1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực hiện dự án 661 tại huyện cao lộc tỉnh lạng sơn làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất chính sách phát triển rừng bền vững

201 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 201
Dung lượng 3,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ những thành công và hạn chế của DA đề tài đã tổng kết thành bài học kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo cho các cơ quan trong công tác qui hoạch sử dụng đất đai, xây dựng DA, phát triển

Trang 1

- -

TRÇN V¡N CéNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN 661 TẠI HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2009

Trang 2

- -

TRÇN v¨n céng

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN 661 TẠI HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH

Trang 3

độ che phủ của rừng nâng lên được 37,7% năm 2008, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế nông thôn miền núi

Từ năm 2005 trở về trước, ranh giới 3 loại rừng chưa được phân định một cách rõ ràng, việc trồng rừng theo DA 661, RPH và RSX còn nhiều chồng chéo, thực tế vẫn còn tình trạng vốn đầu tư trồng rừng phòng hộ đem trồng vào lâm phận rừng sản xuất Đối với công tác quản lý chưa được chặt chẽ, từ khi có Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp và quy hoạch lại 3 loại rừng, việc trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ đã đi vào hệ thống cụ thể

Cao Lộc là một trong những huyện nằm trong vùng DA 661 của tỉnh Lạng Sơn Tại đây, do có sự chuyển đổi từ Chương trình 327 nên DA được triển khai thực hiện từ khá sớm Kết quả thực hiện của DA đã góp phần nâng cao độ che phủ của huyện từ 34,0 % vào năm 1999 lên 50,9% năm 2008 Là huyện miền núi giáp biên giới Trung Quốc, có diện tích đất trống đồi núi trọc tương đối lớn, phân bố ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, thuộc khu vực phòng hộ xung yếu và cực kỳ xung yếu Vì vậy, DA 661 có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc thúc đẩy trồng RSX, phòng hộ đầu nguồn vùng biên, khoanh nuôi phục hồi tự nhiên, phòng chống xói mòn, hạn chế dòng chảy, điều tiết nguồn nước góp phần không nhỏ cho

Trang 4

sản xuất nông nghiệp nông thôn miền núi và đồng bằng, cải thiện đời sống nhân dân địa phương, giữ vững an ninh quốc phòng

Trong những năm qua, địa phương rất chú trọng đến việc phát triển trồng mới, bảo vệ diện tích rừng hiện có cũng như diện tích rừng đã và đang được khoanh nuôi, phục hồi tái sinh bằng nguồn vốn 661 Cao Lộc còn là huyện triển khai tốt các chương trình trồng rừng Quốc gia trong đó có các chương trình trồng rừng thuộc

DA 661 DA 661 tại các vùng đặc biệt khó khăn góp phần hạn chế ảnh hưởng của thiên tai đồng thời cải thiện đời sống và nhận thức của người dân trong vùng về giá trị của rừng từ đó mà họ sống gắn bó với rừng hơn Điều này cũng tạo điều kiện phát triển kinh tế vùng sâu, vùng xa theo kịp miền xuôi Một ý nghĩa khác rất quan trọng là các vùng RSX, các đai rừng phòng hộ được thiết lập đã tiết kiệm cho Nhà nước hàng tỷ đồng mỗi năm trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, hạn chế lũ lụt, điều tiết nguồn nước, phục vụ tốt việc phát triển nông lâm nghiệp miền núi và đồng bằng Xuất phát từ tình hình thực tế đó, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả rừng trồng mới thuộc DA 661 ở đây hết sức cần thiết và góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển Lâm nghiệp, thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng DA 661 giai đoạn (1999-2010), xoá đói giảm nghèo tại địa phương, phát triển nông thôn miền núi

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cho công tác xây dựng DA, phát triển rừng cũng như hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Từ những thành công và hạn chế của DA đề tài đã tổng kết thành bài học kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo cho các cơ quan trong công tác qui hoạch sử dụng đất đai, xây dựng DA, phát triển RSX và phòng hộ, từ đó thực hiện các chính sách nhằm mang lại hiệu quả thiết thực về phục hồi rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng cường vai trò phòng hộ của rừng đầu nguồn, cũng như góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Nhận thức về phát triển bền vững của DA Lâm nghiệp

1.1.1 Quan điểm về phát triển bền vững (PTBV)

Uỷ ban thế giới về Môi trường & Phát triển (WCED – còn gọi là Uỷ ban Brundtland) năm 1987 đã định nghĩa về phát triển bền vững như sau: Phát triển bền vững là phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại nhu cầu của thế hệ tương lai (Lê Thạc Cán, 1995) [10]

Khái niệm PTBV vừa mang tính chất cụ thể, vừa mang tính trừu tượng và đang trong quá trình định hình (thực tế có tới 70 định nghĩa khác nhau về PTBV) Đối với các nhà khoa học thì quan điểm PTBV được nhìn nhận theo nhiều khía cạnh khác nhau: các nhà kinh tế cho rằng: “Muốn PTBV phải nâng cao ổn định chất lượng cuộc sống người dân, chỉ khi cuộc sống người dân ổn định, no đủ mới giữ gìn

hệ sinh thái”, các nhà sinh thái học lại cho rằng: PTBV phải không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái, luôn luôn phải giữ cân bằng hệ sinh thái” Hợp nhất hai quan điểm trên người ta đưa ra một quan điểm như sau: “PTBV không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống người dân trên cơ sở không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái” Về mặt lý thuyết thì quan điểm này khá hoàn chỉnh, vì nó đề cập đến một cách toàn diện các mặt kinh tế và kỹ thuật, tuy nhiên nó lại đòi hỏi quá mức so với thực tế và khó có thể thực hiện được Vì vậy, tổ chức Lương thực thế giới (FAO) đã đưa ra quan điểm sau: “PTBV là không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân trên cơ sở chịu đựng được của hệ sinh thái”, có nghĩa là sự tác động của con người vào hệ sinh thái có ảnh hưởng, nhưng sự ảnh hưởng đó không làm mất đi khả năng tự phục hồi của hệ sinh thái

Từ những khái niệm và quan điểm trên, có thể rút ra nhận thức chung về nội dung của PTBV là “Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường sống” Đó không chỉ là sự phát triển nền kinh tế văn hóa – xã hội một cách vững chắc dựa vào khoa học tiên tiến mà còn đảm bảo ổn định và cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con

Trang 6

người đang sống trong đó và chính sự phát triển dựa vào đó để ổn định bền vững

Có thể nói quan điểm về PTBV là quan điểm toàn diện tổng hợp, nghĩa là muốn PTBV phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ kinh tế - xã hội và môi trường gắn với cơ chế chính sách để phát triển tài nguyên rừng bền vững

1.1.2 Sự phát triển theo hướng bền vững của rừng

Một hệ thống sử dụng tài nguyên rừng được xem là phát triển theo hướng bền vững phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản sau [16]:

*Bền vững về kinh tế : (1) Phải có năng xuất sinh học cao và luôn có xu hướng

tăng dần; (2) Chất lượng sản phẩm của hệ thống phải đáp ứng đòi hỏi của thị trường; (3) Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích trong đơn vị thời gian của hệ thống phải đạt giá trị cao; (4) Sự rủi ro của hệ thống phải ở mức tối thiểu

* Bền vững về mặt xã hội nhân văn:(5) Phải đáp ứng được nhu cầu đa dạng của

người dân; (6) Phải phù hợp năng lực thực tế của người dân sản xuất; (7) Phải có tác dụng không ngừng nâng cao năng lực của người sản xuất; (8) Phải đảm bảo tính hợp hiến, phù hợp với pháp luật hiện hành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội toàn vùng, lãnh thổ; (9) Phải được cộng đồng người dân chấp nhận

* Bền vững về mặt môi trường sinh thái: (10) Phải duy trì và không ngừng cải

thiện hệ số sản xuất của đất; (11) Phải giữ được tỷ lệ che phủ mặt đất bằng hoặc vượt ngưỡng tối thiểu, trên mức an toàn về sinh thái; (12) Phải hạn chế sự sói mòn đất ở giới hạn cho phép; (13) Phải bảo vệ duy trì nguồn nước cả về số lượng và chất lượng; (14) Phải đảm bảo, duy trì và không ngừng nâng cao tính đa dạng sinh học của hệ sinh thái

1.1.3 Ý nghĩa của việc đánh giá hiệu quả thực hiện DA

Đánh giá hiệu quả thực hiện DA được hình thành như một yêu cầu khách quan, cần thiết vì sự phát triển bền vững của con người Nó không chỉ cho hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái của quá trình đầu tư mà còn cho biết tổn thất

về môi trường do hoạt động của DA đem lại [19] Ngoài ra thông qua việc đánh giá

DA giúp chúng ta định lượng những tổn thất môi trường, từ đó nhanh chóng xác định được mức chi phí cần thiết cho bảo vệ môi trường, để điều chỉnh các hoạt động thực tiễn đảm bảo có lợi cho bảo vệ môi trường và sự tồn tại lâu bền của con người

Trang 7

và thiên nhiên Đánh giá hiệu quả kinh tế -xã hội và môi trường cũng là công cụ thông tin cơ bản để các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân tiến hành phát triển, quản lý tài nguyên rừng và môi trường một cách bền vững

DA, mỗi quan điểm về DA xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc mục đích nghiên cứu, khái niệm về DA đã và đang được bổ sung hoàn thiện [31]

- Ở dạng sơ đẳng nhất: DA có thể được coi là một sáng kiến, đưa ra một cách hoàn toàn chủ quan nhằm đáp ứng một nhu cầu trong một tình huống nhất định Ví dụ “Đó là một ý kiến hay nếu ta giải quyết vấn đề đó bằng cách ’’

- DA là những hoạt động và sự đầu tư được hoạch định trước, tại một điểm nhất định, được thiết kế có sử dụng những kỹ thuật cụ thể nhằm đạt được mục tiêu hay mục đích của DA trong một khoảng thời gian nhất định

Theo WB [18]: DA là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau, được thiết kế nhằn đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định

Theo Lynsquire [18]: DA là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xã hội càng nhiều càng tốt

Davidjary và Julia Jury [26] lại đưa ra định nghĩa về DA như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ chợ và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này, DA được hiểu là kế hoạch can thiệp có mục đích, nội dung, thời gian, nhân lực, tài chính cụ thể, là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu này thì thước đo sự thành công của

DA không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có kỹ thuật mà còn góp phần vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng

Trang 8

Như vậy DA: Là chuỗi những hoạt động có liên quan lẫn nhau được lập

ra nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu cụ thể với các nguồn lực nhất định trong một thời hạn cụ thể

1.2.1.2 Đánh giá DA

Đánh giá là một công việc thường xuyên diễn gia trong các hoạt động của

DA Đó là một khâu then chốt trong một chu trình DA, nhằm đưa ra những nhận xét theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của DA trên cơ sở so sánh một số chỉ tiêu đã lập trước, hay nói khác đánh giá là quá trình xem xét một cách hệ thống

và khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động các hoạt động ứng với mục tiêu đã vạch ra

Trong các DA mà ở đó vai trò tham gia của các bên liên quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thì công tác đánh giá đòi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên quan Đánh giá có sự tham gia là một hệ thống phân tích được thực hiện bởi các nhà quản lý DA và các thành viên được hưởng lợi từ DA, cho phép họ điều chỉnh, xác định chính sách hoặc mục tiêu, chiến lược, sắp xếp lại các tổ chức các đơn vị triển khai lại các nguồn lực cần thiết

Các lý thuyết về hướng dẫn và đánh giá đề cập trong các công trình nghiên cứu của WHO, Gittinger, Di xon & Hu fschmidt L The rse Ba rker, Jim, Woodhill, FAO,WB [36]

Các đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra những nhận định, điển hình là công trình nghiên cứu của WHO, L.The rkr Ba rker Đây là một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra tương ứng với chúng là hệ thống các hoạt động, các nguồn lực đã được triển khai và

sử dụng như thế nào Đối với một DA, đánh giá là xem xét một cách hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của DA, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng hưởng thụ [31]

Trong một DA, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình triển khai DA cho địa phương Thực ra đánh giá không chỉ tiến hành một lần vào cuối

DA – đó mới chỉ đánh giá tổng thể Trong quá trình thực hiện DA, hoạt động đánh giá có thể được tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thường gọi tắt là đánh

Trang 9

giá giai đoạn Nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có

sự tham gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là người hưởng lợi từ DA [36]

Các tác giả và các tổ chức trên thế giới như Jim Woodhill, LisaRobins, Joachim Theis, Heather.M Grady [26] đã phân chia thành hai loại đánh giá: Đánh giá mục tiêu và đánh giá tiến trình Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu DA có đạt được mục tiêu đã định hay không, nó tập trung vào việc phân tích các chỉ số đo hiệu quả thu được Đánh giá tiến trình, mở rộng diện tích đánh giá hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng tri thức và hiểu biết của nhiều người để xem xét nhiều vấn đề của

DA

1.2.1.3 Các khía cạnh đánh giá tác động của DA

Trên thế giới, việc đánh giá các tác động môi trường sinh thái, kinh tế - xã hội, hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đã có lịch sử hàng trăm năm có thể chia làm hai giai đoạn:

*Giai đoạn 1: Từ đầu những năm 1960 đến cuối những năm 1970, đặc trưng

của giai đoạn này là những nghiên cứu xung quanh những vấn đề về chất lượng môi trường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế

Ban đầu là những nghiên cứu về vấn đề đảm bảo an toàn lương thực, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái thông qua việc hạn chế nạn phá rừng Nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến đất đai và môi trường đã được công bố như: Nghiên cứu của Freizen Daling (1968) về “Tác động của con người đến sinh quyển”; Gober (Pháp, 1968) về “Đất và việc giữ độ phì của đất – các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất”, Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO) trong nhiều năm qua nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc đã đưa ra các mô hình canh tác có hiệu như SALT1, SALT2, SALT3, SALT4 [31]

Đến đầu năm 1970, Quốc hội Hoa kỳ đã ban hành Luật chính sách quốc gia

về môi trường, thường gọi tắt là NEPA Luật này quy định rằng tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được Nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo về tác động

Trang 10

đến môi trường của việc làm được khuyến nghị Tiếp theo Hoa kỳ là Canada, Australia, Anh, Nhật, Đức cũng lần lượt ban hành luật đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994) [10] Trong những1970 và đầu năm 1980, ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philipin, Indonesia đã ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường [18]

Năm 1979, tổ chức FAO đã xuất bản tài liệu “Phân tích các DA Lâm nghiệp”do Hans M- Gregersen và Amolo H Contreal biên soạn Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư DA trồng rừng và phát triển Lâm nghiệp; tài liệu này tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các DA Lâm nghiệp ở các nước đang phát triển

*Giai đoạn 2: Từ đầu năm 1980 đến nay, đặc trưng của giai đoạn này là phát

triển bền vững, trong đó đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

Từ năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đã được nêu ra ngày càng trở nên phổ biến Ngày nay, quan điểm phát triển bền vững đã trở thành quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không thể bỏ qua Bản báo cáo

“Tương lai chung của chúng ta” của Uỷ ban Brundtland (1987) đã công nhận đánh giá tác động môi trường là một cấu thành thiết yếu trong quá trình phát triển bền vững Báo cáo cũng đã vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của cộng đồng vào các quyết định có ảnh hưởng đến môi trường, tạo điều kiện cho các cộng đồng sử dụng

có hiệu quả các nguồn tài nguyên địa phương

Năm 1992, tại hội nghị Quốc tế về môi trường ở Riôde Janneiro (Braxin) đã

đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trên phạm vi từng nước trên thế giới” [20]

Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác [25] Theo mô phỏng này hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp, trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái (PTBV)

Trang 11

1.2.2 Ở Việt Nam

1.2.2.1 Khái niệm về DA

Khái niệm về DA được dùng tương đối rộng ở nước ta trong những năm gần đây, do chính phủ, liên chính phủ, nhỏ hơn là tỉnh, một tổ chức xã hội làm chủ Các chương trình DA đầu tư có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế,

xã hội và môi trường sinh thái của một khu vực, đặc biệt là các vùng miền núi Do tính phức tạp của quá trình thực hiện (về mặt kinh tế, kỹ thuật, tổ chức xã hội), cần phải chuẩn bị đầy đủ cả về cơ sở vật chất, cơ sở khoa học, thực tiễn và chính sách của chính phủ theo một kế hoạch chặt chẽ, chi tiết và hợp lý trước khi thực hiện

DA

Trong tác phẩm “Phát triển cộng đồng”, tác giả Nguyễn Thị Oanh [22] đưa

ra hai định nghĩa về DA như sau:

- DA là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt được một hay một số mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đã định trước tại một địa bàn và một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những tác nhân và tổ chức cụ thể

- DA là một tổng thể có kế hoạch những hoạt động (công việc) nhằm đạt một

số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và trong khuôn khổ chi phí nhất định

Theo Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang [13], DA được hiểu như một kế hoạch can thiệp để giúp cộng đồng dân cư hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một địa bàn nhất định

Hội thảo PIMES về chương trình phòng ngừa thảm họa đã đưa ra hai khái niệm về DA:

- DA là một quá trình gồm các hoạt động đã được lập kế hoạch nhằm đạt được những thay đổi mong muốn hoặc đạt được một mục tiêu cụ thể nào đó

- DA là một quá trình phát triển có kế hoạch, được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một thời gian nhất định

Theo bài giảng về “Quản lý Lâm nghiệp xã hội”của Trung tâm Lâm nghiệp

xã hội, để nhìn nhận DA một cách đẩy đủ nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác nhau: Về hình thức, về quản lý, về kế hoạch, về nội dung [31]

Trang 12

- Về mặt hình thức: DA là một tập tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí dưới dạng một bản kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

- Về mặt quản lý: DA là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn vật tư lao động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính xã hội, môi trường trong tương lai

- Về mặt kế hoạch: DA là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội làm tiền đề cho các quyết định đầu

tư và tài trợ, DA đầu tư là một hoạt động riêng lẻ, nhỏ nhất trong công tác kế hoạch nền kinh tế

- Về mặt nội dung: DA được coi là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau, được kế hoạch hóa nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng hợp lý các nguồn lực xác định

Mặc dù có sự khác nhau về các định nghĩa DA, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Mục tiêu của DA đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường

1.2.2.2 Các khía cạnh đánh giá tác động DA

Ở nước ta các DA đầu tư cho việc phát triển rừng tiến hành trên nửa thế kỷ, nhưng chỉ vài chục năm gần đây mới được thực hiện trên quy mô lớn Thời kỳ đầu, chúng ta mới chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả về xã hội và môi trường sinh thái hầu như không được quan tâm đến Chính vì vậy vấn đề đánh giá tác động môi trường ở nước ta cho đến nay còn ít và mới mẻ, đặc biệt là đánh giá trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường của DA

Trước năm 1980, ở Việt Nam nghiên cứu đánh giá tác động của DA đến môi trường còn hạn chế, mới chỉ có những nghiên cứu nhỏ, không tập trung, chưa toàn diện về xói mòn đất Tuy cũng đã có những nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức canh tác đến đất và nước nhưng còn sơ sài, chung chung và các chỉ tiêu đánh giá đơn giản

Trang 13

Từ sau năm 1980, kinh tế đất nước phát triển kéo theo việc suy thoái tài nguyên rừng nên công tác đánh giá hiệu quả tác động môi trường bắt đầu được chú trọng và phát triển Năm 1983, chúng ta mới chính thức bắt đầu chương trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường Đến năm 1987, Nguyễn Ngọc

Sinh lần đầu tiên đưa ra tài liệu “Giới thiệu các phương pháp đánh giá tác động môi

trường” [25]

Sau thập kỷ 90, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả đầu

tư của DA lâm nghiệp dưới khía cạnh xã hội và môi trường mà mục tiêu là xem xét các tác động của DA đến môi trường xung quanh Trên cơ sở những kết quả thực hiện của DA, những thay đổi về kinh tế xã hội, môi trường ở thời điểm trước và sau khi DA triển khai nên các nghiên cứu tập trung xác định rõ nguyên nhân của sự thay đổi và mức độ của sự thay đổi đó Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức ứng dụng các phương pháp và xây dựng lý thuyết đánh giá, nổi bật là những nghiên cứu sau:

Lê Thạc Cán hoàn thành công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường – Phương pháp và kinh nghiệm thực tiễn” tạo tiền đề cơ sở khoa học cho các tác giả nghiên cứu về môi trường

Hoành Xuân Tý (1994) với công trình “Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các DA trồng rừng bảo vệ rừng” đã tiến hành nghiên cứu về kinh tế, môi trường Song, trong cách phân tích và đánh giá, tác giả thường thiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện trên các mặt [33]

Cũng năm 1994, nhiều công trình của nhiều tác giả khác đã tiến hành những nghiên cứu về tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của các phương thức canh tác như: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình “Hiệu quả các các biện pháp canh tác trên đất dốc” và “Sử dụng đất trống đồi núi trọc và bảo vệ rừng; Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải và tập thể với công trình “Nghiên cứu và đề xuất

mô hình phát triển kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình”; Phùng Ngọc Lan, Vương Văn Quỳnh với đề tài “Nghiên cứu khả năng giữ nước và bảo vệ

Trang 14

đất của các phương thức canh tác trong các HGĐ ở huyện Hàm Yên – Tuyên Quang

”[25]

Trần Hữu Dào (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng rừng Quế thâm canh thuần loài quy mô HGĐ tại Văn Yên – Yên Bái [12] Trong đề tài tác giả đã trình bày, sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phân tích kinh tế Lâm nghiệp Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, chưa chú trọng và đề cập sâu đến hiệu quả xã hội và môi trường

Đoàn Hoài Nam (1996) với luận văn thạc sỹ: “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương - Hàm Yên -Tuyên

Quang” [20], đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một

số mô hình rừng trồng, tuy nhiên chưa thấy tác giả đề cập đến vấn đề xã hội

Năm 1997, tiếp tục có những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường như: Nguyễn Thị An với luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường của một số mô hình theo phương pháp hệ số đường ảnh hưởng”; Đoàn Thị Mai với luận văn thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác Nông Lâm nghiệp

ở vùng nguyên liệu giấy” [19]

Cao Danh Thịnh, năm (1998) với luận văn thạc sỹ “Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số DA Lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ sông Đà” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp kinh tế môi trường Trong đề tài, tác giả đã đề cập đến vấn đề định lượng có trọng số các chỉ tiêu đánh giá và cho biết phương pháp tính trọng số bằng tương quan đạt độ chính xác cao hơn cả [25]

Phạm Xuân Thịnh, năm (2002) với đề tài thạc sỹ “Đánh giá tác động KFW1 tại vùng DA xã Tân Hoa - huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang” đã đề cập đến một số tác động của DA trên các mặt kinh tế- xã hội và môi trường, quá trình đánh giá có

sử dụng các chỉ tiêu, so sánh các lĩnh vực trước và sau DA Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của DA [33]

Trang 15

* Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (DA 661) giai đoạn 2008: Sau 10 năm thực hiện đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đánh giá

Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng là một trong những công trình trọng điểm quốc gia, theo đó sẽ nâng cao độ che phủ của rừng Việt Nam lên mức 43% vào năm 2010 DA được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn bằng Nghị quyết số 08/1997/QH10 và được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam chỉ đạo thực hiện bằng Quyết định số 661/QĐ - TTg ngày 29/7/1998 DA, vì thế, hay được gọi tắt là DA

- Sử dụng hợp lý rừng hiện có và trồng mới 3 triệu ha RSX

DA được xây dựng và triển khai nhằm:

- Góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thủy, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học

- Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới

- Đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền núi

DA được triển khai qua ba giai đoạn:

- Giai đoạn 1998 - 2000: trồng mới 70 vạn ha, khoanh nu«i t¸i sinh 350.000

ha

- Giai đoạn 2001 - 2005: trồng mới 1,3 triệu ha, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 65 vạn ha

- Giai đoạn 2006 - 2010: trồng mới 2 triệu ha

Tổng vốn đầu tư dự kiến là 31.650 tỷ đồng

Trang 16

Kết quả thực hiện từ năm 1998 đến năm 2008 trên toàn quốc đã trồng mới được 1.921.163 héc ta rừng được trồng trên 63 tỉnh thành và một số bộ, ban ngành TW

cũng tham gia trồng rừng [Cục Phát triển Lâm nghiệp, 2008] Trong đó rừng đặc

dụng là: 47.949 ha, RPH là 815.620 ha, rừng đặc dụng và rừng trồng phòng hộ đạt 107,2 % so với kế hoạch, RSX là: 1.046.019 ha, cây công nghiệp dài ngày là: 115.75 ha, chăm sóc rừng là: 303.672 ha, đạt 94% kế hoạch Các loài cây được

trồng tại các tỉnh (trồng bằng cây con có bầu được ươm từ hạt hoặc từ hom)

Trồng rừng ngập mặn: Từ năm 1998 đến năm 2008 trên toàn quốc đã có

61.779 héc ta Rừng ngập mặn được trồng tại các tỉnh ven biển [Cục Phát triển Lâm

nghiệp, 2008] Các loài cây được trồng tại các tỉnh ven biển phía bắc chủ yếu là

Bần (trồng bằng cây con, rễ trần), Trang (trồng bằng trụ mầm), Mắm, Đước vòi, với mật độ 400 cây đến 1.600 cây/ha Tuy nhiên, cũng như chương trình do Hội chữ thập đỏ tiến hành thì tỷ lệ sống cũng rất thấp và diện tích rừng còn lại khép tán

thành rừng, có khả năng phòng hộ cao cũng không nhiều

Cùng với việc tạo rừng mới của DA 661, ở các địa phương cũng đã dành vốn đáng kể cho công tác khoanh nuôi, bảo vệ và cải tạo rừng (bao gồm cả rừng trên cạn và rừng ngập mặn ven biển) chất lượng rừng đạt tương đối tốt, góp phần không nhỏ nâng cao độ che phủ của rừng Bên cạnh đó, việc trồng rừng của DA vẫn còn nhiều bất cập, nhất là tại các khu vực có điều kiện lập địa cực đoan: đất cằn cỗi, sỏi đá, có độ dốc lớn, xa khu dân cư, đi lại khó khăn lại sử dụng cây giống là cây bản địa, sinh trưởng chậm, chu kỳ dài ngày cách trồng và chăm sóc rừng còn coi nhẹ kể cả các biện pháp kỹ thuật từ khâu khảo nghiệm giống đến khâu gieo ươm và đem đi trồng rừng Do vậy, khả năng tạo rừng khu vực này không cao

Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo của Cục Lâm nghiệp kết quả trồng rừng theo

DA 661 từ năm 1998 – 2008 Đối với khu vực có điều kiện thuận lợi như: đất tốt,

độ dốc thấp, gần khu dân cư, điều kiện tự nhiên phù hợp với cây trồng và tỷ lệ

thành rừng là rất cao [11] (Bản tin trồngmới 5 triệu ha rừng)

Theo như ông Nguyễn Ngọc Bình - Cục trưởng Cục Lâm nghiệp, Kiêm Phó Ban điều hành TW DA trồng mới 5 triệu ha rừng đã bước đầu đánh giá hiệu quả của

DA 661 Sau 10 năm thực hiện, Chương trình đã đạt được những hiệu quả nhất

Trang 17

định Độ che phủ của rừng của cả nước từ 28,2% vào năm 1995 được nâng lên 33,2% vào năm 1999 và lên 37,7% vào năm 2008 Sản xuất lâm nghiệp chuyển mạnh từ nền lâm nghiệp nhà nước lấy khai thác và sử dụng rừng tự nhiên là chính sang nền lâm nghiệp xã hội, phát huy sức mạnh của nhân dân trong bảo vệ rừng, trồng rừng và khai thác sử dụng gỗ rừng trồng, thu hút được sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, dần thực hiện mục tiêu xã hội hoá nghề rừng, góp phần xoá đói giảm nghèo cho nông dân, nhất là nông dân miền núi sống dựa vào rừng, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động trên khắp cả nước

Trên cơ sở số liệu báo cáo của 63 tỉnh thành – phố, đánh giá tổng quát thực hiện DA 661 như sau:

- Với nguồn vốn đầu tư đ· cấp cho các DA theo địa bàn và đối tượng cụ thể

đã thu được những kết quả đáng khích lệ, đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu đề ra

- DA 661 lấy HGĐ thực hiện trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng, gắn quyền lợi vật chất với nghĩa vụ, gắn đất trồng với cây rừng và sức lao động dựa vào đồng vốn của chương trình Chính nhờ phương châm kết hợp tự giác giữa 4 yếu tố đó nên

tỷ lệ cây rừng trồng đạt 80-90% Tuy nhiên để thực hiện tốt hơn phải kết hợp chặt chẽ với công tác giao đất, khoán rừng đến HGĐ hoặc thôn bản, cho vay vốn đến hộ, tạo điều kiện cho HGĐ phát huy tính chủ động và độc lập trong sản xuất, từ đó xoá đói, giảm nghèo, vươn lên làm giàu nhờ sự hỗ trợ của DA 661

- Biện pháp khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng là biện pháp tích cực, hiệu quả nhất vì rừng có chủ thực sự Địa phương nào biết gắn nội dung DA 661 với công tác giao đất, khoán rừng cho hộ nông dân sẽ tạo ra được vốn rừng mới để sản xuất và công tác khôi phục bảo vệ RPH sẽ có sự tiến bộ rõ rệt đồng thời thu nhập của các hộ đó cũng tăng lên đáng kể

- Mặt tích cực của phương thức đầu tư theo DA 661 là thủ tục xét duyệt và cấp vốn đơn giản, giảm phiền hà cho Chủ DA, giảm chi phí quản lý và tăng tỷ lệ cấp vốn đến Chủ đầu tư (Tỷ lệ cấp vốn đạt 100%)

Trang 18

- Thông qua DA 661 các địa phương, các ngành đã tạo được các mô hình kinh tế theo phương thức nông - lâm - công nghiệp phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế của mình

- Nhờ vào vốn của DA 661 mà đa số hộ miền núi vùng sâu, vùng xa có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất

Theo ý kiến chung của các Cơ quan, Ban ngành và địa phương thì có nhiều nguyên nhân dẫn đến các kết quả trên Trong đó chủ yếu là:

- Chủ trương của Đảng và Nhà nước thể hiện trong Quyết định 661/QĐ-TTg (một trong những công trình trọng điểm của Quốc gia) là hoàn toàn đúng đắn, kịp thời, hợp với lòng dân, nhất là các dân tộc miền núi vùng sâu vùng xa, các lâm, nông trường và trạm trại Vì vậy, địa bàn tiếp nhận các DA đã được chuẩn bị tốt về

tổ chức và tâm lý

- Việc triển khai nghiêm túc DA ở các cấp, các ngành vừa đảm bảo được quy định chung của TW, vừa phù hợp với những quy ước chung của địa phương đồng thời đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra của mục tiêu và nội dung DA theo từng năm

- Ban chỉ đạo DA 661 luôn chỉ đạo, giám sát tích cực, có trách nhiệm đồng thời luôn bám sát cơ sở, kiểm tra trực tiếp thường xuyên, uốn nắn kịp thời những sai sót sảy ra trong quá trình thực hiện DA

- Các hoạt động hỗ trợ của các Cơ quan TW, địa phương, đặc biệt là Thanh tra Nhà nước, kiểm tra Đảng, các cơ quan ngôn luận báo chí đã góp phần tích cực vào kết quả hoạt động của DA

Những đề tài nghiên cứu đánh giá DA 661, cho đến nay có thể điểm qua một

số công trình lớn sau:

1 “Đánh giá hiệu quả các DA Lâm nghiệp ở Tây Nguyên giai đoạn 1995 –

2005 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong Lâm nghiệp của Vùng”, do

Thạc sỹ Hoàng Liên Sơn, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện năm

2006 Đề tài đã đánh giá hiệu quả đầu tư của các DA: DA 661 (4 xã của 2 huyện/2 tỉnh 75 HGĐ/xã), Cán bộ thực thi và quản lý DA; DA hỗ trợ bảo vệ đầu nguồn sông

Mê Kông – GTZ (4 xã trong 2 huyện tại Đắc Lắc, 75 HGĐ/xã, Cán bộ thực thi và quản lý DA); DA bảo vệ rừng và phát triển nông thôn; DA trồng rừng nguyên liệu

Trang 19

vùng Tây Nguyên, DA khuyến Lâm Trong đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp đánh giá DA đi sâu vào xem xét hiệu quả về mặt kinh tế-xã hội mà chưa đề cập đến hiệu quả về mặt môi trường mà quan trọng hơn cả là những tác động của rừng đối với môi trường Trong đó, đề tài đã đánh giá được sự phù hợp của các mô hình rừng trồng trên địa bàn với điều kiện lập địa của khu vực [24.a]

2 “Điều tra tình hình thực hiện kế hoạch trồng RPH 661 trên đất cát ven

biển tỉnh Quảng Trị giai đoạn 1998-2005” Tổng kết và đánh giá các biện pháp kỹ

thuật trồng RPH 661 Đánh giá chất lượng rừng trồng Đề xuất một số giải pháp về xây dựng và phát triển RPH trên đất cát ven biển tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2006-

2010, Võ Đại Hải, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Trong đề tài này tác giả

đi sâu nghiên cứu đối tượng là rừng trồng phòng hộ trên đất cát ven biển của tỉnh Quảng Trị và mới chỉ mang tính thống kê diện tích rừng trồng, các biện pháp kỹ thuật trồng rừng và chất lượng rừng trồng mà chưa đánh giá được hiệu quả đầu tư

cả về mặt kinh tế, xã hội và môi trường [24.b]

3 “Nghiên cứu đánh giá chất lượng rừng trồng phòng hộ trên đất cát ven

biển trong DA 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005 của 4 tỉnh (Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận và Bình Thuận”, Hoàng Liên Sơn (2006) Tác giả đi sâu

nghiên cứu đánh giá về sinh trưởng của rừng trồng phòng hộ trên đất cát ven biển, cùng với đó là phương thức trồng rừng, biện pháp kỹ thuật chăm sóc, công tác lựa chọn cây trồng và chất lượng cây giống, hệ thống kỹ thuật lâm sinh nuôi dưỡng rừng [13]

Qua đánh giá các đề tài trên, trong đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp phù hợp được kế thừa có bổ sung để thực hiện các nội dung nhằm đánh giá thực trạng về diện tích rừng trồng, khoanh nuôi phục hồi, tình hình sinh trưởng và phát triển rừng cũng như hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội và môi trường của DA

661 trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (giai đoạn 1999 – 2008) sau 10 năm

DA được thực hiện Trong đó đi sâu nghiên cứu đánh giá về khả năng nâng cao độ che phủ của rừng, hiệu quả về mặt kinh tế, an sinh xã hội,… trong thực hiện cơ chế chính sách quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng

Trang 20

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN CAO LỘC

Theo số liệu thống kê địa lý tự nhiên huyện Cao Lộc năm 2008, khu vực nghiên cứu có đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội như sau

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Phía Tây – Tây Bắc giáp các huyện Văn Lãng, Tràng Định

Phía Tây và phía Nam giáp huyện Văn Quang, Chi Lăng

Phía Đông – Đông Nam giáp huyện Chi Lăng, Lộc Bình Huyện Cao Lộc bao bọc quanh thành phố Lạng Sơn – trung tâm kinh tế chính trị xã hội, vùng kinh

tế động lực của tỉnh Lạng Sơn Vì vậy, huyện Cao Lộc có lợi thế lớn để phát triển kinh tế xã hội và khẳng định tầm quan trọng về an ninh quốc phòng không chỉ đối với Lạng Sơn mà còn đối với cả nước

2.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình vùng DA đựơc phân chia thành 3 tiểu vùng do Viện điều tra Quy hoạch rừng xây dựng dựa trên tiêu chí đai cao, độ dốc , lượng mưa như sau:

Tiểu vùng I: Tiểu vùng này địa hình đơn giản không phức tạp, mức độ chia

cắt trung bình, bao gồm toàn bộ dải đường biên giới giáp Trung Quốc Độ dốc 200

-300, độ cao tuyệt đồi trung bình 400-500m, ít có đỉnh núi cao (đỉnh cao nhất 547m)

Tiểu vùng II: Gồm toàn bộ hệ thống giáp huyện Lộc Bình Tiểu vùng này địa

hình phức tạp hơn, có độ chia cắt mạnh, độ dốc lớn (trung bình 280-350) có nhiều đỉnh núi cao trên 1000m (đỉnh cao nhất là đỉnh Pia Pò xã Mẫu Sơn cao 1.541m)

Trang 21

Tiểu vùng III: Phần còn lại của miền lưu vực các sông suối, sông Kỳ Cùng,

các hồ ven đường quốc lộ 1A Tiểu vùng này đơn giản hơn, mức độ chia cắt trung bình, độ dốc trung bình 200-300

Nhìn chung, địa hình nhiều đồi núi chia cắt mạnh, độ dốc lớn, ảnh hưởng đến việc xây dựng bảo vệ rừng, tuy nhiên có thuận lợi cho nhiều loài cây rừng từ nhiệt đới đến á nhiệt đới phát triển tốt

2.1.3 Khí hậu, thuỷ văn

134 ngày, lượng mưa ngày lớn nhất là 120-130mm

- Độ ẩm tương đối: Độ ẩm trung bình là 82%, cao nhất 95% và thấp nhất

b Thuỷ văn

Sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm thành phố Lạng Sơn và qua 4 xã (Gia Cát, Tân Liên, Song Giáp, Bình Trung), dài 34 km, mùa mưa thường gây lũ lụt, phá hại mùa màng hai bên bờ

Trang 22

Có 3 suối chính: Bảo Lâm, Hoàng Đồng, Tân Thành đều xuất phát từ thượng nguồn đổ về sông Kỳ Cùng Do độ che phủ của thảm mục còn ít nên vào các tháng khô thường xảy ra khô hạn, ngược lại mùa mưa thường có lũ lụt nên khả năng vận chuyển hàng hóa thuỷ hạn chế, không phát huy tác dụng

2.1.4 Tài nguyên đất

Đất đai Cao Lộc chủ yếu được hình thành do quá trình phong hoá đá mẹ (đá vôi, phiến thạch sét, cuội kết,…) ngoài ra còn một phần nhỏ diện tích đất được hình thành do sản phẩm dốc tụ và phù sa sông suối Các loại đất phát sinh thể hiện như sau:

Biểu 2.1: Tổng diện tích các loại đất theo tính chất phát sinh

(Nguồn : Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Lộc, 2009)

Đất mùn trên núi ở độ cao trên 1000m, chiếm diện tích nhỏ

Đất feralít mùn trên núi thấp, phong hoá chậm, tầng đất mỏng, độ sâu trung bình đến 50cm Các xã ở phía Nam và phía Đông huyện đất feralít phát triển trên đá cát, phiến thạch sét và cát bột, còn các xã vùng thấp đất feralít phát triển trên đất phù xa cổ đệ tam thích hợp cho nhiều loại cây trồng

Đất phù sa sông suối hình thành do sự bồi tụ phù sa của sông Kỳ Cùng và hệ thống suối Loại đất này có 1.521,3 ha là đất tốt có thể khai thác thâm canh cao trong nông nghiệp

Trang 23

Đất lúa nước vùng đồi núi chiếm 6,3% diện tích là các chân ruộng bậc thang, các thung lũng có sản phẩm dốc tụ, thích hợp trồng lúa Đó là diện tích có khả năng đảm bảo an ninh lương thực cho huyện

Nhìn chung, tài nguyên đất Cao Lộc khá đa dạng, có nhiều loại nhưng độ phì nhiêu không cao, tầng đất mỏng nhiều nơi bị xói mòn trơ sỏi đá Diện tích đất tốt chiếm tỷ lệ thấp, đất nghèo dinh dưỡng, ít thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Dân tộc, dân số, lao động

a Dân tộc

Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc cư trú, chủ yếu là dân tộc Nùng (chiếm 58,6%), dân tộc Tày (chiếm 31,4%), còn lại là các dân tộc khác: Kinh, Dao, Sán Chỉ, Hoa, chiếm 10,0 %

Mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng, thể hiện qua sự khác nhau về bản sắc văn hoá, tập quán canh tác Người Nùng và người Hoa có kinh nghiêm canh tác trên đất dốc thì người Tày lại có kinh nghiệm canh tác lúa nước cho hiệu quả kinh tế cao Trong quá trình chung sống, các dân tộc thiểu số đã du nhập nhiều yếu tố văn hoá của người Kinh: nhà ở trên nền đất, quần áo, trang phục, sinh hoạt,… Chúng ta khó có thể phân biệt giữa các dân tộc qua vẻ bề ngoài

b Dân số

Tổng dân số toàn huyện năm 2008 là 74.370 khẩu với 14.852 hộ, trong đó

số hộ nghèo là 2.510 hộ chiếm 16,89% Mật độ dân số trung bình 116 người/km2, phân bố dân cư không đồng đều, thường tập trung ở thị trấn các trục đường giao thông Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 6,72% Các xã vùng cao, tỷ lệ tăng dân số cao cùng với sự nghèo đói của nhân dân trong vùng phòng hộ đang là sức ép lớn lên rừng và đất đai ở đây

c Lao động

Lao động trong độ tuổi chiếm 51,0% dân số, trong đó sản xuất trực tiếp chiếm 72,7%, lao động các ngành thương mại, dịch vụ còn thấp Số hộ nghèo là 2.510 hộ chiếm 16,89% Dân số khu vực nông thôn là 60.875 khẩu (chiếm 81,6%) trong đó lao động trong vùng phòng hộ chủ yếu là nông lâm nghiệp, chưa tận dụng

Trang 24

hết nguồn nhân lực Do chất lượng nguồn lao động thấp nên phải phổ cập, bồi dưỡng kiến thức khoa học đáp ứng được các kỹ thuật như: khoanh nuôi, trồng rừng, kinh tế trang trại

2.2.2 Thực trạng kinh tế

Nền kinh tế được duy trì, ổn định và tiếp tục tăng trưởng khá với nhịp độ tăng trưởng (GDP) là 12,0% Tổng sản phẩm GDP là 440.376,0 triệu đồng, GDP bình quân đầu người là 5,9 triệu đồng/người/năm.[14 ]

Trong những năm qua, huyện Cao Lộc đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh phát triển sản xuất và đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhất là kinh tế trong nông lâm nghiệp

và nông thôn, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, bước đầu đạt được những kết quả nhất định, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp giảm còn 31,3%, ngành công nghiệp – xây dựng cơ bản tăng lên 27,3%, ngành thương mại và dịch vụ tăng lên 41,7%

Gần đây, thu nhập và mức sống của nhân dân đã được cải thiện do được sự quan tâm của các cấp, các ngành thông qua chương trình DA các hoạt động phát triển kinh tế, sản xuất và đời sống, chương trình xoá đói giảm nghèo theo Quyết định số134; 135/QĐ TTg, DA 661, đã góp phần đáng kể nâng cao thu nhập đời sống nhân dân, bình quân lương thực đạt 410 kg/người/năm

2.2.3 Thực trạng cơ sở hạ tầng

a Giao thông

Nhìn chung mạng lưới giao thông trong vùng đi lại khá thuận lợi có nhiều trục đường chính chạy qua như: quốc lộ 1A, 1B, 4B, đường ô tô Cao Lộc - Xuất Lễ, Cao Lộc - Thạch Đạn – Thanh Loà, Đồng Đăng – Bảo Lâm với chiều dài hàng trăm km và tuyến đường sắt Yên Trạch – Hữu Nghị Quan.dài 30km Mạng lưới đường liên thôn liên bản nhỏ, hẹp, dốc, khó khăn trong việc đi lại và vận chuyển trao đổi hàng hoá vào mùa mưa, trong vùng phòng hộ chủ yếu là đường mòn chất lượng kém

b Thủy lợi

Toàn vùng có 75,1 ha mặt nước với 97 công trình thủy lợi lớn nhỏ Hệ thống các công trình thuỷ lợi kiên cố phát huy hiệu quả tưới như: hồ Bản Cưởm, Khuổi

Trang 25

Chủ và Ba Sơn; hệ thống kênh mương hóa, phai, đập nước đảm bảo nước tưới trên 3.780 ha đạt 74,5% Nhìn chung cơ sở thuỷ lợi xuống cấp, đặc biệt hệ thống mương phai bị hư hỏng nặng, cần được đầu tư nâng cấp

c Y tế giáo dục và các ngành thông tin văn hoá khác

Tuy đã được đầu tư nhưng mới tập trung ở nội thị, thị trấn ven các trục đường giao lớn Vùng sâu, vùng xa còn rất thiếu thốn chưa đảm bảo để phục vụ đời sống và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, tình trạng trẻ bỏ học, mù chữ, tái mù chữ

và một số bệnh; sốt rét, bướu cổ, vẫn còn xảy ra.( Báo cáo tổng kết UBND huyện

Cao Lộc năm 2008)

2.3 Hiện trạng sử dụng đất

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn vùng: 63.291,0 ha được phân bổ như sau:

Biểu 2.2: Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Cao Lộc

(Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Lộc, 2009)

a Hiện trạng đất đai tài nguyên

Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên 63.921,0 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 32.562,9 ha, tỷ lệ che phủ của rừng trung bình hiện tại đạt 50,9 % tổng diện tích đất tự nhiên, cao hơn tỷ lệ che phủ rừng trung bình toàn tỉnh (44,7% năm 2008) Trong đó, chủ yếu là rừng trồng và rừng tái sinh, rừng nguyên sinh còn lại rất ít ở một số xã giáp biên giới Việt Trung

