm [22], [11], [13], [12]

- Năm 2000 luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Ngãi:"Nghiên cứu cơ sở khoa học

và thực tiễn cho quy hoạch phát triển nông, lâm nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam" trong đó tác giả nhấn mạnh vai trò của người dân địa

phương trong việc nghiên cứu và nhận định rằng phương pháp đánh giá nông thôn

có STG của người dân là công cụ rất tốt, có hiệu quả và đảm bảo tính khả thi cho bản quy hoạch [14]

1.2.3 Những kết luận rút ra từ nghiên cứu và kinh nghiệm của Việt Nam về quy hoạch sử dụng đất

Từ kết quả tổng kết và phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch NLN ở Việt Nam cho phép rút ra một số kết luận như sau:

- Hiện tại Việt Nam chưa có nghiên cứu đầy đủ về quy hoạch NLN cấp địa phương Mặc dù đã có một số những thử nghiệm về QHSDD cấp địa phương, nhưng những thử nghiệm này chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận

- Phương pháp quy hoạch dựa trên thuộc tính của đất Phương pháp này chủ

yếu căn cứ vào nguyên tắc "đất nào cây ấy", ít đề cập đến mối quan hệ KTXH trong

quá trình sử dụng đất

- Phương pháp quy hoạch dựa trên tiềm năng của đất đai Phương pháp này chủ yếu căn cứ vào khả năng của đất đai với các hệ thống cây trồng để lựa chọn phương án sử dụng đất thích hợp với phương hướng phát triển của đối tượng quy hoạch

- Phương pháp quy hoạch dựa trên sự phân tích các hệ thống canh tác Phương pháp này căn cứ vào việc phân tích các hệ cây trồng, hệ thống mùa vụ với

Trang 12

các hộ gia đình, phương pháp này xem xét nhiều đến mối quan hệ kinh tế giữa đất đai và người sử dụng đất

- Phương pháp quy hoạch dựa trên cách tiếp cận theo nhu cầu của người sử dụng đất bằng phương pháp PRA Phương pháp này nhấn mạnh đến nhu cầu của người sử dụng hơn là khả năng của đất đai Tuy nhiên, việc xác định khả năng của đất đai cũng được xem xét, đánh giá qua kinh nghiệm của người sử dụng đất

- Phương pháp QHSDD dựa trên sự kết hợp giữa phân tích hệ thống canh tác với khả năng của đất Đây là phương pháp mới đang được áp dụng ở nhiều nơi, nó vừa xem xét khả năng của đất đai, hiệu quả của các hệ thống canh tác, vừa xem xét mối quan hệ giữa nhu cầu của người sử dụng với tiềm năng của đất

Trong các phương pháp trên, phương pháp QHSDD dựa trên cách tiếp cận theo nhu cầu người sử dụng đất bằng phương pháp PRA đang được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam với cụm từ "QHSDD có STG của người dân" Phương pháp này thường được sử dụng để QHSDD ở cấp vi mô cho thôn bản và hộ gia đình

QHSDD có STG của người dân xuất hiện ở Việt Nam cùng với việc chuyển hướng tổ chức sản xuất trong ngành LN, từ nền Lâm nghiệp truyền thống sang Lâm nghiệp xã hội Sau khi phương pháp ĐGNT có STG của người dân (PRA) ra đời và dần dần hoàn thiện vào các thập niên 80, 90, nó đã trở thành một công cụ hỗ trợ đắc lực cho công tác QHSDD ở Việt Nam, đặc biệt là ở tầm vi mô

Phương pháp QHSDD có STG của người dân đã được đề cập trong Chương trình QHSDD lâm nghiệp và giao đất lâm nghiệp có STG của người dân (Đoàn Diễn 1997) và tại hội thảo VFC - TV dresden 1998

Tuy nhiên, việc QHSDD có STG của người dân ở nước ta mới được nghiên cứu trong những năm gần đây, mức độ đề cập có khác nhau và còn nằm tản mạn trong nhiều công trình nghiên cứu, chưa được phân tích, đánh giá và tập hợp lại một cách có hệ thống Chính vì vậy, trong thời gian tới vấn đề này cần phải được nghiên cứu kỹ hơn để hình thành nên các cơ sở lý luận và thực tiễn

Ngoài những kết luận trên, còn có một số kết luận khác về phương pháp QHSDD ở nước ta như sau:

Trang 13

- Phương pháp QHSDD chưa thống nhất mỗi một địa phương, một dự án sử dụng một phương pháp QHSDD riêng

- Phương pháp quy hoạch có STG của người dân mới được áp dụng trong công tác QHSDD tuy đã đạt được một số thành công nhưng chưa được tổng kết nên chưa xây dựng được phương pháp chung nhất cho quy hoạch NLN

- Trong nội dung quy hoạch vẫn chưa xác định được mối quan hệ qiữa quy hoạch cấp xã với quy hoạch cấp trên, chưa có sự thống nhất và tính riêng rẽ giữa quy hoạch cấp xã với cấp thôn bản Thiếu những nghiên cứu trong việc QHSDD cho cấp thôn bản

- Thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành kinh tế trong việc xây dựng phương

án QHSDD dẫn đến việc lúng túng, chồng chéo trong SDD ở nhiều địa phương

- Thiếu các nghiên cứu cơ bản hỗ trợ cho công tác QHSDD cho từng địa phương cụ thể như một số vấn đề cần tiến hành nghiên cứu trước như đánh giá tiềm năng đất đai, nghiên cứu chiến lược thị trường tiêu thụ nông, lâm sản, nghiên cứu tập đoàn cây trồng…dẫn tới tính khả thi của dự án QHSDD không cao

1.2.4 Một số chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước về công tác quản lý đất đai và quy hoạch sử dụng đất

Hiến pháp Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 nêu rõ:"Nhà nước thống

nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả"

- Năm 1990 Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành hướng dẫn QHSDD vi

mô theo thông tư số 106/ ĐKTĐ Nhiều tỉnh thực hiện quy hoạch vi mô theo hướng dẫn này Khi triển khai đã gặp nhiều khó khăn, phương pháp chưa thống nhất, do vậy nhiều địa phương chưa thực hiện được, tuy nhiên đây là tiền đề để thay đổi cách nhìn về quy hoạch cấp xã trong những năm tiếp theo

- Luật đất đai 2003 số 13/2003/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 - 11- 2003 gồm 7 chương và 146 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 - 07 - 2004 Luật này thay thế cho Luật đất đai năm 1993; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm

Trang 14

1998; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 Luật đất đai

2003 ra đời nhằm làm hoàn thiện hơn hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý đất đai, tạo ra hành lang pháp lý để giải quyết các vấn đề lớn phát sinh trong công tác quản lý và sử dụng đất đai, trước những thay đổi và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường Luật đất đai 2003 khẳng định vai trò của cấp xã trong quản lý và

sử dụng đất đai tại địa phương bao gồm việc: Lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính (Điều 16); có trách nhiệm quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa của địa phương; lập bản đồ hiện trạng và bản đồ QHSDD (Điều 20); tổ chức chỉ đạo thực hiện việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 29); có thẩm quyền cho thuê đất, giao đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng cho mục đích công ích (Điều 37);

có trách nhiệm thống kê, kiểm kê đất đai (Điều 53) Ngoài ra UBND xã còn có trách nhiệm trong việc đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, giải quyết các vấn đề tranh chấp đất đai, các khiếu nại tố cáo trong phạm vi quản lý và sử dụng đất đai cảu địa phương Như vậy, Luật đất đai 2003 là khung pháp lý quan trọng để thực hiện việc QHSDD các cấp nói chung và cho cấp xã nói riêng

- Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03- 12-

2004 Bao gồm 8 chương và 88 điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01- 04-

2005, quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng (gọi chung là bảo vệ và phát triển rừng); Quy định về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng Quy định trách nhiệm của uỷ ban nhân dân xã về thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng cụ thể là: Có trách nhiệm về lập và công bố công khai quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (Điều 17, 20, 21) Kê khai số liệu thống kê, kiểm kê rừng , theo dõi diễn biến tài nguyên rừng , báo cáo kết quả lên cấp trên (Điều 32) Các nguyên tắc, căn cứ, nội dung quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng được quy định tại Điều 13, 14, 15 Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là hộ gia đình,

cá nhân được quy định tại Điều 59, 60, 69, 70, 71, 72 Điều 24, 29 quy định về giao rừng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và giao rừng cho cộng đồng dân cư thôn

Trang 15

Như vậy, cả hai bộ luật quan trọng này đã khẳng định vai trò của cấp xã trong việc QHSDD và quy hoạch đất, cũng như quy hoạch, kế hoạch quản lý, bảo

vệ và phát triển rừng Việc thực thi công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cụ thể hoá bằng Nghị định 181/ 2004/ NĐ- CP của chính phủ, đây là một trong những văn bản dưới luật quan trọng với những hướng dẫn cụ thể cho công tác QHSDD vĩ mô và vi mô Nghị định này quy định rõ trách nhiệm của uỷ ban nhân dân xã và người dân, các tổ chức có trách nhiệm trước nhà nước đối với đất giao để quản lý cà việc sử dụng đất (Điều 2, Điều 3) Điều 6 của Nghị định này quy định việc phân loại đất trong đó đất đai được phân loại theo các nhóm như sau: Nhóm Đất nông nghiệp; Nhóm Đất phi nông nghiệp; Nhóm Đất chưa sử dụng Nhóm Đất nông nghiệp được chia thành các phân nhóm sau: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm Đất trồng cây hàng năm bao gồm: đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trông cây hàng năm khác; Đất lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng; Đất nuối trồng thuỷ sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác Chương III bao các Điều 12 đến Điều 14 quy định về các nội dung QHSDD và nội dung của kế hoạch sử dụng đất chi tiết cho xã Trong đó Điều

15 khoản 6 quy định rõ trách nhiệm QHSDD cho Uỷ ban nhân dân xã:"Uỷ ban

nhân dân xã nơi không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị có trách nhiệm tổ chức lập QHSDD chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của xã" Về chế độ sử dụng

đất nông nghiệp được quy định trong chương VII bao gồm các vấn đề về: Hạn mức giao đất nông nghiệp; Giao đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối cho hộ gia đình, cá nhân; Sử dụng đất rừng phòng hộ, sử dụng đất rừng đặ dụng; Giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối trong doanh nghiệp nhà nước; Đất sử dụng cho kinh tế trang trại Đây cũng là cơ sở pháp lý quan trọng phục vụ cho công tác QHSDD và quy hoạch phát triển sản xuất NLN cho cấp xã

- Nghị định 181/ 2004/NĐ-CP có nhiều điểm mới về QHSDD và giao đất nông nghiệp Nghị định này thay thế cho các nghị định sau: Nghị định số 64/ CP ngày 27 tháng 9 năm 1993; Nghị định số 85/ 1999/ NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm

Trang 16

1999; Nghị định số 163/ 1999/ NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999; Nghị định số 68/ 2001/ NĐ- CP ngày 01 tháng 10 năm 2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai Nghị định 181/ 2004/ NĐ-CP hướng dẫn đầy đủ và chi tiết các công tác quy hoạch cấp xã bao gồm các hướng dẫn chi tiết về: phân loại đất, nội dung QHSDD, nội dung QHSDD chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của xã Trách nhiệm lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân đối với QHSDD chi tiết Đây là nghị định hướng dẫn thi hành luật đất đai 2003 có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn chỉ đạo công tác QHSDD đai nói chung và QHSDD cấp xã nói riêng

- Để hướng dẫn cho việc thực thi Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03 tháng 3 năm 2006 Chính phủ đã ban hành Nghị định 23/2006/NĐ-CP Đây là văn bản dưới luật quy định cụ thể về việc quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng, chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho; công nhận đăng ký, cho thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, để thừa kế quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; thống kê, kiểm kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng Trách nhiệm quản lý nhà nước về Bảo vệ và Phát triển rừng của UBND cấp xã được quy định tại điều 6 Điều 13 chương II Quy định về trình tự, thủ tục lập, điều chỉnh, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã Như vậy Nghị định 23/2006

đã nêu rõ trách nhiệm, thẩm quyền, các bước thực hiện về quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng, vấn đề sử dụng rừng của cơ quan nhà nước cũng như quyền lợi, nghĩa

vụ, thủ tục về quản lý bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đồi với cộng đồng dân cư,

hộ gia đình, cá nhân trong và ngoài nước Nghị định 23/2006 cùng với các văn bản pháp luật khác đã tạo ra nền tảng pháp lý và hướng đi thích hợp trong giai đoạn phát triển mới, được cụ thể hoá bằng việc xây dựng và chọn lựa phương pháp QHSDD tối ưu, phù hợp cho cả nước nói chung và cho UBND các cấp nói riêng

- Để điều chỉnh kịp thời những phát sinh trong công tác quản lý đất đai trong tình hình mới thì Chính phủ đã ban hành NĐ 17/2006 NĐ-2006, nhằm bổ sung sửa đổi và bãi bỏ một số điều của các NĐ 181/2004 NĐ-CP và NĐ 187-NĐ-CP

Trang 17

Nhằm hướng dẫn việc thực thi công tác QHSDD các cấp một cách cụ thể và chi tiết, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành thông tư số 30/2004/TT-BTNMT, ngày 01 tháng 11 năm 2004 quy định về trình tự , nội dung, việc lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch quản lý sử dụng đất và nội dung thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho cả nước, vùng lãnh thổ, tỉnh, huyện, xã, kèm theo các hướng dẫn chi tiết về hệ thống mẫu báo cáo, bảng biểu phục vụ cho việc QHSDD các cấp Phần I của thông tư này quy định chung về các vấn đề: Việc lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, rà soát việc thực hiện QHSDD Các quy định về hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, hệ thống mẫu biểu, mục đích sử dụng đất trong quy hoạch, bản đồ quy hoạch đất và quan hệ giữa QHSDD giữa các đơn vị hành chính Phần II quy định về trình tự, nội dung lập QHSDD của cả nước Phần III quy định về trình tự, nội dung lập QHSDD tỉnh huyện Phần V quy định về trình tự, nội dung lập QHSDD chi tiết và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của khu kinh tế, khu công nghệ cao QHSDD cấp xã được gọi là QHSDD chi tiết, được quy định cụ thể ở phần

IV của thông tư này, cụ thể bao gồm: trình tự, nội dung lập QHSDD chi tiết và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu Trình tự, nội dung lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết kỳ cuối Trình tự nội dung điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết

Một số văn bản pháp luật khác

- NĐ 13/CP ngày 02/3/1993 của Chính phủ về tăng cường công tác KNKL

- Quyết định 72/HĐBT ngày 13/3/1993 của Chủ tịch HĐ Bộ trưởng (nay là Thủ tướng CP) về chủ trương chính sách cụ thể để phát triển KTXH miền núi

- Nghị định số 64/CP ban hành ngày 27/9/1993 về giao đất nông nghiệp cho

hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích nông nghiệp

- Chỉ thị 525/TTg ngày 02/11/1993 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chủ trương biện pháp phát triển KTXH miền núi

- Nghị định 02/CP về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân

sử dụng vào mục đích lâm nghiệp, ban hành ngày 15/01/1994

- Quyết định số 202/TTg ngày 02/5/1994 của Thủ tướng Chính phủ về khoán, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng

Trang 18

- Quyết định 661/TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng

- NQ 22/NQ - TW của Bộ Chính trị về PT KT miền núi làm thay đổi bước đầu về CSHT, giao thông, giáo dục, y tế… tạo ra môi trường KT thuận lợi cho PT LNXH Làm cơ sở định hướng cho việc QHSDD theo cơ chế kinh tế thị trường

- Quyết định 245/1998/QĐ - TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thực hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước thuộc các cấp về rừng và đất LN

- NĐ 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về việc giao đất, cho thuê đất LN cho tổ chức, HGĐ, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích LN

- Thông tư liên tịch số 62/2000/TTLT/BNN-TCĐC ngày 16/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và PTNT - Tổng cục địa chính hướng dẫn việc giao đất, cho thuê đất

- Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 28/2004/CT - TTg về việc kiểm kê đất đai năm 2005

- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

- Quyết định số 186/2006QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành quy chế quản lý rừng

- Quyết định Số : 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020

- Thông tư Số: 05 /2008/TT-BNN ngày 14/1/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng

Trang 19

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Góp phần nghiên cứu, xây dựng cơ sở khoa học và phương

pháp luận cho việc đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp để phục vụ cho việc QHSDD

- Về mặt thực tiễn: Thông qua nghiên cứu tình hình thực tế của địa phương

về một số mặt có liên quan đến sử dụng đất của địa phương, để từ đó đề xuất phương án QHSDD nông, lâm nghiệp, những giải pháp sử dụng đất tổng hợp và bền vững, lâu dài cho xã Nam Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, Chính sách BV và PT rừng

- Hiện trạng sử dụng đất NLN của xã

- Những yếu tố về ĐKTN (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu thuỷ văn, các nguồn tài nguyên thiên nhiên…), sự phát triển KTXH (dân sinh, lao động, việc làm, thu nhập, thị trường, CSHT, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục, văn hoá…) ảnh hưởng đến sử dụng đất của xã

- Các hoạt động đã và đang thực hiện có liên quan đến QHSDD của xã

- Nghiên cứu một số mô hình sử dụng đất tại xã Nam Phong Trong đó tập trung nghiên cứu sâu về đất NLN

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài được nghiên cứu tại xã Nam Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

2.3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung nghiên cứu một số nội dung chính như sau:

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội - nhân văn

Trang 20

- Điều tra, nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của xã Nam Phong

có liên quan đến QHSDD

- Điều tra, nghiên cứu, phân tích đặc điểm về ĐKTN

+ Vị trí địa lý, phân chia hành chính

+ Địa hình, địa thế, địa mạo: dạng địa hình, độ dốc,…

+ Thổ nhưỡng: Nhóm đất, loại đất…

+ Khí hậu, thời tiết: nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ, chế độ nhiệt, gió,… + Thuỷ văn: Các nguồn nước và chế độ nước phân bố trên địa bàn lãnh thổ + Đặc điểm của lớp thảm thực vật và tài nguyên rừng

- Điều tra, phân tích đặc điểm về điều kiện dân sinh, KTXH

+ Dân số và lao động: Tổng dân số của xã, mật độ dân cư, thành phần dân tộc, cơ cấu, lao động và việc làm, tỷ lệ tăng dân số, tập quán sinh hoạt, phân bố dân

cư, thu nhập và đời sống, trình độ dân trí

+ Sự phát triển của CSHT: nhà ở, giao thông, thuỷ lợi, cơ khí, điện, các công trình phục vụ sản xuất và đời sống

+ Tình hình phát triển và các công trình phục vụ VHXH, giáo dục, y tế, thông tin liên lạc, khả năng tiếp cận thị trường, thực trạng phát triển các khu dân cư

2.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất và phát triển sản xuất Nông - Lâm nghiệp

xã Nam Phong

- Điều tra về tình hình quản lý, sử dụng đất NLN

- Điều tra về tình hình giao đất NN, tình hình giao đất giao rừng tại xã

- Điều tra tình hình sản xuất NN (trồng trọt, chăn nuôi): chủng loại giống, năng suất và sản lượng, tình hình đầu tư, khả năng tiêu thụ các sản phẩm NN…

- Điều tra tình hình sản xuất Lâm nghiệp (thống kê diện tích các loại rừng, tình hình sinh trưởng, trồng rừng và chăm sóc, bảo vệ rừng, tình hình sâu bệnh, tình hình khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, công tác phòng chống lửa rừng…), nông lâm kết hợp và cơ cấu các ngành nghề khác tại xã

- Điều tra và thu thập bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính của xã

- Điều tra về nhu cầu gỗ củi và gỗ gia dụng

Trang 21

- Đánh giá hiệu quả kinh tế một số cây trồng vật nuôi tại xã

- Phân tích lựa chọn một số cây trồng vật nuôi

- Phân tích SWOT

- Đánh giá hiệu quả một số mô hình SDD đang tồn tại và áp dụng tại xã

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến QHSDD như: Thị trường giá cả, đào tạo hỗ trợ KHCN về sử dụng đất tổng hợp bền vững

- Dự báo nhu cầu sử dụng đất, tiềm năng đất đai và quan điểm sử dụng đất

- Thu thập các thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện có liên quan

- Đầu tư, chi phí cho SX, thu nhập và lãi Phân phối thu nhập và mức sống

- Vai trò tham gia của người dân trong quy hoạch phát triển SX NLN cấp xã

2.3.3 Khảo sát một số yếu tố chính sách và luật pháp tác động đến công tác QHSD đất bền vững tại xã Nam Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

- Hiến pháp năm 1992, luật đất đai năm 2003, luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Các chương trình phát triển NLN miền núi

- Các chính sách hiện hành về đất đai trong NLN

- Các chính sách hiện hành về phát triển kinh tế miền núi, kinh tế người dân

2.3.4 Đề xuất phương án quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp cho xã Nam Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

a) Trên cơ sở phân tích về hiện trạng sử dụng đất tại xã, phân tích những thuận lợi, khó khăn trong sản xuất NLN…

b) Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDD xã Nam Phong

c) Đề xuất phương án QHSDD, phát triển sản xuất NLN tại xã, dự tính đầu

tư và hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thể như sau:

- Xác định phương hướng, mục tiêu QHSDD nông, lâm nghiệp

- Xây dựng phương án quy hoạch phân bổ, sử dụng đất đai

- Quy hoạch các biện pháp sản xuất NLN

+ Phân bổ đất nông nghiệp (dự báo nhu cầu đất nông nghiệp, phân bổ sử dụng đất nông nghiệp,…)

Trang 22

+ Phân bổ đất lâm nghiệp (tiềm năng đất LN, phân bổ đất LN)

