Nông lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân với nhiều lĩnh vực hoạt động, muốn kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp và sử dụng bền vững tài nguyên rừng
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Chúng ta biết rằng việc quản lý sử dụng tài nguyên thiên nhiên theo hướng bền vững nói chung và tài nguyên rừng, tài nguyên đất đai nói riêng đã và đang được các nhà khoa học trong nước và trên thế giới quan tâm
Tuỳ theo cách nhìn nhận về quy hoạch nông lâm nghiệp sao cho hợp lý đã được nhiều tác giả đề cập tới ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Việc đưa ra một khái niệm thống nhất là một điều rất khó thực hiện, song phân tích qua các khái niệm cho thấy có những điểm giống nhau, đó là dựa trên quan điểm về sự phát triển bền vững thì các hoạt động có liên quan đến tài nguyên rừng, tài nguyên đất đai phải được xem xét một cách toàn diện và đồng thời đảm bảo sử dụng nó theo hướng lâu dài và bền vững
Những nội dung chủ yếu thường được chú ý là các yếu tố về mặt kinh tế, bảo vệ môi trường, các đặc điểm xã hội và nhân văn Quy hoạch nông lâm nghiệp luôn phụ thuộc vào Quy hoạch vùng và Quy hoạch cảnh quan trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch
1.1.1 Quy hoạch vùng lãnh thổ
Quy hoạch vùng tuân theo học thuyết Mác - Lê Nin về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất theo lãnh thổ và sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Dựa trên học thuyết của Mác và Ăng Ghen, V.I Lê Nin đã nghiên cứu các hướng cụ thể về kế hoạch hóa phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội chủ nghĩa Tại Châu Âu, vào thập niên 30 và 40 của thế kỷ 20, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ
- Công tác quy hoạch vùng ở Liên Xô
Công tác quy hoạch vùng hay còn gọi là quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp lấy việc nghiên cứu tổng hợp tất cả các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của mỗi vùng làm nguyên tắc chủ đạo để phân bố lực lượng sản xuất Từ đánh giá sức lao động và nguồn tài nguyên thiên nhiên đã đi tới nhận định phân bố lực lượng sản xuất hợp lý là một trong các điều kiện cơ bản để nâng cao năng suất lao động tích lũy nhiều của cải vật chất cho xã hội, không ngừng phát triển sản xuất và văn hóa của đất nước
- Quy hoạch vùng lãnh thổ ở Bungari
Mục đích của việc quy hoạch đó là sử dụng hiệu quả nhất lãnh thổ của đất nước Nội dung của quy hoạch đó là:
- Cụ thể hóa, chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp
- Phối hợp giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp theo ngành dọc
- Xây dựng các mạng lưới công trình phục vụ công cộng và sản xuất
- Tổ chức đúng đắn mạng lưới khu dân cư và phục vụ công cộng liên hợp trong phạm vi hệ thống nông thôn
- Bảo vệ môi trường thiên nhiên, tạo điều kiện tốt cho nhân dân lao động, sinh hoạt
Thực hiện theo quan điểm hệ thống các mô hình quy hoạch vùng lãnh thổ của M Pierre Thénevin Trong nghiên cứu quy hoạch vùng này người ta đã nghiên cứu hàm mục tiêu cực đại giá trị tăng thêm xã hội với các ràng buộc trong nội bộ vùng, có quan hệ với các vùng khác và nước ngoài
- Quy hoạch vùng lãnh thổ của Thái Lan
Công tác quy hoạch vùng lãnh thổ được chú ý từ những năm 1970 Hệ thống quy hoạch được tiến hành theo 3 cấp: (Quốc gia, vùng, địa phương)
Quy hoạch phải gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý Nhà nước, phải phối hợp với chính quyền, địa phương [14]
Như vậy công tác quy hoạch vùng lãnh thổ đã được tiến hành ở nhiều nước từ lâu và đã đạt được những kết quả nhất định
1.1.2 Quy hoạch vùng nông nghiệp
Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính, nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế trong vùng
Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hóa tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của các vùng, là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hóa một cách hợp lý Là biện pháp sử dụng đất đai, lợi dụng các yếu tố tự nhiên, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật…
Vùng hành chính là đối tượng quy hoạch vùng nông nghiệp, đồng thời cũng là vùng lãnh thổ mà ở đó có các điều kiện kinh tế, vùng tổ chức lãnh thổ thuận lợi cho việc phát triển tất cả các ngành kinh tế - quốc dân [15]
Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế
Tư bản chủ nghĩa Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nên nhu cầu về gỗ ngày càng tăng Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hoá Tư bản chủ nghĩa Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy Đầu thế kỷ 18, những nguyên tắc đơn giản nhất của kinh doanh tổ chức rừng bắt đàu được áp dụng để thu được sản phẩm gỗ đều đặn Phạm vi quy hoạch rừng phong phú Còn phương pháp “Lâm phần kinh tế” và hiện nay là phương pháp “Lâm phần” không căn cứ vào tuổi rừng mà dựa vào đặc điểm cụ thể của mỗi lâm phần tiến hành phân tích, xác định sản lượng và biện pháp kinh doanh Cũng từ phương pháp này, còn phát triển thành “Phương pháp kinh doanh lô” và “Phương pháp kiểm tra” [15]
Trong suốt hai thế kỷ 18 và 19, ngành khoa học về quy hoạch lâm nghiệp và điều chế rừng dần từng bước bổ sung các cơ sở lý luận, hoàn thiện các giải pháp tối ưu trong kinh doanh rừng Phát triển mạnh nhất của ngành khoa học này là ở Châu Âu như ở Đức và Áo, tên gọi của ngành khoa học này cũng luôn thay đổi do quan niệm và nhận thức trong từng giai đoạn khác nhau.[4]
Tại châu Âu, vào thập kỷ 30 và thập kỷ 40 của thế kỷ 20, quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng vào đầu thế kỷ Năm 1946, Jack.G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về phân loại đất đai với tên" Phân loại đất đai cho quy hoạch sử dụng đất" Đây cũng là tài liệu đầu tiên, đề cập đến đánh giá khả năng của đất cho quy hoạch sử dụng đất Tại vùng Rhodesia trước đây (nay là Cộng hoà Zimbabwe) Bộ Nông nghiệp đã xuất bản cuốn sổ tay hướng dẫn quy hoạch sử dụng đất hộ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho công tác trồng rừng Vào đầu những năm 60 của thế kỷ 20, Tạp chí "East African Journal for Agriculture and Forestry" đã xuất bản nhiều bài báo về quy hoạch cơ sở hạ tầng ở Nam châu Phi Năm 1966, Hội Đất học của Mỹ và Hội Nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong quy hoạch sử dụng đất [ 3]
Trước những năm 70 của thế kỷ 20, quan niệm về quy hoạch và điều chế rừng cũng chỉ quan tâm chủ yếu đến lợi nhuận và mục tiêu sản xuất gỗ là chính Nhiều công trình nghiên cứu khoa học tập trung vào các lĩnh vực sản lượng gỗ, và việc tổ chức rừng trong quy hoạch và điều chế cũng nhằm mục tiêu sản xuất gỗ liên tục
Tuy nhiên, ngày nay trước những thay đổi về môi trường toàn cầu cũng như trong từng khu vực, quốc gia đã đòi hỏi ngành lâm nghiệp xem xét việc quy hoạch rừng và tổ chức sản xuất kinh doanh và thực tế cho thấy khoa học về tổ chức rừng này không chỉ đơn thuần là khoa học thuần túy về cấu trúc, sản lượng, sinh vật học rừng mà còn liên quan đến yếu tố văn hóa, xã hội, kinh tế, môi trường Do đó quy hoạch và điều chế rừng ngày nay cần có những thay đổi trong nhận thức cũng như giải pháp toàn diện để kinh doanh bền vững tài nguyên rừng.[4]
Ở Việt Nam
1.2.1 Quy hoạch vùng chuyên canh
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế, đã quy hoạch các vùng chuyên canh lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các vùng rau thực phẩm cho các thành phố lớn, các vùng cây công nghiệp ngắn ngày (hàng năm): Vùng bông Bình Thuận, vùng đay Hưng Yên, vùng thuốc lá Quảng An
- Cao Bằng, Ba Vì - Hà Tây, Hữu Lũng - Lạng Sơn, Nho Quan - Ninh Bình, vùng mía Vạn Điểm, Việt Trì, Sông Lam, Quảng Ngãi Các vùng cây công nghiệp dài ngày (lâu năm): Vùng cao su Sông Bé, Đồng Nai, Buôn Hồ - Đắc Lắc, Chư Pả - Gia Lai, Kon Tum, vùng cà phê Krông Búc, Krông Bách - Đắc Lắc, Chư Pả, Ninh Đức - Gia Lai, Kon Tum (hợp tác với Liên Xô trước đây, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bungari), vùng chè ở Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Gia Lai, Kom Tum, vùng dâu tằm Bảo Lộc - Lâm Đồng
Quy hoạch vùng chuyên canh đã có những tác dụng trong việc:
- Xác định phương hướng sản xuất, chỉ ra những vùng chuyên môn hoá và những vùng có khả năng hợp tác kinh tế
- Xác định và chọn những vùng trọng điểm giúp Nhà nước tập trung đầu tư vốn đúng đắn
- Xây dựng được cơ cấu sản xuất, các chỉ tiêu sản xuất sản phẩm và hàng hoá của vùng, yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ sản xuất, nhu cầu lao động
- Cơ sở để xây dựng kế hoạch phát triển nghiên cứu tổ chức quản lý kinh doanh theo ngành và theo lãnh thổ
Quy hoạch vùng chuyên canh đã thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bố trí cơ cấu cây trồng được chọn với quy mô và chế độ canh tác hợp lý, theo hướng tập trung để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng đồng thời phân bố các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ sở sản xuất, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, kế hoạch của các cơ sở sản xuất
- Quy hoạch vùng chuyên canh có các nội dung chủ yếu sau:
+ Xác định quy mô, ranh giới vùng
+ Xác định phương hướng, chỉ tiêu nhiệm vụ sản xuất
+ Bố trí sử dụng đất đai
+ Xác định quy mô, ranh giới, nhiệm vụ chủ yếu cho các xí nghiệp trong vùng và tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp
+ Xác định hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất đời sống + Tổ chức và sử dụng lao động
+ Ước tính đầu tư và hiệu quả kinh tế
+ Dự kiến tiến độ thực hiện quy hoạch
1.2.2 Quy hoạch nông nghiệp huyện
Quy hoạch nông nghiệp huyện được tiến hành ở hầu hết các huyện, là một quy hoạch ngành bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, thủ công nghiệp và công nghiệp chế biến Nhiệm vụ chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện là:
(1) Trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện căn cứ vào dự án phát triển, phân bố lực lượng sản xuất và phân vùng nông nghiệp tỉnh hoặc thành phố đã được phê duyệt, xác định phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu phát triển nông nghiệp và xây dựng các biện pháp nhằm thực hiện được các mục tiêu đó theo hướng chuyên môn hoá tập trung hoá kết hợp phát triển tổng hợp nhằm thực hiện 3 mục tiêu nông nghiệp là giải quyết lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và nông sản xuất khẩu ổn định
(2) Hoàn thiện phân bổ sử dụng đất đai cho các đối tượng sử dụng đất nhằm sử dụng đất đai được hiệu quả cao, đồng thời bảo vệ và nâng cao được độ phì nhiêu của đất
(3) Tạo điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
(4) Tính vốn đầu tư cơ bản và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp theo quy hoạch
Nội dung chủ yếu của quy hoạch nông nghiệp huyện là:
+ Xác định phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp
+ Bố trí sử dụng đất đai
+ Xác định cơ cấu và quy mô sản xuất nông nghiệp (phân chia và tính toán quy mô các vùng sản xuất chuyên môn hoá, xác định vùng sản xuất thâm canh cao sản, các tổ chức liên kết nông - công nghiệp, các cở sở dịch vụ nông nghiệp, bố trí trồng trọt, bố trí chăn nuôi)
+Tổ chức các cơ sở sản xuất nông nghiệp
+ Tổ chức công nghiệp chế biến nông sản và tiểu thủ công nghiệp trong nông nghiệp
+ Giải quyết mối quan hệ giữa các ngành sản xuất có liên quan trong và ngoài nông nghiệp
+ Bố trí cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ nông nghiệp (thuỷ lợi, giao thông, cơ khí điện, cơ sở dịch vụ thương nghiệp)
+ Tổ chức sử dụng lao động nông nghiệp, phân bố các điểm dân cư nông thôn
+ Những cân đối chính trong sản xuất nông nghiệp (lương thực, thực phẩm), thức ăn gia súc, phân bón, vật tư kỹ thuật nông nghiệp, nguyên liệu cho các xí nghiệp chế biến
+ Tổ chức các cụm kinh tế xã hội
+ Vốn đầu tư cơ bản
+ Hiệu quả sản xuất và tiến độ thực hiện quy hoạch Đối tượng của quy hoạch nông nghiệp huyện là toàn bộ đất đai, ranh giới hành chính của huyện [15]
Quy hoạch lâm nghiệp là tiến hành phân chia, sắp xếp hợp lý về mặt không gian tài nguyên rừng và bố trí cân đối các hạng mục sản xuất kinh doanh theo các cấp quản lý lãnh thổ và các cấp quản lý sản xuất khác nhau làm, cơ sở cho việc lập kế hoạch cho sản xuất kinh doanh lâm nghiệp đáp ứng nhu cầu lâm sản cho nền kinh tế quốc dân, cho kinh tế địa phương, đồng thời phát huy những tác dụng có lợi khác của rừng
Quy hoạch lâm nghiệp liên quan rất nhiều đến các hoạt động sản xuất của các ngành khác và nó được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế, xã hội của vùng, khu vực cũng như nhu cầu của từng địa phương, do đó phương án quy hoạch cần xem xét mối quan hệ này, đặc biệt xuất phát từ thực tế Hiện nay chúng ta đã có nhiều thay đổi trong cách tiếp cận trong xây dựng phương án quy hoạch, thay vì các quy hoạch thường do một nhóm chuyên gia xây dựng trên cơ sở các luận cứ khoa học về rừng, đất thường bỏ quên mối quan hệ với dân cư tại chỗ, chúng ta đã từng bước tổ chức quy hoạch ở cấp xã với sự tham gia của nhiều bên liên quan.[4]
