NGUYỄN TÀI LUYỆN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TRÊN ĐẤT DỐC CHO CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP HÀ NỘI - 2009... Trong những năm gần đây, nhất l
Trang 1NGUYỄN TÀI LUYỆN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TRÊN
ĐẤT DỐC CHO CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2009
Trang 2
NGUYỄN TÀI LUYỆN
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CÂY CAO SU TRÊN
ĐẤT DỐC CHO CÁC TỈNH BẮC TRUNG BỘ
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN QUANG BẢO
HÀ NỘI - 2009
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây cao su là cây có giá trị kinh tế cao Tổng kim ngạch xuất khẩu từ cây cao su năm 2006 của Việt Nam là 1,30 tỉ USD, năm 2007 là 1.41 tỷ USD chiếm trên 3% tổng thu xuất khẩu của cả nước Năng suất cao su cả nước hiện
đã đạt bình quân 1500 kg/ha/năm, trong đó có những cơ sở đạt năng suất trên 2000kg/ha/năm Theo số liệu thống kê, rừng cao su bắt đầu cho khai thác vào tuổi 6 với sản lượng khoảng 800 kg -1 tấn nhựa/ha/năm Sản lượng nhựa tăng nhanh theo tuổi và đạt khoảng 2 tấn/ha/năm vào thứ 10, 3 tấn vào năm 20 Như vậy, hàng năm rừng cao su cho doanh thu khoảng từ vài chục đến hàng trăm triệu đồng trên ha Ngoài cho thu hoạch nhựa hàng năm, cao su còn cho thu hoạch khoảng 130-150m3 gỗ/ha vào cuối chu kỳ kinh doanh Đây là loại
gỗ có giá trị đồ mộc và trang trí nội thất Như vậy, sau khi sản lượng nhựa giảm, lúc khai thác gỗ rừng cao su còn cho thu nhập từ 500-700 triệu đồng/
ha Chính vì giá trị kinh tế mà hiện nay cây cao su đang được coi là một loài cây trồng nhằm phát triển kinh tế tại nhiều địa phương trong cả nước
Phong trào trồng cao su đang phát triển mạnh ở Việt Nam Với những đặc điểm ưu việt, cao su đã và sẽ là một trong những loài cây chủ đạo cho phát triển kinh tế ở miền núi Việt Nam Theo dự đoán thì diện tích trồng cao su có thể tăng lên hàng triệu hecta nhờ cải thiện giống, nhờ áp dụng kỹ thuật trồng trên đất dốc và nhờ sự tham gia tích cực của hàng triệu hộ nông dân miền núi Hiện nay, Việt Nam có 553.500 nghìn ha cao su, và sản lượng nhựa đạt khoảng 600.000 đến 700.000 tấn/năm Trước đây cao su chủ yếu được trồng ở các vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Sau năm 1975 nó được phát triển rộng ra các tỉnh trung Trung Bộ và bắc Trung Bộ như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa thiên Huế, Quảng trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá
Trang 4Nhưng việc phát triển trồng cây cao su cần có những tính toán và cơ sở khoa học Trong những năm gần đây, nhất là từ năm 2005, giá trị kinh tế lớn và bài học thực tiễn trồng cao su thành công trên nhiều loại đất khác nhau của Việt Nam và thế giới, đặc biệt của miền núi phía Nam Trung Quốc đã làm bùng phát phong trào trồng cao su ở nhiều địa phương, trong đó có hàng loạt tỉnh mới trồng như Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bình… Nhiều cánh rừng tự nhiên
và rừng trồng, nhiều vùng đất lâm nghiệp đã được phá đi để trồng cao su Trong
đó không ít những cánh rừng tự nhiên với trữ lượng lớn và giá trị phòng hộ cao cũng bị chuyển hóa thành rừng trồng cao su Đây là sự phát triển cao su một cách tự phát, nếu không có những tính toán thận trọng có thể đây sẽ là nguyên nhân dẫn đến những thất bại về cả kinh tế và môi trường trong tương lai
Đặc biệt việc phát triển cây cao su ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam càng cần phải chú ý Khu vực Bắc Trung Bộ bao gồm 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế Đa số diện tích miền trung đều có độ dốc lớn Các dòng chảy mặt như sông, suối đều ngắn, hẹp và dốc Vậy một các hỏi đặt ra là những vùng đã được trồng cao su có nằm trong vùng có điều kiện sinh thái phù hợp với yêu cầu của cây cao su không? Các yếu
tố lập địa đã ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng của cây cao su? Để tiếp tục phát triển trồng cây cao su trên đất dốc tại các tỉnh này cần chú ý những điều gì?
Để góp phần trả lời các câu hỏi đó đề tài thạc sĩ ngành Lâm học
“Nghiên cứu khả năng phát triển cây cao su trên đất dốc cho các tỉnh Bắc Trung Bộ” đã được tiến hành Để thực hiện được những ý tưởng nghiên cứu
đề tài tiến hành theo hướng điều tra sự sinh trưởng, phát triển và sản lượng
mủ cao su tại một số tỉnh miền Trung, đối chiếu với điều kiện lập địa để từ đó nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố của điều kiện lập địa đến sinh trưởng của cây cao su, đưa ra một số những biện pháp kỹ thuật cần áp dụng khi trồng cao su trên các vùng đất dốc
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Nguồn gốc, xuất sứ cây cao su
Cao su (Hevea brasiliensis) có nguồn gốc từ một vùng rất nhỏ bé
thuộc lưu vực sông Amazon (Nam Mỹ) Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng để tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp lễ hội
Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây cao su ra ngoài phạm vi Brasil diễn ra vào năm 1873 Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nảy mầm tại Vườn thực vật Hoàng gia Kew Những cây con này đã được gửi tới Ấn Độ để gieo trồng, nhưng chúng đã bị chết Cố gắng thứ hai sau
đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm
1875 Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 những cây giống đã được gửi tới Ceylon và gửi tới các vườn thực vật tại Singapore Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh Các cây cao su đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883 Vào năm
1898, một đồn điền trồng cao su đã được thành lập tại Malaysia, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới
Hiện nay, có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ
La Tinh, tổng diện tích toàn thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tinh quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện tích cao su thế giới Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB) Indonesia
có diện tích cao su lớn nhất thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung
Trang 6Quốc, Ấn Độ và Việt Nam Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống
1.2 Vai trò của cây cao su với phát triển đất nước
Cây cao su chiếm vị trí quan trọng trong nền nông lâm nghiệp nước
ta, vừa là cây lấy mủ, lấy gỗ, vừa góp phần bảo vệ đất, chống xói mòn Sản phẩm cao su đã và đang được ứng dụng nhiều trong cuộc sống như: cao su thiên nhiên gắn với ngành sản xuất lốp xe mà ngành này gắn với phát triển kinh tế của nhiều nước đang phát triển, cao su tổng hợp, đồ gỗ,…
- Về giá trị kinh tế: Cây cao su là một trong những cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh chóng Năm
2006 kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3 tỉ USD và đã trở thành nông sản xuất khẩu lớn thứ 2 sau gạo và vượt qua cà phê Ngoài sản phẩm chính là mủ, mỗi hecta hàng năm còn có thể cung cấp khoảng 450 kg hạt, có thể ép được