- Xây dựng bản đồ QHSDD của xã

- Đề xuất các giải pháp phù hợp để thực hiện phương án quy hoạch

+ Các giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) + Các giải pháp phát triển sản xuất LN (về kỹ thuật lâm sinh, QLBV rừng…) + Các giải pháp về tổ chức quản lý

+ Các giải pháp về cơ chế chính sách

+ Các giải pháp về vốn đầu tư

+ Các giải pháp về KHCN

+ Các giải pháp về thị trường…

- Dự tính đầu tư và phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Quan điểm phương pháp luận

QHSDD là bố trí sử dụng các loại đất đai một cách hợp lý, nhằm khai thác triệt để mọi tiềm năng về ĐKTN, KTXH và các nguồn lực khác để thu được những nguồn lợi tối đa QHSDD là phải sử dụng đất một cách tổng hợp và bền vững, tức là đảm bảo duy trì cho các nguồn lợi đó ổn định lâu dài, phát huy được những lợi ích trước mắt và làm cơ sở vững chắc để có được những thành quả lớn trong tương lai

QHSDD là một lĩnh vực đa ngành, có quan hệ mật thiết với nhiều yếu tố của hoạt động sản xuất kinh doanh, bao gồm chế độ chính sách, ĐKTN, điều kiện KTXH và tài nguyên môi trường QHSDD chỉ có thể thành công khi nó kết hợp đồng bộ được các yếu tố trên nhờ những hiểu biết về kỹ thuật tiên tiến Khi những điều kiện này thay đổi, sẽ kéo theo sự thay đổi của công tác quy hoạch

QHSDD phải đạt được cả mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, phải phù hợp với quy hoạch tổng thể PT KTXH trong toàn khu vực Muốn vậy khi quy hoạch cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa hiện tại và tương lai, giữa chi tiết và tổng thể, đánh giá được tiềm năng đất đai, xác định được cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.4.2.1 Những thông tin cần thu thập

Trang 23

a Điều kiện tự nhiên

- Tài liệu về vị trí địa lý, phân chia hành chính

- Điều kiện địa hình, đất đai, thổ nhưỡng

- Đặc điểm về điều kiện khí hậu, thuỷ văn

- Hiện trạng tài nguyên sinh vật rừng

- Các tài liệu, bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, TNR, bản đồ giao đất giao rừng, bản đồ quy hoạch huyện, thuyết minh chuyên ngành có trong khu vực

- Những tài liệu đã có về lĩnh vực NLN

- Phân loại rừng và các loại đất đai khác

b Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

- Tài liệu về dân sinh, KTXH, quản lý xã

- Một số chủ trương về phương hướng, đường lối chính sách, chủ trương của tỉnh, huyện đối với hoạt động quy hoạch, quản lý sử dụng đất

- Thông tin về thực trạng CSHT: giao thông, thuỷ lợi, y tế,…

- Thông tin thị trường và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm sản trong địa bàn xã và khu vực nghiên cứu

- Tài liệu KNKL… và các tài liệu khác có liên quan

- Các báo cáo tổng kết về tình hình sản xuất NLN của xã

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

a) Phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu thứ cấp

Để thu thập được các tài liệu trên đề tài sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu thứ cấp tại địa phương và của các cơ quan liên quan như: Viện điều tra quy hoạch rừng; Thư viện Trường ĐHLN, Chi cục Lâm nghiệp Hoà Bình, các phòng ban trong huyện Cao Phong, UBND xã Nam Phong… được cập nhật qua các thời kỳ và trong năm, với các loại tài liệu:

- Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp của xã

- Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp của xã từ năm 2001 trở lại đây

- Bản đồ hiện trạng, bản đồ giao đất của xã tỷ lệ 1:10.000

- Các số liệu về thời tiết, khí hậu tại trạm khí tượng thuỷ văn của địa phương

Trang 24

- Thông tin thị trường tiêu thụ sản phẩm trong địa bàn xã và khu vực giáp ranh từ năm 2001 đến nay

- Các số liệu thống kê về đất đai, CSHT, kết quả sản xuất NLN được thu thập tại phòng Thống kê, phóng Địa chính,…

- Các tài liệu có liên quan: Quy hoạch phát triển NLN, QHSDD, quy hoạch tổng thể của tỉnh, các loại bản đồ sử dụng đất, giao đất, phương pháp QHSDD đã và đang áp dụng tại tỉnh

- Phương hướng, đường lối chính sách, chủ trương của tỉnh đối với hoạt động

sử dụng đất, hoạt động sản xuất NLN…

Ngoài các nguồn tài liệu trên, đề tài còn thu thập một số quy phạm của ngành, các hướng dẫn kỹ thuật công tác QHSDD và quy hoạch phát triển NLN của các tổ chức, chương trình, dự án…

b) Phương pháp điều tra thực địa

Sử dụng một số công cụ của phương pháp ĐGNT có STG của người dân (PRA) và đánh giá nhanh nông thôn (RRA)

b1) Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA): Tiến hành phỏng vấn, sử

dụng các bảng câu hỏi và tiếp xúc với lãnh đạo hoặc cán bộ các ban ngành có liên quan tại tỉnh, huyện, xã, thôn và hộ nông dân để thu thập những thông tin cơ bản của địa phương như: ĐKTN, KTXH, thực trạng sử dụng đất

b2) Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)

- Sử dụng công cụ điều tra theo tuyến (đi lát cắt) để đánh giá hiện trạng sử dụng đất và phân tích hệ thống canh tác tại địa phương

- Sử dụng công cụ ma trận phân loại để lựa chọn các loài cây trồng, vật nuôi thích hợp tại địa phương

- Sử dụng PP phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) để đánh giá hiện trạng, tiềm năng quản lý SD của quy hoạch PT NLN tại địa phương

- Họp dân để trình bày kết quả, thảo luận và củng cố thông tin

b3) Phương pháp điều tra chuyên đề: PP này được sử dụng để điều tra bổ

sung các thông tin không có trong tài liệu RRA tại địa phương theo các lĩnh vực:

Trang 25

- Nông nghiệp:

+ Lĩnh vực trồng trọt: Tình hình giao đất nông nghiệp, các thông tin về cây trồng, năng suất và sản lượng cây trồng của xã, tình hình sâu bệnh hại, tình hình đầu

tư sản xuất, thông tin về KNKL…

+ Lĩnh vực chăn nuôi: Tình hình chăn nuôi của xã, các chủng loại giống, bãi chăn thả, tình hình dịch bệnh, tình hình cải tạo giống vật nuôi, thông tin về KNKL…

- Lâm nghiệp:

+ Điều tra, thống kê diện tích các loại rừng

+ Tình hình sử dụng đất LN, tình hình giao đất LN, tình hình quản lý rừng, tình hình đầu tư và phát triển rừng, tình hình lợi dụng rừng, tình hình bảo vệ rừng

- Điều tra dự báo nhu cầu thị trường nông, lâm sản:

+ Nhu cầu thị trường lâm, nông sản Điều tra nhu cầu gỗ, củi Tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp Khả năng phát triển sản xuất hàng hoá

- Điều tra các thông tin khác: Tỷ lệ sinh đẻ theo phương pháp thống kê, dự

tính dân số tương lai theo công thức 2.1 sau:

n t

V P N

100 (

*

0

 (2.1) Trong đó:

Nt: là dân số năm quy hoạch

N0: là dân số năm hiện tại

V: tỷ lệ tăng dân số cơ học

n: là số năm dự tính

P: là tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

+ Số hộ gia đình tính theo công thức 2.2 sau:

0 0

N

N H

Trang 26

Tài nguyên đất đai của xã Nam Phong được điều tra, đánh giá dựa trên bản

đồ tài nguyên đất tỷ lệ 1:10.000 và bản đồ nông hoá tỷ lệ 1:10.000 kết hợp với phân tích, điều tra bổ sung ngoài thực địa

2.4.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

2.4.3.1 Tổng hợp và phân tích thông tin cơ bản về điều ĐKTN, KTXH

Trên cơ sở những số liệu thu thập được, tiến hành kiểm tra thông tin chọn lọc, loại bỏ những số liệu lạc hậu, đã cũ hoặc không đúng với thực tế, tiến hành phân tích các số liệu về các nhóm sau:

- Các thông tin liên quan đến ĐKTN như: Vị trí địa lý, phân chia hành chính, địa hình địa mạo, độ dốc, khí hậu thuỷ văn, thổ nhưỡng, động thực vật rừng… được thu thập, chọn lọc từ các tài liệu gốc của địa phương

- Các thông tin về điều kiện KTXH: Dân cư (dân số, mật độ, lao động, thành phần dân tộc, tỷ lệ nam nữ), cơ cấu XH (xã, thôn, nhóm hộ, HGĐ), ngành nghề, lao động và việc làm, thu nhập, dịch vụ xã hội và CSHT (Y tế, giáo dục, giao thông, điện lưới, thông tin liên lạc, thị trường giá cả, tình hình tiêu thụ nông, lâm sản…) được thu thập từ các phòng, ban liên quan và các tài liệu gốc của xã sau đó tổng hợp, phân tích

- Nhóm tài liệu về hiện trạng TNR, hiện trạng sử dụng đất đai được tổng hợp với các chỉ tiêu về diện tích, tình hình sinh trưởng, phát triển, trữ lượng và chất lượng rừng

- Nhóm thông tin liên quan đến tổ chức và thể chế: Tổ chức cộng đồng, dịch

vụ KNKL, quản lý và bảo vệ rừng, dịch vụ thú y, hoạt động tín dụng cộng đồng… được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp SWOT

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ QHSDD được xây dựng có sự trợ giúp của máy tính bằng phần mềm Mapinfo 7.0

2.4.3.2 Tổng hợp và phân tích thông tin điều tra chuyên đề

- Thông tin cơ sở cho quy hoạch PTSX NLN được tổng hợp theo phương án tối ưu hoá mục tiêu và phân tích đa tiêu chuẩn, áp dụng cho xây dựng kế hoạch

Trang 27

- Thông tin tổng hợp cho phân tích hệ thống canh tác theo hệ thống bảng, biểu, bản đồ phân chia 3 loại rừng, phân cấp phòng hộ, bản đồ hiện trạng, được xây dựng bằng việc phúc tra hiện trường và tổng hợp, phân tích Các bản đồ được bổ sung và xây dựng hoàn chỉnh

- Trong quá trình sử dụng tài liệu, các thông tin được chỉnh lý và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, mức độ quan trọng của vấn đề, phân tích các ý kiến, quan điểm

a1) Tính giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV): NPV là hiệu số giữa giá

trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất sau khi đã tính chiết khấu

để quy về thời điểm hiện tại Giá trị NPV được tính theo công thức sau:

Ct Bt NPV

0 (1 ) (2.3)

Trong đó:

NPV: là giá trị hiện tại của thu nhập ròng (đồng) Bt: là giá trị thu nhập ở năm t (đồng)

Ct: là giá trị chi phí ở năm t (đồng)

i: là tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất (%)

t: là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

Tiêu chuẩn đánh giá theo NPV: NPV > 0: Mô hình có lãi; NPV = 0: Mô hình hoà vốn; NPV < 0: Mô hình bị thua lỗ

NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất Hoạt động nào có NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao

a2) Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (BCR): BCR là hệ số sinh lãi thực tế,

phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản

xuất Nó được thể hiện qua công thức sau:

Trang 28

BPV BCR

0

0

) 1 (

) 1 (

(2.4) Trong đó:

BCR: là tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng/ đồng)

BPV: là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV: là giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

Nếu hoạt động sản xuất nào có BCR > 1 thì hiệu quả kinh tế (mô hình có lãi) BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao BCR = 1: Mô hình hoà vốn Ngược lại BCR < 1 thì việc sản xuất, kinh doanh không có hiệu quả (mô hình bị thua lỗ)

a3) Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR): IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn

đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu

IRR là chỉ tiêu thể hiện tỷ suất lợi nhuận thực tế của một chương trình đầu

tư, tức là nếu vay vốn với lãi suất bằng chỉ tiêu này thì chương trình đầu tư hoà vốn IRR thể hiện lãi suất thực của một chương trình đầu tư, lãi suất này bao gồm 2 bộ phận: Trang trải lãi vay ngân hàng và phần lãi của nhà đầu tư

IRR thể hiện mức lãi suất vay vốn tối đa mà chương trình đầu tư có thể chấp nhận được mà không bị lỗ vốn IRR được tính theo tỷ lệ %, đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi đó tỷ lệ chiết khấu i được xác định là tỷ lệ thu hồi nội bộ (NPV = 0 thì i = IRR)

IRR càng lớn thì hiệu quả KT càng cao, khả năng thu hồi vốn càng nhanh IRR chính là tỷ lệ chiết khấu i khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi

0)1

Ct Bt

thì i = IRR (2.5)

Nếu IRR > r là có lãi; IRR < r là lỗ; IRR = r là hoà Với r là lãi suất ngân hàng Tỷ lệ chiết khấu được tính theo lãi suất ngân hàng tại thời điểm tính toán

b) Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả XH: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu

quả XH gồm: Mức độ đầu tư, khả năng ứng dụng của mô hình, khả năng cho sản

phẩm, giải quyết công ăn việc làm, mức độ rủi ro, sự chấp nhận của người dân…

Trang 29

c) Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả về môi trường: Khả năng bảo

vệ nguồn nước, bảo vệ đất đai, chống xói mòn của những mô hình SDD mang lại

d) Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp: Hiệu quả tổng hợp của các phương

thức canh tác có nghĩa là một phương thức canh tác phải có hiệu quả kinh tế nhất, mức độ chấp nhận của xã hội cao nhất (hiệu quả xã hội) và góp phần giữ gìn BVMT

sinh thái (hiệu quả môi trường)

Áp dụng phương pháp tính chỉ số hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác (Ect) của W.Rola (1994)

f: là các đại lượng tham gia vào tính toán (NPV, BCR, CPV, IRR…)

n: là số đại lượng tham gia vào tính toán

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quy hoạch sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã Nam Phong

QHSDD là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất NLN

Để đảm bảo được tính hiệu quả, hiệu suất và tính bền vững QHSDD phải được hình thành trên cơ sở lý luận và thực tiễn

Về mặt lý luận QHSDD cấp xã phải được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

- Phải nằm trong hệ thống QHSDD cấp vĩ mô

- Có STG tích cực của người dân

- Được xây dựng trên quan điểm hệ thống

- Phù hợp với yêu cầu phát triển lâu dài

- Phù hợp với luật pháp và các chính sách hiện hành

- Có thị trường tiêu thụ rộng lớn và ổn định

Trên quan điểm thực tế QHSDD cấp xã phải thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phù hợp với ĐKTN, KTXH của địa phương