Quy hoạch lâm nghiệp áp dụng ở nước ta ngay từ thời kỳ Pháp thuộc, áp dụng thông qua các mô hình rừng trồng, như việc xây dựng phương án điều chế rừng chồi, sản xuất củi Điều chế rừng Thông theo phương pháp hạt đều Đến năm 1955 - 1957, tiến hành sơ thám và mô tả ước lượng tài nguyên rừng, năm 1958 - 1959 tiến hành thống kê trữ lượng rừng miền Bắc, mãi đến năm 1960 - 1964, công tác quy hoạch lâm nghiệp mới áp dụng miền Bắc.[16] Sau năm 1975 hình thành các liên hiệp lâm nghiệp, các lâm trường trong cả nước, chúng ta tiến hành các cuộc tổng kiểm kê tài nguyên rừng và xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp cho từng cấp lãnh thổ, trong đó chú trọng các đơn vị trực tiếp kinh doanh lâm nghiệp như Liên hiệp lâm nghiệp, lâm trường Giai đoạn này phương án quy hoạch lâm nghiệp được xem như là yếu tố pháp lý để tổ chức sản xuất kinh doanh cho một đơn vị lâm nghiệp Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy rằng các phương án này thường chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế và khó thực thi, do trong quá trình xây dựng phương án chúng ta chưa phản ánh được thực trạng nhu cầu xã hội hoặc do cơ sở dữ liệu có độ tin cậy thấp, đồng thời với nó là sự tách biệt cộng đồng dân cư trong các cấp kinh doanh, quản lý bảo vệ rừng; điều này đã dẫn đến rừng kinh doanh kém hiệu quả, rừng vẫn bị mất Từ những năm 80 của thế kỷ 20 chúng ta bắt đầu chú trọng vào khoa học điều chế rừng, tức là cố gắng tổ chức rừng khoa học hơn về không gian và thời gian, tránh kinh doanh rừng làm mất rừng Dựa vào phương án quy hoạch, hầu hết các lâm trường đều phải xây dựng phương án điều chế rừng và hàng năm đều có các thiết kế sản xuất Hoạt động này đã đóng góp tích cực vào việc quản lý kinh doanh gỗ ổn định hơn, tuy nhiên về kỹ thuật các phương án này cũng ở mức đơn giản Nhưng qua hơn 20 năm thực hiện chúng ta cũng thấy rằng các phương án này vẫn nặng về kỹ thuật, lý thuyết về việc áp dụng trong thực tế rất hạn chế, hơn nữa nó cũng tập trung vào khai thác gỗ; những yếu tố về quan hệ xã hội trong kinh doanh rừng chưa được xem xét, việc thâm canh rừng với sản phẩm đa dạng chưa được đề cập nhiều Điều này đòi hỏi quy hoạch cũng như điều chế rừng xem xét cách tiếp cận cũng như vận dụng lý thuyết sản lượng trong thực tiễn
Thực tế cho thấy điều chế rừng và quy hoạch có tính xã hội sâu sắc, chúng ta cần quan tâm hơn đến kiến thức bản địa, năng lực, nguồn lực tại chỗ để xây dựng một kế hoạch kinh doanh rừng khả thi và có hiệu quả hơn, trong đó chú ý đến vai trò của cộng đồng, người dân, những kinh nghiệm cũng như sự tham gia của họ, và kinh doanh rừng phải đóng góp vào việc nâng cao đời sống của dân sống trong vùng gần rừng.[4] Từ năm 1965 đến nay, lực lượng quy hoạch lâm nghiệp ngày càng được tăng cường và mở rộng Viện điều tra quy hoạch rừng kết hợp chặt chẽ với lực lượng điều tra quy hoạch của các Sở Lâm nghiệp (nay là Sở Nông nghiệp và PTNT) không ngừng cải tiến phương pháp điều tra, quy hoạch lâm nghiệp của nước ngoài cho phù hợp với trình độ và điều kiện tài nguyên rừng ở nước ta Tuy nhiên, so với lịch sử phát triển của các nước khác thì quy hoạch lâm nghiệp nước ta hình thành và phát triển muộn hơn nhiều Vì vậy, những nghiên cứu cơ bản về kinh tế, xã hội, kỹ thuật và tài nguyên rừng làm cơ sở cho công tác này ở nước ta đang trong giai đoạn vừa tiến hành vừa nghiên cứu áp dụng [11]
Theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020 một trong những tồn tại mà Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá là: “Công tác quy hoạch nhất là quy hoạch dài hạn còn yếu và chậm đổi mới, chưa kết hợp chặt chẽ với quy hoạch của các ngành khác, còn mang nặng tính bao cấp và thiếu tính khả thi Chưa quy hoạch 3 loại rừng hợp lý và chưa thiết lập được lâm phần ổn định trên thực địa ”[13] Đây cũng là nhiệm vụ nặng nề và cấp bách đối với ngành lâm nghiệp của nước ta hiện nay
Thảo luận
Đánh giá, phân tích các nghiên cứu về quy hoạch NLN ở Việt Nam trong thời gian qua có thể rút ra một số kết luận sau:
- Hiện tại nước ta chưa có nghiên cứu đầy đủ về QHNLN cấp địa phương, đặc biệt là cấp xã Phương pháp quy hoạch hiện tại còn chưa thống nhất và được vận dụng rất khác nhau Mặt khác công tác quy hoạch nhiều khi còn dựa trên ý kiến từ trên xuống của các nhà quy hoạch mà thiếu sự tham gia và đóng góp của người dân
- Các công trình nghiên cứu đã thu được những kết quả nhất định trong việc tiến hành QHNLN ở cấp địa phương Tuy nhiên các nghiên cứu này chưa được tổng kết, đánh giá và phát triển thành phương pháp luận
- Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc QHNLN cấp xã mặc dù đã được nhiều tác giả nghiên cứu và phát triển, tuy nhiên chưa tiến hành ở trên diện rộng mà mới chỉ tiến hành ở một số xã nhất định Vấn đề nghiên cứu đề xuất phương án QHNLN vẫn cần được tiếp tục tiến hành nghiên cứu để ngày càng hoàn thiện hơn, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế xã hội nông thôn miền núi
Theo văn kiện đại hội đảng bộ xã Minh Đức khóa XXIII (nhiệm kỳ
2010 - 2015) [5], mục tiêu với nông lâm nghiệp đó là chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với tình hình của xã, xây dựng vùng chuyên canh cây, con như: vùng chuyên sản xuất lúa, vùng trồng cây công nghiệp ngắn ngày, vùng sản xuất rau màu… tăng tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu kinh tế nông lâm ngư nghiệp, đẩy mạnh công tác chăm sóc, bảo vệ và trồng rừng, phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, đưa cây ăn quả vào trồng tại địa phương
Do vậy, để góp phần ổn định đời sống, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, quy hoạch sắp xếp lại diện tích đất nông lâm nghiệp của xã một cách hợp lý là nhiệm vụ cấp thiết trong thời gian tới
Xây dựng phương án quy hoạch nông lâm nghiệp xã Minh Đức đến năm 2020 đáp ứng mục tiêu phát triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá, an toàn, chất lượng sản phẩm ngày càng cao theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, phục vụ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của xã và cả huyện, đồng thời duy trì và phát triển cảnh quan môi trường cho phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực tiễn và đề xuất giải pháp quy hoạch nông lâm nghiệp xã Minh Đức
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của quy hoạch nông lâm nghiệp
- Phân tích, đánh giá được điều kiện cơ bản của xã Minh Đức ảnh hưởng đến phát triển nông lâm nghiệp
- Đánh giá tình hình sản xuất nông lâm nghiệp và dự báo nhu cầu nông lâm sản
- Đề xuất các nội dung cơ bản cho quy hoạch nông lâm nghiệp xã.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Các văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, phát triển nông lâm nghiệp;
- Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội và nhân văn của xã;
- Các cơ chế chính sách đã và đang áp dụng ảnh hưởng đến quy hoạch nông lâm nghiệp;
- Một số mô hình sử dụng đất tại xã Minh Đức;
- Thị trường nông lâm sản tại xã Minh Đức
Do thời gian, nhân lực và các phương tiện hỗ trợ có hạn nên đề tài chỉ tập trung giải quyết vấn đề nghiên cứu trong phạm vi sau:
Toàn bộ diện tích rừng sản xuất và đất nông lâm nghiệp thuộc xã Minh Đức, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Địa điểm tiến hành nghiên cứu, thu thập số liệu: Trên cơ sở phân tích các tài liệu thứ cấp có liên quan đến các đặc điểm tự nhiên, dân sinh, KTXH và kết quả điều tra khảo sát theo phương pháp PRA trên địa bàn xã Minh Đức, 5 xóm điển hình được chọn để tiến hành nghiên cứu, từ các số liệu thu thập tiến hành tổng hợp và xử lý làm căn cứ đề xuất phương án QHNLN chung cho cả xã
- Về thời gian: Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu, đề xuất phương án QHNLN cho xã Minh Đức giai đoạn 2014 - 2020.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện cơ bản khu vực nghiên cứu
- Điều kiện Kinh tế - Xã hội
2.3.2 Hiện trạng sử dụng đất, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp xã Minh Đức
- Đánh giá chung về hiện trạng sử dụng đất đai, tài nguyên rừng của xã, đánh giá hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp của xã
- Cơ sở pháp lý: Tìm hiểu các luật, văn bản dưới luật và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có liên quan đến quy hoạch nông lâm nghiệp
2.3.3 Hiệu quả kinh tế của một số mô hình sử dụng đất
2.3.4 Một số dự báo cơ bản
2.3.5 Định hướng và nhiệm vụ phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức đến năm 2020
2.3.6 Đề xuất nội dung cơ bản quy hoạch nông lâm nghiệp xã Minh Đức giai đoạn 2014 - 2020
- Quy hoạch phân bổ sử dụng đất
- Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức
- Phân kỳ quy hoạch và lập kế hoạch quy hoạch NLN xã Minh Đức
- Dự tính nhu cầu vốn đầu tư và hiệu quả của phương án quy hoạch
- Đề xuất các giải pháp thực hiện.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
2.4.1.1 Phương pháp kế thừa có chọn lọc các tài liệu thứ cấp
Sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu thứ cấp tại địa phương và các cơ quan hữu quan, bao gồm:
- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế của huyện, xã
- Các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh nông lâm nghiệp trên địa bàn xã
- Tình hình sản xuất nông lâm nghiệp của xã trong 3 năm từ 2010 – 2013
- Phương án quy hoạch sử dụng đất
- Các số liệu thống kê về đất đai, cơ sở hạ tầng, kết quả sản xuất, thị trường giá cả
- Các tài liệu, văn bản về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các chính sách của địa phương, các ngành có liên quan đến ngành nông lâm nghiệp
- Các số liệu về thời tiết, khí hậu
Những số liệu trên được thu thập, kế thừa từ các cơ quan: Uỷ ban nhân dân xã Minh Đức, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, Hạt kiểm lâm Tân-Việt-Hòa và một số cơ quan liên quan
- Ngoài các số liệu trên, đề tài còn tiến hành thu thập một số qui trình qui phạm của ngành, các hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến quy hoạch nông lâm nghiệp do các tổ chức, các chương trình và dự án đề xuất
2.4.1.2 Khai thác, sử dụng các loại bản đồ
+ Bản đồ Hiện trạng xã Minh Đức (Xây dựng năm 2013)
+ Bản đồ Quy hoạch sử dụng đất xã Minh Đức năm 2020
2.4.1.3 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)
Sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) để điều tra, phân tích về hiện trạng quản lý sử dụng đất đai, tài nguyên rừng, tình hình sản xuất nông nghiệp, vai trò và mức độ tham gia của người dân trong quản lý tài nguyên rừng, trong quy hoạch nông lâm nghiệp, những thuận lợi và khó khăn cũng như nhu cầu nguyện vọng của người dân…
Sử dụng bộ công cụ PRA trong quá trình nghiên cứu:
- Phỏng vấn bán định hướng: Sử dụng phỏng vấn cán bộ xã, huyện, các cơ quan, công ty Nông công nghiệp và để thu thập thông tin từ các hộ gia đình
- Phân loại hộ gia đình: Trước khi đi phỏng vấn hộ gia đình, sử dụng công cụ này để làm việc cùng với trưởng thôn và nhóm nông dân nòng cốt để phân loại hộ gia đình thành các nhóm hộ, giúp cho quá trình phỏng vấn đúng đối tượng
- Phân loại cho điểm cây trồng, vật nuôi: Nhằm lựa chọn tập đoàn cây trồng vật nuôi có hiệu quả cho sản xuất nông lâm nghiệp
* Chọn điểm nghiên cứu và hộ gia đình điều tra:
Căn cứ để chọn điểm nghiên cứu dựa trên phân tích các loại tài liệu thứ cấp có liên quan đến các đặc điểm tự nhiên, dân sinh, KTXH và kết quả điều tra, khảo sát sơ bộ, tiêu chí chọn điểm nghiên cứu được xây dựng như sau:
- Chọn xã nghiên cứu: Xã có đầy đủ các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, có bản đồ đất đai và các loại bản đồ liên quan
- Chọn xóm nghiên cứu: Trong xã chọn ra các xóm đại diện, đặc trưng cho xã về các mặt:
+ Địa hình: Không quá phức tạp, đại diện cho địa hình chung của toàn xã + Dân cư và dân tộc: Có mật độ dân cư trung bình so với toàn xã và phân bố tương đối đồng đều; có dân tộc ít người đại diện cho các dân tộc của xã đang sinh sống
+ Trình độ dân trí và trình độ phát triển trung bình đại diện cho toàn xã + Sử dụng đất: Có đầy đủ các kiểu sử dụng đất nông lâm nghiệp đại diện cho toàn xã, có mô hình điển hình về sản xuất nông lâm nghiệp
- Mỗi xóm chọn ngẫu nhiên 15 hộ gia đình đại diện theo tỷ lệ các nhóm hộ nghèo, trung bình, khá, giàu trong xóm để phỏng vấn Danh sách các nhóm hộ dựa trên kết quả làm việc với xóm trưởng và nhóm nông dân nòng cốt bằng công cụ phân loại hộ gia đình Thu thập thông tin từ các hộ gia đình về mức đầu tư, thu nhập, các biện pháp kỹ thuật áp dụng
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
2.4.2.1 Điều tra về lâm nghiệp
+ Tình hình sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp
+ Tình hình quản lý rừng, đầu tư và phát triển rừng, bảo vệ rừng
2.4.2.2 Điều tra về nông nghiệp
* Diện tích, năng suất, sản lượng các loài cây trồng địa phương
* Thông tin giống cây trồng, phân bón, sâu hại, dịch bệnh
* Thông tin khuyến nông, khuyến lâm
+ Tốc độ phát triển kinh tế xã hội
2.4.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
- Xây dựng các loại bản đồ của xã Minh Đức, sử dụng phần mềm Mapinfo 8.5
+ Bản đồ Hiện trạng xã Minh Đức (Xây dựng năm 2013)
+ Bản đồ quy hoạch sử dụng đất xã Minh Đức năm 2020
- Đánh giá hiệu quả kinh tế Để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đất đề tài sử dụng hai phương pháp là phương pháp tĩnh và phương pháp động
Phương pháp tĩnh xem các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập và không chịu tác động của yếu tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động giá trị đồng tiền, áp dụng với các mô hình sử dụng đất cây hàng năm như lúa, sắn, ngô
Tổng lợi nhuận: P = TN - CP (2 - 1)
Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí:
Hiệu quả vốn đầu tư:
P : Tổng lợi nhuận trong một năm
TN: Tổng thu nhập trong một năm
Cp: Tổng chi phí trong một năm
Vđt : Vốn đầu tư trong năm
- Phương pháp động Để đánh giá hiệu quả kinh tế của cây lâm nghiệp chúng tôi sử dụng phương pháp động
Phương pháp CBA được vận dụng để phân tích hiệu quả kinh tế các mô hình sản xuất, trên cơ sở đó để lựa chọn các mô hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế nhất để tiến hành qui hoạch sản xuất Các số liệu được tổng hợp và phân tích bằng các hàm kinh tế trong chương trình EXEL 7.0 Các chỉ tiêu sau đây được vận dụng trong phân tích CBA
Coi các yếu tố về chi phí và kết quả có mối quan hệ động với mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền
Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, BPV, CPV, IRR
- Giá trị hiện tại thuần tuý NPV: NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
NPV: là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Bt:là giá trị thu nhập ở năm thứ t (đồng)
Ct : là giá trị chi phí ở năm t (đồng) i : là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%) t : là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao
- Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR: IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu
IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi
- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR
BCR sẽ là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng) n là số đại lượng tham gia vào tính toán
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điều kiện cơ bản xã Minh Đức
Minh Đức là một xã trung du nằm ở phía Bắc huyện Việt Yên, cách trung tâm thị trấn Bích Động khoảng 4,5 km, với tổng diện tích tự nhiên là 1834,91 ha Xã có vị trí địa lý như sau:
+ Phía đông giáp xã Nghĩa Trung (huyện Việt Yên)
+ Phía tây giáp xã Thượng Lan (huyện Việt Yên) và xã Ngọc Thiện (huyện Tân Yên)
+ Phía nam giáp xã Tự Lạn, xã Bích Sơn và Thị trấn Bích Động (huyện
+ Phía bắc giáp xã Ngọc Lý (huyện Tân Yên)
Diện tích đất tự nhiên là 1834,91 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp 1319,84 ha chiếm 71,93 % diện tích đất tự nhiên với dân số là 12.236 người được phân bố trên 17 thôn và 1 khu dân cư
Minh Đức thuộc vùng trung du có một phần là đồi dốc (độ cao trung bình 20-100m) còn lại là các thung lũng quanh các đồi, đất đai màu mỡ thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp,và nuôi trồng thủy sản
Xã Minh Đức chủ yếu là 3 loại đất:
- Đất bạc màu trên phù sa cổ (B): Đất này được hình thành trên mẫu phù sa cổ ở địa hình cao, thoát nước Đất có phản ứng chua (pHKCl = 4,5 - 5) Lân tổng số và dễ tiêu rất nghèo đến rất nghèo, Kali tổng số khá Đất có thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ Đất này hầu hết nằm trên chân vàn Tuy nghèo lân, mùn, đạm xong đất bạc màu có ưu điểm là khá giàu kali, tơi xốp, thoát nước tốt, thích hợp với các loại cây có củ như: khoai lang, khoai tây, lạc…
- Đất phù sa úng nước mùa hè (Pj): Loại đất này phân bố chủ yếu dọc ngòi Cầu Sim, ngòi Me Do bị ngập nước nhiều tháng trong năm nên bị gley rất mạnh ở tầng B Đất có phản ứng chua, hàm lượng mùn giàu, lân tổng số tiêu và dễ tiêu thấp 0,08-1,2% và 7-8mg/100g đất Đây là diện tích hầu hết đã được đưa vào trồng lúa
- Đất xói mòn trơ đá (E): Đây là loại đất nằm trên các đồi, núi có độ dốc lớn thảm thực vật phủ tí nên bị sói mòn rửa trôi trong mùa mưa
Khí hậu của xã mang đầy đủ tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm có 4 mùa rõ rệt: Mùa hạ khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, hướng gió chủ yếu là gió Đông Nam; mùa đông khí hậu lạnh và khô, hướng gió chủ yếu là gió Đông Bắc
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 23,4 0 C; tháng nóng nhất vào tháng 7, nhiệt độ trung bình 31,2 0 C, nhiệt độ cao nhất 38,5 0 C; tháng lạnh nhất vào cuối tháng 12 và đầu tháng 1, nhiệt độ trung bình là 13,4 0 C, lạnh nhất 6 0 C Tổng tích ôn cả năm khoảng 8.500 0 C, số giờ nắng trung bình 1.600
- Chế độ mưa: Chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng
9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 Tổng lượng mưa trung bình/năm từ 1.600 đến 1.700 mm, tháng có lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 8 đạt 295,7 mm/tháng, tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất vào cuối tháng 12 và đầu tháng 1, lượng mưa trung bình từ 9 - 15 mm/tháng, có những năm cả tháng không có mưa gây hạn hán ở một số khu vực
- Chế độ gió: Có hai hướng gió thịnh hành là Đông Nam vào mùa hè và Đông Bắc vào mùa đông
- Độ ẩm không khí: Trung bình năm là 81%, tháng cao nhất là tháng 3 với 89,3% và tháng thấp nhất là tháng 11 với 42,8%
Xã có nhiều kênh ,rạch và ao hồ, chế độ nước khá phong phú, tuy nhiên chưa đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước cho sản xuất của người dân
Hệ thống kênh mương trong xã phân bố đều nhưng chỉ đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp cho thôn Kẹm, Rèn, Chùa và phía Bắc thôn Cầu Treo Các khu vực còn lại hệ thống kênh mương kém ổn định, khô cạn và nứt nẻ Lượng nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tại những khu vực này chủ yếu từ các giếng khoan tự phát giữa đồng Việc khai thác nước ngầm quá mức không chỉ làm tụt giảm mực nước ngầm mà còn gây ô nhiểm nguồn nước
- Nguồn nước mặt: Trên địa bàn xã Minh Đức có sông Cầu Sim và sông
Cầu Treo (với tổng chiều dài khoảng 12,50km), cùng với hệ thống kê mương lớn nhỏ khác Với hệ thống sông, ngòi hiện tại Minh Đức có trữ lượng nước khá lớn, đáp ứng được nhu cầu nguồn nước tưới cho các cánh đồng trong xã
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của xã nằm chủ yếu trong tầng chứa nước lỗ hổng Plutôxen, hàm lượng Cl < 200mg/l Tầng khai thác phổ biến ở độ sâu trung bình từ 15 - 50 m có thể khai thác phục vụ sinh hoạt [7]
Tính đến cuối năm 2013 xã có 190,41 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng trồng sản xuất có 190,41ha Rừng trồng sản xuất chủ yếu là các loại cây Keo tai tượng, Bạch đàn đang phát triển tương đối tốt
3.1.2 Tình hình kinh tế, xã hội
3.1.2.1 Dân số và lao động xã Minh Đức
Theo kết quả thống kê năm 2013, tổng số nhân khẩu của xã Minh Đức là 12.236 nhân khẩu với 3.010 hộ Dân số toàn xã được phân bố tại 17 thôn và 1 điểm dân cư
Cơ sở thực tiễn của quy hoạch nông lâm nghiệp xã Minh Đức
3.2.1.1 Các văn bản luật pháp liên quan để quy hoạch nông lâm nghiệp
- Hiến pháp của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích và hiệu quả Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài”
Luật Đất đai năm 2013 thay thế cho luật đất đai năm 2003 [4]
Kỷ yếu hội thảo quốc gia về "Quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp'' năm 1997, có nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu tính thống nhất giữa hai luật: Luật đất đai và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong quy hoạch và giao đất nông nghiệp và lâm nghiệp, xác định rõ vai trò của địa phương trong QHLN và giao đất giao rừng [12]
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng là một trong những luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, bảo tồn thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm; góp phần phòng chống thiên tai Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là các quy định cụ thể về nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng Nhà nước có quyền giao, cho thuê, thu hồi rừng và đất để phát triển rừng cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế theo đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng đã được phê duyệt Rừng tự nhiên, rừng trồng, quyền sử dụng rừng tự nhiên, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng cũng được định giá để phù hợp với cơ chế thị trường Việc lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, giao rừng, cho thuê rừng phải bảo đảm công khai, dân chủ, phải đồng bộ và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất…Những quy phạm pháp luật này bảo đảm không xảy ra xung đột pháp lý trong mối quan hệ đất với rừng trong thực tiễn sản xuất và đời sống xã hội Luật đã tạo những tác động tích cực hướng dẫn và thu hút mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng, phát triển rừng, tạo công ăn việc làm cho đồng bào sống ở vùng rừng, góp phần phát triển kinh tế và ổn định xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng
3.2.1.2 Các nghị định, quyết định và chỉ thị của Chính phủ
- Nghị định 163/1999/NĐ - TTg ngày 16/11/1999 của Thủ tướng chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp
- Quyết định 178/QĐ-TTg ngày 12/1/2001 của Thủ tướng chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của các hộ gia đình, cá nhân được giao đất, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp
- Quyết định số 147 về hỗ trợ phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015
- Quy chế quản lý rừng năm 2006 quy định về việc tổ chức quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, bao gồm diện tích có rừng và diện tích không có rừng đã được Nhà nước giao, cho thuê hoặc quy hoạch cho lâm nghiệp
- Quyết định số 61/2005/QĐ - BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ.[1]
- Quyết định số 62/2005/QĐ - BNN ngày 12/10/2005 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc ban hành bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng đặc dụng.[2]
- Chỉ thị số 38/CT - TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng
- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ
- Nghị định 23 năm 2006 là văn bản dưới luật quy định cụ thể quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng, giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, chuyển đổi
- Căn cứ Chiến lược phát triển lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 - 2020
Từ trước tới nay, công tác quy hoạch lâm nghiệp đã được triển khai trên toàn quốc ở nhiều cấp độ, quy mô khác nhau phục vụ cho mục tiêu phát triển ngành Song căn cứ vào yêu cầu, trong mỗi giai đoạn cụ thể, trong từng thời điểm, căn cứ vào nguồn vốn được cấp và yêu cầu mức độ kỹ thuật khác nhau mà nội dung các phương án quy hoạch, dự án đầu tư cũng được điều chỉnh cho phù hợp
3.2.1.3 Căn cứ chiến lược, quyết định, nghị quyết, văn bản của địa phương
- Văn kiện đại hội Đảng bộ huyện Việt Yên lần thứ XXI (nhiệm kỳ
2010 - 2015) của huyện ủy Việt Yên
- Căn cứ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 -
2015 của UBND xã Minh Đức
- Căn cứ văn kiện đại hội Đảng bộ xã Đức khóa XXIII nhiệm kỳ 2010 -
2015 của Đảng bộ xã Minh Đức
3.2.2 Hiện trạng quản lý, sử dụng đất đai tài nguyên rừng của xã
Minh Đức là xã vùng cao của huyện Việt Yên, có các tuyến đường giao thông khá thuận lợi nối liền với các khu vực khác trong và ngoài tỉnh Là xã có quy mô diện tích và dân số đứng thứ đầu của huyện, có lực lượng lao động dồi dào, có điều kiện khả năng để phát triển nền kinh tế nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, trong đó nông nghiệp là chủ yếu Đất đai là nguồn tài nguyên có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của xã
Trong những năm gần đây, cùng với các địa phương khác trong huyện, công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn xã đã được các cấp chính quyền quan tâm hơn Tuy nhiên, việc quản lý sử dụng đất chưa thực sự đi vào nề nếp Tính đến 31/12/2013 đất đai của xã đã được sử dụng cho sản xuất nông, lâm nghiệp chiếm 71,93% tổng diện tích tự nhiên,và diện tích đất phi nông nghiệp chiếm 27,79% Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 của xã Minh Đức được thể hiện qua bảng 3.5
Bảng 3.5 Hiện trạng quản lý và sử dụng đất xã Minh Đức
TT Chỉ tiêu Mã Diện tích
Tổng diện tích tự nhiên 1834,91 100,00
1.2 Đất trồng lúa còn lại LUK -
1.3 Đất trồng cây hàng năm khác BHK 35,13 1,915
1.4 Đất trồng cây lâu năm CLN 136,48 7,438
1.5 Đất rừng phòng hộ RPH -
1.6 Đất rừng đặc dụng RDD -
Trong đó: Khu bảo tồn thiên nhiên DBT -
1.7 Đất rừng sản xuất RSX 190,94 10,41
1.8 Đất nuôi trồng thủy sản TSN 160 8,72
1.10 Đất nông nghiệp khác NKH 17,51 0,954
2 Đất phi nông nghiệp PNN 509,87 27,79
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 0,53 0,029
2.4 Đất khu công nghiệp SKK -
2.5 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh SKC 67,65 3,687
2.6 Đất sản xuất vật liệu gốm sứ SKX -
2.7 Đất cho hoạt động khoáng sản SKS -
2.8 Đất di tích danh thắng DDT -
2.9 Đất xử lý, chôn lấp chất thải DRA -
TT Chỉ tiêu Mã Diện tích
2.10 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 6,99 0,381
2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 12,73 0,694
2.12 Đất có mặt nước chuyên dùng SMN
2.14 Đất phát triển hạ tầng DHT 230,94 12,59
2.15 Đất phi nông nghiệp khác PNK -
3 Đất chưa sử dụng DCS 5,2 0,283
4 Đất khu du lịch DDL -
5 Đất khu dân cư nông thôn DNT 164,92 8,988
(Nguồn : UBND xã Minh Đức, 2013)
Qua dẫn liệu trên cho thấy: Đất nông nghiệp là 1.319,84 ha chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng diện tích đất tự nhiên với 71,93 %, bình quân 1.087,27m 2 /người Trong diện tích đất nông nghiệp diện tích đất trồng lúa là 779,78 ha, đất trồng cây hàng năm khác là 35,13 ha, đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 160 ha Xã Minh Đức là xã có diện tích đất canh tác lớn, khí hậu ôn hoà Có điều kiện tự nhiên, sinh thái thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đa dạng về cây trồng vật nuôi như: cây rau màu hàng hóa, lúa cao sản, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản trong những năm gần đây do được sự quan tâm đầu tư của các cấp các ngành từ huyện đến xã trong việc đưa cơ giới hóa, tiến bộ khoa học kỹ thuật, các cây con giống mới vào sản xuất nên sản lượng và chất lượng nông nghiệp của xã tăng lên đáng kể
Diện tích đất lâm nghiệp là 190,94ha, chiếm 10,41 % diện tích đất nông nghiệp, toàn bộ là diện tích đất trồng rừng sản xuất chủ yếu trồng loài Keo và Bạch đàn Nhìn chung các loại cây trồng rừng đều thích nghi tốt với điều kiện lập địa và sinh trưởng khá tốt góp phần làm giàu rừng và cải thiện điều kiện môi trường ở địa phương Đến tháng 12/2013 nhờ tập trung lãnh chỉ đạo trong công tác bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã không còn diện tích đất trống chưa trồng rừng đã giảm 20ha so với năm 2011 Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế từ trồng rừng còn thấp, những năm tiếp theo cần có định hướng đưa cây trồng rừng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhân dân cùng với việc phát triển bền vững Đất phi nông nghiệp: Diện tích 509,87 ha chiếm 27,79% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất phát triển hạ tầng là 230,94 ha chiếm 12,59% diện tích đất tự nhiên
Diện tích đất chưa sử dụng khá nhỏ chỉ: 5.2 ha chếm 0,283% diện tích đất tự nhiên
Hình 3.1 Cơ cấu sử dụng đất đai xã Minh Đức
Một số dự báo cơ bản
3.4.1 Dự báo về sự gia tăng dân số
Căn cứ vào số liệu của Chi cục thống kê huyện Việt Yên qua các năm, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã là 1,3%/năm, khả năng thực hiện các chính sách dân số của xã, dự báo dân số toàn xã năm 2015 là 12.556 người; đến năm 2020 là 13.394 người Dự đoán cơ cấu dân số của xã trong những năm tới sẽ có sự chuyển dịch, dân số sống ở vùng trung tâm xã và dọc các tuyến đường, gần các cụm công nghiệp sẽ tăng nhưng lực lượng lao động trong ngành nông lâm nghiệp giảm tuy nhiên tỉ lệ lao động trong NLTS vẫn cao Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang là nhiệm vụ đặt ra hàng đầu cho các cấp chính quyền ở địa phương
UBND xã Minh Đức phấn đấu, tỷ lệ đói nghèo từ 6,84% (năm 2013) sẽ giảm xuống dưới 5% vào năm 2015 và phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ hộ nghèo còn 3% Dù đây là một nhiệm vụ khó khăn, chính quyền địa phương tập trung cao cho việc phát triển kinh tế song song với giảm tỷ lệ đói nghèo và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của xã
3.4.3 Sự phụ thuộc vào rừng và đất đai
Dự báo trong những năm tới cùng với những chính sách khuyến khích phát triển nông lâm nghiệp của Đảng và Chính Phủ cũng như của địa phương hoạt động nông lâm nghiệp trên địa bàn xã sẽ gia tăng dưới nhiều hình thức như: phát triển kinh tế trang trại, trồng rừng kinh tế, trồng cây công nghiệp…
Dự kiến giá trị kinh tế do hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp mang lại sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng giá trị sản xuất nông lâm nghiệp
3.4.4 Nhu cầu sử dụng nông lâm sản
Trong những năm tới nhu cầu gỗ phục vụ cho nguyên liệu giấy, chế biến gỗ của một số nhà máy, công ty trong khu vực lân cận lớn
Nhu cầu các nguyên liệu công nghiệp cho chế biến tại chỗ trên địa bàn của các xưởng chế biến các Công ty, các hộ sản xuất cũng được đáp ứng phần nào
3.4.5 Dự báo về thị trường nông lâm sản
+ Nhu cầu sử dụng sản phẩm gỗ rừng trồng tăng lên, nhưng người tiêu dùng đòi hỏi sản phẩm đa dạng hơn, chất lượng cao hơn; nhu cầu lâm sản ngoài gỗ trên thị trường khu vực và các huyện lân cận cũng có xu hướng tăng lên
+ Các sản phẩm nông sản qua chế biến ngày càng nhiều, chất lượng, mẫu mã và giá cả hàng hóa phải đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng và có khả năng cạnh tranh với hàng hóa trên thị trường
3.4.6 Dự báo về nhu cầu sử dụng đất
Xu thế đô thị hoá và do chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội nên sẽ có biến động về cơ cấu sử dụng đất, tuy nhiên, diện tích đất nông lâm nghiệp mang tính ổn định và sử dụng hợp lý hơn Sẽ có thay đổi về cơ cấu sử dụng đất nông lâm nghiệp, theo đó diện tích đất rừng sản xuất sẽ được phát triển ổn định, góp phần đảm bảo an toàn môi trường sinh thái
3.4.7 Dự báo về phát triển khoa học công nghệ trong nông lâm nghiệp
+ Đối với công tác trồng rừng: Ngoài công nghệ giâm hom, phương tiện trồng rừng sẽ đầy đủ và hiện đại hơn để vừa đảm bảo đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật trồng rừng vừa bảo đảm đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trong những điều kiện khó khăn phức tạp, nâng cao năng suất, chất lượng và rút ngắn chu kỳ kinh doanh rừng trồng…
+ Công tác giống sẽ được chú trọng bằng cách khôi phục các giống cây bản địa đặc sản, xây dựng các vùng canh tác và sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế (GAP - good agriculture produce)
+ Về công nghệ khai thác: Đối với khai thác rừng trồng được cơ giới hóa một phần
+ Về chế biến nông lâm sản: Tạo những bước đột phá lớn, theo đó, lợi dụng tổng hợp nguyên liệu nông lâm sản; tỷ lệ sản phẩm qua chế biến đạt cao hơn bằng công nghệ và máy móc hiện đại, sản phẩm chế biến sẽ đa dạng hơn, chất lượng cao hơn.
Đề xuất những nội dung cơ bản của QHNLN xã Minh Đức
3.5.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức
3.5.1.1 Quan điểm phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức
- Thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch phát triển cây trồng, vật nuôi đã được phê duyệt, ổn định diện tích các loại cây trồng
- Phát triển nông lâm nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm tạo lập môi trường sinh thái bền vững, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội góp phần ổn định chính trị, an ninh quốc phòng trên địa bàn
- Phát triển nông lâm nghiệp một cách toàn diện và có hệ thống trên cơ sở phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của xã và huyện Đa dạng các sản phẩm, đi đôi với phát triển mặt hàng có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường địa phương và khu vực lân cận
- Phát triển nông lâm nghiệp gắn với bảo vệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên rừng , đất và trên cơ sở áp dụng các tiến bộ KHKT (đặc biệt là công tác giống) vào SXNLN
- Từng bước cải thiện chất lượng nông lâm sản bằng các biện pháp thâm canh, lựa chọn giống cây trồng nhằm tăng sản lượng, đáp ứng mục tiêu kinh doanh, kết hợp hiệu quả môi trường và xã hội
- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông lâm nghiệp (đặc biệt chú trọng công tác giống) nhằm phát triển vùng sản xuất hàng hóa… Từng bước nghiên cứu đưa các giống cây có giá trị kinh tế cao, quý nhằm từng bước nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất
- Phát triển nông lâm nghiệp toàn diện, gắn liền với xóa đói giảm nghèo trên cơ sở phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội của xã
- Hoàn thành việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, cá nhân và bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ của chủ rừng theo đúng quy định của pháp luật là khâu đột phá; có cơ chế, chính sách phù hợp khuyến khích trồng rừng, tăng hiệu quả công tác bảo vệ và phát triển rừng
- Phát triển nông lâm nghiệp phải đảm bảo cả lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường sinh thái
3.5.1.2 Mục tiêu phát triển NLN xã Minh Đức
Từ những dự báo và quan điểm nêu trên, mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức giai đoạn 2013 - 2020 là:
- Đầu tư thâm canh các loại giống mới có năng suất và chất lượng tập trung vào các sản phẩm chủ yếu là: Lạc, Khoai lang, Khoai tây, Rau màu
- Bảo vệ, xây dựng và phát triển vốn rừng hiện có, ưu tiên trồng rừng nguyên liệu cung cấp chế biến bột giấy, ván nhân tạo Tăng cường công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng, nâng cao chất lượng rừng
- Giữ vững diện tích lúa nước, phát huy diện tích các cây công nghiệp và cây màu thế mạnh của xã
- Xây dựng vùng nguyên liệu cây công nghiệp ổn định, bền vững và từng bước nâng cao hiệu quả
- Giải quyết việc làm ổn định cho nhân dân thông qua trồng rừng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng, tham gia các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Bảng 3.12: Mục tiêu phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức giai đoạn 2013 - 2020
TT Hạng mục Đơn vị tính
A Về môi trường Độ che phủ toàn xã % 10,41 10,41 10,41
Nông lâm nghiệp Triệu đồng 82.620 98.160,82 149.058,2 Sản lượng gỗ rừng trồng m3 10022 10100 11000
Giải quyết việc làm Người 680 750 900
3.5.2 Quy hoạch phân bổ sử dụng đất
Quy hoạch phân bổ đất đai là nội dung đầu tiên cần được tiến hành trong quy hoạch nông lâm nghiệp Phương án quy hoạch phân bổ sử dụng đất hợp lý sẽ tạo tiền đề cho việc xác lập quy hoạch sản xuất theo ngành và lĩnh vực, là cơ sở để xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp và ổn định lâu dài tại địa phương Vì vậy, để có phương án quy hoạch phân bổ đất hợp lý, cần phải cân nhắc trên nhiều phương diện khác nhau và chúng được coi như là những căn cứ chính để tiến hành quy hoạch
Trên cơ sở điều kiện thực tế tại xã Minh Đức, phương án quy hoạch phân bổ sử dụng đất cần được xây dựng dựa trên một số căn cứ chủ yếu sau đây:
- Căn cứ quy hoạch xây dựng NTM của xã: vận động, khuyến khích nhân dân mở rộng diện tích trồng mầu cùng với triển khai kế hoạch dồn điền đổi thửa, xây dựng cánh đồng mẫu tại địa phương, nhằm tạo ra những ô thửa lớn, những vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, thuận tiện đưa tiến bộ khoa học kỹ thuât, cơ giới hóa vào sản xuất
- Căn cứ vào sự gia tăng dân số: Dân số của xã Minh Đức hiện tại là 12.236 nhân khẩu với 3.010 hộ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,3%/năm, tỷ lệ tăng dân số cơ học không đáng kể Do dân số hàng năm của xã tăng lên song diện tích đất đai lại không thể tăng lên được
- Định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương như: phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch xây dựng trường học, khu công nghiệp
- Hiện trạng thực tế sử dụng đất, quỹ đất đai hiện có của xã
- Dự báo, dự tính mức độ gia tăng dân số của xã
- Tính toán năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi
- Nhu cầu lương thực, thực phẩm của người dân
- Khả năng thích nghi sử dụng đất trên các nhóm đơn vị đất đai
- Thực trạng về việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, chọn giống và lai tạo
- Điều kiện và khả năng của địa phương, sự hỗ trợ từ phía các chương trình, dự án của Nhà nước, cộng đồng
- Nhu cầu sử dụng đất
Nhu cầu đất đai của xã được xác định dựa trên cơ sở nhu cầu đất đai của các xóm, theo mục đích sử dụng vào sản xuất nông lâm nghiệp, cho thổ cư, đất chuyên dùng hoặc sử dụng cho các mục đích khác Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất của xã và những căn cứ quy hoạch, phương án quy hoạch phân bố các loại đất cho các mục đích sử dụng ở xã Minh Đức được tổng hợp ở bảng 3.12
Qua bảng này cho thấy trong kỳ quy hoạch diện tích đất nông nghiệp giảm đi 20,37 ha do chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất xây dựng khu công nghiệp, diện tích giảm chủ yếu ở đối tượng cây hàng năm Diện tích đất lâm nghiệp hầu như không thay đổi Diện tích đất chuyên dùng tăng lên do quy hoạch đất thổ cư và đất khu công nghiệp, diện tích này chu chuyển từ đất đồi núi chưa sử dụng và núi đá không có rừng cây
Bảng 3.13:Cơ cấu sử dụng đất giai đoạn 2013 đến 2020
Tổng diện tích tự nhiên 1834,91 100,00 1834,91 100,00 1834,91 100,00
1.3 Đất trồng cây hàng năm khác BHK 35,13 1,915 49,02 3,8 50,2 4,05
1.4 Đất trồng cây lâu năm CLN 136,48 7,438 64,12 4,99 64,12 5,17
1.7 Đất rừng sản xuất RSX 190,94 10,41 190,94 14,86 190,94 15,41
1.8 Đất nuôi trồng thủy sản TSN 160 8,72 160 12,45 160 12,91
1.10 Đất nông nghiệp khác NKH 17,51 0,954 50 3,8 52 4,2
2 Đất phi nông nghiệp PNN 509,87 27,79 550,05 29,97 560,07 30,52
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp CTS 0,53
2.5 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh SKC 67,65 3,687 68,65 12,48 68,65 12,26
2.6 Đất sản xuất vật liệu xây dựng SKX - 20,5 3,72 35,6 6,36
2.8 Đất di tích danh thắng DDT - 0,5 0,09 0,5 0,9
2.9 Đất xử lý, chôn lấp chất thải DRA - 2 0,36 2 0,36
2.10 Đất tôn giáo, tín ngưỡng TTN 6,99 0,381 6,99 1,27 6,99 1,25
2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 12,73 0,694 13,73 2,5 15,64 2,79
2.12 Đất có mặt nước chuyên dùng SMN
2.14 Đất phát triển hạ tầng DHT 230,94 12,59 238,17 43,3 254,69 45,47
2.15 Đất phi nông nghiệp khác PNK -
2.16 Đất chưa sử dụng DCS 5,2 0,283 0
2.17 Đất khu du lịch DDL -
2.18 Đất khu dân cư nông thôn DNT 164,92 8,988 169,4 30,8 172 30,71
3.5.3 Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp xã Minh Đức