56 kg dầu phục vụ cho công nghệ chế biến sơn, xà phòng, thức ăn chăn nuôi và làm phân bón rất tốt Cao su có thể tổng hợp được công nghệ hoá dầu, diễn biến giá dầu thô và giá cao su thiên nhiên tỷ lệ thuận với nhau Sau chu kỳ kinh doanh mủ, khi chặt hạ để trồng lại cây cao su còn cho một lượng gỗ tương đối lớn (bình quân từ 130-258m3/ha) phục vụ cho chế biến
đồ gỗ gia dụng và xuất khẩu, nó được đánh giá cao vì có thớ gỗ dày, ít co, màu sắc hấp dẫn được đánh giá như là loại gỗ "thân thiện với môi trường"
và có giá trị tương đương gỗ nhóm III Hiện nay tuỳ theo nguồn giống, mật
độ vườn cây và trình độ thâm canh, năng suất một số giống đang trồng ở nước ta cho thấy sau 20 - 21 năm tuổi, 1 ha cao su có thể đạt sản lượng gỗ
từ 162 - 389m3,trong đó trữ lượng gỗ thân chính chiếm khoảng 75-77%
- Về xã hội: Sản xuất cao su cần nhiều lao động cho chăm sóc, bảo
vệ, khai thác, chế biến, dịch vụ và lao động trong các nhà máy chế biến sản phẩm từ cây cao su, tạo việc làm cho hàng triệu lao động góp phần xoá
Trang 7đói, giảm nghèo, đời sống các hộ công nhân, nông dân được cải thiện rõ rệt, tăng thu nhập cho đồng bào các dân tộc miền núi, trung du; nhiều hộ đã thoát khỏi nghèo đói, vươn lên làm giàu từ việc trồng cây cao su Phát triển trồng cao su đi đôi với việc phát triển các cơ sở hạ tầng như: Điện, Đường, Trường, xây dựng và mở mang các vùng kinh tế mới, tạo nên các vùng đô thị, đời sống của nhân dân được ổn định, trật tự xã hội và an ninh quốc phòng được giữ vững
- Về môi trường: Ở Việt Nam, vấn đề tác động môi trường rừng Cao
su còn khá mới mẻ Trong phần lớn tài liệu nghiên cứu về cây cao su đều ít nhiều đề cập đến tác động môi trường của chúng Tuy nhiên chưa có nghiên cứu riêng về vấn đề này
1.3 Đặc điểm thực vật học cây cao su
Cây cao su khi ở tình trạng hoang dại tại vùng nguyên quán thì mật
độ cây thưa thớt và với chu kỳ sống trên 100 năm, nên có dạng cây rừng lớn Khi được nhân trồng trong sản xuất, do việc tính toán hiệu quả của cây với việc sử dụng đất và vốn đầu tư nên cây cao su được trồng trong điều kiện khác hẳn với tình trạng hoang dại, cụ thể:
- Mật độ trồng dày (18 - 25 m2/cây và 500 - 600 cây/ha)
- Chu kỳ sống của cây cao su được giới hạn là từ 30 - 35 năm, chia làm 2 thời kỳ Thời kỳ kiến thiết cơ bản (5-7 năm tuỳ theo điều kiện sinh thái và chăm sóc) và thời kỳ kinh doanh, đây là thời gian khai thác mủ cây (từ 25 - 30 năm)
Do phải thích nghi với điều kiện sống nên kích thước và hình dáng cây cao su trong sản xuất trở nên nhỏ hơn so với cao su hoang dại, tối đa chỉ cao 25 - 30 m và đạt vanh tối đa là 1,0m khi vào cuối chu kỳ khai thác
Khác với cây cao su hoang dại ở dạng cây thực sinh có thân cây hình nón với vanh thân giảm dần từ thấp lên cao, các cây cao su nhân trồng có
Trang 8dạng cây ghép với thân cây hình trụ có một mối ghép (chân voi) phình to ra
ở ngay phía trên mặt đất và kích thước thân cây từ thấp đến cao thay đổi không đáng kể (Tổng công ty cao su Việt Nam 2004) [14]
1.4 Tình hình nghiên cứu và phát triển cao su ở nước ngoài
Khi cây cao su (Hevea brasiliensis) được xem là lọai cây công
nghiệp quan trọng thì diện tích cây cao su đã dần vượt ra xa vùng nguyên quán phân bố từ vĩ tuyến 150 nam đến vĩ tuyến 60B (Brazin: Acre, Mato Grosso, Rondonio và Parana; một phần của Polivia và Peru) và đã được trồng trên nhiều vùng có điều kiện khí hậu khác xa so với vùng nguyên quán như ở Assam (Ấn Độ) 200 B, Vân nam (Trung Quốc) 22 – 23,50B Hiện nay có 24 quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La Tinh, tổng diện tích toàn thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tinh quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện tích cao su thế giới
Hình 1.1 Tỷ trọng diện tích trồng cao su của các nước đứng đầu trên thế giới
Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB) Indonesia có diện tích cao su lớn
Trang 9nhất thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống Hiện nay, nhiều nước đang mở rộng diện tích cao su ra ngoài vùng truyền thống như một công cụ để bảo vệ môi trường và nâng cao thu nhập của người dân Một số nước đứng đầu trong nghiên cứu và phát triển cao su là: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, Việt Nam , Trung Quốc,
Trong các năm qua nhu cầu tiêu thụ cao su thiên nhiên trên thế giới tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt 8 triệu tấn năm 2005 Nhu cầu này được dự báo sẽ còn tiếp tục tiếp tục tăng mạnh hơn nữa trong thời gian dài, có thể đạt đến 10 triệu tấn năm 2010 và đến 15 triệu tấn năm 2035 Nhằm đáp ứng nhu cầu trên, các nước trồng cao su đều tập trung mở rộng diện tích, đặc biệt ở các vùng có điều kiện sinh thái ít thuận lợi (vĩ độ cao, độ cao lớn, đất kém…) và nâng cao năng suất trên đơn vị diện tích đất thông qua con đường cải tiến giống và phát triển các tiến bộ kỹ thuật nông học đi kèm Phương hướng cải tiến giống được tất cả các Viện cao su trên thế giới tập trung đẩy mạnh nghiên cứu
Ngày nay, bên cạnh mục tiêu tạo tuyển giống năng suất mủ cao, chống chịu bệnh hại và thích nghi môi trường, năng suất gỗ cũng trở thành tiêu chí quan trọng trong chọn tạo giống cao su vì nhu cầu gỗ cao su để thay cho gỗ rừng ngày càng cao Để đáp ứng mục tiêu trên, Malaysia đã đặt mục tiêu tạo tuyển giống cao su đạt năng suất 3,5 tấn mủ/ha/năm bình quân chu kỳ và năng suất gỗ toàn cây đạt 1,5 m3/cây vào cuối kỳ kinh doanh Hiệp hội Nghiên cứu và Phát triển Cao su Quốc tế (IRRDB) cũng đề xướng chương trình hợp tác giữa các Viện Cao su để phát triển giống đạt năng suất trên 3 tấn mủ/ha
Indonesia là nước trồng cao su lớn nhất thế giới hiện nay, năm 1940 Indonesia đã trồng được 1.350.000 ha cao su trong đó 640.000ha là đại
Trang 10điền và 790.000ha là tiểu điền Năm 1995 sản lượng cao su thiên nhiên đạt 1.456.000 tấn Cao su tiểu điền Indonesia có đặc điểm cây bắt đầu cạo mủ vào năm thứ 8, sản lượng cao nhất vào năm tuổi thứ 16 với năng suất tối đa
là 1,35 tấn/ha Cao su đại điền bắt đầu cạo vào năm tuổi thứ 7, đạt sản lượng cao nhất vào năm tuổi thứ 12 Indonesia thành lập các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển cao su tiểu điền như; NES (Nuclear Estate Schemes -
Kế hoạch đại điền hạt nhân) nhằm hỗ trợ sự phát triển diện tích canh tác mới của cây cao su cho thành phần nông dân nghèo không có đất, tổ chức này ký hợp đồng với nhà nước và sử dụng đại điền làm hạt nhân để hỗ trợ
sự phát triển tiểu điền xung quanh như xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ trồng
và chăm sóc vườn cây cho tới khi khai thác
Thái Lan di nhập cao su từ Java, Indonesia vào trồng tại tỉnh Trang, vùng Tây - Nam vào năm 1899, từ đó cây cao su lan sang phía Nam và phía Đông nước này, tính từ năm 1966 đến năm 1993 diện tích cao su Thái Lan
đã tăng thêm 880.000ha với các vườn cây trồng các giống cao sản như RRIM600 năng suất đạt bình quân 1.375kg/ha Hàng năm Thái Lan tái canh được 40.000ha, với cơ cấu diện tích là 28% cao su kiến thiết cơ bản, 30% là cây cạo mủ dưới 6 năm, 16% là cây cạo mủ từ 6-12 năm còn lại là cây trên 20 tuổi, cây đạt năng suất cao nhất vào lúc cây được 13 tuổi, cao
su tiểu điền của Thái Lan chiếm 95% tổng diện tích cao su cả nước Ngày nay, Thái Lan đã phát triển cao su ra phía Bắc và Đông Bắc nước này lên đến vĩ tuyến 19o là những vùng đất cao ít thích hợp cho cây cao su nhưng vẫn đạt năng suất 1.500kg/ha Thái Lan cũng có các tổ chức hỗ trợ cho việc phát triển cao su tiểu điền như ORRAF (Office of the Rubber Aid Fund - Văn phòng vốn tái canh cao su), CRAM (Central Rubber Auction Market - Chợ đấu giá trung tâm) (Nuchanat Na-Ranong 2006) [20]
Trước năm 1990 Malaysia là nước trồng và sản xuất cao su thiên
Trang 11nhiên hàng đầu thế giới, sản lượng cao su đạt cao nhất là 1.661.000 tấn vào năm 1988, tiểu điền cao su chiếm 80% diện tích và 70% sản lượng, dự kiến đến năm 2010 diện tích trồng cao su của nước này sẽ tăng lên tới 1,5 triệu
ha Malaysia là một điển hình trong nghiên cứu chọn lọc và khuyến cáo giống cao su thích nghi theo điều kiện sinh thái của môi trường để tối ưu
hóa tiềm năng của giống Việc phân vùng chủ yếu dựa trên mức độ gây hại
của gió và các loại bệnh gây hại cao su như bệnh nấm hồng, bệnh rụng lá phấn trắng, bệnh héo đen đầu lá và bệnh rụng lá Corynespora
Ấn Độ cũng đã nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp
để phát triển cây cao ở ngoài vùng truyền thống (từ vĩ độ 15 – 200 B), kết qủa đạt được rất khả quan và năng suất cây cao su có thể đạt được trên 1,5 tấn/ha/năm (S.K.Dey và T.K.Pal 2006) [23]
Trung Quốc là nước trồng cao su rất đặc thù so với các nước khác Diện tích cao su của Trung Quốc nằm hoàn toàn ngoài vùng truyền thống từ
vĩ tuyến 18oB đến 24oB và tập trung ở các tỉnh: Vân Nam, Hải Nam, Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc đã thành công trong việc phát triển cây cao
su có hiệu qủa trong điều kiện môi trường không thuận lợi (tới hạn) đối với cây cao su Các yếu tố bất lợi cơ bản đối với cây cao su ở Trung Quốc là khí hậu mùa đông lạnh, cao trình cao, đối với một số vùng như đảo Hải Nam thì thường xuyên đối diện với sự gây hại của gió bão, để hạn chế tác hại của các yếu tố này Trung Quốc đã nghiên cứu và áp dụng những biện pháp kỹ thuật canh tác và tạo hình thích hợp đối với từng vùng trồng cao su cụ thể Kết qủa là năng suất của một số vùng như XishuaBana thuộc tỉnh Vân Nam năng suất bình quân đạt trên 2 tấn/ha/năm với các giống PR 107, RRIM 600, GT1
và 2 giống mới có khả năng chống chịu lạnh và khô hạn tốt là Vân Nghiên 77-2, Vân Nghiên 77-4 Đặc biệt qua khảo sát sơ bộ một số vùng trồng cao
su tại tỉnh Vân Nam chúng tôi thấy đối với cây cao su cần có quy trình trồng
Trang 12cụ thể, chi tiết và phù hợp với từng tiểu vùng, khi thực hiện người dân đều tuân thủ chặt chẽ quy trình này do vậy hiệu quả thu được rất cao (Xiong Daiqun và Jiang Jusheng 2006.) [22]
Ngày nay đã có xu hướng phát triển cao su mới trên thế giới đó là: Trồng cao su theo mô hình nông lâm kết hợp để thay thế dần cho mô hình trồng cao su độc canh (Laxman Joshi, Eric Penot 2006) [21]
1.5 Tình hình nghiên cứu và phát triển cao su tại Việt Nam
Cây cao su (H brasiliensis Muell Arg.) là loại cây công nghiệp dài
ngày, cung cấp mủ và gỗ cho rất nhiều ngành công nghiệp Đây cũng là loại cây có giá trị kinh tế cao trong các lĩnh vực nông – lâm – công nghiệp Loại cây này có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, lưu vực sông Amazone (Nam Mỹ), được đưa vào châu Á năm 1876
Đến năm 1897, bác sĩ Yersin đã du nhập thành công và vườn cao su đầu tiên được ông trồng tại Suối Dầu – Nha Trang Đầu thế kỷ 20, cây cao
su được trồng tại Đông Nam Bộ và đến đầu thập kỷ 50, nó được trồng tại một số vùng Tây Nguyên, miền Trung và một số vùng ở phía Bắc (Đặng Văn Vinh, 2000) [18]
Vào năm 1976, diện tích cao su tại nước ta còn khoảng 76.600 ha cho sản lượng chỉ 40.200 tấn (năng suất bình quân 0,52 tấn/ha) Sau trên 30 năm phát triển với chính sách và đầu tư đúng đắn của Nhà nước, kết hợp với sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác nhau, cùng có sự góp phần của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, tính đến năm 2003 diện tích cao su thuộc Tổng công ty cao su Việt Nam là 215.610 ha, đưa vào khai thác 173.143ha với năng suất bình quân 1,51 tấn/ha/năm (Lê Hồng Tiễn, 2006) [13] Đến cuối năm 2007, tổng diện tích cao su cả nước đã đạt 549.000 ha cho tổng sản lượng 601.700 tấn (năng suất bình quân 1,612 tấn/ha) Năng suất trên diện tích do Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam quản lý đạt
Trang 131,716 tấn/ha, cao hơn năng suất các nước sản xuất cao su hàng đầu như Thái Lan, Indonesia, Malaysia vốn có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn Việt Nam Trong khi, năng suất của cao su tiểu điền tại Việt Nam hiện vẫn còn
ở mức thấp, bình quân đạt 1,44 tấn/ha Giá trị xuất khẩu của cao su Việt Nam không những tăng về số lượng mà còn gia tăng đáng kể về mặt chất lượng, chỉ tính riêng năm 2007, Việt Nam đã xuất khẩu 741.000 tấn cao su với 15 chủng loại khác nhau mang về nguồn ngoại tệ gần 1,4 tỷ USD (Trần Thị Thúy Hoa, 2008) [19]
Sau 110 năm cây cao su được di nhập, hiện nay nước ta đang đứng thứ 6 trên thế giới về sản lượng cao su thiên nhiên và thứ 4 về xuất khẩu cao su thiên nhiên Trong các vùng trồng cao su chính ở Việt Nam, Đông Nam Bộ chiếm 67,4% về diện tích nhưng đóng góp đến 78,5% về sản lượng, đồng thời cũng là vùng đạt mức năng suất cao nhất nước Trong khi tại Tây Nguyên và miền Trung là vùng có đều kiện khí hậu ít thuận lợi thì cây cao su vẫn phát triển và đạt sản lượng bình quân tương ứng là 1,360 và 1,172 tấn/ha
Tuy nhiên, có thể thấy rõ có sự chênh lệch khá lớn giữa năng suất vườn cao su của các đơn vị sản xuất thuộc Tập Đoàn Công Nghiệp Cao Su Việt Nam (VRG), là đơn vị có năng lực và tích cực áp dụng kịp thời các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác cây cao su, với năng suất bình quân đạt 1,8 tấn/ha vào năm 2007 Cho dù diện tích vườn cây cao su do VRG quản lý gia tăng chậm so với tổng diện tích cao su cả nước VRG đã thành lập câu lạc bộ 2 tấn để khuyến kích các đơn vị thành viên có biện pháp nâng cao sản lượng, tính đến cuối năm 2007 với 6 công ty gồm 61 nông trường đã đạt năng suất bình quân trên 2 tấn/ha (VRG, 2007) [8]
Trang 14Bảng 1.1 Diện tích, sản lượng và năng suất cây cao su tại Việt Nam
Vùng trồng cao su Diện tích Sản lượng Năng suất
Diện tích
(ha)
Đại điền 237.314 296.240 299.272 296.280 Tiểu điền 41.086 186.460 222.920 253.320 Sản lượng
(tấn)
Đại điền 128.820 354.740 396.530 398.140 Tiểu điền 2.565 126.860 158.780 203.560 Năng suất
(tấn/ha)
Đại điền 894 1,568 1,641 1,716 Tiểu điền 0,833 1,173 1,385 1,440
Nguồn: Trần Thị Thúy Hoa, 2008,
Cùng với sự phát triển của cây cao su ở Việt Nam ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về cây cao su, không chỉ ở những lĩnh vực quen thuộc như giống mà các tác giả Phạm Hải Dương [2], Trần Thị Thuý
Hoa [3], Lê Mậu Túy [15], rất nhiều các các giả khác đã đi sâu nghiên cứu
về cao su ở các lĩnh vực khác nhau
Trang 15Tác giả Tống Viết Thịnh đã có công trình nghiên cứu về Đánh giá và phân hạng sử dụng đất trồng cao su Theo tác giả căn cứ vào mức độ hạn chế của 9 chỉ tiêu khí hậu (chế độ mưa, cân bằng nước, chế độ nhiệt, sương
mù và tốc độ gió) và 10 chỉ tiêu đất (tầng dày, thành phần cơ giới, độ phì, sỏi đá và độ dốc), áp dụng nguyên tắc của FAO để phân hạng sử dụng đất trồng cao su bao gồm 3 hạng đất trồng được cao su và 2 hạng đất không thể trồng được cao su Từ 1990 cho đến nay, đã ứng dụng thành công trên diện rộng tại các công ty cao su Đông Nam Bộ và Tây Nguyên Trên các diện tích áp dụng phân hạng đất trồng cao su theo FAO, các cơ sở áp dụng để định suất đầu và khoán vườn cây hợp lý và hiệu quả hơn; không còn hiện tượng vườn cao su bị thanh lý do trồng trên đất kém Tiến bộ này cũng đã được VRG chính thức đưa vào áp dụng trong toàn ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [12]
Cũng tác giả này đã nghiên cứu về kỹ thuật bón phân cho cây cao su theo phương pháp chẩn đoán dinh dưỡng Căn cứ vào mức độ thiếu hụt, thặng dư và tỷ lệ cân đối của từng nguyên tố dinh dưỡng qua phân tích và đánh giá hàm lượng dinh dưỡng trong đất và lá trên vườn cao su theo các thang chuẩn, và căn cứ vào hiện trạng vườn cây (giống, năng suất, sinh trưởng và lịch sử chăm sóc, bón phân của vườn cây) để đề xuất liều lượng
và tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng hợp lý, tạo ra sinh trưởng và năng suất
mủ vườn cây đạt hiệu quả kinh tế-kỹ thuật tối ưu Từ 2002 cho đến nay, đã ứng dụng thành công trên diện rộng tại các công ty cao su Đông Nam Bộ
và Tây Nguyên Trên các diện tích áp dụng bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng đã mang lại các hiệu quả: tiết kiệm phân bón, gia tăng và ổn định sinh trưởng và sản lượng mủ trong nhiều năm; với các kết quả trên, từ
2004, VRG đã chính thức đưa kỹ thuật bón phân theo chẩn đoán dinh dưỡng vào quy trình của ngành (Tống Viết Thịnh, 2008) [11]
Trang 16Về kỹ thuật khai thác, chăm sóc cây cao su cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu Năm 2004, Tổng công ty cao su Việt Nam đã xuất bản Quy trình kỹ thuật cây cao su Trong Quy trình này đã quy định rõ các biện pháp kỹ thuật trong quy trình sản xuất, quy trình khai thác mủ và chăm sóc cây cao su, quy trình kỹ thuật bảo vệ thực vật, phân hạng đất trồng cây cao
su [14] Những năm tiếp theo các nhà nghiên cứu đã không ngừng đưa ra các cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và sản lượng cao su Đỗ Kim
Thành đã nghiên cứu chế độ cạo nhịp độ thấp và kích thích mủ cao su Áp
dụng chế độ cạo nhịp độ thấp kết hợp kích thích sớm đã tiết kiệm được 20% công cạo mủ, tăng năng suất lao động cạo mủ, đồng thời tiết kiệm được lớp vỏ cạo nguyên sinh từ 2,5-3 cm/năm Hơn nữa, việc giảm nhịp độ cạo kết hợp sử dụng chất kích thích mủ làm tăng từ 24-52% sản lượng thu hoạch, giảm 25-30% lao động trên đơn vị diện tích vườn cây, từ đó góp phần vào việc giảm từ 8 -10% chi phí trực tiếp nguyên liệu đầu vào cho sản
xuất và tăng từ 22-43% lãi ròng hàng năm cho mỗi phần cây Ngay từ khi
cao su được trồng và khai thác ở quy mô thương mại, người ta đã nghĩ đến làm thế nào để kích thích cây sản xuất nhiều mủ cao su Áp dụng kích thích
có thể giúp làm giảm nhịp độ cạo nhưng vẫn duy trì được sản lượng hợp lý, lâu dài Hoạt chất kích thích được dùng phổ biến hiện nay là ethephon với các nồng độ 1,25, 2,5 và 5% và số lần bôi biến thiên từ 2-6 lần/năm tùy dòng
vô tính, tuổi cây và tình trạng sinh lý cây (Đỗ Kim Thành, 2006) [9] Tác giả
Hà Văn Khương đã nghiên cứu để áp dụng các tiến bộ KHKT vào vườn cao
su Tổng công ty cao su Việt Nam (Hà Văn Khương, 2006) [7] Tác giả Trần Thanh có công trình nghiên cứu về ứng dụng một số chất điều hòa sinh trưởng kích thích phát triển rễ và chồi tum cao su (Trần Thanh, 2007) [10]
Ở Việt Nam cây cao su được phát triển trên nhiều vùng khác nhau trong nước, ngoài vùng truyền thống tại Đông Nam Bộ còn có Tây Nguyên,
Trang 17duyên hải miền Trung và Tây Bắc Là loại cây dài ngày được độc canh trên diện tích lớn trong vùng có khí hậu nóng ẩm, nên bệnh cũng xuất hiện và gây hại làm ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng và sản lượng của cây cao su Nên cũng đã có nhiều nghiên cứu về sâu bệnh hại cao su (Nguyễn Thị Huệ.1997) [6] Tác giả Phan Thành Dũng đã theo dõi trong thời gian từ 1996-2005, có 7 loại bệnh chính ảnh hưởng đến sinh trưởng và sản lượng cây cao su, trong đó có ba loại mới xuất hiện là nứt vỏ do nấm
Botrydiplodia theobromae Pat (1998), bệnh rụng lá Corynespora (1999) và
rễ nâu do nấm Phellinus noxius (Corner) G H Cunn (2002) Các loại bệnh
gây hại cho cây cao su tại nước ta chủ yếu do nấm và một số tác nhân
không truyền nhiễm khác, không có mycoplasma, virus, vi khuẩn, tuyến
trùng (Phan Thành Dũng, 2006) [1]
Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của phong trào trồng cao su, diện tích đất thuộc vùng truyền thống đã không còn đáp ứng được, đã có nhiều những nghiên cứu để đưa cao su ra ngoài vùng truyền thống ở Việt Nam Năm 1994 Viện Nghiên Cứu Cao Su (phối hợp với Trung Tâm Cây
Ăn Quả Phú Hộ nay thuộc Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc) đã đưa vào khảo nghiệm hàng chục giống cao su tại Phú Hộ (Phú Thọ, vĩ độ 21.27oB) Quy mô khảo nghiệm 3,2ha bao gồm:
+ 2,0ha vườn sơ tuyển giống (STPH94 và QTPH97) trong đó giống STPH94 đã cho khai thác
+ 1,2ha vườn lưu trữ quỹ gen cây cao su được trồng năm 1998 gồm
142 giống Hiện vườn khảo nghiệm đang được Bộ môn Nông lâm kết hợp, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc theo dõi và chăm sóc Kết quả bước đầu cho phép xác định một số giống cao su gồm cả giống nhập nội và lai tạo tại Việt Nam có tiềm năng thích nghi với vùng
Trang 18miền núi phía Bắc (Hội nghị Khoa học và Công nghệ Nông nghiệp 2008 các tỉnh miền núi phía Bắc) [4]
Qua kết quả theo dõi cho thấy tại Phú Hộ với điều kiện khí hậu môi trường đặc trưng cho vùng trung du miền núi phía Bắc (Khí hậu lạnh, mùa đông kéo dài, gió lốc không tốt cho cao su) nhưng tập đoàn cao su hiện
có tại đây vẫn sinh trưởng phát triển tương đối tốt và hiện tại đang cho khai thác mủ với năng suất tương đối ổn định, đạt 60 – 70% năng suất bình quân cao su của Đông Nam Bộ Tốc độ tăng vanh của cao su cũng khá nhanh, đặc biệt có 05 giống cho năng suất mủ trên 1,2 tấn/ha, trong đó có 2 giống
có nguồn gốc từ Trung Quốc (Hội thảo tổng kết khoa học của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Miền núi phía Bắc.2007) [5]
Đề tài cấp bộ NN&PTNT (2002-2005) “Nghiên cứu các giải pháp KHCN áp dụng cho vùng trồng cao su Bắc Trung Bộ” đã góp phần nâng cao chất lượng vườn cao su trồng mới và năng suất của vườn cây cao su khai thác, tạo tiền đề cho việc ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật mới trong ngành cao su vào khu vực miền Trung và Bắc Trung Bộ [9]
1.6 Phân tích, đánh giá cụ thể những vấn đề nghiên cứu còn tồn tại, hạn chế của sản phẩm, kỹ thuật nghiên cứu trong nước
Do hiệu quả kinh tế cao và ổn định, cao su đã được phát triển nhanh chóng ở Việt Nam Tổng diện tích trồng cao su đến nay đã đạt xấp xỉ 500.000ha Những nơi trồng nhiều nhất là Đông Nam Bộ, Tây nguyên và một số tỉnh Miền trung Ngoài ra, cao su cũng đã được trồng thành công ở một số tỉnh ở Miền Bắc như Nghệ An, Thanh Hoá Hiện nay, các nhà khoa học nước ta đang nghiên cứu nhằm mở rộng diện tích trồng cao su không chỉ ở các tỉnh phía Nam mà ra cả các tỉnh phía Bắc, cũng không chỉ dừng lại ở đất bazan bằng phẳng mà hướng đến cả những loại đất khác với độ dốc cao hơn Cao su đã và sẽ là một trong những loài cây chủ đạo cho phát
Trang 19triển kinh tế ở miền núi Việt Nam Theo dự đoán thì diện tích trồng cao su
có thể tăng lên hàng triệu hecta nhờ cải thiện giống, nhờ áp dụng kỹ thuật trồng trên đất dốc và nhờ sự tham gia tích cực của hàng triệu hộ nông dân miền núi
Hiện nay các công trình nghiên cứu tập trung vào các lĩnh vực như giống, sản xuất các sản phẩm cao su thiên nhiên, các tiến bộ kỹ thuật trong khai thác và chăm sóc
Tuy nhiên hiện nay những nghiên cứu về cao su trồng trên đất dốc vẫn còn rất ít Những phân tích hay đánh giá hiệu quả của cao su trên đất dốc chỉ được đưa ra như một khía cạnh trong những đề tài khác Đây là một hướng nghiên cứu mới cần được quan tâm trong thời gian tới khi diện tích cao su ngày càng mở rộng ra những vùng có độ dốc cao
Trang 20Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm chung của khu vực Bắc Trung Bộ
2.1.1 Địa lý
Hình 2.1 Các tỉnh Bắc Trung Bộ và vị trí Bắc Trung Bộ trong bản đồ Việt Nam
Bắc Trung Bộ là phần phía bắc của Trung Bộ Việt Nam có địa bàn từ Nam dãy núi Tam Điệp tới Bắc đèo Hải Vân Vùng Bắc Trung Bộ (BTB) bao
Trang 21gồm sáu tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế
Lãnh thổ kéo dài, hành lang hẹp, Tây giáp Trường Sơn và Lào, phía Đông là biển Đông, đồng bằng hẹp, có cả trung du và miền núi, ven biển, hải đảo dọc suốt lãnh thổ, có thể hình thành cơ cấu kinh tế đang dạng phong phú Địa hình phân dị phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, nhiều biến động, cần phải lợi dụng hợp lí Nhiều vũng nước sâu và cửa sông có thể hình thành cảng lớn nhỏ phục vụ việc giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh trong vùng, với các vùng trong nước và quốc tế
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của các tỉnh thành khu vực Bắc Trung Bộ
STT Tỉnh Diện tích (km²) Dân số
(người) {2004}
Mật độ (người/km²)
Trang 22+ Gió: Gió mùa hè khô nóng (gió Tây Nam) tập trung vào các tháng 5,
6 và 7 Gió Tây Nam khô nóng thường gây nhiều thiệt hại về sản xuất nông nghiệp Các vùng chịu ảnh hưởng nhiều của gió Tây Nam là: Quảng Trị 40 ngày, Quảng Bình 25 ngày, Nghệ An 12 ngày
Gió mùa đông kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau
2.1.3 Thổ nhưỡng
Vùng Bắc Trung Bộ có 4 dạng địa hình chính là vùng ven biển, vùng đồng bằng, vùng gò đồi và vùng núi Trong vùng gò đồi có cao trình khoảng 200m, độ dốc từ 2 đến 35 độ
Vùng Bắc Trung Bộ có rất nhiều loại đất khác nhau Nhưng có 4 loại đất thích hợp để trồng cao su được trồng trên 4 loại đất chính: Đất nâu đỏ trên Bazan, Đất nâu đỏ trên Pocphiarit, Đất đỏ vảng trên đá sét và phiến thạch, Đất nâu vàng trên phù xa cổ
2.2 Đặc điểm tự nhiên từng tỉnh đặt địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Tỉnh Thanh hóa
2.2.1.1 Địa lý
Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², đứng thứ 6 trong cả nước, chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km²
2.2.1.2 Địa hình
Nghiêng từ tây bắc xuống đông nam: phía tây bắc, những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía đông nam
Trang 23Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh; tạo tiềm năng lớn về kinh tế lâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú
* Vùng miền núi, trung du: Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa Riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và
bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung
Miền đồi núi Thanh Hóa được chia làm 3 bộ phận khác nhau: bao gồm
11 huyện: Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lạc, Cẩm Thủy và Thạch Thành chiếm 2/3 diện tích của tỉnh Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sản dồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện Miền đồi núi phía Nam đồi núi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc huyện Như Thanh), có rừng phát triển tốt, với nhiều
gỗ quý, thú quý
* Vùng đồng bằng: Vùng đồng bằng của Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và thứ ba của cả nước Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, do phù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp Điểm đồng bằng thấp nhất so với mực nước biển là 1 m
* Vùng ven biển: Các huyện từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương, Nông Cống đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng Bờ biển dài, tương đối bằng phẳng
Trang 242.2.1.3 Khí tượng, thủy văn
Nằm trong vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ, hàng năm có 3 mùa gió: Gió Bắc (còn gọi là gió bấc): Không khí lạnh từ áp cao Serbia về, qua Trung Quốc thổi vào Gió Tây Nam: Từ vịnh Bengal qua Thái Lan, Lào thổi vào, gió rất nóng nên gọi là gió Lào hay gió Tây Nam Gió Đông Nam (còn gọi là gió nồm): thổi từ biển vào đem theo khí mát mẻ
Mùa nóng: Bắt đầu từ cuối mùa xuân đến giữa mùa thu, mùa này nắng, mưa nhiều thường hay có lụt, bão, hạn hán, gặp những ngày có gió Lào nhiệt
Nhiệt độ không khí: Tổng tích ôn trung bình hàng năm khoảng 86000C, nhiệt độ trung bình từ 23,3°C đến 23,6°C, mùa hè nhiệt độ có ngày cao tuyệt đối đến 40°C, nhưng mùa đông có ngày nhiệt độ xuống thấp tới 5-6°C
Trang 25Thủy văn: Hàng năm sông Mã đổ ra biển một khối lượng nước khá lớn khoảng 17 tỷ m³, ngoài ra vùng biển rộng còn chịu ảnh hưởng của thủy triều, đẩy nước mặn vào, khối nước vùng cửa sông và đồng ruộng ven biển bị nhiễm mặn
2.2.1.4 Tài nguyên rừng và sinh vật
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có tài nguyên rừng lớn với diện tích đất có rừng 436.360 ha, trữ lượng khoảng 15,84 triệu m³ gỗ, hàng năm có thể khai thác 35.000-40.000 m³ (thời điểm số liệu hiện tại năm 2007) Rừng Thanh Hóa chủ yếu là rừng cây lá rộng, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về
họ, loài Gỗ quí hiếm có lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, giổi,
de, chò chỉ Các loại thuộc họ tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, giang, tre, ngoài ra còn có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ các loại rừng trồng
có luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su Nhìn chung vùng rừng giàu và trung bình chủ yếu là rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, phân bố trên các dãy núi cao ở biên giới Việt - Lào Thanh Hóa là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 50.000 ha
Rừng Thanh Hóa cũng là nơi quần tụ và sinh sống của nhiều loài động vật như: voi, hươu, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát và các loài chim Đặc biệt ở vùng Tây nam của tỉnh có Vườn quốc gia Bến En, nơi tồn trữ và bảo vệ các nguồn gien, động vật, thực vật quý
2.2.2 Tỉnh Hà Tĩnh
2.2.2.1 Vị trí địa lý
Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ kinh Đông Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp nước Lào, phía đông giáp biển Đông
2.2.2.2 Địa hình
Hà Tĩnh nằm phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông
Trang 26Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối, có 4 dạng địa hình sau:
+ Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành một dãy hẹp nằm dọc theo biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ
1000 m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên 2000 m như Pulaleng (2711 m), Rào cỏ (2.335 m)
+ Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của tỉnh có độ cao dưới 1000 m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp
+ Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực
+ Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển với có địa hình trung bình trên dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ
2.2.2.3 Khí hậu, Thủy văn
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt Mưa trung bình hằng năm từ 2500mm đến 2650 mm Hàng năm, Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt:
- Mùa mưa: Hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tổng lượng mưa cả năm
- Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn
Trang 27Hà Tĩnh có nhiều sông nhỏ và bé chảy qua, con sông lớn nhất là sông
La và sông Lam, ngoài ra có con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Rào Cái Tổng chiều dài các con sông khoảng 400 km, tổng sức chứa 13 tỷ m³ còn hồ Kẻ Gỗ, hồ Sông Rác, hồ Cửa Thờ Trại Tiểu ước 600 triệu m³
2.2.2.4 Tài nguyên rừng và sinh vật
Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng Trong đó rừng tự nhiên 199.847 ha, trữ lượng 21,13 triệu m3, rừng trồng 76.156 ha, trữ lượng 2,01 triệu m3, độ che phủ của rừng đạt 45 % Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới Rừng trồng phần lớn
là thông nhựa, hiện có trên 18000 ha trong đó có trên 7000 ha có khả năng khai thác, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có trữ lượng rừng giàu của cả nước (trữ lượng rừng trồng đạt 1.469.863 m3, trữ lượng rừng tự nhiên đạt 21.115.828 m3)
Thảm thực vật rừng Hà Tĩnh rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây
gỗ Trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác
Đặc biệt có Vườn Quốc gia Vũ Quang (ở huyện Vũ Quang và Hương Khê) có khoảng 300 loại thực vật và nhiều loại động vật quý hiếm Đã phát hiện được 2 loại thú quý hiếm là Sao La và Mang Lớn Rừng Vũ Quang có địa hình núi cao hiểm trở, tách biệt với xung quanh, khí hậu nhiệt đới ẩm rất thuận lợi cho các loại động, thực vật phát triển Đây là khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn có ở Việt Nam là một trong những hệ sinh thái có giá trị kinh
tế, khoa học và cảnh quan
Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ cũng là một địa điểm có giá trị cao, theo số liệu điều tra, tại đây có hơn 414 loài thực vật, 170 loài thú, 280 loài chim, trong đó có 19 loài chim được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Trang 28Ngoài ra, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao
2.2.3 Tỉnh Quảng Trị
2.2.3.1 Vị trí địa lý
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông
Tọa độ địa lý trên đất liền Quảng Trị ở vào vị trí: Cực bắc là 170010' vĩ
độ bắc, thuộc địa phận thôn Mạch Nước, xã Vĩnh Thái, huyện Vĩnh Linh Cực nam là 160018' vĩ độ bắc thuộc bản A Ngo, xã A Ngo, huyện Đakrông Cực đông là 1070 23'58 kinh độ đông thuộc thôn Thâm Khê, xã Hải Khê, Hải Lăng Cực tây là 106028'55 kinh độ đông, thuộc địa phận đồn biên phòng Cù Bai, xã Hướng Lập, Hướng Hóa
2.2.3.2 Địa hình
Địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng tây bắc - đông nam Nhìn đại thể, địa hình núi, đồi và đồng bằng Quảng Trị chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam và trùng với phương của đường bờ biển Sự trùng hợp này được thấy rõ trên dường phân thủy giữa Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây Ở Quảng Bình, các đỉnh cao nhất đều nằm ở giữa đường biên giới Việt Lào nhưng ở Quảng Trị, các đỉnh cao lại nằm sâu trong lãnh thổ nước ta Các sông lớn như Sêbănghiên, Sêpôn đều bắt nguồn từ Việt Nam chảy qua Lào Tuy nhiên nếu xem xét địa hình ở quy mô nhỏ hơn, từng dãy núi, từng dải đồi thì địa hình lại có hướng song song với các thung lũng sông lớn như Cam Lộ, Thạch hãn, Bến Hải Tính phân bậc của địa hình từ tây sang đông thể hiện khá rõ ràng Nếu ở phía tây của đường phân thủy địa hình nghiêng khá thoải, bị phân cắt yếu thì ở phía đông đường phân thủy chuyển nhanh từ núi trung bình xuống đồng bằng Các bậc địa hình bị phân cắt khá
Trang 29mạnh bởi mạng lưới sông suối dày đặc với trắc diện dọc và ngang đều dốc Đồng bằng hẹp, phía tây thì lộ đá gốc, phía đông thì địa hình cát
2.2.3.3 Khí hậu
Quảng Trị nằm ở phía nam của Bắc Trung Bộ, trọn vẹn trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai 2 miền khí hậu Miền khí hậu phía bắc có mùa đông lạnh và phía nam nóng ẩm quanh năm ở vùng này khí hậu khắc nghiệt, chịu hậu quả nặng nề của gió tây nam khô nóng, bão, mưa lớn, khí hậu biến động mạnh, thời tiết diễn biến thất thường, vì vậy trong sản xuất và đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn
Tổng lượng cán cân bức xạ cả năm ở Quảng Trị dao động trong khoảng 70-80 Kcalo/cm2 năm), những tháng mùa hè gấp 2-3 lần những tháng mùa đông
Tổng số giờ nắng trung bình năm ở Quảng Trị dao động từ 1700-1800 giờ Số giờ nắng nhất vào tháng 7 (240-250 giờ) Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 20-250C, tháng 7 cao nhất còn tháng 1 thấp nhất
Nhiệt độ tối cao trong năm vào các tháng nóng, ở vùng đồng bằng trên
400C và ở vùng núi thấp 34-350C Nhiệt độ thấp nhất trong năm có thể xuống tới 8-100C ở vùng đồng bằng và 3-50C ở vùng núi cao
Lượng mưa: Mùa mưa diễn ra từ tháng 9 đến tháng 1, lượng mưa khoảng 75-85% tổng lượng mưa cả năm Các tháng mưa kéo dài, lớn là tháng 9-11 (khoảng 600 mm) Tháng ít mưa nhất là tháng 2- tháng 7 (thấp nhất là 40mm/tháng) Tổng lượng mưa cả năm dao động khoảng 2000-2700 mm, số ngày mưa 130-180 ngày
Độ ẩm: độ ẩm tương đối trung bình, tháng ẩm 85-90%, còn tháng khô thường dưới 50%, có khi xuống tới 30% Thành phố Đông Hà vào mùa hè bị khô cạn hơn cả, vùng Khe Sanh (Hướng Hóa) có khí hậu quanh năm ẩm
2.2.3.4 Tài nguyên rừng
Trang 30Rừng ở Quảng Trị đa dạng và phong phú được che phủ bởi rừng kín, tổ chức thành loài bao gồm cây lấy gỗ với nhiều loại gỗ tốt, quí hiểm như: Lim xanh, trường, táu đá, trám, kiền kiền, gụ, sồi, gội, ngát, trâm , cây dược liệu, cây cảnh có giá trị kinh tế cao Rừng đầu nguồn còn giữ được tính nguyên sinh, rậm, nhiều tầng, có độ che phủ lớn Ngoài ra, ở vùng gò đồi còn có cây trồng công nghiệp, nông nghiệp và rừng trồng như cây cao su, hồ tiêu, cà phê, chè, bạch đàn, keo tràm, thông nhựa với diện tích tương đối lớn
2.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
- Địa hình cao dốc bị phân cắt mạnh, hệ thống sông suối phần lớn có chiều dài ngắn, dốc, mưa lớn phân bố không đều nên gây nhiều lũ lụt
- Thường xuyên xảy ra bão
Trang 31Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Sự sinh trưởng và sản lượng mủ của rừng trồng cao su tại các tỉnh Bắc Trung Bộ và điều kiện lập địa tại rừng trồng cao su
3.4 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn một số tỉnh Miền Trung có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc trưng cho vùng Các tỉnh được lựa chọn đó là Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Trị Các vấn đề đề tài đề cập tới trong khả năng phát triển cây cao su trên đất dốc chỉ tập trung vào các yếu tố yêu cầu sinh thái của cao su
3.5 Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu trên đề tài tiến hành các nội dung nghiên cứu sau:
- Điều tra thực trạng rừng trồng cao su tại các tỉnh Bắc Trung Bộ
Trang 32- Nghiên cứu sản lượng nhựa và các nhân tố ảnh hưởng đến sản lượng nhựa cao su tại các tỉnh Bắc Trung Bộ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố lập địa đến sinh trưởng của cây cao su tại các địa điểm nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp phát triển cây cao su trên đất dốc tại Bắc Trung Bộ
3.6 Phương pháp nghiên cứu
3.6.1 Phương pháp luận
Cây cao su là cây có nguồn gốc từ rừng Amazon Nam Mỹ Sau khi được phát hiện và được các nhà khoa học Châu Âu khám phá ra các thuộc tính quý báu của mủ cao su, người ta bắt đầu khai thác và nhân giống cao su
ra nhiều vùng nhiệt đới
Với những đòi hỏi ngày càng cao về sản lượng cao su, việc chỉ phát triển cây cao su trong các vùng truyền thống không còn đáp ứng được nữa nên đã bắt đầu có nhiều nghiên cứu để mở rộng vùng trồng cao su
Ở Việt Nam cũng vậy, trước đây khi được đưa vào trồng, cây cao su thể hiện là loài cây kinh tế cao và rất phù hợp với điều kiện của vùng Đông Nam
Bộ (vùng truyền thống) Nhưng với diện tích có hạn cao su đã được nghiên cứu để phát triển ra nhiều vùng khác nhau như: Tây Nguyên, Duyên hải Miền Trung, Bắc Trung bộ và hiện nay đã có các nghiên cứu đưa cây cao su ra trồng và kinh doanh tại miền Bắc
Tại Bắc Trung Bộ hiện nay việc mở rộng vùng trồng cao su không quy hoạch đang là một thực trạng cần khắc phục Cao su được đem trồng trên cả các diện tích có độ dốc cao và tiềm năng xói mòn lớn (những nơi cần phải có rừng phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ chặt chẽ) Như vậy, có thể thấy những lợi ích về mặt kinh tế tại các vùng này còn chưa có thì những khó khăn về sinh thái là hiển hiện
Trang 33Đối với cây cao su thì địa hình và xói mòn là những nhân tố có tầm ảnh hưởng đến năng xuất mủ cao su, cũng như sản phẩm gỗ cao su Độ dốc càng lớn, xói mòn càng mạnh khiến các chất dinh dưỡng trong đất nhất là trong lớp đất mặt bị mất đi nhanh chóng Khi trồng cao su trên các vùng đất dốc cần phải tiến hành thiết lập các hệ thống bảo vệ đất chống xói mòn rất tốn kém như hệ thống kênh, mương, đường đồng mức Hơn nữa các diện tích trồng cao su trên đất dốc sẽ gặp khó khăn lớn trong việc cạo mủ, thu mủ và vận chuyển mủ về chế biến Chính vì vậy cần phải tính toán một cách khoa học khi quyết định trồng cao su trên các vùng đất dốc
Nhưng hiện nay tại các địa phương nghiên cứu mới chỉ trồng cao su trên các diện tích điều kiện lập địa trong phạm vi giới hạn của cao su (Lê Văn
Bình, Mai Văn Sơn, Quy trình kỹ thuật cây cao su, 2004) Do vậy đề tài đã
tiến hành nghiên cứu đặc điểm của một số yếu tố lập địa (trong giới hạn của cao su) ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng phát triển cây cao su tại vùng Bắc Trung Bộ, từ đó tạo cơ sở khoa học để có thể đưa ra một số các giải pháp phát triết cao su trên đất dốc tại các tỉnh Bắc Trung Bộ
Các tỉnh được lựa chọn để nghiên cứu điểm đó là Thanh Hóa, Hà TĨnh
và Quảng Trị Đây là các tỉnh có diện tích trồng cao su tương đối lớn tại Bắc Trung Bộ Bên cạnh đó đây cũng là các tỉnh có điều kiện khí hậu đặc trưng cho các vùng phía Bắc (Thanh Hóa), vùng Trung tâm (Hà Tĩnh) và phía Nam (Quảng Trị) của Bắc Trung Bộ
Việc nghiên cứu được tiến hành theo sơ đồ sau:
Trang 343.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
Để thực hiện đề tài các thông tin thu thập đó là: Diện tích, thiết kế, năng suất, hiệu quả kinh tế, định hướng phát triển của cao su Việt Nam nói chung và của miền Trung nói riêng; đặc điểm lâm học của rừng cao su tại khu vực nghiên cứu (chiều cao, đường kính, tuổi, rộng tán, đặc điểm của thảm thực vật, đặc điểm thổ nhưỡng, đặc điểm về động vật dưới rừng cao su); kỹ thuật trồng rừng cao su; đặc điểm về địa hình tại các khu vực nghiên cứu; sản lượng mủ cao su Để thu thập được các thông tin trên đề tài sẽ sử dụng các phương pháp sau:
3.6.2.1 Tra cứu dữ liệu lưu trữ tại các cơ quan nghiên cứu và quản lý cao su
Hiện có những tài liệu quan trọng đang được lưu trữ ở các cơ quan nghiên cứu và quản lý cao su như các viện nghiên cứu, các trường đại học, tổng công ty cao su, các công ty thành viên, các nông trường v.v Đây là
su
Đặc điểm về lập
địa
Các yêu cầu của cây cao
su với điều kiện lập địa
1 Ảnh hưởng của một số yếu tố lập địa đến sinh trưởng cây cao su
2 Các giải pháp nhằm phát triển cây cao
su trên đất dốc tại các tỉnh Bắc Ttrung Bộ
Trang 35nguồn thông tin quan trọng về quy trình kỹ thuật, kế hoạch phát triển, năng suất và hiệu quả của cao su, tác động của cao su đến đời sống kinh tế xã hội
và môi trường Đề tài tham khảo tư liệu lưu trữ của một số cơ quan nghiên cứu khoa học học và quản lý cao su của Việt Nam và Trung Quốc như Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam, Đại học Nông nghiệp, Viện Quy hoạch và thiết
kế Nông nghiệp, Tổng công ty cao su Việt Nam, công ty cao su của một số tỉnh, Công ty cao su Vân Nam Trung Quốc, một số doanh nghiệp trồng rừng cao su của Vân Nam Trung Quốc
Những tài liệu tham khảo gồm quy hoạch phát triển cao su, kế hoạch và sản xuất, thiết kế kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng, kế hoạch và các bản thiết kế khai thác sản phẩm từ rừng cao su, định hướng phát triển cây cao su
3.6.2.2 Khai thác thông tin trên mạng Internet
Một trong những công cụ khai thác thông tin hiệu quả nhất hiện nay là