- Phát huy cao nhất tiềm năng của các loại đất đai

- Đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất Đảm bảo an toàn về mặt môi trường

- Được đa số mọi người dân trong cộng đồng chấp nhận

- Có khả năng thực thi cao

Trang 31

cầu, nguyện vọng của người dân cũng như sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái nên hiệu quả sử dụng đất chưa cao

Chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đã thể chế hoá đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong phát triển kinh tế thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 đã chỉ rõ "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và theo pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả"

Điều 21, Luật đất đai năm 2003 cũng xác định một số nguyên tắc cơ bản của lập quy hoạch sử dụng đất:

- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển KTXH, quốc phòng, an ninh

- Được lập từ tổng thể đến chi tiết, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên, kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất của cấp dưới

- Sử dụng đất tiết kiệm, có hiệu quả

- Khai thác hợp lý TNTN và bảo vệ môi trường

Hiện nay hệ thống quy hoạch của cả nước bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện (gọi là cấp vĩ mô) Cấp thôn bản, cấp hộ gia đình (gọi là cấp vi mô) Cấp

xã là cấp phối hợp giữa cấp vĩ mô và vi mô Bởi vì cấp xã vừa là cấp cơ sở (vi mô)

có chức năng hành pháp về quản lý nhà nước vừa là cấp quản lý kế hoạch sử dụng đất tại địa phương theo định hướng phát triển chung (vĩ mô) Vì vậy, QHSDD cấp

xã phải kết hợp hài hoà quy hoạch vĩ mô và vi mô, nghĩa là vừa quy hoạch định hướng và quy hoạch quản lý sản xuất

Trang 32

QHSDD cấp xã chịu tác động của cấp quy hoạch cao hơn thể hiện qua việc chấp hành, thực thi quy hoạch của huyện, tỉnh, vùng và trung ương, đồng thời đề xuất với cấp trên về kế hoạch sử dụng đất của địa phương

QHSDD cấp xã tác động với cấp dưới như thôn bản, HGĐ thông qua nhiệm

vụ hướng dẫn cấp thôn về lập kế hoạch sử dụng đất, điều phối kế hoạch cấp thôn, đồng thời hướng dẫn và hỗ trợ để các cộng đồng tự xây dựng kế hoạch sử dụng đất, đảm bảo kết hợp hài hoà giữa nhu cầu của người dân và ưu tiên của chính phủ trong

sử dụng đất đai

b) Quy hoạch sử dụng đất có sự tham gia của người dân

Việt Nam là quốc gia với hơn 80% dân số sống bằng ngành nông nghiệp Vì vậy, việc PTNT là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu

Những năm trước đây, việc PTNT vẫn áp dụng phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, thiếu vai trò tham gia của người dân địa phương Do đó việc tiếp cận nông thôn có STG của người dân là một bước tiến mới trong công cuộc xây dựng chiến lược PTNT hiện nay, vừa quan tâm đến nhu cầu và nguyện vọng của người dân, vừa đảm bảo đem lại hiệu quả cao trong quá trình sử dụng đất Vì vậy, việc QHSDD phải do chính người dân trực tiếp tham gia thì mới có tính khả thi cao, mang lại hiệu quả thiết thực, cán bộ chỉ đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn thực hiện

QHSDD có người dân tham gia được chia làm 3 bước: Chuẩn bị, đánh giá hiện trạng và xác định nhu cầu về sử dụng đất, QHSDD Trong đó, mục tiêu phát triển sản xuất được người dân địa phương xác định một cách cụ thể, có thể linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo điều kiện tình hình của địa phương Người dân dược khuyến khích và coi việc QHSDD như là nhiệm vụ của chính họ Họ sẵn sàng chủ động trong việc tham gia thực hiện các nội dung quy hoạch mà chính họ đã quyết định

c) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo quan điểm hệ thống của FAO

Từ những năm đầu thế kỷ 20 lý thuyết về hệ thống đã bắt đầu được xuất

hiện

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại [27], hiểu một cách khác hệ thống là cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều

Trang 33

bộ phận chức năng tạo nên một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt động theo những quy luật thống nhất, tạo nên một chất lượng mới không giống tính chất của

từng yếu tố hợp thành và cũng không phải con số cộng của những bộ phận đó [9]

Lý thuyết về hệ thống được nghiên cứu và hoàn thiện dần theo thời gian, thông qua những thử nghiệm và được tổng kết từ thực tiễn sản xuất

Trong sản xuất NLN, lý thuyết về hệ thống cũng được ứng dụng rộng rãi Nếu coi sản xuất nông lâm nghiệp là một hệ thống thì khi đó, sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi, thuỷ lợi,… sẽ được coi là những bộ phận chức năng Những bộ phận này không thể thiếu được, chúng nằm trong mối quan hệ tác động qua lại một cách chặt chẽ Việc nghiên cứu cơ chế hoạt động, chỉ ra được điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống sẽ giúp người ta đưa ra được những quyết định tác động vào những khâu, những mắt xích ở những thời điểm thích hợp nhằm làm cho hệ thống hoạt động được nhịp nhàng, cân đối và đem lại hiệu quả cao nhất

Quan điểm hệ thống được nhiều nhà khoa học tiếp cận trong nghiên cứu tự nhiên, KTXH nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người

Năm 1993, khi nghiên cứu về các hệ thống sử dụng đất, FAO đã đưa ra một

số khái niệm về sử dụng đất như sau:

- Loại hình sử dụng đất (Major kind of land use) là một dạng chính trong sử dụng đất ở nông thôn bao gồm một nhóm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp nhờ nước trời, cây hàng năm, cây lâu năm, cây lâm nghiệp,… nó thường được dùng để đánh giá đất đai một cách định tính hoặc để khảo sát TNTN

- Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được mô tả chi tiết hơn so với loại hình sử dụng đất, nó chỉ ra một sự sử dụng đất thấp hơn loại hình sử dụng đất

- Hệ thống sử dụng đất bao gồm các kiểu sử dụng đất hoặc các loại hình trong sự phối hợp, tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau trên một mảnh đất nhất định Vì vậy, hệ thống sử dụng đất có thể có quy mô lớn nhỏ tuỳ ý và luôn luôn

là một hệ cân bằng động Các yếu tố cấu thành luôn tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ biện chứng, qua đó con người phân tích bản chất và đặc tính của các

Trang 34

mối tác động qua lại để đề xuất hệ thống canh tác hợp lý nhằm khai thác tối đa tiềm năng của chúng phục vụ cho cuộc sống của con người

d) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã theo quan điểm bền vững

Trong những năm gần đây, thuật ngữ "Phát triển bền vững" được quan tâm

và nghiên cữu rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực nói chung và trong sản xuất NLN nói riêng Việc nghiên cứu, đề xuất các phương pháp sử dụng đất mới như: NLKH, VAC, SALT trên cơ sở chính sách giao đất để phát triển kinh tế hộ gia đình ở các vùng nông thôn, nhất là các vùng trung du, miền núi đã góp phần đảm bảo tính bền vững trong sử dụng đất và đạt được những hiệu quả thiết thực đối với người dân Như vậy, phát triển bền vững là phải không những đảm bảo lợi ích trước mắt mà không làm tổn hại đến lợi ích của thế hệ mai sau