Trang 26

Đất đồi núi chưa sử dụng 20.642,1 ha chiếm 33,0 % tổng diện tích đất tự nhiên Độ che phủ trung bình hiện tại cao hơn độ che phủ trung bình cả nước, với tỷ

lệ đất đồi núi chưa sử dụng chiếm 1/3 tổng diện tích tự nhiên mở ra tiềm năng phát triển lâm nghiệp của huyện còn rất lớn

Sự đầu tư thích đáng của các dự án lâm nghiệp trong đó có DA 661 phát huy nội lực sẵn có của địa phương và tận dụng được mọi sự trợ giúp từ bên ngoài là góp phần giải quyết có hiệu quả mục tiêu phát triển bền vững của huyện cũng như của khu vực

b Tình hình sản xuất nông nghiệp

Đất nông nghiệp rất ít, chiếm 9,1% diện tích đất tự nhiên nên vấn đề an ninh lương thực ở đây được đặt lên hàng đầu Sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của hộ gia đình Hệ thống cây trồng của xã rất đa dạng, nhưng sản phẩm chính vẫn là lúa gaọ, ngoài ra còn có các sản phẩm phụ như: Sắn, ngô, khoai, đậu

đỗ và rau màu Đất nông nghiệp được phân loại như sau:

Biểu 2.3: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp

(Nguồn: Phòng tài nguyên và môi trường huyện Cao Lộc, 2009)

Lúa được gieo trồng ở các thung lũng hẹp chủ yếu là ruộng bậc thang, khả năng tưới tiêu còn hạn chế nên chủ yếu canh tác được 1vụ/năm Phân bón chủ yếu

là phân chuồng và phân xanh, các hộ sử dụng phân vô cơ và thuốc trừ sâu còn hạn chế nên năng suất thấp Nhìn chung, diện tích trồng lúa của huyện rất hạn chế và hầu như không có khả năng mở rộng diện tích, để nâng cao sản lượng, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn thì cần thiết phải đầu tư thâm canh và thuỷ lợi

Trang 27

Các loại cây họ đậu được trồng trên địa bàn xã: đậu xanh, đậu tương, lạc,

chủ yếu được trồng trên diện tích lúa một vụ

Trong vườn hộ (tạp) thường trồng một số loài cây như: mít, mơ, chuối, cam,

chanh, nhãn, vải, năng suất thấp chủ yếu phục vụ tiêu dùng chưa trở thành hàng

hóa tăng thu nhập cho gia đình

Sản xuất nông nghiệp ở huyện chủ yếu phụ thuộc vào tự nhiên mang nặng

tính tự cung tự cấp chưa có sản xuất hàng hoá Nguyên nhân chính là do đất đai

phân tán manh mún, đang dần bị thoái hoá bạc màu và trình độ canh tác của nông

dân còn lạc hậu chưa được hướng dẫn đầu tư giống, vốn, kỹ thuật theo chiều sâu

2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội của huyện đối với

sản xuất lâm nghiệp

Dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế của huyện vẫn đạt tăng trưởng

khá, thu ngân sách đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Năm 2008, về sản xuất lâm nghiệp,

toàn huyện đã trồng được 837,4 ha, trong đó RPH 102,3 ha, RSX 182,5 ha, trồng

rừng phân tán được 552,6 ha Các mô hình sản xuất lâm nghiệp như Mô hình cây

Trám tại xã Xuân Long và Song Giáp, cây Dẻ lấy quả tại xã Thạch Đạn và Thanh

Loà được nhân dân đồng tình hưởng ứng, năm đầu cây phát triển tốt Công tác bảo

vệ phòng chống cháy rừng đã được quan tâm: 21/23 xã có Ban Chỉ Đạo phòng

chống cháy rừng cấp xã, các thôn có các đội phòng chống cháy rừng Nhìn chung,

đây là vùng có nguồn lao động dồi dào, nhân dân có kinh nghiệm bảo vệ rừng, trồng

Thông lấy nhựa, cây đặc sản, cây ăn quả, Tiềm năng sản xuất lâm nghiệp là rất

lớn Hệ thống đường giao thông tương đối thuận lợi đến thị trấn Cao Lộc và Thành

Phố Lạng Sơn Phong trào trồng, xây dựng vườn rừng trang trại rừng đã phát triển

nhưng trên quy mô hẹp, chưa phát triển rộng khắp, nguyên nhân chủ yếu do thiếu

vốn đầu tư sản xuất và hạn chế về khoa học kỹ thuật để sản xuất hàng hoá từ nghề

rừng

Bước vào hội nhập nền kinh tế thế giới vừa là cơ hội vừa là thánh thức lớn,

nhất là trong bối cảnh về kinh tế của huyện còn nhiều yếu tố lạc hậu, chậm phát

triển Do đó, các ngành kinh tế nói chung, ngành lâm nghiệp nói riêng đang đứng

trước nhiều thách thức Trước thực trạng công tác xây dựng và phát triển vốn rừng

Trang 28

còn chậm, giá trị sản xuất lâm nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của huyện Trong những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với chính sách cụ thể: các DA chuyên ngành về nông nghiệp, lâm nghiệp, y tế, giáo dục định canh, định cư, gần đây nhất là chương trình 135,134, DA 661 đời sống nhân dân các dân tộc nâng lên rõ rệt DA đã tận dụng được lao động nông nhàn, phát triển nghề rừng cũng như nghề phụ khác, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân

Do đó, việc đánh giá hiệu quả DA 661 làm cơ sơ đề xuất biện pháp tổ chức sản xuất, các chính sách, nâng cao hiệu quả lao động, giúp người dân khảng định được chính mình, mang ý nghĩa thiết thực

Trang 29

Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.2 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu gồm rừng trồng mới và rừng khoanh nuôi phục hồi là

rừng sản xuất và rừng phòng hộ thuộc DA 661 huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

3.2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn thời gian: Từ tháng 4/2009 đến hết tháng 10/2009

- Giới hạn không gian: Tại địa điểm nghiên cứu lựa chọn mỗi tiểu vùng một

xã đại diện điển hình cho đối tượng nghiên cứu:

Tiểu vùng I: chọn xã Cao Lâu

Tiểu vùng II: chọn xã Hải Yến

Tiểu vùng III: chọn xã Tân Thành

Thông qua các chỉ tiêu sau: Phải là xã trung bình, tiên tiến trong vùng dự án

- Có diện tích trung bình, khá (đặc biệt là diện tích đất lâm nghiệp)

- Có đầy đủ hoạt động của dự án

- Có hệ thống cơ sở hạ tầng trung bình, khá

Trang 30

Qúa trình hoạt động của DA diễn ra trong thời gian từ năm 1999 - 2008; do vậy phạm vi của đề tài đi sâu đánh giá diện tích rừng tạo mới, tình hình sinh trưởng

và hiệu quả kinh tế một số loài cây trồng chính và tác động của DA 661 đến môi trường, phát triển kinh tế - xã hội địa phương cũng nhưtrong việc thực hiện chính sách quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng

Việc đánh giá tác động của DA về mặt phát triển kinh tế - xã hội, môi trường sinh thái chỉ thực hiện một số chỉ tiêu phù hợp với thời gian nghiên cứu của đề tài

3.3 Nội dung nghiên cứu

Từ mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, nhiệm vụ của đề tài chủ yếu tập chung nghiên cứu các nội dung:

3.3.1 Đánh giá thực trạng triển khai thực hiện dự án và sự tham gia của người dân trong chu trình DA 661

- Công tác chuẩn bị DA

- Cơ cấu tổ chức quản lý, chỉ đạo DA

- Thiết kế và lập kế hoạch thực hiện DA

- Giám sát theo dõi DA

3.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của DA 661

-Đánh giá hiện trạng rừng khu vực nghiên cứu tại thời điểm bắt đầu DA 661

- Quy mô diện tích và vốn cơ sở của DA

- Quy mô vốn đầu tư của DA

- Các hoạt động của DA

3.3.3 Hiệu quả thực hiện các hoạt động của DA 661

- Đánh giá hiệu quả kinh tế một một số loài cây trồng rừng chính của DA

- Tác động DA đến môi trường sinh thái phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Cao Lộc

Trang 31

3.3.4 Đánh giá hiệu qủa DA 661 trong việc thực hiện chính sách quản lý và

phát triển bền vững tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường,

- Các chính sách liên quan

- Đánh giá hiệu quả của DA 661 trong việc thực hiện chính sách quản lý và phát

triển bền vững tài nguyên rừng, bảo vệ môi trường,…

3.3.5 Một số bài học kinh nghiệm

3.3.6 Đề xuất một số chính sách nâng cao hiệu quả đầu tư các dự án phát triển

lâm nghiệp huyện Cao Lộc

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận chính sẽ là kế

thừa các kết quả nghiên cứu đã có kết hợp với điều tra khảo sát tại hiện trường

Hướng giải quyết cụ thể sẽ áp dụng cho từng loại rừng và từng địa điểm cụ thể

Các bước tiến hành cụ thể được sơ đồ hoá như sau:

Thu thập và phân tích các tài

Điều tra, đánh giá các quá trình của

DA và sự tham gia của người dân

Phân tích và xử lý các số liệu thu được

Tổng hợp, đánh giá và đề xuất một số giải pháp

Trang 32

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu chung

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu đã đề ra, đề tài áp dụng phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (Participatory Rural Appraisal - PRA) thời gian nghiên cứu của đề tài ngắn nên cách tiếp cận chính sẽ là kế thừa các kết quả nghiên cứu và phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA (Rapid Rural Appraisal), để thu thập thông tin và số liệu cần thiết

về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, tình hình thực hiện DA và ảnh hưởng của các chính sách đến phát triển rừng ở địa phương Phương pháp này được tiến hành từ cấp tỉnh cho đến cấp huyện, cấp xã và các hộ dân Kết hợp việc bố trí các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời, điều tra tình hình sinh trưởng của rừng trồng, rừng khoanh nuôi Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu và phương pháp phân tích kinh tế, xã hội, môi trường

3.4.2 Các phương pháp nghiên cứu

3.4.2.1 Phương pháp thu thập tư liệu

1 Sử dụng phương pháp kế thừa số liệu

- Các tư liệu về điều kiện tự nhiên, báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, nhiệm vụ, kế hoạch năm 2009 của huyện Cao Lộc

- Các loại bản đồ: Bản đồ điạ hình, bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch sử

dụng đất cùng các loại bảng biểu số liệu kèm theo

- Các tư liệu về thiết kế trồng rừng, nghiệm thu trồng rừng, niên giám thống

kê số liệu khoa học, sản xuất đã công bố

- Các kết quả nghiên cứu đã có trước đây của DA 661 về RSX, RPH, rừng khoanh nuôi phục hồi

Trang 33

- Điều tra về dân sinh kinh tế và sự tham gia của người dân tham gia trồng rừng và các tổ chức xã hội Mỗi xã tiến hành phỏng vấn 30 HGĐ có tỷ lệ các nhóm

hộ phân bố đều bằng các mẫu phiếu điều tra

Cơ sở của việc phân loại dựa chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 8/7/2005 của Chính phủ về chuẩn nghèo Từ

số liệu điều tra cơ bản của vùng DA, tiến hành họp dân, giúp họ tự phân loại kinh tế

hộ theo các mức sau:

Hộ khá: Thu nhập bình quân người/năm>2.400.000 đồng

Hộ nghèo: Thu nhập bình quân người/năm ≤2.400.000 đồng

- Cơ cấu tổ chức, điều hành DA bằng phương pháp phỏng vấn có sự tham gia của các tổ chức, cơ quan quản lý

3 Sử dụng phương pháp điều tra và thu thập các số liệu tại hiện trường

- Căn cứ vào bản đồ thiết kế trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng hàng năm

- Căn cứ vào biên bản nghiệm thu trồng rừng

- Kiểm tra tại thực địa

 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu:

Trên cơ sở điều tra khảo sát, địa hình huyện Cao Lộc gồm 3 tiểu vùng, đề tài lựa chọn mỗi tiểu vùng một xã đại diện điển hình cho đối tượng nghiên cứu:

Tiểu vùng I: chọn xã Cao Lâu

Tiểu vùng II: chọn xã Hải Yến

Tiểu vùng III: chọn xã Tân Thành

Tại các xã trên dựa trên bản đồ thiết kế trồng rừng, và hồ sơ thiết kế, biên bản nghiệm thu, tiến hành đối chiếu với thực địa rừng trồng, rừng khoanh nuôi hiện

có để điểu chỉnh bổ xung kết hợp bản đồ thu thập, lập các ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời điều tra chi tiết rừng trồng mới, rừng khoanh nuôi thuộc DA 661

 Thiết lập ô tiêu chuẩn, thu thập số liệu:

- Diện tích ô tiêu chuẩn từ 500 m2 (20mx25m) Tổng số ôtc là 35 ô (20 ôtc rừng trồng và 15 ôtc rừng khoanh nuôi phục hồi)

- Trên ô tiêu chuẩn, tiến hành thu thập số liệu đánh giá sinh trưởng rừng trồng: sinh trưởng và phát triển của rừng: Đo đếm toàn bộ số cây về các chỉ tiêu:

D1.3, Hvn, Hdc,

Trang 34

- Điều tra cây bụi, thảm tươi: 5 ô dạng bản có diện tích 4m2 trong ô tiêu chuẩn, xác định độ che phủ, tên loài cây, chiều cao, sinh trưởng

- Độ che phủ của rừng được xác định bằng tỷ lệ % diện tích đất có rừng/diện tích đất tự nhiên

- Xác định độ tàn che bằng phương pháp vẽ trắc đồ đường kính tán (tỷ lệ diện tích đường kính tán/diện tích ôtc)

- Mật độ hiện tại

- Xác định độ dốc bằng địa bàn cầm tay và thước đo cao

- Xác định độ ẩm và nhiệt độ dưới tán rừng và ngoài đất trống

- Xác định mật độ sinh trưởng cây tái sinh trên ô dạng bản 25m2 (5mx5m)

4 Phương pháp viễn thám

- Phục hồi bản đồ hiện trạng sử dụng đất (rừng trồng, các loại rừng khác, đất

trống phục vụ trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi, ) của khu vực nghiên cứu năm

2008) bằng các phần mềm GIS (MapInfo, ArcGIS,…)

- Xử lý, phân tích số liệu ô tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển rừng DA 661 tại khu vực nghiên cứu

- Phương pháp chuyên gia đánh giá hiệu quả của các hoạt động DA 661

3.4.2.2 Đánh giá, phân tích hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính trong vùng

DA

Việc đánh giá hiệu quả kinh tế một số loài cây trồng chính được dựa trên cơ

sở tài liệu của Công ty giống cây trồng Lạng Sơn, báo cáo đầu tư trồng rừng DA

661 của BQL DA 661 huyện Cao Lộc, kết hợp với việc phỏng vấn người dân, kết quả điều tra giá cả thị trường về nông lâm sản Hiệu quả kinh tế của một số cây

Trang 35

trồng chính được tính toán thông qua một số chỉ tiêu như chi phí, thu nhập và tính các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế sau:

 Giá trị lợi nhuận ròng (NPV - Net Present Value)

NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện hàng năm của các hoạt động sản xuất trong các mô hình, sau khi đã triết khấu để quy về thời điểm hiện tại

0 (1 ) (3.1) Trong đó:

NPV: giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng (đồng)

Bt: Giá trị thu nhập ở năm t (đồng) Ct: Giá trị chi phí ở năm t (đồng) t: thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)

n

t 0

: Tổng giá trị hiện tại của lợi nhuận ròng từ năm 0 đến năm t

NPV dùng để đánh giá hiệu quả các mô hình có quy mô đầu tư, kết cấu giống nhau, mô hình nào có NPV lớn thì hiệu quả lớn hơn Chỉ tiêu này nói lên được quy mô lợi nhuận về mặt số lượng, nếu NPV0 thì mô hình có hiệu quả và ngược lại Chỉ tiêu này nói lên được mức độ (độ lớn) của các chi phí đạt được NPV,

chưa cho biết được mức độ đầu tư

 Tỷ xuất thu nhập và chi phí (BCR – Benefits to Cost Ratio)

BCR là tỷ số sinh lãi thực tế, nó phản ánh mức độ đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất Công thức tính như sau:

0

0

) 1 (

) 1 (

Trang 36

BPV: Giá trị hiện tại của thu nhập (đ)

CPV: Giá trị hiện tại của chi phí (đ) Dùng BCR để đánh giá hiệu quả đầu tư cho các mô hình, mô hình nào có BCR1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại

 Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR – Internal Rate of Return)

IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn IRR là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ này làm cho NPV=0 tức là:

0 (1 ) = 0 thì r = IRR (3.3) IRR được tính theo (%), được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế, mô hình nào có IRR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao

Tỷ lệ chiết khấu dùng cho các công thức tính là 5,4%/năm

* Phương pháp tính hiệu quả tổng hợp của các mô hình

Để đánh giá hiệu quả tổng hợp áp dụng phương pháp tính chỉ tiêu hiệu quả canh tác Ect = Effective Indicator of farming system của W Rola (1994)

Trang 37

- Đánh giá sự thay đổi về diện tích rừng, độ che phủ, kết cấu của rừng trên cơ

sở tổng hợp kết quả trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi của DA và so với hiện trạng năm 1998

- Đánh giá hiệu quả ảnh hưởng của rừng đến tiểu khí hậu dưới tán rừng: Tiến hành quan sát và đo các chỉ tiêu về độ ẩm không khí và nhiệt độ mặt đất tán rừng và đất trống, dùng ẩm độ kế khô - ướt đặt 3 vị trí dưới tán rừng và đất trống, dùng nhiệt

kế đo nhiệt độ

- Cải thiện nguồn nước trong vùng: Được đánh giá bằng phương pháp đánh giá có sự tham gia của người dân

- Tính đa dạng sinh học được xác định theo công thức Simpson

Chỉ số Simpson được sử dụng sớm nhất vào năm 1949 với dạng:

1

2

1 1 (3.5) Trong đó: pi là tổ thành của loài i, pi = ni/n; s là số loài trong quần xã Công thức trên dùng cho trường hợp n rất lớn so với ni Nếu n có số lượng không quá lớn so với ni thì sử dụng công thức:

n

n n

n D

1 2

1

1

1 (3.6)

 Nghiên cứu đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội thông qua:

- Phương pháp được áp dụng đánh giá hiệu quả là dựa vào trực tiếp số liệu để tính toán các chỉ tiêu định lượng và thực hiện các xem xét mang tính chất định tính

- Việc thu thập số liệu căn cứ vào các hồ sơ, báo cáo, thiết kế DA, báo cáo tổng kết thường kỳ có liên quan Ngoài ra, còn căn cứ vào kết quả thực hiện của DA qua từng thời kỳ, từng năm, các văn bản thông tư và định mức kinh tế kỹ thuật

- Một số nội dung, thông tin khác được thu thập bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) Tiến hành đánh giá hiệu quả xã hội thông qua các nội dung sau:

Trang 38

+ Mức độ nhận thức của người dân đối với phương thức canh tác, thể hiện qua chỉ số số lượng các HGĐ tham gia vào hoạt động DA (trồng rừng, chăm sóc, quản lý bảo vệ rừng,…)

+ Các phương thức canh tác được người dân chấp nhận là những phương thức mang lại hiệu quả kinh tế cao, áp dụng kỹ thuật dễ dàng và các điều kiện về vật

tư, tiền vốn, tiêu thụ sản phẩm, bảo vệ môi trường cảnh quan, được đáp ứng thoả đáng

+ Hiệu quả giải quyết công ăn việc làm (mức độ thu hút nguồn lao động

thông qua các hoạt động của DA) xác định số nhân công cần thiết đầu tư cho các hoạt động của DA trong suốt chu kỳ Từ đó cân đối giữa khả năng và nhu cầu lao động trong vùng để biết được khả năng về lao động và tạo công ăn việc làm cho người dân trong vùng

+ Khả năng phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân trong vùng DA

3.4.2.4 Đánh giá hiệu quả DA 661 trong việc thực hiện chính sách quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng

Dùng phương pháp chuyên gia, phương pháp phỏng vấn, phân tích số liệu,

thông tin đã thu thập để so sánh, đánh giá hiệu quả thực hiện DA thông qua các mặt:

số liệu khoa học, sản xuất đã công bố kết hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện của huyện

Trang 39

Xác định mức độ huy động các doanh nghiệp, các cá nhân thuộc các thành phần kinh tế liên kết với dân để phát triển DA như: thuê rừng, thuê đất, góp vốn để trồng rừng kinh tế, rừng phục vụ Danh lam thắng cảnh, phát triển du lịch

 Chính sách vốn đầu tư

Đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả đầu tư của Nhà nước thông qua các cơ

chế, chính sách cũng như các tài liệu định mức kinh tế, kỹ thuật dựa trên các văn bản pháp luật đã ban hành có liên quan bao gồm: Mức đầu tư, phương thức đầu tư, phương thức huy động vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân

 Chính sách phát triển nguồn nhân lực:

Đánh giá chính sách phát triển nguồn nhân lực thông qua các hình thức đào tạo, các chương trình đào tạo, tập huấn cho đội ngũ Cán bộ kỹ thuật của các địa phương

 Chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm:

Đánh giá hiệu quả của các chính sách hưởng lợi và tiêu thụ sản phẩm thông qua Quyết định số 178/2001/QĐ- TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ

về quyền lợi, nghĩa vụ của HGĐ, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp Quyết định 186/2006/ QĐ - TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về quy chế quản lý rừng Họp dân và thảo luận kết kợp với điều tra thông qua phiếu phỏng vấn HGD

 Chính sách khoa học và công nghệ:

Chính sách khoa học và công nghệ được đánh giá thông qua các tiêu chuẩn sau: Mức độ đầu tư cho nghiên cứu khoa học: chọn, dẫn giống cây trồng nhằm phù hợp với mục tiêu xây dựng RSX, RPH và rừng đặc dụng

Nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật mới về; kỹ thuật canh tác, chọn giống cây trồng, quản lý bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, sâu hại, mở rộng các hình thức sản xuất tiên tiến

Mức độ đầu tư cho việc triển khai, ứng dụng khoa học công nghệ thực hiện

DA

Trang 40

3.4.2.5 Đánh giá tình hình sinh trưởng rừng trồng

Mật độ:

N = 10000 x (Ncây/ô/Sô) (3.7) Với: Ncây/ô- Số cây gỗ hoặc cây tái sinh trong OTC

Sô- Diện tích OTC Tiết diện ngang:

Gi = D i

2 13

* 4

(3.8) Với: D213i: Đường kính của cây thứ i

H: Chiều cao vút ngọn Tăng trưởng bình quân năm:

Z = M/A (3.10) Với: M- Chỉ tiêu sinh trưởng (D1.3tb, Hvntb, Vtb) A- Tuổi lâm phần

n- Số cây trong ô tiêu chuẩn

3.4.2.6 Phân tích và xử lý các số liệu được thực hiện bởi phần mềm SPSS kết hợp với phần mềm Excel của bộ Microsoft office

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Trần Hữu Đào (1995), Đánh giá hiệu quả kinh doanh trồng Quế của các HGĐ ở Văn Yên-Yên Bái, Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh doanh trồng Quế của các HGĐ ở Văn Yên-Yên Bái
Tác giả: Trần Hữu Đào
Năm: 1995
16. Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự (1996), Giáo trình lập và quản lý DA đầu tư, trường Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lập và quản lý DA đầu tư
Tác giả: Nguyễn Ngọc Mai và cộng sự
Năm: 1996
17. Đoàn Thị Mai (1997), Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất canh tác nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy, Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất canh tác nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy
Tác giả: Đoàn Thị Mai
Năm: 1997
18. Đoàn Hoài Nam (1996), Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế-sinh thái của một sô mô hình rừng trồng tại Yên Hưng-Hàm Yên-Tuyên Quang, Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế-sinh thái của một sô mô hình rừng trồng tại Yên Hưng-Hàm Yên-Tuyên Quang
Tác giả: Đoàn Hoài Nam
Năm: 1996
20. Nguyễn Thị Oanh (1999), Phát triển cộng đồng, Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 1999
25. Trung tâm lâm nghiệp xã hội (2000), Bài giảng quản lý lâm nghiệp xã hội, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý lâm nghiệp xã hội
Tác giả: Trung tâm lâm nghiệp xã hội
Năm: 2000
27. Cao Danh Thịnh (1998), Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số DA Lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn sông Đà, Luận Văn thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm ứng dụng một số phương pháp định lượng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trường của một số DA Lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn sông Đà
Tác giả: Cao Danh Thịnh
Năm: 1998
28. Phạm Xuân Thịnh (2002), Đánh giá tác động DA KFW2 tại vùng DA Tân Hoa huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động DA KFW2 tại vùng DA Tân Hoa huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Phạm Xuân Thịnh
Năm: 2002
29. Hoành Xuân Tý (1994) với công trình “Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các DA trồng rừng bảo vệ rừng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các DA trồng rừng bảo vệ rừng
30. Hoàng Liên Sơn (2006), , “Đánh giá hiệu quả các DA Lâm nghiệp ở Tây Nguyên giai đoạn 1995 – 2005 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong Lâm nghiệp của Vùng” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả các DA Lâm nghiệp ở Tây Nguyên giai đoạn 1995 – 2005 nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư trong Lâm nghiệp của Vùng
Tác giả: Hoàng Liên Sơn
Năm: 2006
31. Hoàng Liên Sơn (2006), “Nghiên cứu đánh giá chất lượng rừng trồng phòng hộ trên đất cát ven biển trong DA 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005 của 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận và Bình Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: 31. Hoàng Liên Sơn (2006), “Nghiên cứu đánh giá chất lượng rừng trồng phòng hộ trên đất cát ven biển trong DA 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005 của 4 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Thuận và Bình Thuận
Tác giả: Hoàng Liên Sơn
Năm: 2006
32. Võ Đại Hải, (2006), “Điều tra tình hình thực hiện kế hoạch trồng RPH 661 trên đất cát ven biển tỉnh Quảng Trị giai đoạn 1998-2005” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra tình hình thực hiện kế hoạch trồng RPH 661 trên đất cát ven biển tỉnh Quảng Trị giai đoạn 1998-2005
Tác giả: Võ Đại Hải
Năm: 2006
33. Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên & môi trường, Trung tâm tài nguyên & môi trường (1999), “Báo cáo tóm tắt dự án điều tra hiệntrạng đa dạng sinh học vùng núi Mẫu Sơn CaoLộc tỉnh Lạng Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tóm tắt dự án điều tra hiện
Tác giả: Viện sinh thái tài nguyên sinh vật, Trung tâm nghiên cứu tài nguyên & môi trường, Trung tâm tài nguyên & môi trường
Năm: 1999
35. Cục Lâm nghiệp (số 4-2008), Bản tin trồng mới 5 triệu ha rừng. 2. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin trồng mới 5 triệu ha rừng
36. Katherine Warnerm. Auguctamolnar, john B. Raintree (1989-1991), Community forestry sifting cultivator Socio-economic attributes of tree planting practice, Food and Agriculture organization of united nation Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community forestry sifting cultivator Socio-economic attributes of tree planting practice
37. L.Therse Barker, The Practice of sociologi research. New york, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Practice of sociologi research
1. Chính phủ, Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện DA 661 Khác
2. Chính phủ, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, cá nhân, HGĐ sử dụng lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
3. Chính phủ, Quyết định số 178/TTg ngày 12/11/2001 về quyền lợi, nghĩa vụ của HGĐ, cá nhân được giao được thuê khoán rừng và đất Lâm nghiệp Khác
4. Chính phủ, Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 về việc ban hành quy chế quản lý rừng Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w