1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la

98 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu, Đề Xuất Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Đất Tại Xã Chiềng Bôm, Huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La
Tác giả Vũ Văn Thuận
Người hướng dẫn TS. Hà Quang Khải
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 790,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đất đai, các nghị định, quyết định để quản lý đất đai; Các chính sách hỗ trợ, vay vốn ưu đãi để đầu tư sản xuất; Quy hoạch các vùng nguyên liệu chuyên canh như cà phê, chè, cao su, mía,

Trang 1

Tr-ờng Đại học lâm nghiệp

Vũ Văn Thuận

Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm, huyện thuận châu,

tỉnh sơn la

Chuyên ngành: Lâm nghiệp

Mã số:

luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp

Hà nội - năm 2010

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là địa bàn sống và tổ chức các hoạt động sản xuất đặc biệt là các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiêp, là tư liệu sản xuất đặc biệt của con người

Mặc dù đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng nhưng trong những năm gần đây

do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho diện tích đất canh tác giảm, hiệu quả sử dụng đất thấp, chất lượng đất suy giảm, một trong những nguyên nhân chính là:

- Dân số ngày một gia tăng cùng với đó nhu cầu nhà ở ngày một nhiều vì thế gây sức ép nên diện tích đất canh tác

- Chuyển mục đích sử dụng đất do nhu cầu chuyển từ đất canh tác sang xây dựng đường giao thông, công nghiệp, …

- Do sự phát triển của công nghiệp cùng với việc xử lý chất thải kém hiệu quả gây ô nhiễm môi trường đất làm cho đất không còn khả năng sản xuất

- Tình trạng chặt phá rừng bừa bãi gây ra hiện tượng lũ lụt làm cho đất bị sạt lở, xói mòn, rửa trôi, bạc màu mất khả năng sản xuất

- Sử dụng đất tùy tiện của con người, nhiễm mặn, nhiễm phèn, tình trạng sa mạc hoá cũng làm giảm diện tích đất canh tác

- Ngoài ra còn rất nhiều nguyên nhân khác làm giảm hiệu quả sử dụng đất như

sử dụng đất không đúng kỹ thuật, không có sự đầu tư về phân bón, giống mới, lựa chọn

cơ cấu cây trồng không phù hợp, thị trường tiêu thụ sản phẩm không ổn định , nói chung người sử dụng đất mới chỉ biết khai thác đất

Nhìn một cách tổng quát và toàn diện, diện tích đất dùng cho sản xuất của Việt Nam rất ít và hạn chế, điều này đòi hỏi phải quản lý sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người

Đứng trước thực trạng đó, nhận rõ vai trò, trách nhiệm cũng như thách thức trong vấn đề quản lý sử dụng đất, Đảng và nhà nước ta đã tăng cường công tác quản lý

và thực hiện nhiều chương trình để nâng cao hiệu quả sử dụng đất Như ban hành luật

Trang 3

đất đai, các nghị định, quyết định để quản lý đất đai; Các chính sách hỗ trợ, vay vốn ưu đãi để đầu tư sản xuất; Quy hoạch các vùng nguyên liệu chuyên canh như cà phê, chè, cao su, mía, cây nguyên liệu giấy …; Quy hoạch sử dụng đất các cấp để cân đối hài hoà việc sử dụng đất giữa hiện tại và tương lai; Nghiên cứu tuyển chọn các giống mới

có năng suất cao để phục vụ cho sản xuất; Chương trình khuyến nông, khuyến lâm chuyển giao, hướng dẫn kỹ thuật cho người dân; Đầu tư nghiên cứu các mô hình sử dụng đất hiệu quả để làm cơ sở khuyến cáo nhân rộng … Tất cả điều này đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất của Việt Nam

Xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La là một xã của vùng núi Tây Bắc có 4 dân tộc sinh sống ( Thái, H'mông, Kháng, Khơ mú) với dân số 5315người, có tổng diện tích đất tự nhiên là 9.218,4ha và có nền kinh tế sản xuất nông nghiệp truyền thống Nguồn thu nhập của người dân trong xã dựa vào canh tác nông lâm nghiệp là chính, nhưng sử dụng đất của xã còn nhiều hạn chế do phong tục tập quán cũng như tình trạng sử dụng đất một cách tuỳ tiện không có quy hoạch, không có cơ sở nên hiệu quả sử dụng đất thấp làm cho đời sống của đồng bào nơi đây gặp nhiều khó khăn Vì vậy nghiên cứu về tình hình quản lý sử dụng đất của xã Chiềng Bôm là rất cần thiết và

cấp bách Để tìm hiểu về vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã Chiềng Bôm, huyện Thuận Châu, Tỉnh Sơn La” với mong muốn sẽ tìm ra những giải pháp hữu

hiệu giúp người dân trong xã Chiềng Bôm quản lý sử dụng đất hiệu quả, bền vững để nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống, đồng thời kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là

cơ sở để huyện Thuận Châu áp dụng tiến hành triển khai nghiên cứu các xã khác để nâng cao hiệu quả sử dụng đất của toàn huyện

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tài nguyên đất thì có hạn, đất dùng cho sản xuất ngày càng bị thu hẹp Đặt biệt tài nguyên rừng và đất rừng bị tàn phá nghiêm trọng, có những khu rừng rộng lớn phương Bắc chưa từng có người đặt chân đến trước đây nay đang trở thành đối tượng khai thác gỗ Nhiều khu rừng nguyên sinh vùng ôn đới ở hầu hết các nước công nghiệp đang tiếp tục bị biến mất hoặc bị phá huỷ Rừng mưa nhiệt đới đang bị thu hẹp với tốc

độ 15 triệu ha mỗi năm bởi nhu cầu của con người như lấy đất canh tác, gỗ, thực phẩm, năng lượng, khai khoáng Sự phá huỷ rừng đồng nghĩa với phá huỷ tính đa dạng sinh học trên bề mặt trái đất, góp phần làm tăng thêm các chất khí gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển và còn dẫn đến hiện tượng xói mòn đất, sa mạc hoá diễn ra nghiêm trọng Tính bình quân, hàng năm trên thế giới mất đi khoảng 12 tỷ tấn đất do xói mòn, với lượng đất này có thể sản xuất 50 triệu tấn lương thực Hàng ngàn hồ chứa nước ở vùng nhiệt đới bị cạn dần và tuổi thọ của nhiều công trình thuỷ điện bị giảm sút [5] Phá rừng còn đe doạ đời sống biết bao nhiêu con người khi mà rừng cung cấp cho họ lương thực, thực phẩm, nơi ở, việc làm Trong khi tài nguyên đất có hạn thì nhu cầu sử dụng đất, nhu cầu lương thực và thực phẩm của con người ngày một tăng điều đó đòi hỏi các nước phải có chiến lược nâng cao hiệu quả sử dụng đất Vì vậy vấn đề “ Sử dụng đất hiệu quả và bền vững” thực tế đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất lâu, dưới nhiều góc độ khác nhau

1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, mô hình SDĐ đầu tiên ở miền núi là du canh, một kiểu SDĐ nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conkli, 1957) Đây được xem là một phương thức canh tác cổ xưa nhất, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên Cho mãi đến gần đây du canh vẫn còn được vận dụng trên các rừng Vân Sam ở Bắc Âu (Cox và Atlinss, 1979; Ruddle và Manshard, 1981) Mặc dù có nhiều mặt hạn chế về mặt môi trường, song phương thức này vẫn được sử dụng khá phổ biến ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, về

Trang 5

chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan Quốc tế coi trọng bởi du canh được coi như là sự lãng phí về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân gây nên xói mòn, thoái hoá đất và dẫn đến tình trạng sa mạc hoá Thật vậy, phá rừng để SDĐ làm nương rẫy trong một giai đoạn rồi di chuyển sang một khu rừng khác có thể là lãng phí nếu ta nhận thức rừng chỉ có giá trị duy nhất

là gỗ (Grinnell, 1977, arca, 1987) [19]

Sau du canh là sự ra đời của các phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới Taungya được đánh giá như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức SDĐ sau này (Nair, 1987) Năm 1906 ở Myanmar, ông U.Pankle cho người dân trồng rừng Tếch

(Tectona grandis) và cho phép người nông dân được trồng xen cây nông nghiệp ngắn

ngày khi rừng chưa khép tán Đây là phương pháp mà ông gọi là Taungya Sau đó ông truyền lại phương thức này cho nhà cai trị người Anh tại Ấn Độ là Dictrich Brandis, ông này cho đây là phương thức có hiệu quả để gây trồng rừng Tếch (Blanford, 1958) Sau đó hai thập kỷ, hệ thống canh tác Taungya được cải tiến, sửa đổi, hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là hệ thống SDĐ có hiệu quả về kinh tế lẫn môi trường sinh thái

Như vậy, có thể thấy du canh là một hệ thống canh tác trong đó các loài cây nông nghiệp và lâm nghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau, còn Taungya bao gồm sự kết hợp đồng thời cả hai loại cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng Đứng trên quan điểm quản lý SDĐ thì cả hai quá trình trên đều có một điểm tương đồng là những cây nông nghiệp được sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được cải thiện chính nhờ những loài cây gỗ đã trả lại lớp thảm mục cho đất

Winfried E.H.Blum (1998) cho rằng, có hai khái niệm cần phải làm rõ khi tìm hiểu về SDĐ, đó là: đất đai (land) và đất (soil)

Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (landscape ecology), đất đai

được coi là vật mang của hệ sinh thái Đất đai được định nghĩa đầy đủ là: Một mảnh