Công tác QHSDD phải được xem xét một cách tổng hợp và toàn diện nhằm thực hiện các mục tiêu sau:

- Duy trì được sự cân bằng dinh dưỡng trong đất

- Áp dụng các hệ thống NLKH, đa dạng hoá sản xuất và sản phẩm

- Sử dụng các tập đoàn cây đa mục đích và cây cố định đạm

- Xây dựng các mô hình tổng hợp về các hệ thống và kỹ thuật canh tác trên đất dốc trên cơ sở có STG của người dân

Như vậy, tính bền vững chỉ có thể đat được khi mà các hoạt động sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định, được sự chấp nhận của xã hội đồng thời phải đảm bảo duy trì được sự cân bằng về mặt môi trường sinh thái

e) Quy hoạch sử dụng đất cấp xã trong nền kinh tế thị trường

Trang 35

Theo nghĩa hẹp "Thị trường" là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, chuyển nhượng, mua bán hàng hoá và dịch vụ [24] Nếu hiểu theo nghĩa rộng thì "Thị trường" là một hình thức biểu hiện sự phân công lao động xã hội và do đó có thể phát triển vô cùng tận, ở đâu và khi nào có sự phân công lao động xã hội thì ở đó và khi ấy có thị trường [24] Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ cao, khi tất cả quan hệ kinh tế trong quá trình tái sản xuất xã hội đều được tiền tệ hoá, các yếu tố của sản xuất như vốn, tài sản, sức lao động, chất xám, các sản phẩm

và dịch vụ làm ra đều có giá mà giá cả hình thành bởi tác động của quy luật cung cầu trên thị trường [24]

Trong kinh tế thị trường, mỗi chủ thể kinh tế trong hoạt động kinh doanh theo đuổi lợi ích của mình và lợi nhuận Do đó nói đến kinh tế thị trường cần phải bảo đảm những điều kiện cơ bản sau:

- Tính tự chủ cao của các chủ thể kinh tế thể hiện ở tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động kinh doanh của mình trong việc sản xuất

- Mua bán theo giá cả thị trường

- Đảm bảo có đủ thông tin về thị trường

Dựa vào sự phân tích khoa học về cung - cầu ở thị trường và của mỗi vùng

để xác định phương hướng và quy mô sản xuất hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể Trong đó phải trả lời được 4 vấn đề cơ bản [24]:

- Sản xuất và dịch vụ cái gì?

- Sản xuất bao nhiêu?

- Sản xuất và dịch vụ như thế nào, cho ai?

- Lợi nhuận thu được bao nhiêu?

Trên cơ sở xác định được phương hướng quy mô sản xuất hàng hoá và dịch

vụ và mục đích cuối cùng của các chủ thể sản xuất là mục tiêu kinh doanh Trên cơ

sở đó quy hoạch tổ chức các biện pháp kinh doanh, quản lý sử dụng đất đai, phát triển sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp để đạt được những mục tiêu đã đề ra

3.1.2 Cơ sở chính sách đối với quy hoạch sử dụng đất

a) Cơ sở, căn cứ pháp lý cho quy hoạch sử dụng đất

Trang 36

Trong quá trình đổi mới và hội nhập ở nước ta hiện nay, công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất có vai trò vô cùng quan trọng, nó chính là động lực giúp thúc đẩy tăng cường kinh tế, phát huy tối đa tiềm năng của đất đai và quản lý sử dụng đất một cách bền vững

Vai trò của cấp xã trong việc quản lý sử dụng đất đai tại địa phương đã được khẳng định rõ tại điều 17, 18 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

Trong Luật đất đai năm 2003 công tác quản lý Nhà nước về đất đai của cấp

xã cũng được xác định một cách cụ thể Cấp xã cùng với các cơ quan cấp trên thực hiện các nội dung:

- Xác định ranh giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính

- Khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ QHSDD

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển MĐ sử dụng đất

- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

- Thống kê, kiểm kê đất đai

- Giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý sử dụng đất đai

Đối với việc quản lý sử dụng đất NLN, vai trò cấp xã cũng được khẳng định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

Ngoài ra, vai trò của cấp xã trong việc quản lý sử dụng đất đai còn được thể hiện trong các văn bản pháp luật đã được liệt kê ở phần tổng quan

b) Cơ sở kinh tế của công tác quy hoạch sử dụng đất

b1) Các hệ thống sản xuất nông nghiệp và xu hướng phát triển

- Những chuyển biến trong canh tác nương rẫy

Đối với một quốc gia phát triển kinh tế với cơ cấu hơn 80% dành cho nông nghiệp như Việt Nam hiện nay, hoạt động canh tác nương rẫy được xác định là một

Trang 37

phương thức truyền thống và phổ biến để đáp ứng nhu cầu lương thực, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc vùng trung du và miền núi Hệ thống nương rẫy được chia làm

2 loại: Nương rẫy cố định và nương rẫy không cố định

Nương rẫy cố định còn gọi là nương rẫy định canh Đó là những nương lúa, ngô, hoa màu trồng xen theo các băng của đường đồng mức bằng các loại cây họ đậu, hay xếp đá, đào hào vừa có tác dụng phòng hộ, bảo vệ trâu bò và gia súc phá hoại, làm hàng rào ranh giới, hạn chế xói mòn, phân bón…

Nương rẫy không cố định được gọi là du canh với phương thức sử dụng đất theo kiểu luân canh nương rẫy Đây là những nương cây trồng cạn được gieo trồng theo phương thức canh tác truyền thống, trong đó có thời gian cho rừng phục hồi, sau đó mới quay lại làm nương rẫy

- Vai trò và xu hướng của canh tác lúa nước

Trong toàn xã Nam Phong diện tích đất lúa nước chiếm tỷ lệ còn thấp (8,08%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn xã, còn lại chủ yếu diện tích là sản xuất lâm nghiệp Sản lượng lương thực quy ra thóc là 430kg/người/năm Như vậy, tình hình lương thực của xã hiện nay còn thấp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu Do đó một nhiệm vụ quan trọng hiện nay là phải tiến hành đưa các giống lúa mới có năng suất cao vào sản xuất, đầu tư xây dựng hệ thống thuỷ lợi, đắp đập, làm mương máng để đáp ứng đủ nước tưới cho sản xuất và không ngừng đầu tư áp dụng tiến bộ của KHKT vào sản xuất

- Hệ thống vườn nhà, vườn rừng và xu hướng phát triển

Hệ thống vườn nhà, vườn rừng gắn liền với khu vực đất thổ cư, nương rẫy cố định với hệ thống cây ăn quả, cây công nghiệp, rau màu phát triển theo 3 mức độ: Vườn tạp, vườn cải tạo và vườn chuyên canh Do điều kiện của từng khu vực, thị trường và tập quán của người dân địa phương nên vườn nhà, vườn rừng của các hộ gia đình chủ yếu là cây ăn quả với cơ cấu cây trồng chủ yếu là: Vải thiều, Nhãn lồng, Bưởi, Cam, Quýt, Mía,… Đây là nguồn thu rất quan trọng của các hộ gia đình

Để đáp ứng được nhu cầu của thị trường, hệ thống vườn rừng, vườn nhà phát triển theo xu hướng sau:

Trang 38

+ Cải tạo vườn nhà thành vườn cây có quy hoạch trồng cây ăn quả, cây hoa màu phục vụ cho sinh hoạt, chăn nuôi và bán sản phẩm