sử dụng mạng Internet Những kết quả nghiên cứu sơ bộ đã cho thấy đến nay kết quả của nhiều công trình nghiên cứu về cao su đã được công bố lên mạng internet dưới dạng các bài báo khoa học, các bài báo đăng tải thông tin đại chúng và các dạng ấn phẩm khác Một số trong đó trình bày tương đối chi tiết, một số khác chỉ giới thiệu tên công trình và địa chỉ tra cứu Mặc dù vậy, đây vẫn là những thông tin rất hiệu ích cho việc tìm kiếm và khai thác dữ liệu liên quan đến cao su
3.6.2.3 Phương pháp điều tra thực địa đặc điểm lâm học rừng trồng cao su
Đặc điểm rừng cao su và các thảm thực vật đối chứng được nghiên cứu qua hệ thống ô nghiên cứu điển hình
Đề tài đã lựa chọn ở mỗi khu nghiên cứu 20 ô tiêu chuẩn điển hình cho rừng cao su Các ô nghiên cứu được lựa chọn ở những tuổi khác nhau, trên những độ dốc khác nhau Tổng số các ô nghiên cứu cho cả ba tỉnh là 60 ô nghiên cứu điển hình Diện tích mỗi ô là 2500 m2 Các ô điển hình được được
Trang 36thiết lập ở 3 địa phương có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau, đại diện cho các vùng có điều kiện lập địa, hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau Đó là các tỉnh Quảng Trị, Hà Tĩnh, Thanh Hoá Các ô nghiên cứu được phân bố trên những độ dốc khác nhau
Thông tin về đặc điểm tầng cây cao, cây bụi thảm tươi, và thảm khô được thu thập theo phương pháp điều tra lâm học Các chỉ tiêu điều tra tầng cây cao được điều tra trên cả ô nghiên cứu gồm: tên cây, chiều cao vút ngọn, chiều cao dưới cành, đường kính thân cây ở độ cao 1.3m, đường kính thân cây được xác định thông qua việc đo chu vi của cây, đường kính tán, độ tàn che
Các chỉ tiêu điều tra tầng cây bụi thảm tươi được thu thập trên 5 ô dạng bản 25m2 ở mỗi ô nghiên cứu, gồm: tên cây, chiều cao trung bình, độ che phủ từng loài, cấp sinh trưởng từng loài, độ che phủ chung
Các chỉ tiêu điều tra cây tái sinh được thu thập trên 5 ô dạng bản 25 m2 ở mỗi ô nghiên cứu, gồm: tên cây, chiều cao, đường kính, cấp sinh trưởng Các chỉ tiêu điều tra thảm khô được thu thập trên 5 ô dạng bản 25 m2 ở mỗi ô nghiên cứu, gồm: khối lượng, bề dày, độ che phủ, lượng vật rụng bình quân một ngày, một mùa, một năm
Các yếu tố kỹ thuật được phát hiện qua điều tra ô nghiên cứu điển hình gồm: quy mô trồng rừng, lập địa trồng rừng, mật độ trồng rừng, kỹ thuật xử lý thực bì, kỹ thuật làm đất, trồng cây, phát dọn thực bì và vun xới trong chăm sóc rừng trồng, kỹ thuật bón phân, phòng chống sâu bệnh, chống xói mòn đất, tỉa thưa rừng trồng, kỹ thuật phòng chống cháy rừng, kỹ thuật khai thác nhựa, khai thác gỗ
3.6.2.4 Phương pháp điều tra thực tế về sản lượng mủ của rừng trồng cao su
Sản lượng nhựa được nghiên cứu qua điều tra cây tiêu chuẩn trên ô tiêu chuẩn Điều tra sản lượng nhựa cao su được thực hiện theo phương pháp điều tra của Viện nghiên cứu cao su
Trang 37+ Chọn mẫu:
Tại mỗi tỉnh, tiến hành lấy mẫu ở 7 ô tiêu chuẩn phân bố theo các cấp
độ dốc khác nhau Tại mỗi ô tiêu chuẩn chọn 10 cây điển hình (được đánh dấu sơn thứ tự từ 1 đến 10) có đường kính thân cây từ nhỏ đến lớn đại diện cho cả
ô nghiên cứu
+ Cách lấy mẫu:
Theo quy trình kỹ thuật, nhựa cao su được lấy trong khoảng từ 6-7 giờ (mùa hè) và 7-8 giờ (mùa đông) và thời gian cạo từ 2-4 giờ sáng tùy theo mùa Tại thời điểm nghiên cứu, công nhân cạo từ 2-3 giờ và thu nhựa lúc 6-7giờ Như vậy nhóm nghiên cứu sẽ đi lấy nhựa cùng công nhân lúc 6 giờ Toàn bộ lượng nhựa trong bát ở 10 cây đã chọn được cho vào túi nilon 2 lớp
và buộc chặt bằng dây nịt
3.6.2.5 Phương pháp phân tích bản đồ
Sử dụng bản đồ địa hình của các tỉnh miền Trung, tiến hành phân tích
để thu thập các thông tin về địa hình như: độ dốc, độ cao, vĩ độ…
3.6.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm SPSS [16] để phân tích và xử lý số liệu về đặc điểm lâm học của rừng cao su, phân tích phương sai để đánh giá sự ảnh hưởng của các yếu tố lập địa đến sinh trưởng của cao su tại các địa điểm nghiên cứu
- Số liệu về sản lượng nhựa được tính toán như sau:
Sau khi lấy mẫu xong, tiến hành cân toàn bộ mẫu bằng cân kỹ thuật điện tử có độ chính xác đến 0.01g Trong chuyên đề này sử dụng sản lượng nhựa tươi, xấp xỉ bằng 4 lần sản lượng nhựa khô
Sản lượng nhựa của mỗi cây được tính theo công thức:
Mc = Mt1 – Mt2
Trong đó: Mc là lượng mủ của một cây (g)
(1)
Trang 38Mt1 là khối lượng mẫu có túi nilon (g) Mt2 là khối lượng túi nilon (g)
Sản lượng nhựa của 1 ha rừng cao su là:
Trong đó: Mo là sản lượng nhựa của 1ha/năm (tấn) của ô nghiên cứu
Sản lượng nhựa bình quân của từng tỉnh là:
Trong đó: là sản lượng nhựa bình quân của 1ha cao su (tấn/năm)
Mok là sản lượng nhựa của ô tiêu chuẩn thứ k (k=1-7)
(2)
(3)
(4)
Trang 39Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Thực trạng rừng trồng cao su tại các địa điểm nghiên cứu
4.1.1 Diện tích rừng cao su tại các tỉnh
Tại Thanh Hóa, theo số liệu của Công ty Cao su Thanh Hoá thuộc Tập đoàn Cao su Việt Nam diện tích cao su toàn tỉnh hiện nay là 7.000ha Đây là tỉnh có diện tích trồng cao su lớn nhất vùng Bắc Trung Bộ Tuy nhiên, đa số diện tích cao su này đều là cao su tiểu điền Riêng trong năm 2008, diện tích
cao su được trồng mới là 1.000 ha
Tại Hà Tĩnh giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2006, diện tích cây cao su
đã trồng được 4.326 ha, đạt 47,79% tổng diện tích quy hoạch được phê duyệt, trong đó trồng trồng tập trung 4.276 ha và trồng tiểu điền được 50ha Nhưng tính đến năm 2007, tổng diện tích cao su là 4.300ha giảm 26 ha so với năm
2006 (nguyên nhân giảm do bị ảnh hưởng bởi cơn bão số 5 làm 825ha bị gãy
đổ, nhưng diện tích trồng mới và trồng tái sinh sau bão được 799ha) thuộc địa bàn 16 xã của 5 huyện: Hương Khê 2.739 ha (8 xã), Kỳ Anh 1.380 ha (7 xã), Can Lộc 50 ha (1 xã), Thạch Hà 112 ha (1 xã) và Vũ Quang 19 ha (1 xã) Trong tổng diện tích trên có 4.131 ha cây sinh trưởng tốt, tập trung ở huyện Hương Khê và các xã vùng thượng Kỳ Anh; có 169 ha sinh trưởng trung bình, tập trung chủ yếu ở vùng Kỳ Anh [17]
Tại Quảng Trị gần 25 xây dựng phát triển các khu rừng cao su, đến nay diện tích cao su của tỉnh là 3.662 ha, trong đó cao su khai thác là 3.250 ha, với sản lượng mủ khai thác hàng năm đạt 6000 tấn năm, năng suất vườn cây bình quân là 1.800 kg/ha Cũng như tại Thanh Hóa, diện tích cao su của Quảng Bình chủ yếu là cao su tiểu điền
Trang 404.1.2 Đặc điểm cấu trúc rừng trồng cao su tại các tỉnh nghiên cứu
Khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng cao su chúng tôi tập trung nghiên cứu các đặc điểm tầng thứ; chiều cao Hvn và đường kính D1.3 trung bình của tầng cây cao; đặc điểm tầng cây bụi, thảm tuơi và thảm khô và đặc điểm cây tái sinh
4.1.2.1 Đặc điểm tầng thứ
Kết quả nghiên cứu cho thấy kết cấu rừng cao su gồm 2 tầng, đó là tầng cây cao và tầng thảm tuơi, cây bụi Thành phần tầng cây cao là cao su thuần loài đều tuổi Lớp cây bụi và thảm tươi thường được phát thấp đi thậm chí có thể bị loại bỏ trong quá trình chăm sóc cao su Một số hình ảnh sau đây sẽ minh họa đặc điểm tầng thứ của rừng trồng cao su:
Hình 4.1: Rừng trồng cao su ở Thanh Hoá trước chăm sóc