đất được xác định về mặt địa lý, là diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính

Trang 6

tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như là không khí, đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghĩa tới việc sử dụng mảnh đất đó của con người hiện tại và trong tương lai (Christian và Stewart, 1968 và Brinkman, 1973)

Từ định nghĩa trên, có thể hiểu đơn giản: đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội như thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật,

và hoạt động sản xuất của con người

Theo Do-cu-trai-ep (1846), đất là một thể tự nhiên hoàn toàn độc lập, có quá trình phát sinh, phát triển và được hình thành do tác động tổng hợp của 5 nhân tố:

đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật và thời gian Đất kết hợp với sức lao động của con người sẽ tạo ra của cải vật chất mang lại sự phồn vinh cho xã hội

Blum (1998) cho rằng, một định nghĩa nào đó về SDĐ chỉ dựa trên nền nông nghiệp là không hoàn chỉnh, bởi vì có ít nhất 5 kiểu SDĐ khác tác động qua lại mang tính cạnh tranh với đất nông nghiệp theo không gian và thời gian Vì vậy, tác giả này

đã định nghĩa SDĐ là việc sử dụng đồng thời về mặt không gian hoặc thời gian tất cả

những chức năng, mặc dù những chức năng đó không luôn luôn được kết hợp trên cùng một diện tích nào đó cho trước Định nghĩa trên đây đã được chấp nhận trên thế

giới và được luận văn vận dụng trong việc xây dựng quan điểm và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vai trò của chính sách Nhà nước đối với hiệu quả SDĐ phải kể đến: Hirch (1995), Deder (1991), Pearce(1993) Theo các tác giả này, nếu quyền sở hữu, quyền SDĐ không được xác định rõ thì chẳng những không khuyến khích được người nông dân đầu tư vào các biện pháp bảo vệ đất, mà còn có thể đẩy họ đến chỗ khai thác huỷ diệt tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích kinh tế trước mắt

Trang 7

Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của kiến thức bản địa, của luật tục, mối quan hệ huyết thống, quan hệ làng bản, hương ước trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền sở hữu/sử dụng tài nguyên (Laslo Pancel, 1993)

Về mặt phương pháp luận trong nghiên cứu các hệ thống canh tác theo Robert chambers (1985) có các cách tiếp cận sau đây:

- Tiếp cận Sondeo của Peter Hidelbrand (1981)

- Tiếp cận ‘’ nông thôn - trở lại - nông thôn ‘’ của Robert Rhoades (1982)

- Tiếp cận “ Chuẩn đoán và thiết kế ‘’của ICRAF (Rainee)

- Công trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo vùng các hệ thống canh tác của trường Đại học Cornel (Garrell và cộng sự 1987)

Nhìn chung các tiếp cận này đều xem đánh giá nông nghiệp như một quá trình liên tục và cơ sở khoa học của các phương pháp tiếp cận này là cùng tham gia và lấy người dân làm chủ, thiết kế các biện pháp trồng cây nông nghiệp, lâm nghiệp cải tạo đồng cỏ chăn nuôi

Năm 1967 và 1969 FAO đã quan tâm đến phát triển Nông lâm kết hợp (NLKH)

và đi đến một sự thống nhất đúng đắn “Áp dụng biện pháp NLKH là phương thức tốt nhất để SDĐ rừng nhiệt đới một cách hợp lý nhằm giải quyết vấn đề lương thực, thực phẩm và sử dụng lao động dư thừa đồng thời thiết lập cân bằng môi trường sinh thái” [7]

Về nghiên cứu hệ thống canh tác, FAO (1990) xuất bản cuốn “Phát triển hệ thống canh tác” Công trình đã nêu lên một số phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, đã không phát huy tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn Thông qua nghiên cứu và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới trong SDĐ - Phương pháp tiếp cận có sự tham gia trên

cơ sở sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên Về mặt phương pháp luận đây là phương pháp nhằm thu hút người dân vào lĩnh vực quản lý SDĐ hợp lý lâu bền

Trang 8

Một trong những thành công cần được đề cập đó là việc các nhà khoa học của Trung tâm phát triển nông thôn Bapstit Minđanao Philippiness đã tổng hợp, hoàn thiện

và phát triển từ những năm 1970 đến nay những mô hình kỹ thuật canh tác đất dốc SALT (Slopping Agricultural Land Technology) Trải qua một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, đến năm 1992 các nhà khoa học đã cho ra đời 4 mô hình tổng hợp

về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận

+ Mô hình SALT 1 (Slopping Agricultural Land Technology): Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc

+ Mô hình SALT 2 (Simple Agro-Livestock Technology): Kỹ thuật nông- súc đơn giản

+ Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro-Forest Land Technology): Kỹ thuật canh tác Nông - Lâm kết hợp bền vững

+ Mô hình SALT 4 (Small Agro-Fruit Livehood Technology): Kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp kết hợp với cây ăn quả ở quy mô nhỏ

Sau khi các mô hình này được ghi nhận thì nhiều nước trên thế giới đã áp dụng

hệ thống canh tác này

Malaysia kết hợp chăn nuôi gà và cừu dưới rừng cao su và cây họ dầu, đã tăng thêm về thịt, mỡ, tăng lượng phân bón cho đất và giảm công làm cỏ

Ở Thái Lan để SDĐ hiệu quả, nhà nước đã có chủ trương phát triển theo

mô hình NLKH, kết quả đã thành công trong các nông trường trồng ngô, dứa ở vùng Hang Khoai, tạo ra các khu rừng hỗn giao gồm nhiều tầng: Rừng+cỏ, rừng+cây họ đậu

ở KhonKaen [44]

Ở Indonexia từ năm 1972, việc chọn đất để trồng cây lâm nghiệp đều do công ty Lâm nghiệp Nhà nước tổ chức Nông dân được cán bộ của Công ty hướng dẫn trồng cây nông nghiệp, lâm nghiệp sau khi trồng cây nông nghiệp hai năm người dân bàn giao lại rừng cho Công ty, họ toàn quyền sử dụng sản phẩm nông nghiệp Cũng ở Inđônêxia, trên đất có độ dốc nhỏ hơn 220 được trồng cây hàng năm với các biện pháp chống xói mòn như đắp bờ, trồng cây theo đường đồng mức, trồng băng phân xanh, trên đất dốc 20-300 trồng cây lâu năm và cây ăn quả

Trang 9

Năm 1985 một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về quy hoạch SDĐ được tổ chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình quy hoạch SDĐ với bốn câu hỏi:

1/ Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch là gì ?

2/ Có các phương pháp SDĐ nào?

3/ Phương pháp nào là tốt nhất?

4/ Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?

Dent(1988) [45] khái quát quy hoạch SDĐ trên 3 cấp khác nhau và mối quan hệ của các cấp: kế hoạch SDĐ cấp quốc gia, cấp vùng (tỉnh, huyện) và cấp cộng đồng (xã, thôn) Dent đã có công trong việc khái quát và định hướng quy hoạch và SDĐ cấp địa phương

Từ cuối thập niên 70 vấn đề quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) có sự tham gia được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố kết quả Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có

sự tham gia (PRA), phương pháp phân tích hệ thống canh tác cho QHSDĐ được nghiên cứu rộng rãi Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo giữa trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và trường Tổng hợp Kỹ thuật Dresden, vấn đề QHSDĐ có sự tham gia đã được Holm Uibrig đề cập một cách khá đầy đủ và toàn diện [52] Trong tài liệu này tác giả đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các vấn đề có liên quan như: quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ

Như vậy cho ta thấy, trên đây là những nghiên cứu nổi bật trên thế giới có liên quan đến vấn đề SDĐ nông lâm nghiệp, hệ thống SDĐ, hệ thống canh tác, hệ thống cây trồng cùng phương pháp tiếp cận trong sử dụng đất Điều đó chứng tỏ rằng vấn đề SDĐ đã được các nước, các nhà khoa học nghiên cứu, nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau nhưng cùng chung mục đích là sử dụng đất hiệu quả và bền vững Đây là cơ

sở khoa học để đề tài vận dụng vào nghiên cứu sử dụng đất của xã Chiềng Bôm

Trang 10

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến SDĐ lâm nông nghiệp

Chế độ quản lý đất đai của nhà nước Việt Nam trước đây được đánh dấu bằng chính lịch sử phát triển của đất nước, từ triều đại nhà Hồ (thế kỷ thứ 15) với các chính sách hạn điền, đinh điền và quân điền

Từ thời kỳ Pháp thuộc các nhà khoa học Pháp đã thực hiện các công trình nghiên cứu đánh giá SDĐ trên quy mô rộng lớn

Giai đoạn năm 1955 - 1975, công tác điều tra, phân loại đất đã được tổng hợp một cách có hệ thống, phân loại đất miền Bắc (1959) có 5 nhóm và 18 đơn vị, sau đó được bổ xung có cơ sở hơn (V.M Fridland 1964) gồm 5 nhóm và 28 đơn vị Phân loại đầu tiên đất miền Nam (F.R Moorman 1960) có 7 nhóm và 25 đơn vị Xung quanh chủ

đề phân loại đất còn có nhiều công trình khác nhau triển khai thực hiện trên các vùng sinh thái (Ngô Nhật Tiến, 1986; Đỗ Đình Sâm, 1994 ) Những thành tựu về nghiên cứu đất đai trong những giai đoạn này là cơ sở quan trọng góp phần bảo vệ, cải tạo, quản lý và SDĐ đai có hiệu quả trên toàn quốc

Trong tài liệu “SDĐ tổng hợp và bền vững’’ của Nguyễn Xuân Quát năm 1996, tác giả đã nêu ra những điều cần biết về đất đai, phân tích tình hình SDĐ cũng như các

mô hình SDĐ tổng hợp và bền vững, mô hình khoanh nuôi và phục hồi rừng Việt Nam Đồng thời tác giả đã đưa ra các hệ thống SDĐ và cách tiếp cận, bước đầu đề xuất tập đoàn cây trồng thích hợp cho các mô hình SDĐ tổng hợp bền vững [24]

Trong công trình ‘‘Đất rừng Việt Nam”[2], Nguyễn Ngọc Bình đã đưa ra các quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng trên cơ sở những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam

Đối với tài nguyên đất dốc, tác giả Phạm Chí Thành, Lê Thanh Hà, Phạm Tiến Dũng đã nghiên cứu về sử dụng hợp lý tài nguyên đất dốc ở Văn Yên, tỉnh Yên Bái Công trình nghiên cứu đi vào hướng cải tiến hệ thống canh tác truyền thống như chọn giống cây trồng, chọn hệ thống canh tác, chọn luân kỳ canh tác, chọn phương thức trồng xen, để tìm ra hệ thống trồng trọt tối ưu có nhiều lợi nhuận, bảo vệ môi trường [36]

Trang 11

Lý thuyết về phát triển hệ thống canh tác, năm 1995, người dịch Trần Đức Viên,

Lê Trọng Cúc được xem như là tài liệu thực hành nhằm phổ biến một cách có hiệu quả cách tiếp cận và phát triển hệ thống canh tác, đặc biệt là phương pháp tiếp cận nhằm phát triển hệ thống nông trại và cộng đồng nông thôn trên cơ sở bền vững [7]

Về luân canh tăng vụ, trồng xen, gối vụ để sử dụng hợp lý đất đai đã được nhiều tác giả đề cập tới: Trần Đức Viên, Đỗ Văn Hoà, Trần Văn Diễn, Trần Quang Tộ [40] Phạm Văn Chiểu (1964), Bùi Huy Đáp (1977), Vũ Tuyên Hoàng (1987), Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn Trọng Bình (1987), Bùi Quang Toản (1991) Những mô hình cơ cấu cây trồng chính được nghiên cứu như mô hình nương rẫy cải tiến, mô hình cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, NLKH, mô hình tổng hợp SDĐ theo quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững

Năm 1996, trong công trình “Quy hoạch SDĐ nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta”, Bùi Quang Toản đã đề xuất cần phải mở rộng đất nông nghiệp ở vùng đồi núi và trung du [39]

Nghiên cứu về chuyển đổi hệ thống canh tác trên vùng sinh thái đồi núi dốc tỉnh Sơn La của Nguyễn Tiến Mạnh và Lê Thế Hoàng-Viện kỹ thuật nông nghiệp đã nhấn mạnh cần đưa hệ thống canh tác tiến bộ và sử dụng hợp lý đầy đủ đất đồi núi dốc dưới góc độ bảo vệ, bồi dưỡng đất, bảo vệ môi trường sinh thái gắn liền với hệ thống nông nghiệp bền vững đồng thời phải xem xét dưới góc độ xã hội [18]

Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu trong quản lý và SDĐ lâu bền được Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên đề xuất trong tài liệu “ Đất đồi núi Việt Nam thoái hoá và phục hồi”, các tác giả đã nêu rõ tính bền vững trong SDĐ đồi núi gồm 3 phương diện: sự bền vững kinh tế, bền vững môi trường và sự chấp nhận xã hội trong

đó 5 thuộc tính cần được xem xét là tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận [30] Đồng thời tác giả đã đưa ra các biện pháp tổng hợp

sử dụng hiệu quả đất đồi núi trên cơ sở sinh thái bền vững gồm các nhóm biện pháp chính bảo vệ đất như: Nhóm biện pháp công trình, nhóm biện pháp sinh học, nhóm biện pháp canh tác Tác giả tổng kết đưa ra hệ thống canh tác bền vững, hệ thống cây trồng SDĐ có hiệu quả, một số mô hình NLKH hợp điển hình ở các tỉnh Lạng Sơn, Hà

Trang 12

Giang, Yên Bái Đồng thời tác giả giới thiệu một số giống mới và cây bản địa thích hợp cho vùng đồi núi như: Các giống lúa, ngô, khoai tây, đỗ tương, lạc, cây ăn quả [32]

Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội của Trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm về hệ thống SDĐ

và đề xuất một số hệ thống, kỹ thuật SDĐ bền vững trong điều kiện Việt Nam [12] Trong đó các tác giả đã đi sâu phân tích về:

- Quan điểm về tính bền vững

- Khái niệm về tính bền vững và phát triển bền vững

- Hệ thống SDĐ bền vững

- Kỹ thuật SDĐ bền vững

- Chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống, kỹ thuật SDĐ

Năm 1997, Nguyễn Tiến Bân đã nghiên cứu cơ sở khoa học phục hồi hệ sinh thái vùng cao núi đá Cao Bằng bằng các cây gỗ quý bản địa Kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra giải pháp xây dựng mô hình là phục hồi cây chè Khôm quy mô vườn rừng trên núi đá vôi và phục hồi sinh thái rừng suy thoái trên núi đá vôi bằng cây Mắc Rặc [4]

Ở nước ta những nghiên cứu về phát triển hệ thống NLKH đã trở thành nội dung quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp trên đất dốc Năm 1997 Hoàng Hoè, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình đã tổng kết mô hình NLKH ở Việt Nam Công trình đã tổng hợp đánh giá hiệu quả và khả năng áp dụng trong điều kiện cụ thể của mỗi vùng [10]

Luận án tiến sỹ của Nguyễn Bá Ngãi đã nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam Qua kết quả nghiên cứu tác giả đã xác định được khả năng áp dụng, trình tự

và phương pháp qui hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã, trong đó phương pháp PRA (Participatory Rural Appraisal) thường được áp dụng phổ biến trong quy hoạch SDĐ [20]

Trang 13

Trong tài liệu tập huấn về QHSDĐ và giao đất lâm nghiệp có sự tham gia, Trần Hữu Viên (1997) đã kết hợp phương pháp QHSDĐ trong cả nước và của một số dự án Quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự án ở Việt Nam [42] Ở đây tác giả đã trình bày khái niệm và những nguyên tắc chỉ đạo QHSDĐ và giao đất có sự tham gia

Vấn đề hệ thống chính sách, những quy định về quản lý SDĐ, cũng như hệ thống quản lý đất các cấp được đề cập khá đầy đủ và chi tiết trong “Tóm tắt báo cáo khảo sát đợt một về Lâm nghiệp xã hội” (1998) do nhóm luật và chính sách của Trường Đại học Lâm nghiệp tiến hành [35] Tài liệu tập huấn “Những quy định và chính sách về quản lý đất đai” của Trần Thanh Bình (1997), các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại và nghề rừng (1997) [5], đề tài KX - 08 - 03 nghiên cứu về “ Các chính sách, biện pháp hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế nông thôn” [3]

Những năm gần đây đã có một số chương trình dự án vận dụng phương pháp QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia để QHSDĐ lâm nông nghiệp cho xã, thôn, hộ gia đình ở nước ta: Chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng Sông Hồng VIE/89/032 vẫn đang nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng Nội dung quan trọng nhất của dự án này là phát triển hệ thống cây trồng nâng cao hiệu quả SDĐ nông nghiệp từ năm1993 đến 2010

Chương trình hợp tác về lâm nghiệp giữa Việt Nam và Thuỵ Điển (1991-1995)

đó là chương trình FCP ở 5 tỉnh: Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Hà Giang, Yên Bái và Lào Cai; 5 dự án lâm nghiệp cấp trang trại tỉnh (FLFP) được thành lập trực thuộc sở Nông - Lâm nghiệp tỉnh (AFD) Một số dự án hỗ trợ khác như: Phổ cập, quản lý SDĐ, phát triển kinh doanh và nghiên cứu Chương trình này được coi là một cách tiếp cận có sử dụng đánh giá nhanh nông thôn có hiệu quả [6]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dơn (1999) [8] các điều kiện để thực hiện PRA: Cơ chế chính sách của Chính phủ và địa phương cho phép sử dụng phương pháp

có sự tham gia; các thành viên trong nhóm PRA phải hiểu biết lẫn nhau, cảm nhận thoải mái và thân thiện; các thành viên trong nhóm gặp gỡ người dân, tạo mối quan hệ qua lại để có thể hoà nhập, học hỏi về phong tục tập quán, cách sống và thói quen; cần

Trang 14

phải giải thích rõ ràng để người dân nắm được mục đích và yêu cầu của công việc và tham gia tích cực vào hoạt động đó Trước khi thực hiện PRA nhất thiết phải thu thập

và nghiên cứu kỹ các tài liệu sẵn có của thôn bản

Đề tài: " Nghiên cứu xây dựng mô hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế và phòng hộ cho vùng sung yếu ven hồ Sông Đà" được thực hiện năm 2002 - 2004 của Đặng Thịnh Triều và các cộng tác viên thuộc phòng kỹ thuật lâm sinh - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Kết quả sau 3 năm thực hiện, đề tài đã xây dựng được 24ha mô hình sử dụng đất dốc liên hoàn từ mép nước lên đỉnh dông trên diện tích đất xã Tân Phong, huyện Phù Yên, Tỉnh Sơn La, cụ thể gồm các mô hình sau[41]

- Mô hình vườn hộ trồng cây ăn quả, diện tích 3ha

- Mô hình rừng hỗn giao các loài cây lá rộng bản địa, luồng diện tích 7ha

- Mô hình nông lâm kết hợp trên đất dốc, diện tích 7ha

- Mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng có trồng bổ sung, diện tích 7ha Cây trong các mô hình có tỷ lệ sống cao từ 80 - 90%, cây sinh trưởng phát triển tốt đem lại hiệu quả kinh tế tương đối cao, đồng thời đề tài đã làm thay đổi nhận thức của người dân trong khu vực về xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững gồm cây lâm nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây nông nghiệp Mô hình đã được các hộ gia đình chấp nhận, được sự đồng tình ủng hộ của chính quyền địa phương, thông qua các hoạt động của đề tài

Đề tài: "Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật trồng rừng và xây dựng mô hình thử nghiệm các loài Keo, Lát mêxicô và Thông caribê tại Tây Bắc" thực hiện năm 2004 -

2008 của Tân Văn Phong - Trung tâm khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây Bắc, thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam Đề tài đã xây dựng được 25 ha mô hình [30] Cụ thể như sau

- Năm 2004 xây dựng mô hình tại xã Chiềng Bôm - huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La với diện tích 10 ha, bao gồm 4 ha Thông caribê, 3 ha Keo lai các dòng (BV10, BV16, BV32), 3 ha Lát mêhicô

Trang 15

- Năm 2005 xây dựng mô hình tại Lâm trường Tuần Giáo - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên với diện tích 15 ha, bao gồm 9 ha Thông caribê, 3 ha Keo lai các dòng (BV10, BV16, BV32), 3 ha Lát mêhicô

Kết quả sau 4 năm thực hiện đề tài cho thấy loài Thông caribê, Keo lai (các dòng BV10, BV16, BV32) tương đối phù hợp với điều kiện vùng Tây Bắc Còn cây Lát mêhicô sinh trưởng phát triển kém, hay bị sâu đục thân, chết khô và không phù hợp với điều kiện vùng Tây Bắc

Luận văn Thạc sỹ của Tạ Thị Thắm thực hiện năm 2003 về " Nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong sử dụng đất trên địa bàn thôn/bản, xã Chiềng Hặc và Chiềng Khoi, huyện Yên Châu, Tỉnh Sơn La" Đề tài đã lựa chọn tổng số 22 bản của 2 xã để nghiên cứu (16 bản của xã Chiềng Hặc, 6 bản của xã Chiềng Khoi), kết quả đề tài đã tìm hiểu được những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi trong sử dụng đất dưới sự tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đồng thời trên cơ sở

đó đã đề xuất các giải pháp giúp việc quản lý sử dụng đất của 2 xã đặt hiệu quả cao[31]

Như vậy những dẫn chứng ở trên cho thấy vấn đề quản lý, sử dụng đất của nước

ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau vừa về mặt phương pháp luận, vừa là những giải pháp cụ thể cho SDĐ lâm nông nghiệp bền vững như là sử dụng đất tổng hợp và bền vững; chọn lọc cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp; canh tác đất dốc; quy hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp; nông lâm kết hợp Tuy nhiên những nghiên cứu này vẫn chưa đủ, vấn đề tìm ra các giải pháp SDĐ có hiệu quả cho từng vùng, từng khu vực và mỗi địa phương là việc làm quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nông thôn giai đoạn hiện nay Xã Chiêng Bôm huyện Thuận Châu diện tích đất đai rộng, dân số đông và sống chủ yếu nhờ vào canh tác nông lâm nghiệp nhưng cuộc sống của người dân cò nhiều khó khăn do quá trình sử dụng đất của

xã còn nhiều hạn chế vì vậy việc vận dụng cơ sở khoa học nghiên cứu sử dụng đất hiệu quả và bền vững của các nhà khoa học vào nghiên cứu sử dụng đất của xã Chiềng Bôm

là rất thiết thực

Trang 16

1.2.2 Những văn bản chính sách có liên quan đến SDĐ nông lâm nghiệp

Đối với vấn đề quản lý và sử dung đất, song song với việc nghiên cứu các vấn

đề về kỹ thuật thì việc nghiên cứu về các cơ chế chính sách cũng được quan tâm nghiên cứu trên cơ sở đó ban hành các văn bản pháp lý giúp việc quản lý sử dụng đất được ổn định

Điều quan trọng nhất Nhà nước đã ban hành Luật đất đai năm 2003 Đây chính

là cơ sở, hành lang pháp lý để quản lý vấn đề quản lý sử dụng đất [16]

Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 19 tháng 8 năm 1991 và luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004 Đây là cơ sở để giúp việc quản lý bảo vệ, phát triển rừng đạt hiệu quả cao.[17]

Ngoài 2 bộ luật trên nhà nước ban hành rất nhiều các nghị định, quyết định giúp việc quản lý, sử dụng đất đặt hiệu quả cao Cụ thể đó là

- Nghị định 163/1999/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 16 tháng 11 năm 1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [21]

- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTG ngày 21 tháng 12 năm 1998 về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp[26]

- Quyết định số 661/QĐ-TTG ngày 29/7/1998 của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng[25]

- Quyết định số 380/QĐ-TTG ngày 20/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng [27]

- Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.[22]

Ngoài ra Nhà nước, các cấp, các ngành ra rất nhiều các quyết đinh, nghị quyết, văn bản, chính sách có liên quan đến quản lý sử dụng đất

Như vậy những luật, quyết định, nghị quyết, văn bản, chính sách có liên quan ở trên là cơ sở pháp lý giúp việc quản lý sử dụng đất hiệu quả

Trang 17

CHƯƠNG II: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu của đề tài

* Mục tiêu tổng quát

Việc nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp góp phần

ổn định và cải thiện cuộc sống của người dân xã Chiềng Bôm

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu, đề tài tiến hành nghiên cứu một số nội dung sau:

(1) Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã liên quan đến quản lý,

- Quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) cấp trên

(3) Nghiên cứu tình hình sử dụng đất của xã

- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và tiềm năng đất đai của xã

- Sơ đồ lát cắt sử dụng đất của xã

- Phân tích lịch mùa vụ của xã

- Đánh giá lựa chọn cây trồng vật nuôi

Trang 18

- Đánh giá hiệu quả một số mô hình sử dụng đất của xã

- Đánh giá những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức việc SDĐ của xã

(4) Đề xuất các giải pháp giúp SDĐ của xã hiệu quả và bền vững

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Quan điểm phương pháp luận

Sử dụng đất là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ những hoạt động của con người tác động vào đất nhằm thực hiện mục đích của mình

Sử dụng đất đạt hiệu quả (Hiệu quả được đánh giá, xem xét trên 3 khía cạnh hiệu quả kinh tế cao, hiệu quả xã hội - được xã hội chấp nhận, hiệu quả sinh thái – bền vững

về môi trường sinh thái) và bền vững đáp ứng được mục tiêu trước mắt và lâu dài

Sử dụng đất chịu sự chi phối và nằm trong mối quan hệ của rất nhiều các yêu tố,

vì vậy sử dụng đất được coi như là một hệ thống Đã là một hệ thống thì mang đầy đủ các đặc điểm chung của 1 hệ thống đó là

Ngoài ra hệ thống sử dụng đất còn có những đặc điểm riêng của nó đó là

- Đất được coi là đối tượng tác động

Trang 19

thành và phát triển của xã; điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội; các tổ chức quản lý và

sử dụng đất; phong tục tập quán của người dân; giá cả; chính sách, pháp luật …để trên

cơ sở đó phân tích, đề xuất các giải pháp quản lý sử dụng đất bền vững

Có thể tóm lược sơ đồ nghiên cứu như sau

Sơ đồ nghiên cứu của đề tài

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

a) Kế thừa số liệu

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan đến đề tài

- Tài liệu về điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã ( vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình, dân số, thu nhập, lao động, cơ sở hạ tầng, văn hóa, giáo dục …)

- Tài liệu các loại văn bản về chính sách, pháp luật qui định liên quan đến quản lý sử dụng đất như: Luật đất đai, luật bảo vệ tài nguyên rừng, nghị định 163/1999/NĐ-CP,

Phân tích các lĩnh vực ảnh hưởng đến SDĐ

của xã

Phân tích kết quả tìm các nhân tố tác động

chính

Đề xuất các giải pháp thực hiện

Trang 20

quyết định 245/1998/QĐ-TTG, quyết định 661/QĐ-TTG, Quyết định 380/QĐ-TTG, nghị quyết 30a/2008/NQ-CP

+ Tài liệu về quy hoạch sử dụng dụng đất cấp huyện Thuận Châu đối với xã

+ Thu thập các loại bản đồ của xã như bản đồ hiện trạng, bản đồ địa hình

+ Tài liệu về phát triển nông – lâm nghiệp, phát triển kinh tế của xã

+ Tài liệu về hiện trạng sử dụng đất của xã

+ Tài liệu về khuyến nông, khuyến lâm của xã ( cơ cấu cây trồng vật nuôi, kỹ thuật, lịch mùa vụ …)

+ Tài liệu về phân công trách nhiệm của các tổ chức trong xã

+ Báo cáo hoạt động sản xuất của xã năm 2009

b) Thu thập số liệu thực tế

Dựa vào tài liệu thứ cấp để phân tích, tổng hợp, đánh giá một cách tổng quát một số vấn đề cần phải điều tra thực tế để xác minh, bao gồm:

- Khảo sát hiện trạng sử dụng đất, ranh giới các loại đất trên thực địa

- Khảo sát thị trường giá cả ở khu vực xã và huyện Thuận Châu

- Dùng công cụ RRA ( Đánh giá nhanh nông thôn) để phỏng vấn thu thập số liệu có liên quan đến đề tài Số người được phỏng vấn để thu thập thông tin là 30 người đại diện nhất cho xã Cụ thể các số liệu cần phỏng vấn để thu thập bao gồm:

+ Xác định những khó khăn, thuận lợi của điều kiện kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng đất của xã đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã

+ Ảnh hưởng của các tổ chức xã hội của xã có ảnh hưởng đến quản lý SDĐ, đối tượng phỏng vấn cán bộ của các tổ chức xã hội trong xã

+ Tìm hiểu phong tục, tập quán của các dân tộc có ảnh hưởng đến SDĐ về cách thức quản lý, sử dụng, bảo vệ đất, khai thác đất Đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã của các dân tộc

+ Quá trình thực thi và ảnh hưởng các chính sách, pháp luật của nhà nước ảnh hưởng đến SDĐ, đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã

+ Tìm hiểu giá cả thị trường các loại hàng hoá nông sản của xã, xem xét ảnh hưởng của chúng đến sử dụng đất, đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã

Trang 21

+ Tìm hiểu về quy hoạch sử dụng đất của cấp trên có ảnh hưởng đến tình hình SDĐ của xã, đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã

+ Thu thập thông tin về cơ cấu cây trồng, mùa vụ sản xuất của từng loại cây trồng như gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch để xây dựng lịch mùa vụ, đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã

+ Tìm hiểu về mức độ chấp nhận của người dân đối với các mô hình sử dụng đất, đối tượng phỏng vấn là người dân, cán bộ xã

+ Dùng phương pháp phân tích SWOT để tìm hiểu về những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức việc sử dụng đất của xã trên cơ sở phỏng vấn người dân và cán

♦ Độ pHH2O; pHkCl được xác định bằng máy đo độ pH

♦ Độ chua trao đổi E lđl / 100 g đất được xác định theo phương pháp đai

- ku - ha - ra

♦ Mùn % được xác định theo phương pháp chi - u - rin

♦ Đạm tổng số %, P205 được xác định bằng phương pháp so màu; xác định K20 bằng phương pháp so độ đục

♦ Dung trọng (g/cm3) được xác định bằng phương pháp ống dung trọng

Trang 22

- Đánh giá lựa chọn cây trồng vật nuôi

Dùng công cụ RRA để phỏng vấn người dân thu thập các thông tin cần thiết, số người được phỏng vấn là 30 người

Đánh giá phân loại cây trồng, vật nuôi trong đề tài sử dụng phương pháp Matrix

đó là dùng công cụ RRA để phỏng vấn một nhóm người dân cân bằng về giới cho việc lựa chọn, đánh giá cây trồng vật nuôi Phương pháp Matrix là một biểu mà hàng trên cùng ghi các loại cây trồng, vật nuôi của địa phương, cột bên trái là các tiêu chí đánh giá cây trồng vật nuôi Các ô còn lại dành để ghi kết quả đánh giá các tiêu chí cho từng cây, con Kết quả đánh giá cho một tiêu chí cao nhất là 10 điểm, thấp nhất là 1 điểm Hàng cuối cùng ghi tổng số điểm đánh giá tổng hợp từ các tiêu chí và mức độ ưu tiên nuôi, trồng các loại cây trồng, vật nuôi

Các tiêu chí chung để lựa chọn cây trồng, vật nuôi được người dân đưa ra để thảo luận, lựa chọn đánh giá là

+ Dễ kiếm giống: người sản xuất có thể tự sản xuất ra cây giống hoặc mua một cách dễ dàng

+ Dễ trồng: kỹ thuật trồng đơn giản, tỷ lệ sống cao

+ Phù hợp với điều kiện khu vực: Đánh giá mức độ sinh trưởng, khả năng cho năng xuất của cây trồng

+ Dễ bán sản phẩm: Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhiều, nhiều mgười mua, có thể bán sản phẩm ngay tại nhà

+ Nhanh thu hoạch: Đánh giá chu kỳ kinh doanh ngắn hay thời gian cho thu hoạch ngắn

Trang 23

+ Hiệu quả kinh tế cao: Đánh giá lợi nhuận thu được sau 1 chu kỳ kinh doanh + Ít sâu bệnh: Khả năng chống chịu sâu bệnh hại

+ Đầu tư ít: Chi phí, đầu tư cho sản xuất ít

+ Người dân ưa thích: Đánh giá mức độ chấp nhận hay ưa thích của người dân đối với cây trồng

+ Đa tác dụng: Đánh giá khả năng cho số lượng sản phẩm của cây trồng nhiều hay ít hay đánh giá tác dụng của cây trồng

+ Tác dụng phòng hộ: đó chính là vai trò bảo vệ đất, nước của cây trồng

+ Tác dụng cải tạo đất: Khả năng cại tạo hay trả lại chất dinh dưỡng cho đất Tuỳ theo từng loại cây trồng, vật nuôi khác nhau mà sử dụng những chỉ tiêu đánh giá một cách linh hoạt và hợp lý

- Điều tra độ tàn che của các mô hình sử dụng đất bằng phương pháp 100 điểm theo quy trình điều tra trong lâm học

- Điều tra độ che phủ của các mô hình sử dụng đất bằng cách điều tra theo ô tiêu chuẩn dạng bản Ở mỗi mô hình lập 5 ô tiêu chuẩn dạng bản (4 ô ở 4 góc, 1 ô ở giữa) mỗi ô

có diện tích 1m2 để điều tra, sau đó lấy trị số trung bình

- Điều tra khối lượng vật rơi rụng của các mô hình sử dụng đất bằng cách điều tra theo

ô tiêu chuẩn dạng bản Ở mỗi mô hình lập 5 ô tiêu chuẩn dạng bản (4 ô ở 4 góc, 1 ô ở giữa) mỗi ô có diện tích 1m2 để điều tra, sau đó lấy trị số trung bình 1m2 (kg/m2) rồi đổi ra đơn vị tấn/ha

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Đề xuất các giải pháp giúp việc SDĐ của xã hiệu quả và bền vững

Từ việc nghiên cứu, phân tích các tư liệu, số liệu thu thập được, sẽ tìm ra những khiếm khuyết của việc sử dụng đất của địa phương ( đó là những tồn tại trong cách quản lý; phong tục, tập quán; chính sách, pháp luật, quy hoạch sử dụng đất, hiện trạng

sử dưụng đất, lựa chọn cây trồng vật nuôi ) trên cơ sở đó sẽ đề xuất những giải pháp hợp lý để sử dụng đất hiệu quả và bền vững

- Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất

Đánh giá hiệu quả kinh tế theo 2 phương pháp:

Trang 24

+ Phương pháp động:

Coi các yếu tố về chi phí và kết quả có mối quan hệ động với nhân tố thời gian

Các chỉ tiêu kinh tế được tính toán bằng hàm: NPV, BCR, IRR

♦ Giá trị hiện tại thuần tuý NPV (Net Present Value): Là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi

đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại

r

C B NPV

)(

Trong đó: Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng);

Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng);

r : Tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất(%)

NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình hay các phương thức canh tác

NPV < 0 thì mô hình lỗ

NPV = 0 thì mô hình hoà vốn

NPV > 0 thì mô hình có lãi, NPV càng cao thì hiệu quả sản xuất càng cao

và ngược lại

♦ Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR (Interal rate of return): Đây là chỉ tiêu đánh

giá khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi đó tỷ lệ chiết khấu i được xác định là tỷ lệ thu hồi nội bộ ( NPV = 0 thì i = IRR)

Trang 25

IRR được tính theo tỷ lệ %, chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả kinh

tế và khả năng thu hồi vốn của các hoạt động sản xuất IRR càng lớn thì hiệu quả càng cao, khả năng thu hồi vốn càng nhanh

♦ Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR (Benefit to Cost Ration):

BCR: là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất

CPV BPV r

Ct r

)1(

Trong đó: BPV (Benefit Present Value): Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)

CPV (Cost Present Value): Giá trị hiện tại của chi phí (đồng)

Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng);

Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng);

r : Tỷ lệ chiết khấu hay lãi xuất(%)

Nếu mô hình canh tác nào có:

BCR >1: Mô hình có hiệu quả kinh tế, giá trị BCR càng lớn hơn 1 thì giá trị kinh tế càng cao

BCR <1: Kinh doanh không hiệu quả

- Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp

Hiệu quả tổng hợp được đánh giá trên 3 mặt hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Để đánh giá hiệu quả tổng hợp của các phương thức canh tác chỉ

số hiệu quả tổng hợp các phương thức canh tác (Ect) của W.Rola (1994)

n

x f

f hoac f

f f

f hoac f

f Ect

n

)(

)

max 1

Trang 26

Trong đó Ect là chỉ số hiệu quả tổng hợp Nếu Ect = 1 thì phương thức canh tác

có hiệu quả tổng hợp cao nhất Phương thức nào có Ect càng gần 1 thì hiệu quả tổng hợp càng cao

f là các đại lượng tham gia vào tính toán

n là tổng số đại lượng tham gia vào tính toán

- Tính toán dân số cho năm quy hoạch

Sử dụng công thức

t

V P N

1001(0

Trong đó: Nt - Dân số năm quy hoạch

N0 - Dân số năm hiện tại

P- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên V- Tỷ lệ tăng dân số cơ học

n - Số năm dự tính (kể từ năm hiện trạng đến năm định hình quy hoạch)

- Số hộ gia đình trong tương lai được tính theo công thức:

0 0

H x N

N

t Trong đó: Ht : Số hộ năm tương lai

H0: Số hộ năm hiện trạng;

Nt, N0 dân số tương ứng với năm quy hoạch và hiện tại

Trang 27

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của xã liên quan đến quản lý, sử dụng đất

3.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lí, ranh giới hành chính

Xã Chiềng Bôm nằm phía Tây Nam của huyện Thuận Châu, trung tâm xã cách thị trấn huyện 10 km

+ Phía Bắc giáp xã Phỏng Lập, xã Phỏng Lăng

+ Phía Nam giáp xã Cò Mạ, xã Nậm Lầu

+ Phía Đông giáp xã Long Hẹ, xã Cò Mạ

+ Phía Tây giáp xã Chiềng Ly, xã Púng Tra

b Địa hình

Có địa hình dốc và chia cắt mạnh Điển hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, có nhiều ngọn núi cao trên 1000 m so với mực nước biển, xen kẽ với các dãy núi là các thung lũng, phiêng bãi, ruộng nước nhỏ có địa hình tương đối bằng phẳng phục vụ cho canh tác nông nghiệp của người dân Độ cao trung bình khoảng 650- 700 m so với mặt nước biển

Độ đốc trung bình 20 - 220

c Đất đai thổ nhưỡng

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã 9218,40ha Đất được hình thành chủ yếu trên

đá mẹ phiến thạch sét và một phần đá sa thạch, bao gồm 2 loại chính, đó là:

+ Đất Ferelít nâu vàng phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét, sa thạch, tầng đất trung bình

+ Đất Feralít dốc tụ tại các yên ngựa và các khe suối có tầng đất dày, độ phì tương đối cao

Nhìn chung đất đai của xã Chiềng Bôm phù hợp với nhiều nhóm cây trồng, nhưng phần lớn diện tích đang bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn phá và tập quán

Trang 28

canh tác lạc hậu, quảng canh ‘‘bóc lột’’ đất Hiện nay xã có 4.456,44ha đất chưa sử dụng, trong đó 3445,26ha đất đồi núi bị thoái hoá, bạc màu mất khả năng canh tác và 1.011,18ha núi đá Do vậy cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao hiệu qủa sử dụng đất

- Lượng mưa trung bình khoảng 1.371,8 mm/năm, phân bố không đều trong năm

và hình thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa kéo dài 6 tháng (từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm) chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm, mùa khô kéo dài 6 tháng ( từ tháng

10 đến tháng 3 năm sau) chiếm khoảng 20% tổng lượng mưa cả năm

- Độ ẩm không khí bình quân hàng năm là 80%, độ ẩm và lượng bốc hơi phụ thuộc vào từng thời điểm khác nhau trong năm Mùa mưa lượng bốc hơi không đáng kể

và độ ẩm đất cao, ngược lại mùa khô lượng bốc hơi cao hơn lượng mưa nhiều lần, độ

e Thuỷ Văn

Hệ thống thuỷ văn chỉ là các mó nước và suối nhỏ ( bao gồm các con suối nhỏ như suối Nhộp, suối Liệp, suối Bứa, suối Huổi Min, suối Huổi Tát, suối Nậm Bôm) đây là nguồn cung cấp nước chính cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất của toàn xã

Trang 29

Tuy nhiên do địa hình cao, chia cắt nên hệ thống suối, mó nước phân bố không đều, mặt nước thấp hơn so với mặt đất canh tác và các điểm dân cư vì vậy khả năng khai thác nước phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của nhân dân còn hạn chế, đặc biệt vào mùa khô

Từ những phân tích ở trên cho thấy điều kiện tự nhiên đã ảnh hưởng đến quản lý,

sử dụng đất của xã rất nhiều

- Thuận lợi

+ Xã có tổng diện tích đất tự nhiên rất rộng 9.218,4ha, trong đó nhiều diện tích

có thể khai thác đưa vào sản xuất

+ Điều kiện khí hậu thuận lợi để phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt các loài cây công nghiệp, cây ăn quả (Cà phê, Xoài, Nhãn) và các loại cây nông nghiệp ngắn ngày ( Lúa, Ngô, Sắn, Khoai sọ, Lạc, Đậu tương)

+ Với những ưu ái về cảnh quan môi trường, khu rừng đặc dụng gồm nhiều chủng loại động vật phong phú, quý hiếm là những tiềm lực phát triển ngành du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

+ Hệ thống sông, suối ít, phân bố không đều, có mặt nước thấp hơn so với mặt bằng đất sản xuất nên không dự trữ được nước trong mùa mưa để cung cấp cho mùa khô

Trang 30

+ Lượng mưa phân bố không đều, chia làm 2 mùa rõ rệt Mùa khô không đủ nước cung cấp cho sinh hoạt và sản xuất gây ra hạn hán, đất đai cằn cỗi, cây trồng sinh trưởng kém, năng suất cây trồng giảm Mùa mưa thừa nước gây ra xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng, lũ quét, lũ ống gây khó khăn cho các hoạt động sản xuất, mất đất sản xuất, làm tắc ngẽn giao thông

3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội

a Dân số, dân tộc, lao động

Theo số liệu thống kê, tính đến tháng 3/2010 xã Chiềng Bôm có 30 bản với thành phần dân tộc, dân số, lao động như sau

- Có 1009 hộ với 5315 nhân khẩu trung bình 5,26người/hộ, trong đó nam 2637 người chiếm 49,61%, nữ là 2678 người chiếm 50,31%

- Số người trong độ tuổi lao động là 3758 người chiếm 70,70% dân số của toàn

- Xã có 4 dân tộc sinh sống, bao gồm: Dân tộc Thái sinh sống ở 19 bản với dân

số 3144 người chiếm 59,15%, dân tộc Kháng sinh sống ở 8 bản với dân số 1821 người chiếm 34,26%, dân tộc H'mông sinh sống ở 2 bản với 273 người chiếm 5,14%, dân tộc Khơ Mú tập trung sinh sống ở 1 bản với dân số 77 người chiếm 1,45%

Như vậy trong xã chủ yếu dân tộc Thái và Kháng chiếm 93,41%, số người trong

độ tuổi lao động tương đối cao chiếm đến 70,70% dân số toàn xã

Trong những năm qua, do nhận thức của người dân về vấn đề dân số và kế hoạch hoá gia đình từng bước được nâng cao, nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của xã đã giảm nhiều so với trước nhưng vẫn ở mức khá cao là 2,2% Vì vậy trong thời gian tới cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến các chương trình kế hoạch hoá gia đình đến người dân để họ thực sự hiểu và làm chủ được vấn đề kế hoạch hoá gia đình từ đó dần dần giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống mức thấp khoảng 1,5%

b Thực trạng phát triển kinh tế

Xã Chiềng Bôm có nền kinh tế truyền thống, chủ yếu sản xuất nông – lâm nghiệp Trong những năm gần đây đã có những bước phát triển đáng kể Cụ thể là

Trang 31

- Trồng trọt

Theo số liệu thống kê, kết quả sản xuất trồng trọt của xã Chiềng Bôm năm 2009 được thể hiện ở biểu sau

Biểu 3.1 Kết quả sản xuất trồng trọt của xã Chiềng Bôm năm 2009

( Nguồn: Ban Địa chính nông - lâm nghiệp xã cung cấp)

Số liệu ở biểu trên cho thấy, năm 2009 dện tích trồng cây nông nghiệp ngắn ngày của toàn xã là 1.112,05ha với tổng sản lượng đạt 8.811,38ha Như vậy đối với đất sản xuất nông nghiệp ngắn ngày, diện tích bình quân 0,21ha/người, sản lượng đạt 1,65tấn/người/năm và thu nhập bình quân đạt 4.590.000đ/người/năm

6 tháng đầu năm 2010 xã Chiềng Bôm đã tiến hành trồng được 1.112,05ha cây nông nghiệp ngắn ngày Trong đó cây Lúa nước 71,31ha, Lúa nương là 23,17ha, Ngô 816,35ha, Sắn 150,67ha, Lạc 5,45ha, Đậu tương 7,50ha, Khoai sọ 15,76ha, Khoai sọ xen đậu tương 11,32ha, Khoai sọ xen Lạc 10,52ha

Trang 32

- Cây công nghiệp, cây ăn quả

Đến năm 2010, tổng diện tích cây công nghiệp, cây ăn quả của xã 153,49ha Trong đó

+ Diện tích cà phê 30ha đang cho thu hoạch với năng suất 10,545tấn/ha/năm và sản lượng đạt 316,350tấn/năm

+ Cây ăn quả Xoài + Mận 81,3ha với năng suất 11tấn/ha/năm và sản lượng đạt 894,3tấn/năm

+ Ngoài ra còn 42,19ha cây lâu năm khác như cây Mơ, Nhãn, Chè cũng đang cho thu hoạch nhưng năng suất và sản lượng rất thấp

- Chăn nuôi

Năm 2009 xã Chiềng Bôm có:

+ Đàn Trâu Bò có 1504 con, chủ yếu để cày kéo và lấy thịt

Diện tích rừng tự nhiên bảo vệ và tận thu các nguồn lâm sản phụ dưới tán rừng là 3213,53ha Trong đó rừng phòng hộ 1.759,13ha, rừng đặc dụng 1.454,40ha

- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ

Do đặc thù của xã miền núi, người dân sản xuất chủ yếu là nông lâm nghiệp nên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gần như chưa phát triển, hiện tại chỉ có một

số cơ sở hoạt động xay xát, dệt thổ cẩm, thủ công nhỏ lẻ phục vụ nhu cầu tại chỗ cho nhân dân địa phương Về hoạt động thương mại dịch vụ, bắt đầu có chiều hướng phát triển với sự xuất hiện của một số điểm thu mua nông sản và hàng quán phục vụ hàng tiêu dùng cho nhân dân trong xã

Trang 33

c Cơ sở hạ tầng

- Giao thông

Hệ thống giao thông của xã nhìn chung còn rất khó khăn Đường từ tỉnh lộ 108 đến trung tâm xã dài 6km rải đá cấp phối mới làm xong năm 2007, còn đường từ trung tâm xã đi tới các bản là đường đất nhỏ, chất lượng mặt đường kém và không được duy

tu bảo dưỡng thường xuyên nên vào mùa mưa nhiều tuyến đường trơn trượt, sạt lở gây khó khăn cho việc đi lại

- Thuỷ lợi

Hệ thống thuỷ lợi của xã chưa được đầu tư xây dựng, chỉ có một số phai đập nhỏ

do người dân tự xây dựng bằng các vật liệu có sẵn mang tính tạm thời để ngăn nước ở các khe suối cung cấp cho các diện tích ruộng manh mún, bậc thang, đến mùa lũ thường bị hỏng và phải làm lại, hiệu quả kinh tế thấp

- Điện và thông tin liên lạc

Hiện tại 7/30 bản trong xã vẫn chưa có điện lưới quốc gia, đây là một hạn chế không nhỏ đến việc tiếp cận thông tin liên lạc và các tiến bộ khoa học của người dân

Hệ thống thông tin liên lạc của xã với một trạm bưu điện văn hoá và 70% diện tích có phủ sóng điện thoại di động đáp ứng tốt nhu cầu liên lạc của người dân

- Giáo dục

Xã Chiềng Bôm có 1 trường trung học cơ sở và 1 Trường tiểu học được xây dựng kiên cố nằm ở trung tâm xã, còn 4 trường tiểu học bán kiên cố nằm ở các điểm bản Đội ngũ giáo viên hầu hết được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn, nhiệt tình Tuy nhiên, xã chưa có trường phổ thông trung học nên học sinh học cấp 3 phải học tại thị trấn huyện do vậy hàng năm số học sinh học cấp 3 của xã ít, chiếm khoảng 10 - 15% tổng số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở

- Y tế

Có 1 trạm y tế xã, với đội ngũ y bác sĩ và trang thiết bị y tế còn thiếu thốn chưa đáp ứng đủ nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân

Trang 34

Như vậy, từ những phân tích ở trên cho thấy điều kiện kinh tế xã hội có những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến quản lý, sử dụng đất

+ Đời sống kinh tế của đại bộ phận người dân còn gặp nhiều khó khăn vì thế họ thiếu vốn đầu tư cho sản xuất (cây giống, phân bón)

+ Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ chưa phát triển, chưa mang lại nhiều nguồn thu nhập cho người dân vì thế ảnh hưởng gián tiếp đến sử dụng đất đó là sức ép về đất sản xuất

3.2 Nghiên cứu một số lĩnh vực ảnh hưởng đến sử dụng đất của xã

Sử dụng đất được khẳng định như là một hệ thống, đã là một hệ thống thì nó bao gồm nhiều bộ phận hợp thành, mang tính chất đa ngành và chịu tác động tổng hợp của

Trang 35

nhiều yếu tố Điều đặc biệt quan trọng là mỗi hệ thống sử dụng đất được xác định bởi thời gian, không gian cụ thể và gắn với những đặc điểm của chúng đó là điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Như vậy việc sử dụng đất ở mỗi địa phương, tại mỗi thời điểm là khác nhau và chúng bị tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố, một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng nhiều đến việc quản lý sử dụng đất đó là: Chính sách, pháp luật; các tổ chức xã hội; phong tục, tập quán của người dân; thị trường tiêu thụ sản phẩm; quy hoạch sử dụng đất của các cấp Vì vậy khi sử dụng đất chúng ta cần phải xem xét ảnh hưởng của từng yếu tố này trên cơ sở đó phát huy điểm mạnh và hạn chế điểm yếu của từng yếu tố có như vậy việc quản lý sử dụng đất mới đạt hiệu quả cao và bền vững

3.2.1 Ảnh hưởng của chính sách, pháp luật đến sử dụng đất

- Luật đất đai năm 1993 và luật sửa đổi bổ sung một số điều luật đất đai năm 1998,

2003

Trong luật này quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện làm chủ sở hữu, ngoài ra còn quy định các vấn đề liên quan đến sử dụng đất ( như quyền hạn, trách nhiệm của các cấp quản lý đất đai; trách nhiệm, quyền hạn của các chủ sử dụng đất ) đây chính là căn cứ pháp lý để nhà nước quản lý, sử dụng đất đồng thời để cho các chủ sử dụng đất thực hiện đúng quyền hạn và nghĩa vụ

Xã đã phối hợp với các ngành chức năng thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất và quản lý sử dụng đất của xã

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 19 tháng 8 năm 1991 và luật sửa đổi bổ sung một

số điều Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH11 ngày 03/12/2004

Trong luật quy định rất rõ các vấn đề liên quan đến bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng như: Quyền của Nhà nước đối với rừng; nô ̣i dung quản lý nhà nước về

bảo vê ̣ và phát triển rừng; trách nhiê ̣m quản lý nhà nước về bảo vê ̣ và phát triển rừng; nguyên tắc bảo vê ̣ và phát triển rừng; chính sách của Nhà nước về bảo vê ̣ và phát triển

rừ ng; quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng Đây là căn cứ pháp lý để nhà nước quản

lý, bảo vệ và phát triển rừng đồng thời để các chủ rừng thực hiện đúng chức năng, quyền hạn và nghĩa vụ

Trang 36

Xã đã phối hợp với các ngành chức năng thực hiện việc quản lý, bảo vệ rừng và đất rừng trên địa bàn xã theo đúng chức năng, quyền hạn được quy định trong luật

- Nghị định 163/1999/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 16 tháng 11 năm 1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Thực hiện nghị định này của chính phủ từ năm 2001 - 2004 toàn bộ diện tích đất lâm nghiệp 3388,45ha của xã đã giao cho các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức, cộng đồng bản quản lý, bảo vệ với thời hạn giao là 50 năm, để giúp các chủ rừng yên tâm đầu tư, phát triển, quản lý và bảo vệ vốn rừng

- Quyết định số 245/1998/QĐ-TTG ngày 21 tháng 12 năm 1998 về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp

Quyết định đã quy định rõ vai trò, trách nhiệm quản lý nhà nước của các cấp từ trung ương đến địa phương về rừng và đất lâm nghiệp

Thực hiện quyết định này, xã đã giao cho các phòng, ban của xã ( như ban địa chính- nông lâm nghiệp, cán bộ kiểm lâm địa bàn, công an xã ) phối hợp cùng thực hiện việc quản lý rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn xã Nhờ vậy, toàn bộ diện tích rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn được quản lý tốt

- Quyết định số 661/QĐ-TTG ngày 29/7/1998 của Thủ tướng chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

Nhiệm vụ của chương trình là bảo vệ có hiệu quả vốn rừng hiện có, đồng thời trồng mới 5 triệu ha rừng để nâng cao độ che phủ cũng như chức năng, giá trị của rừng

Với nguồn vốn của dự án 661, xã đã phối hợp cùng với các đơn vị triển khai dự

án ( như Khu bảo tồn thiên nhiên Côpia, Ban quản lý rừng phòng hộ Thuận Quỳnh huyện Thuận Châu) thực hiện tốt việc bảo vệ và phát triển vốn rừng của xã Cu thể là:

+ Hàng năm các chủ rừng trong xã nhận được tiền công quản lý, bảo vệ rừng là 50.000đ/ha/năm Tuy số tiền nhà nước trả công quản lý, bảo vệ cho các chủ rừng rất ít

Trang 37

nhưng đã khuyến khích được tinh thần trách nhiệm của các chủ rừng trong việc quản

lý, bảo vệ rừng vì vậy mà rừng trên địa bàn xã được quản lý, bảo vệ tốt

+ Trồng rừng được 174,82ha Trong đó rừng trồng sản xuất 46,71ha với loài cây chủ yếu là Trẩu, Keo lai, Thông mã vĩ và rừng trồng phòng hộ 128,21ha Thông mã vĩ

- Quyết định số 380/QĐ-TTG ngày 20/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng

Chương trình thực hiện thí điểm chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở 2 tỉnh Lâm Đồng, Sơn La trong năm 2010

Tại tỉnh Sơn La chương trình thực hiện tại 8 huyện và 1 thành phố thuộc lưu vực Sông Đà ( huyện Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Phù Yên, Bắc Yên, Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La và Thành phố Sơn La)

Nhiệm vụ của chương trình là rà soát lại giao đất, giao rừng về diện tích và trạng thái để làm cơ sở cho việc chi trả dịch vụ môi trường rừng

Năm 2010, xã Chiềng Bôm đã được thực hiện xong việc rà soát giao đất, giao rừng và đang đợi chương trình chi trả tiền đến người dân

Chương trình chỉ chi trả những diện tích rừng có trạng thái từ IIa trở lên, với mức chi trả khoảng 136.000đ/ha Như vậy với chính sách này đã tăng cường trách nhiệm của các chủ rừng trong việc quản lý, bảo vệ diện tích rừng của mình được tốt hơn

- Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo

Năm 2010, các cơ quan triển khai nghị quyết đang thực hiện trên địa bàn xã Chiềng Bôm các hộ gia đình nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng được hưởng tiền công 200.000đ/ha/năm

Như vậy để thực hiện việc quản lý sử dụng đất được hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các luật, quyết định, nghị quyết khác nhau làm cơ sở pháp lý cho các cấp, các ngành, các chủ sử dụng đất phối hợp triển khai thực hiện

Trang 38

3.2.2 Ảnh hưởng của các tổ chức xã hội đến sử dụng đất

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện làm chủ sở hữu, Nhà nước trao quyền sử dụng cho các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các quyết định giao, cho thuê đất Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất, đại diện cho nhà nước quản lý sử dụng đất trực tiếp ở địa phương Để thực hiện chức năng này, xã có rất nhiều các ban, ngành, tổ chức điều hành quản lý và chi phối vấn đề quản lý, sử dụng đất Cụ thể là

a) Uỷ ban nhân dân (UBND) xã

- Chịu trách nhiệm chung về quản lý sử dụng đất của toàn xã

- Thường xuyên họp phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước đến các chủ sử dụng đất của các bản thông qua các trưởng bản

- Có trách nhiệm xây dựng định hướng phát triển kinh tế xã hội có liên quan đến sử dụng đất, trên cơ sở định hướng phát triển kinh tế xã hội của cấp huyện

- Lập quy hoạch, kế hoạch sử đất trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc quản lý sử dụng đất của các chủ sử dụng đất trong xã

- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

- Phối hợp cùng với các đơn vị triển khai thực hiện quản lý, bảo vệ rừng làm các hợp đồng giao khoán bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng giữa các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong xã

- Chỉ đạo các bản xây dựng và thực hiện quy ước quản lý, bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn xã phù hợp với pháp luật hiện hành, hiện nay 28/30 bản đã xây dựng quy ước quản lý, bảo vệ rừng

- Thường xuyên phối hợp với các đơn vị chức năng ( như kiểm lâm, công an ) để quản lý sử dụng đất và rừng của xã

Trang 39

b) Ban địa chính - nông lâm nghiệp xã

- Là bộ phận trực tiếp giúp UBND xã quản lý sử dụng đất của xã

- Đã quản lý hồ sơ địa chính về đất đai thông qua các quyết định, các loại bản đồ, sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ địa chính, sổ mục kê

- Phối hợp với các ban ngành chức năng đã giao đất, giao rừng cho các chủ sử dụng đất

- Theo dõi biến động đất đai, tài nguyên rừng qua các năm

- Thống kê, kiểm kê đất đai, tài nguyên rừng

- Giải quyết các tranh chấp về đất đai, rừng

- Kiểm tra, giám sát, thực hiên các dự án và các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp trong

- Tuyên truyền các luật, chính sách liên quan đến quản lý sử dụng đất cho người dân như luật bảo vệ và phát triển rừng, luật đất đai

c) Ban khuyến nông

- Thường xuyên hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật và chuyển giao khoa học kỹ thuật về nông nghiệp đến các hộ gia đình như kỹ thuật canh tác ngô, đậu tương, chăn nuôi dê

- Đã xây dựng các mô hình thử nghiệm sản xuất như mô hình giống Ngô lai, Khoai sọ, Đậu tượng, chăn nuôi bò

- Dịch vụ vật tư sản xuất đã cung ứng giống cây trồng, phân bón và các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh hại

d) Kiểm lâm viên địa bàn xã

Có nhiệm vụ, chức năng quản lý, bảo vệ rừng đồng thời theo dõi diễn biến về rừng, đất lâm nghiệp trên địa bàn

Xử lý vi phạm về rừng và đất lâm nghiệp

Xã có 1 cán bộ kiểm lâm địa bàn, mà diện tích của xã lại rộng vì vậy công tác quản lý rừng và đất rừng còn gặp nhiều khó khăn

Trang 40

e) Hội nông dân

- Hội nông dân ở các bản đã nhận đất và rừng để quản lý, bảo vệ, tổ chức các hoạt động sản xuất

- Đã thường xuyên họp để trao đổi kinh nghiệm về quản lý sử dụng đất, tổ chức sản xuất giữa các chi hội của các bản trong toàn xã

- Hội đã tự tổ chức gây quỹ hỗ trợ sản xuất để hỗ trợ các thành viên trong nhóm có điều kiện phát triển sản xuất với mức lãi suất thấp

f) Hội phụ nữ

- Hội phụ nữ ở các bản đã nhận đất và rừng để quản lý, bảo vệ và tổ chức các hoạt động sản xuất

- Hội đã vận động phụ nữ thực hiện kế hoạch hoá gia đình để giảm tỷ lệ sinh

- Thường xuyên họp để trao đổi kinh nghiệm về quản lý sử dụng đất, tổ chức sản xuất giữa các chi hội của các bản trong toàn xã

- Hội có thể tự tổ chức gây quỹ hỗ trợ sản xuất để hỗ trợ các thành viên trong nhóm có điều kiện phát triển sản xuất với mức lãi suất thấp

g) Hội cựu chiến binh

- Hội cựu chiến binh ở các bản đã nhận đất và rừng để quản lý, bảo vệ, tổ chức các hoạt động sản xuất

- Thường xuyên họp để trao đổi kinh nghiệm vêvquản lý sử dụng đất, tổ chức sản xuất giữa các chi hội của các bản trong toàn xã

- Hội có thể tự tổ chức gây quỹ hỗ trợ sản xuất để hỗ trợ các thành viên trong nhóm có điều kiện phát triển sản xuất với mức lãi suất thấp

h) Đoàn thanh niên

- Đoàn thành niên ở các bản đã nhận đất và rừng từ nhà nước để quản lý, bảo vệ và tổ chức các hoạt động sản xuất

- Là lực lượng lòng cốt trong sản xuất và tuyên truyền các chủ chương, chính sách, pháp luật của nhà nước

- Trao đổi kinh nghiệm quản lý sử dụng đất giữa các thành viên của nhóm trong toàn

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu trờn cho thấy đất xó Chiềng bụm cú độ dốc tương đối lớn gõy khú khăn cho quỏ trỡnh quản lý sử dụng đất, với 47,17% diện tớch của xó cú độ dốc từ  25-450 , tiếp đến là độ dốc 15 - 250 chiếm 28,7%, độ dốc &gt; 450  chiếm 14,65% và độ dốc  &lt;1 - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng s ố liệu trờn cho thấy đất xó Chiềng bụm cú độ dốc tương đối lớn gõy khú khăn cho quỏ trỡnh quản lý sử dụng đất, với 47,17% diện tớch của xó cú độ dốc từ 25-450 , tiếp đến là độ dốc 15 - 250 chiếm 28,7%, độ dốc &gt; 450 chiếm 14,65% và độ dốc &lt;1 (Trang 55)
Bảng số liệu trờn cho thấy, với 9 tiờu chớ đưa ra để đỏnh giỏ, lựa chọn cõy nụng nghiệp lõu năm thỡ Cà phờ cú số điểm cao nhất với 76 điểm, tiếp đến là cỏc cõy Xoài  (73điểm), Mận (70điểm), Nhón (68điểm) và thấp nhất cõy Mơ với 63điểm - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng s ố liệu trờn cho thấy, với 9 tiờu chớ đưa ra để đỏnh giỏ, lựa chọn cõy nụng nghiệp lõu năm thỡ Cà phờ cú số điểm cao nhất với 76 điểm, tiếp đến là cỏc cõy Xoài (73điểm), Mận (70điểm), Nhón (68điểm) và thấp nhất cõy Mơ với 63điểm (Trang 64)
Bảng 3.9: Đỏnh giỏ, lựa chọn cõy lõm nghiệp - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng 3.9 Đỏnh giỏ, lựa chọn cõy lõm nghiệp (Trang 65)
MH Thụng mó  - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la
h ụng mó (Trang 73)
Bảng số liệu ở trờn cho thấy, mụ hỡnh Mắc khộn đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với  NPV  =  8.343.000đ/ha/năm,  tiếp  theo  là  cỏc  mụ  hỡnh:  Trỏm  cú  NPV  =  7.142.000đ/ha/năm;  Keo  lai  cú  NPV  =  5.440.000đ/ha/năm;  Trẩu  cú  NPV  =  5.196.000đ/ha/n - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng s ố liệu ở trờn cho thấy, mụ hỡnh Mắc khộn đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với NPV = 8.343.000đ/ha/năm, tiếp theo là cỏc mụ hỡnh: Trỏm cú NPV = 7.142.000đ/ha/năm; Keo lai cú NPV = 5.440.000đ/ha/năm; Trẩu cú NPV = 5.196.000đ/ha/n (Trang 73)
Bảng số liệu trờn cho thấy, mụ hỡnh Cà phờ + Xoài đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với  NPV  =  21.860.000đ/ha/năm,  tiếp  theo  là  mụ  hỡnh  Cà  phờ  cú  NPV  =  18.008.000đ/ha/năm, thấp nhất mụ hỡnh Xoài + Mận với NPV= 15.745.000đ/ha/năm - Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại xã chiềng bôm huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng s ố liệu trờn cho thấy, mụ hỡnh Cà phờ + Xoài đạt hiệu quả kinh tế cao nhất với NPV = 21.860.000đ/ha/năm, tiếp theo là mụ hỡnh Cà phờ cú NPV = 18.008.000đ/ha/năm, thấp nhất mụ hỡnh Xoài + Mận với NPV= 15.745.000đ/ha/năm (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w