+ Mở rộng diện tích vườn nhà, vườn rừng, thay thế dần sản xuất lương thực, thực phẩm sang cây ăn quả, cây công nghiệp bằng phương thức NLKH

+ Áp dụng các mô hình VAC, RVAC, SALT,…

- Chăn nuôi và xu hướng phát triển

Chăn nuôi cũng là một trong những hoạt động sản xuất quan trọng trong hệ thống nông nghiệp của xã Chăn nuôi vừa cung cấp sức kéo, phân bón và cung cấp thực phẩm, phục vụ nhu cầu sinh hoạt

Hạn chế rất lớn đối với sự phát triển của ngành chăn nuôi đó là giống vật nuôi, kỹ thuật chăn nuôi và thị trường tiêu thụ

b2) Hiện trạng tài nguyên rừng và xu hướng phát triển

Nam Phong là một xã miền núi có tiềm năng vô cùng to lớn để phát triển ngành lâm nghiệp, đây là một nhiệm vụ mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh

tế xã hội của xã Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 1.263,90 ha, chiếm 66,14% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó bao gồm: đất rừng sản xuất là 913,23 ha và đất rừng phòng hộ là 350,67 ha Chủ yếu là rừng trồng và khoanh nuôi phục hồi

Với sự phát triển mạnh của LNXH cùng với sự đổi mới của cơ chế, chính sách của Nhà nước trong thời gian vừa qua đã tạo ra được động lực mạnh mẽ khuyến khích người dân tích cực tham gia các hoạt động trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và bảo vệ rừng Vì vậy, diện tích rừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng, càng tạo thêm động lực trong phát triển lâm nghiệp

3.1.3 Cơ sở thực tiễn của quy hoạch phát triển lâm nghiệp xã Nam Phong

Nghề rừng và kinh doanh lâm nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát triển KTXH trên địa bàn xã Kết quả điều tra cho thấy phân bổ sử dụng đất lâm nghiệp của xã như sau:

- Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 1.263,90 ha, chiếm 66,14% tổng diện tích

tự nhiên toàn xã Trong đó:

+ Đất rừng sản xuất là: 913,23 ha

Trang 39

+ Đất rừng phòng hộ là: 350,67 ha

Trên địa bàn xã hiện nay không còn tồn tại rừng tự nhiên Hiện nay, chủ yếu

là rừng trồng thuộc Chương trình 327 và Dự án 661, rừng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh nhằm mục đích phòng hộ và sản xuất

Diện tích đất chưa sử dụng khá rộng là 120,14 ha, trong đó: đất bằng chưa sử dụng là 4,96 ha và đất đồi núi chưa sử dụng là 115,18 ha Diện tích này trong quy hoạch thời gian tới cần được đưa vào sử dụng để mở rộng sản xuất NLN

a) Công tác quản lý bảo vệ rừng: Đối tượng bảo vệ chủ yếu là rừng phòng

hộ và diện tích rừng trồng hiện có Công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn xã luôn được quan tâm và nâng cao như: cấm chăn thả gia súc tự do vào rừng, cấm khai thác bừa bãi, nâng cao công tác phòng cháy chữa cháy rừng…

b) Công tác khoanh nuôi phục hồi rừng: Đối tượng chính được đưa vào

khoanh nuôi phục hồi rừng là đất rừng ở trạng thái IB, IC Giải pháp lâm sinh chủ yếu là xúc tiến tái sinh tự nhiên, kết hợp trồng dặm bổ sung bằng những loài cây bản địa, cây đa mục đích nhằm nâng cao độ che phủ của rừng

c) Trồng rừng: Đối với diện tích đất trống đồi núi trọc không có khả năng

phục hồi tự nhiên (Ia, Ib) hoặc tái sinh kém, đất trống cây gỗ, cây bụi mọc rải rác không có khả năng tái sinh tự nhiên, gần các khu dân cư, gần đường giao thông, gần nơi tiêu thụ được quy hoạch lại để trồng rừng

- Phương thức trồng: Trồng hỗn giao hoặc thuần loài

- Phương pháp trồng: Trồng bằng cây con có bầu như: Keo, Bạch đàn, Lát, Quế hoặc bằng hom như Luồng

d) Đối với khu vực được quy hoạch trồng rừng với mục đích phòng hộ:

Cần trồng rừng hỗn giao, nhiều tầng Loài cây trồng cần duy trì và phát huy cây bản địa vốn sẵn có tại địa phương như: Lát hoa, Trám,… phương pháp làm đất cục bộ

và trồng theo đám Với diện tích rừng phòng hộ gần khu dân cư có thể phát triển sản

xuất kết hợp phòng hộ để tăng thu nhập cho người dân

e) Đối với trồng rừng sản xuất: Thực hiện theo đúng thiết kế, ưu tiên trồng

hỗn giao, trồng cây đặc sản, trồng theo mô hình NLKH Loài cây trồng là cây sinh

Trang 40

trưởng, phát triển nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn, chi phí đầu tư thấp như: Keo, Bạch đàn, Luồng,…

g) Khai thác rừng: Việc khai thác gỗ của cá nhân và các tổ chức kinh tế thực

hiện theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNN-LN với cường độ chặt không quá 20% (đối với rừng phòng hộ) hoặc khai thác trắng (ở khu vực rừng trồng đối với rừng sản xuất), nhưng sau khai thác phải xúc tiến tái sinh hoặc trồng lại rừng ngay trong

vụ trồng rừng kế tiếp, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như xúc

tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi bảo vệ, làm giàu rừng bằng các loài cây bản địa

3.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội - nhân văn tại xã Nam Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình

3.2.1 Lược sử hình thành và phát triển của xã Nam Phong có liên quan đến quy hoạch sử dụng đất

- Giai đoạn trước năm 1945: xã Nam Phong được chia làm 6 xóm, bao gồm: Mạc, Khuận, Ong, Nam Thành, Trẹo, Nam Thái Đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất chủ yếu tự cung tự cấp, năng suất thấp Diện tích, trữ lượng TNR còn nhiều Dân cư thưa thớt, đất đai do cá nhân quản lý và toàn quyền sử dụng theo ý muốn của họ

- Giai đoạn từ năm 1945 - 1954: xã Nam Phong được chia ra thêm 4 xóm nữa, nâng số xóm của xã lên thành 10 xóm, đó là các xóm: Mạc, Khuận, Ong 1, Ong 2, Nam Thành, Trẹo ngoài 1, Trẹo ngoài 2, Trẹo trong, Nam Thái, Đúc Trong giai đoạn này đất đai vẫn do cá nhân toàn quyền quản lý và sử dụng, đời sống của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn Sản xuất quy mô nhỏ theo phương thức canh tác nương rẫy, chăn nuôi gia súc theo hình thức chăn thả vào rừng

- Giai đoạn từ năm 1954 - 1960: Xã thành lập hợp tác xã đất đai do tập thể quản lý và sử dụng, giai đoạn này sản xuất theo chỉ đạo của cấp trên, làm theo kế hoạch của Nhà nước

- Giai đoạn từ năm 1960 - 1975: Xã thành lập hợp tác xã, có 8 đội sản xuất, đất đai do hợp tác xã quản lý và sử dụng theo kế hoạch của Nhà nước, thời kỳ này nguồn tài nguyên rừng nhìn chung vẫn còn rất tốt, chưa bị tác động mạnh

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm