1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm phân bố sinh trưởng và sản lượng quả của sa nhân tím amomum longiligulare t l WU tại vườn quốc gia pù mát tỉnh nghệ an

89 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đặc Điểm Phân Bố, Sinh Trưởng Và Sản Lượng Quả Của Sa Nhân Tím (Amomum Longiligulare T. L. Wu) Tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Tỉnh Nghệ An
Tác giả Nguyễn Tất Hà
Người hướng dẫn PGS. TS. Phạm Văn Điển
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ Khoa Học Lâm Nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 3,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Ở ngoài nước (13)
      • 1.1.1. Thành quả nghiên cứu (13)
        • 1.1.1.1 Về đặc điểm phân bố của Sa nhân tím (13)
        • 1.1.1.2. Về đặc điểm sinh trưởng của Sa Nhân tím (13)
        • 1.1.1.3. Về sản lượng quả của Sa nhân tím (14)
      • 1.1.2. Tồn tại nghiên cứu (15)
    • 1.2. Ở trong nước (15)
      • 1.2.1. Thành quả nghiên cứu (15)
        • 1.2.1.1. Về đặc điểm phân bố của loài Sa nhân tím (15)
        • 1.2.1.2. Về đặc điểm sinh trưởng của loài Sa nhân tím (16)
        • 1.2.1.3. Về đặc điểm sản lượng quả Sa nhân tím (17)
      • 1.2.2. Tồn tại nghiên cứu (18)
    • 1.3. Thảo luận (18)
  • Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (20)
    • 2.1. Mục tiêu (20)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (20)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (20)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (20)
    • 2.3. Phạm vi nghiên cứu (20)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (20)
      • 2.4.1. Nghiên cứu đặc điểm phân bố của Sa nhân tím (20)
      • 2.4.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của Sa nhân tím (21)
      • 2.4.3. Nghiên cứu sản lượng quả Sa nhân tím (21)
      • 2.4.4. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu (21)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (21)
      • 2.5.1. Tổng hợp tài liệu (21)
      • 2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu (21)
      • 2.5.3. Phương pháp xử lý số liệu (24)
      • 2.5.4. Sinh trưởng của Sa nhân tím được trồng trên các vị trí địa hình khác nhau (25)
  • Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (27)
    • 3.1. Vị trí địa lý (27)
    • 3.2. Diện tích (27)
    • 3.3. Địa hình - địa mạo (27)
    • 3.4. Đất đai, thổ nhưỡng (28)
      • 3.4.1. Đất đai (28)
      • 3.4.2. Thổ nhưỡng (29)
    • 3.5. Khí hậu thuỷ văn (29)
      • 3.5.1. Chế độ nhiệt (29)
      • 3.5.3. Thủy văn (30)
    • 3.6. Hiện trạng tài nguyên rừng Vườn Quốc gia Pù Mát (30)
    • 3.7. Kinh tế – Xã hội (31)
    • 3.8. Hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất (32)
    • 3.9. Thuận lợi, khó khăn và cơ hội của khu vực nghiên cứu (35)
      • 3.9.1. Thuận lợi (35)
      • 3.9.2. Khó khăn (35)
      • 3.9.3. Cơ hội (36)
  • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 4.1. Đặc điểm phân bố của Sa nhân tím (37)
      • 4.1.1. Phạm vi, địa điểm và diện tích loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu (37)
        • 4.1.1.1 Diện tích Sa nhân tím tại VQG Pù Mát (37)
        • 4.1.1.2. Phân bố Sa nhân tím theo trạng thái rừng (39)
      • 4.1.3. Phấn bố Sa nhân tím theo độ dốc (40)
      • 4.1.4. Phân bố Sa nhân tím theo độ cao tuyệt đối (41)
      • 4.1.5. Phân bố Sa nhân tím theo hướng phơi tại khu vực nghiên cứu (42)
      • 4.1.6. Phân bố Sa nhân tím theo điều kiện thổ nhưỡng (42)
      • 4.1.7. Thảm thực vật nơi sa nhân tím phân bố tại Vườn quốc gia Pù Mát (49)
        • 4.1.7.1. Thảm thực vật Vườn quốc gia Pù Mát (49)
        • 4.1.7.2. Thảm thực vật nơi Sa nhân tím phân bố (51)
    • 4.2. Đặc điểm sinh trưởng của Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu (54)
      • 4.2.1. Sinh trưởng của Sa nhân tím được trồng trên các vị trí địa hình khác nhau (54)
      • 4.2.2. Sinh trưởng của Sa nhân tím mọc tự nhiên ở ba vị trí thuộc khu vực nghiên cứu (54)
    • 4.3. Sản lượng quả Sa nhân tím (57)
      • 4.3.1. Đặc điểm ra hoa và kết quả của Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau (57)
      • 4.3.2. Đặc điểm khối lượng quả Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau (61)
      • 4.3.4 Biến động của sản lượng quả Sa nhân tím theo các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng (65)
    • 4.4. Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu (67)
      • 4.4.1. Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) (68)
      • 4.4.2. Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) (69)
  • Chương 5: KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ (70)
    • 5.1. Kết luận (70)
    • 5.2. Tồn tại (71)
    • 5.3. Khuyến nghị ............................................................................................. 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... PHỤ LỤC I .......................................................................................................... PHỤ LỤC II ........................................................................................................ PHỤ LỤC III (72)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Ở ngoài nước

1.1.1.1 Về đặc điểm phân bố của Sa nhân tím

Chi Sa nhân (Amomum) thuộc họ gừng phát triển tốt dưới tán rừng nhiệt đới và ven suối, nơi có ánh sáng tán xạ và tầng đất dày Loài này chủ yếu tập trung ở bốn tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây, và Quảng Đông của Trung Quốc Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào được công bố về loài Sa nhân tím - Amomum longiligulare T L.

1.1.1.2 Về đặc điểm sinh trưởng của Sa Nhân tím

Theo tạp chí sinh lý thực vật và sinh học phân tử của Li, Sheng, năm

Nghiên cứu năm 2004 về loài Sa nhân Amomum villosum L cho thấy sự khác biệt trong quá trình quang hợp và lão hóa của lá tùy thuộc vào vị trí của lá Tác giả khẳng định rằng quang hợp có liên quan đến quá trình lão hóa của lá Sa nhân, nhưng chưa cung cấp số liệu cụ thể về ảnh hưởng của ánh sáng đối với sự sinh trưởng và phát triển của loài này.

Theo một nhóm tác giả khác như Gao L, Liu H, Gui J, Nie Z, Dua Q

Nghiên cứu về sự phát triển bền vững trong mô hình trồng Sa nhân tại Xishuagiangbanna, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc đã chỉ ra quá trình sinh trưởng và phát triển của loài Sa nhân.

Sa nhân phát triển mạnh mẽ trong môi trường rừng nhiệt đới và có thể thu hoạch sau 3 năm Tuy nhiên, nhóm tác giả chỉ dừng lại ở việc quan sát và đưa ra kết luận mà chưa thực hiện nghiên cứu sâu hơn, như đo đếm chiều cao thân cây và số lượng khóm cây.

Nghiên cứu của nhóm tác giả Feng Z, Gan J, Zheng Z, Feng Y chỉ ra rằng năng suất của loài Sa nhân Amomum villosum L có sự khác biệt rõ rệt khi so sánh giữa rừng mưa mùa nhiệt đới và rừng thứ sinh Cụ thể, số lượng khóm và chiều cao cây Sa nhân dưới tán rừng mưa nhiệt đới vượt trội hơn so với cây Sa nhân trong rừng thứ sinh Ngoài ra, nhóm tác giả cũng đã phát hiện sự khác biệt về số lượng chồi và cây giống của loài này.

Sa nhân Amomum villosum được trồng ở hai loại rừng khác nhau, cụ thể là dưới tán rừng nhiệt đới mưa mùa và dưới tán rừng thứ sinh, với tổng chồi và cây giống lần lượt đạt 3,95 và 1,66 Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu hiện nay chỉ mới dừng lại ở việc trồng và theo dõi sự sinh trưởng, phát triển của loài cây này.

L ở hai loại rừng nói trên mà chưa quan tâm theo dõi sự ảnh hưởng của các yếu tố khác ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của loài này như yếu tố về dinh dưỡng trong đất, hướng phơi, độ dốc, độ cao và đặc biệt là cường độ ánh sáng

1.1.1.3 Về sản lượng quả của Sa nhân tím

Theo nhóm tác giả Gao L và cộng sự [29] cho biết năng suất Sa nhân

Amomum villosum L là tương đối lớn, với diện tích 5811 ha Sau ba năm cho năng suất 542 tấn (1998) và quá trình này có thể kéo dài hơn chục năm

Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Feng Z và cộng sự, quá trình phát triển của Sa nhân trong môi trường rừng nhiệt đới mưa mùa và rừng thứ sinh có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, về mặt sinh khối, những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển của Sa nhân.

Nghiên cứu cho thấy Sa nhân trồng dưới tán rừng thứ sinh có năng suất cao hơn (78,068 kg/ha) so với Sa nhân trồng dưới tán rừng nhiệt đới mưa mùa, với sự chênh lệch khoảng 0,6 lần Điều này đặt ra câu hỏi cần nghiên cứu thêm về các điều kiện lập địa và yếu tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến sự đơm hoa và kết quả của loài Sa nhân cũng như các loài thực vật khác.

Các nghiên cứu hiện tại vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của Sa nhân Amomum villosum L., đặc biệt là các yếu tố như cường độ ánh sáng và điều kiện thổ nhưỡng.

(các hàm lượng dễ tiêu như P205, pH, mùn, N20, ), độ dốc, độ ẩm đất trung bình tháng, hướng phơi,

Các tác giả chưa đề cập đến mùa ra hoa và quả của loài Sa nhân, đặc biệt trong hai loại rừng là rừng thứ sinh và rừng nhiệt đới mưa mùa.

Ở trong nước

1.2.1.1 Về đặc điểm phân bố của loài Sa nhân tím

- Theo Nguyễn Tập và cộng sự (1995), cho biết cả hai loài: Sa nhân tím

Amomum longiligulare T L Wu và Sa nhân (A villosum L.) phân bố rộng rãi từ bắc vào nam, chủ yếu tập trung ở các tỉnh trung du miền núi Chúng thường mọc tự nhiên dưới tán rừng thứ sinh, ven suối, tại những khu vực có độ ẩm đất tốt.

- Trong những năm gần đây trung tâm nghiên cứu dược liệu đã triển khai trồng thử nghiệm thành công loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T

L Wu.) dưới tán rừng trồng và thứ sinh thuộc các tỉnh Quang Nam, Bình Định, Phú Thọ, Thái Nguyên, Hoà Bình [27]

- Một số tác giả khác khi nghiên cứu về loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T L Wu) điển hình như tác giả: Võ Văn Chi, 1997 [5]; Nguyễn

Chiều, 1991, 1993 [6,7]; Nguyễn Tập, 1995 [21]; Nguyễn Thanh Phương,

Sa nhân tím, theo nhiều nghiên cứu, chủ yếu phân bố ở các tỉnh phía Nam như Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai và Đăk Lắc Loài cây này có khả năng thích nghi cao với khí hậu nhiệt đới, đặc biệt là ở những vùng có hai mùa mưa và khô rõ rệt, với nhiệt độ trung bình năm khoảng 22 - 24 độ C Đáng chú ý, khi được trồng ở các tỉnh phía Bắc như Phú Thọ, Thái Nguyên và Hoà Bình, sa nhân tím vẫn phát triển tốt, cho thấy vùng sinh thái của loài này khá rộng.

1.2.1.2 Về đặc điểm sinh trưởng của loài Sa nhân tím

- Theo tác giả Võ Văn Chi [5], từ điển cây thuốc Việt Nam] mô tả, thì loài Sa nhân tím - Amomum longiligulare T L Wu còn có các tên khác như

Sa nhân lưỡi dài, Mè tré bà, Hải nam Sa nhân Tác giả mô tả về loài này bao gồm một số đặc điểm chính như sau:

+ Về đặc điểm hình thái: loài Sa nhân tím- Amomum longiligulare T L

Wu là một loại cây thảo lâu năm, có chiều cao từ 1 đến 2 mét với thân rễ khỏe Lá của cây thon dài, kích thước khoảng 20-30cm và rộng 2,5cm, không có lông, trong khi lá kèm có chiều cao từ 2 đến 4,5cm Cụm hoa phát triển từ thân rễ, thường thấp ở các đốt, với số lượng hoa ít và có màu vàng nâu Quả của cây là dạng nang xoan, có màu tím với những gai nhỏ, hình dạng cong cong, kích thước hạt từ 1,5 đến 2,2cm x 0,8 đến 1,2cm và có màu tia tía.

Ra hoa khoảng tháng 4 - 6, quả khoảng tháng 6 - 9

Nguyễn Tập và cộng sự (1995) cho biết rằng loài Sa nhân tím ở miền Bắc có mùa sinh trưởng mạnh trùng với mùa mưa ẩm Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe từ thân rễ, với vụ chồi đầu vào mùa xuân - hè và vụ sau vào hè - thu Nhánh cây chồi từ một năm tuổi trở lên có thể ra hoa quả, chủ yếu vào tháng 4 - 5, trong khi quả già vào tháng 7 Đáng chú ý, từ tháng 6 đến tháng 7, cây lại tiếp tục ra thêm lứa hoa, nhưng lứa hoa quả thứ hai thường ít hơn nhiều so với lứa đầu.

- Nguyễn Thị Phương Lan, 2004 [15] cho biết hầu hết Sa nhân tím (Amomum longiligulare Wu) mọc hoang dại ở các xã miền núi tỉnh Ninh

Thuận đều sinh trưởng tốt, khả năng đẻ nhánh mạnh, trung bình 6 - 7 nhánh/khóm, chiều cao trung bình từ 0,7 - 1m, ra hoa từ tháng 5 - 6

Nguyễn Ngọc Đạo và cộng sự (2007) đã nghiên cứu quy trình kỹ thuật trồng, thu hoạch và bảo quản dược tích của loài Sa nhân tím tại tỉnh Bình Định, thử nghiệm trên hai loại hình rừng: rừng tự nhiên và rừng trồng keo Acacia mangium L Rừng trồng được mô tả là rừng phòng hộ, với cây keo 6 năm tuổi trồng làm giàu bằng cây muồng đen 3 năm tuổi, khai thác tỉa thưa 20% cây keo, độ tàn che 0,5-0,6, mật độ 1000 cây/ha keo và 500 cây/ha muồng đen, ở độ cao 600m, độ dốc 8 độ, trên đất feralit phát triển từ đá mẹ granit màu xám nâu, với độ dày tầng đất 70-90 cm và thành phần cơ giới thịt nhẹ Ba công thức phân bón được áp dụng: công thức 1 (NPK 0,05 kg/hố), công thức 2 (NPK 0,05 kg + 0,1 kg vi sinh/hố) và công thức 3 (NPK 0,05 kg + 0,2 kg/hố) Kết quả cho thấy sau 11 tháng, tỷ lệ sống sót của Sa nhân tím ở rừng tự nhiên đạt 95% và ở rừng trồng đạt 90%, trong đó số lượng cây đẻ nhánh ở công thức 2 và 3 cao hơn công thức 1 Sâu bệnh hại chủ yếu là sâu xám, sâu róm, bọ nẹt xanh, bệnh khô lá và nấm muội.

1.2.1.3 Về đặc điểm sản lượng quả Sa nhân tím

Theo nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Đạo và cộng sự (2004), mô hình trồng Sa nhân tím dưới tán rừng cho thấy năng suất quả cao, với tỷ lệ cây ra hoa đạt 86 - 91,7% sau 30 tháng trồng và 100% sau 33 tháng Năng suất khi trồng dưới tán rừng tự nhiên ghi nhận là 138.

Năng suất trồng keo tai tượng dưới tán rừng trồng đạt từ 272 đến 322 kg/ha, trong khi năng suất dưới tán rừng tự nhiên năm thứ 4 lại thấp hơn so với rừng trồng Số liệu này cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong hiệu quả trồng trọt giữa hai loại rừng.

Mô hình trồng Sa nhân tím dưới tán rừng tự nhiên của nông hộ anh Thọ tại tỉnh Quảng Nam đã đạt được thành công với năng suất thu hoạch 3 tạ quả tươi/ha mỗi năm.

Năng suất trồng Sa nhân tím dưới tán rừng ở tỉnh Thái Nguyên đạt khoảng 700 - 850 kg quả tươi/ha khi cây đã đạt độ tuổi thành thục từ một năm trở lên.

Ông Đặng Văn Quang, một người trồng Sa nhân tím tại xã Sơn Xuân, đã thực hiện mô hình trồng 1ha Sa nhân tím dưới tán rừng keo và 2ha khoanh nuôi tái sinh dưới tán rừng tự nhiên Nhờ sự hỗ trợ từ dự án cung ứng giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, cùng với sự hướng dẫn từ cán bộ kỹ thuật, gia đình ông đã đạt được năng suất quả khô 215,3kg/ha sau 3 năm, mang lại lãi ròng 37,677 triệu đồng.

Hiện nay, nhiều đề tài nghiên cứu tại nước ta đã đóng góp vào cơ sở dữ liệu khoa học, hỗ trợ cho các nghiên cứu tiếp theo và cải thiện môi trường cũng như đời sống kinh tế của nông hộ vùng núi Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái để thiết lập quy chuẩn nhằm tăng năng suất và nhân rộng mô hình trên toàn quốc.

Thảo luận

Loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T L Wu) thuộc họ gừng (Zingiberaceae) đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, tuy nhiên, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào loài Sa nhân (Amomum villosum L.) tại Trung Quốc Những nghiên cứu này cung cấp dữ liệu quý giá có thể áp dụng vào điều kiện thực tế tại Việt Nam, nơi mô hình trồng thử nghiệm Sa nhân tím đang được mở rộng tại các tỉnh như Thái Nguyên, Phú Thọ, Hòa Bình, Lào Cai, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Phú Yên, Gia Lai, Đăk Lắc Tuy nhiên, tại tỉnh Nghệ An, vấn đề này vẫn còn mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều, do đó, đề tài nghiên cứu này là rất cần thiết.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu

Bài viết này nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên Sa nhân tím tại Vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An Việc bảo tồn loài cây này không chỉ góp phần duy trì đa dạng sinh học mà còn hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương thông qua các hoạt động bền vững.

- Xác định được đặc điểm phân bố, sinh trưởng và sản lượng quả của Sa nhân tím tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

Để bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím, cần đề xuất một số giải pháp dựa trên các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh trưởng và sản lượng quả của loài này Việc áp dụng những kết quả nghiên cứu sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong công tác bảo tồn và phát triển bền vững loài Sa nhân tím.

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm chính liên quan đến phân bố, sinh trưởng và sản lượng của Sa nhân tím - Amomum longiligulare T L Wu, một loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) Nghiên cứu được thực hiện tại Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, nhằm mục đích bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím này.

Phạm vi nghiên cứu

- Vườn quốc gia Pù Mát, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố của Sa nhân tím

- Phạm vi, địa điểm và diện tích loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu

- Phân bố theo trạng thái rừng (và theo mức độ tốt - xấu của rừng)

- Phân bố theo điều kiện địa hình (độ cao, độ dốc, hướng phơi)

- Phân bố theo điều kiện thổ nhưỡng

- Phân bố cùng loài cây khác

2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của Sa nhân tím

- Các đại lượng sinh trưởng

- Đặc điểm về ra lá, sinh chồi

- Đặc điểm biến đổi của kích thước lá, hoa, quả

- Biến động của sinh trưởng Sa nhân theo điều kiện nơi mọc

2.4.3 Nghiên cứu sản lượng quả Sa nhân tím

- Kích thước quả (hình dạng)

- Số quả/chùm/cây/khóm

- Khối lượng quả (kg)/cây

- Số quả bình quân/khóm/ha

- Biến động của sản lượng quả Sa nhân tím theo các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng

2.4.4 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Thu thập các tài liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phương pháp điều tra theo tuyến kết hợp với máy định vị toàn cầu GPS đã được áp dụng để xác định phạm vi, diện tích và vị trí phân bố của loài Sa nhân tím.

Trong nghiên cứu về loài Amomum longiligulare T L Wu, chúng tôi đã áp dụng phương pháp bản đồ để xác định các tuyến điều tra, sử dụng các loại bản đồ như địa hình và thảm thực vật Đồng thời, chúng tôi kết hợp với phương pháp PRA để thu thập thông tin từ kinh nghiệm của người dân về sự phân bố, trồng trọt, thu hái, năng suất và thị trường tiêu thụ của loài Sa nhân tím.

- Dùng phương pháp ô tiêu chuẩn để xác định mật độ loài sa nhân tím và các loài mọc cùng với kích thước ô tiêu chuẩn 20m x 50m = 1000 m 2 [22,

Để xác định cường độ ánh sáng tại các vị trí phân bố của loài Sa nhân tím, nghiên cứu đã sử dụng máy đo cường độ ánh sáng Photon Meter PM-C Hai máy Photon Meter PM-C được sử dụng để đo đồng thời tại vị trí 1.3m (Hvn>1.3m) và ngoài trống, cũng như tại vị trí tán (Hvn≤1.3m) và ngoài trồng, theo phương pháp của Đào Châu Hà (2007).

Để xác định điều kiện thổ nhưỡng của loài Sa nhân tím, nghiên cứu đã tiến hành đào phẫu diện đất sâu tới tầng B (khoảng 60cm - 100cm) Trong quá trình này, độ pH được đo và mẫu đất được lấy từ hai tầng A và B Các mẫu đất sau đó được phân tích tại phòng phân tích đất thuộc Viện Hoá hợp chất thiên nhiên, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của loài sa nhân tím, đề tài tiến hành theo dõi theo thời gian như sau:

+ Chọn các ô tiêu chuẩn điển hình (với diện tích là: 100m 2 ) đại diện cho các điều kiện khác nhau

+ Tiến hành đo đếm sự ra lá, ra chồi và chiều cao của cây sa nhân tím ở các ô tiêu chuẩn trên và sau mỗi tháng tiến hành đo lại

- Nghiên cứu đặc điểm sản lượng quả của loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu đề tài tiến hành như sau:

+ Từ các ô tiêu chuẩn đã chọn, tiến hành thu hoạch quả toàn bộ ô tiêu chuẩn và đem cân

Dựa trên các kết quả so sánh, bài viết đề xuất giải pháp nâng cao sản lượng quả Sa nhân tím và phát triển bền vững tại Nghệ An Nghiên cứu sẽ khảo sát và lựa chọn các địa điểm phù hợp để trồng thử nghiệm loài Sa nhân tím với diện tích khoảng 100 m² cho mỗi kiểu điều kiện phân bố Mô hình có năng suất cao đồng thời bảo vệ rừng và môi trường sẽ được xác định là hợp lý nhất.

Dưới tán rừng thứ sinh phục hồi sau khai thác hoặc nương rẫy, cần thiết lập thêm hai ô tiêu chuẩn cho mỗi loại rừng, với diện tích quy định cho từng ô.

20 x 50 = 1000 m 2 Sau đó chia ô này thành các ô thứ cấp (5 ô) với kích thức

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát trên một diện tích 5 x 5 = 25m², bao gồm 4 ô ở bốn góc và một ô ở chính giữa Sử dụng thước dây có độ chính xác đến mm, chúng tôi đo chiều cao của cây sa nhân tím và đếm số lượng cây chuẩn Đồng thời, chúng tôi cũng so sánh sự khác biệt và biến động của cây sa nhân giữa các ô thứ cấp.

Trong khu vực nghiên cứu, đề tài đã tiến hành khảo sát trên 5 tuyến nhằm phát hiện loài Tọa độ các điểm và sơ đồ các tuyến được trình bày trong bảng 2.1 dưới đây.

Bảng 2.1: Toạ độ điểm đầu và điểm cuối của các tuyến điều tra

Toạ độ điểm đầu/điểm cuối Địa điểm X Y

1 Điểm đầu Dọc Khe Yên 496.923,06 2.088.185,52

3191 Điểm cuối Dọc Khe Yên 494.714,67 2.087.041,64

Hình 2.1: Sơ đồ mô phỏng các tuyến điều tra 2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Sử dụng phần mềm Mapinfor 6.0 để xác định diện tích phân bố tự nhiên của sa nhân tím theo các sinh cảnh của khu vực nghiên cứu

- Sử dụng phần mềm Exel để xử lý số liệu nghiên cứu và vẽ các biểu đồ tương quan

- Sử dụng hàm thống kê toán học theo phương pháp phối chuẩn để xác định các đại lượng

- Sử dụng Công thức tính cường độ ánh sáng tương đối (Ltđ):

Lc: Cường độ ánh sáng tại vị trí cây Lt: Cường độ ánh sáng ngoài trống

- Sử dụng công thức tính Độ ẩm (A) của mẫu đất tính bằng phần trăm nước theo đất khô kiệt (%), được tính theo công thức (2):

Sa nhân tím phát triển tốt nhất

Sa nhân tím phát triển tốt nhất

Sa nhân tím phát triển tốt nhất

Sa nhân tím phát triển tốt nhất

Sa nhân tím phát triển tốt nhất

P1: Khối lượng hộp đựng mẫu có đất trước khi sấy, tính bằng gam (g);

P2: Khối lượng hộp đựng mẫu có đất sau khi sấy, tính bằng gam (g);

P3: Khối lượng hộp đựng mẫu không có đất, tính bằng gam (g);100:

Hệ số qui đổi ra %

- Sử dụng công thức tính năng suất sau:

Phương pháp chuyên gia kết hợp với các phương pháp truyền thống được sử dụng để xác định các loài thực vật đồng sinh với loài Sa nhân tím (Amomum longiligulare T L Wu) chưa được nhận diện trên thực địa Ngoài ra, các phần mềm như Excel, cùng với tin học ứng dụng trong lâm nghiệp và toán thống kê, được áp dụng để xử lý và phân tích số liệu nghiên cứu thu thập tại hiện trường.

2.5.4 Sinh trưởng của Sa nhân tím được trồng trên các vị trí địa hình khác nhau

Để cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp kỹ thuật bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím, đề tài đã tiến hành trồng thử nghiệm loài này tại ba vị trí khác nhau trong khu vực nghiên cứu.

1 Vị trí ngoài trống với diện tích 100 m 2

2 Vị trí dưới tán rừng tự nhiên có độ che phủ trung bình

3 Vị trí dưới tán rừng tự nhiên có độ che phủ cao

- Kỹ thuật làm bầu và trồng Sa nhân tím như sau: (5 bước)

+ Bước 1: chọn các cây giống tự nhiên ở rừng tự nhiên với đặc điểm sinh trưởng tốt

Năng suất thu Sản lượng thu hoạch hoạch = (3)

+ Bước 2: mỗi cây cắt thành 3 - 4 khúc (15cm/khúc)

Để kích thích ra rễ cho khúc cây Sa nhân tím, hãy nhúng đầu gốc vào thùng thuốc kích thích đã pha sẵn trong khoảng thời gian từ 2 đến 3 phút Thuốc này được cung cấp bởi các công ty bảo vệ thực vật và có sẵn tại các đại lý.

Bước 4: Đưa cây ra và cắm vào bầu đất đã chuẩn bị sẵn trong luống dâm hom, được che bằng lưới đen để bảo vệ khỏi nắng và mưa lớn Sau khoảng 20 - 25 ngày, khoảng 80% số bầu sẽ phát triển rễ và lá non.

Bước 5: Trồng bầu Sa nhân tím vào thời điểm thời tiết mát mẻ để đảm bảo sự sinh trưởng tốt nhất Kiểm tra sự phát triển của Sa nhân tím bằng cách theo dõi số lượng bầu đã được trồng.

Sa nhân tím ra trồng ở ba vị trí nói trên với kích thước như Sau: hàng cách hàng là 50 cm; cây cách cây là 40 cm

- Kỹ thuật chăm sóc: thời gian đầu nếu không có mưa thì thuê người dân tưới nước ngày 2 lần (khoảng thời gian 7 - 10 ngày)

Sau khi trồng, cần thuê người theo dõi và bảo vệ cây trồng khỏi sự phá hoại của trâu, bò Sau 45 ngày, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng một lần để đánh giá sự phát triển của cây.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí địa lý

VQG Pù Mát nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 160km theo đường quốc lộ, toạ độ địa lý của vườn:

Ranh giới của vườn: phía Nam có chung 61km với đường biên giới Lào Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Định, Tam Quang (huyện Tương Dương)

Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con Cuông)

Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn).

Diện tích

Vườn Quốc Gia (VQG) nằm trong địa giới của ba huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương thuộc tỉnh Nghệ An Tổng diện tích vùng lõi của VQG là 94.275 ha, sau khi được hiệu chỉnh vào năm 1999, cùng với vùng đệm khoảng 100.000 ha.

Huyện Tương Dương có 3 xã: Tam Hợp, Tam Định, và Tam Quang, trong khi huyện Con Cuông bao gồm 7 xã: Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn, Yên Khê, Bồng Khê, và Chi Khê.

Huyện Anh Sơn gồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn.

Địa hình - địa mạo

Vườn Quốc gia Pù Mát nằm trên dải Trường Sơn, độ cao biến đổi từ

200 - 1841m, trong đó độ cao xuống dưới 1000m chiếm 90% Khu vực cao nhất của Vườn nằm ở phía Tây Nam, nơi có các đỉnh dông chính của dải

Trường Sơn là dãy núi nổi bật với đỉnh Pù Mát cao 1841m, từ đó các hệ thống dông phụ kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tạo thành ba hệ thống sông suối chính ở Khe Thơi, Khe Choang và Khe Khặng Địa hình nơi đây hiểm trở, trong khi phía Tây Nam VQG có địa hình bằng phẳng, nơi sinh sống của nhiều cộng đồng dân tộc và diễn ra các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp Khu vực này bao gồm khoảng 7,057ha núi đá sỏi, trong đó chỉ có 150ha nằm trong vùng lõi của VQG, với địa hình phức tạp và các đỉnh dông phụ có độ dốc lớn, cao từ 800 - 1000m.

Đất đai, thổ nhưỡng

VQG Pù Mát tọa lạc trên dãy Trường Sơn Bắc, với quá trình hình thành địa chất kéo dài từ kỷ Palezoi đến Mioxen Trong suốt sự phát triển của dãy Trường Sơn, chu kỳ tạo núi Hecxinin đã chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố ngoại lực, dẫn đến sự hình thành 4 dạng địa mạo chủ yếu.

Núi cao trung bình nằm ngay biên giới Việt Lào, với một số đỉnh núi vượt qua độ cao 2000m như Phulaileng cao 2711m và Rào Cỏ cao 2286m Địa hình khu vực này rất hiểm trở, khiến việc di chuyển trở nên cực kỳ khó khăn.

Kiểu núi thấp và đồi cao chiếm phần lớn diện tích của miền, với độ cao dưới 1000m Đặc điểm của kiểu địa hình này là cấu trúc phức tạp, được hình thành từ các trầm tích và biến chất, mang đến địa hình mềm mại và ít dốc hơn.

Thung lũng kiến tạo và xâm thực, mặc dù chiếm diện tích nhỏ, nhưng rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Khu vực này bao gồm các thung lũng của các sông suối như Khe Thơi, Khe Choang, Khe Khặng (sông Giăng) và bờ phải sông Cả, với độ cao thấp hơn.

Các khối đá vôi nhỏ có hình dạng phân tán, uốn nếp, hình thành từ quá trình karst trẻ và nằm ở hữu ngạn sông Cả, độ cao từ 200 đến 300m Chúng có cấu tạo phân phiến dày, màu xám đồng nhất và tinh khiết.

Các loại đất trong vùng đã xác định:

+ Đất feralit mùn trên núi trung bình (PH), chiếm 17,7%, phân bố từ độ cao 800 - 1000m dọc biên giới Việt Lào

+ Đất feralit đỏ vàng vùng đồi và núi thấp (F), chiếm 77,6%, phân bố phía Bắc và Đông Bắc VQG

+ Đất dốc tụ và đất phù sa D, P chiếm 4,7%, phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả

+ Núi đá vôi (K2) chiếm 3,6% phân bố thành giải nhỏ xen kẽ nhau bên hữu ngạn sông Cả.

Khí hậu thuỷ văn

VQG Pù Mát tọa lạc trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nơi chịu ảnh hưởng từ dãy Trường Sơn và hoàn lưu khí quyển, dẫn đến sự phân hoá và khác biệt rõ rệt về khí hậu trong khu vực.

+ Nhiệt độ trung bình năm 23 – 24 0 C, tổng nhiệt năng từ 850 – 8700 0

Mùa đông kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, với ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, khiến nhiệt độ trung bình trong giai đoạn này giảm xuống dưới 20°C Đặc biệt, tháng Giêng thường ghi nhận nhiệt độ trung bình thấp nhất, dưới 18°C.

Trong mùa hè, từ tháng 4 đến tháng 7, thời tiết trở nên khô nóng do gió Tây hoạt động mạnh, kéo dài khoảng 3 tháng Nhiệt độ trung bình trong mùa hè thường vượt quá 25°C, với mức cao nhất vào tháng 6 và tháng 7, đạt khoảng 29°C.

C Nhiệt độ tối cao lên tới 42 0 C ở Con Cuông và 42,7 0 C ở Tương Dương vào tháng 4 và 5, độ ẩm trong các tháng này có nhiều ngày xuống dưới 30%

Vùng nghiên cứu có lượng mưa ít đến trung bình, với 90% lượng nước tập trung trong mùa mưa, chủ yếu vào tháng 9 và tháng 10, thường đi kèm với lũ lụt Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, trong khi các tháng 2, 3, 4 có hiện tượng mưa phùn do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng 5, 6, 7 là thời gian nóng nhất trong năm, với lượng bốc hơi cao nhất.

Độ ẩm không khí trong khu vực dao động từ 85% đến 86%, và trong mùa mưa có thể lên tới 90% Tuy nhiên, giá trị độ ẩm cực thấp thường xảy ra trong thời kỳ nắng nóng kéo dài.

Trong khu vực có hệ thống sông Cả chạy theo hướng Tây Bắc đến Đông

Nam Các di lưu phía hữu ngạn như khe Thơi, khe Choang, khe Khặng lại chạy theo hướng Tây Nam lên Đông Bắc và đổ nước vào sông Cả

Cả ba con sông đều cho phép di chuyển bằng bè mảng qua một số đoạn nhất định, trong khi khe Choang và khe Khặng có thể sử dụng thuyền máy để đi ngược dòng ở phía hạ lưu.

Mạng lưới sông suối dày đặc, kết hợp với lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các mùa và khu vực, dẫn đến tình trạng lũ lụt và hạn hán thường xuyên xảy ra.

Hiện trạng tài nguyên rừng Vườn Quốc gia Pù Mát

- Rừng kín thường xanh hỗn giao lá rộng hay lá kim, ở độ cao trên 900m ở phía Bắc và trên 800m ở phía Nam Vườn Quốc gia, chiếm 29% diện tích

- Kiểu phụ khí hậu thổ nhưỡng rừng lùn, ở độ cao trên 1500m, chiếm 1,6% diện tích tự nhiên

Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chiếm 46,5% diện tích Vườn Quốc gia, phân bố dưới độ cao 800m ở phía Nam và 900m ở phía Bắc Kiểu rừng này bao gồm các kiểu phụ nhân tác phát triển, xuất hiện sau khi khai thác mạnh và canh tác nương rẫy bỏ hoá lâu ngày.

Trảng cỏ, cây bụi và cây gỗ rải rác là những khu vực từng được canh tác nương rẫy nhưng chưa đủ thời gian để phục hồi thành rừng Loại hình này hiện chiếm 1,4% tổng diện tích.

Diện tích đất canh tác nông nghiệp và nương rẫy trong Vườn quốc gia chỉ chiếm 0,4%, chủ yếu tập trung tại Khe Khặng, nơi sinh sống của ba bản người Đam Lai.

Vườn Quốc gia Pù Mát ghi nhận 1.792 loài thực vật thuộc 607 chi và 160 họ của ngành thực vật bậc cao, trong đó có 37 loài được liệt kê trong sách Đỏ Việt Nam và 20 loài trong danh lục đỏ IUCN (1997) Đặc biệt, có 1 loài thuộc nguy cấp, 3 loài thuộc nguy cơ và 16 loài được xếp vào danh sách quý hiếm.

Hệ động vật tại Việt Nam đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước điều tra và thống kê, ghi nhận tổng cộng 938 loài động vật, bao gồm thú, chim, bò sát, lưỡng cư, cá và bướm trong các năm 1993, 1994, 1998 và 1999.

Kinh tế – Xã hội

Vườn Quốc gia Pù Mát là nơi sinh sống của ba dân tộc chính: Thái, Khơ Mú và Kinh, cùng với một số dân tộc khác như Tày, H'Mông, Poọng và Đam Lai Trong đó, dân tộc Thái chiếm tỷ lệ lớn nhất với 66,89% dân số, trong khi dân tộc ơ Đu có số lượng ít nhất, chỉ chiếm 0,6%.

Dân số toàn bộ 16 xã là 93.335 người, với 16.954 hộ Trong đó, 7 xã của huyện Con Cuông có 39.419 người thuộc 7.670 hộ, trong khi 5 xã của huyện Anh Sơn có 38.163 người trong 6.938 hộ.

Trong huyện Tương Dương, còn lại 4 xã với 3 bản người Đam Lai đang sinh sống trong vùng lõi, tổng cộng 894 nhân khẩu Hiện tại, chỉ có Bản 1 và Bản 3 còn tồn tại, trong khi Bản 2 đã được di dời ra ngoài khu vực này.

Trong vùng, đất lâm nghiệp chiếm ưu thế với 64% tổng diện tích tự nhiên, trong khi đất nông nghiệp chỉ chiếm 2,5% và phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung ở khu vực thấp.

Vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát được kết nối bởi quốc lộ số 7, một tuyến đường huyết mạch quan trọng giúp thông thương từ miền xuôi lên miền núi và sang Lào, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế khu vực Trong khi đó, hệ thống sông lớn như sông Giăng và sông Cả cũng hiện diện, nhưng do địa hình phức tạp và độ dốc lớn, các con sông này thường chảy quanh co và có dòng chảy mạnh, gây khó khăn cho việc vận chuyển đường thủy.

Mặc dù hầu hết các xã trong vùng Vườn Quốc gia đã được kết nối với đường dây tải điện và trạm biến thế, nhiều cụm dân cư bản làng vẫn chưa có mạng lưới điện quốc gia.

Cơ sở y tế tại khu vực đang đối mặt với nhiều thách thức, với hầu hết các xã thiếu trạm xá kiên cố và hoàn chỉnh Hiện tại, chỉ có y sỹ và y tá làm việc, trong khi bác sỹ vẫn thiếu Những bệnh phổ biến trong cộng đồng bao gồm bệnh da liễu, bệnh đường ruột và sốt rét.

(Số liệu trên dựa vào: Dự án khả thi xây dựng Vườn Quốc gia Pù Mát,

Hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất

Nghệ An, giống như nhiều tỉnh khác ở Việt Nam, là một tỉnh nông nghiệp với đời sống dân cư phụ thuộc lớn vào diện tích và sản lượng cây nông nghiệp Tuy nhiên, tỷ lệ diện tích nông nghiệp tại các huyện nghiên cứu quá nhỏ, chỉ chiếm 23,47%, trong đó đất trồng lúa chỉ chiếm 1,6%, không đủ đáp ứng nhu cầu lương thực hàng ngày của người dân Để đảm bảo nhu cầu này, người dân buộc phải dựa vào rừng, với thu nhập chủ yếu đến từ việc khai thác trực tiếp các sản phẩm từ rừng, đặc biệt là NTFPs Rừng không chỉ cung cấp gỗ xây dựng mà còn cung cấp thực phẩm và thuốc chữa bệnh cho người dân Tuy nhiên, sự hào phóng của rừng đã hình thành thói quen phụ thuộc, khiến người dân trở nên dựa dẫm vào nguồn tài nguyên này.

Hầu hết cư dân sống gần rừng có ít đất nông nghiệp và phụ thuộc nhiều vào rừng, bắt đầu từ những khu rừng ven bản và sau đó là các khu rừng xa hơn Họ thu hái mọi thứ có thể ăn được từ rừng và khi sử dụng hết, lại tiếp tục vào rừng để tìm kiếm Trong sinh hoạt hàng ngày, họ không thể chủ động trong việc tìm kiếm thực phẩm và dược liệu.

Diện tích đất lâm nghiệp bình quân đầu người ở các huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương lần lượt là 1.890m², 18.805m² và 20.732m², trong khi đó đất nông nghiệp chỉ đạt 840m², 559m² và 128m² Sự chênh lệch giữa diện tích đất lâm nghiệp và nông nghiệp ở các huyện này là rất đáng kể Cụ thể, ở Anh Sơn, diện tích đất lâm nghiệp chỉ chiếm 7,75% tổng diện tích đất lâm nghiệp của ba huyện, trong khi Con Cuông và Tương Dương lần lượt chiếm 41,96% và 50,29%.

Đất nông nghiệp bình quân đầu người ở huyện Tương Dương chỉ đạt 128m², tương đương 15,25% so với huyện Anh Sơn, trong khi huyện Con Cuông có mức bình quân là 559m², tương đương 66,55% so với chỉ tiêu của huyện Anh Sơn Sự chênh lệch này dẫn đến sản lượng nông nghiệp của các cây trồng như lúa, ngô, khoai, lạc ở hai huyện Con Cuông và Tương Dương thấp hơn nhiều so với huyện Anh Sơn.

Diện tích đất bằng ở hai huyện Con Cuông và Tương Dương không nhiều như huyện Anh Sơn, gây cản trở cho sự phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trong việc cung ứng nước Do đó, cây sắn trở thành loại cây có sản lượng lớn nhất tại hai huyện này, vì nó có khả năng trồng trên những vùng đất khô hạn và dốc như sườn đồi và nương rẫy cao.

Bả ng 3.1 Hiê ̣n tra ̣ng sử du ̣ng đất ta ̣i các huyê ̣n nghiên cứu

Loại đất Đơn vi ̣ Anh Sơn Con

+ Tổng diện tích ha 9.248 3.558 901

+ Bình quân đầu người m 2 840 559 128

+ Tổng diện tích ha 3535 1.084 453

+ Bình quân đầu người m 2 321 170 64

+ Tổng diện tích ha 22.427,73 121.492,40 145.632 + Bình quân đầu người m 2 2.036 19.078 20.732

+ Tổng diện tích ha 20.821,90 119.757 144.204 + Bình quân đầu người m 2 1.890 18.805 20.529

+ Tổng diện tích ha 1.735 1.606 1.428

+ Bình quân đầu người m 2 157 252 203

Nguồn: Tổng cu ̣c địa chính, 2001

Thuận lợi, khó khăn và cơ hội của khu vực nghiên cứu

- Đất đai còn tương đối dồi dào nên việc quy hoạch và bố trí cây trồng còn tương đối thuận lợi

- Có vốn kiến thức bản địa phong phú

- Lực lượng lao động dồi dào

- Trình độ dân trí thấp, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng suất cây trồng thấp, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn

- Địa hình đồi núi phức tạp cơ sở hạ tầng kém phát triển Đất đai đang bị thái hóa

- Thị trường tiêu thụ hẹp, giá cả không ổn định

Anh Sơn Con Cuông Tương Dương Đất Nông nghiệp Đất Lâm nghiệp

- Có sự đầu tư của chương trình 135, dự án 661, sự quan tâm của các cấp chính quyền, cán bộ lâm nghiệp của Vườn quốc gia Pù Mát

Một số tổ chức quốc tế đang đầu tư và chú trọng vào việc cải thiện điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội cho cộng đồng dân cư ở vùng đệm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm phân bố của Sa nhân tím

4.1.1 Phạm vi, địa điểm và diện tích loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu

4.1.1.1 Diện tích Sa nhân tím tại VQG Pù Mát Để xác định diện tích của loài Sa nhân tím tại vùng lõi của vườn quốc gia Pù Mát đề tài dùng phương pháp khảo sát theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000), cụ thể các tuyến và kết quả được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.1: Phân bố của Sa nhân tím theo các tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu Đơn vị: m 2

Theo bảng 4.1, diện tích Sa nhân tím tại các lô của các tuyến điều tra có sự khác biệt Tổng diện tích Sa nhân tím của 5 tuyến điều tra là 20.009 m² Trong đó, tuyến Khe Thơi 1 (tuyến thứ ba) có diện tích Sa nhân lớn nhất, đạt 5.292 m², tiếp theo là tuyến có diện tích Sa nhân tím lớn thứ hai.

1 (tuyến Dọc Khe Yên) với 4913 m 2 và tuyến thứ 4 (tuyến Khe Thơi 2) có diện tích bé nhất với 3035 m 2

4.1.1.2 Phân bố Sa nhân tím theo trạng thái rừng

Qua các khảo sát và nghiên cứu, đề tài cho thấy sa nhân tím tại VQG Pù Mát chủ yếu phân bố dưới tán của các trạng thái rừng khác nhau, tập trung nhiều ở những khu vực rừng mới phục hồi sau khai thác kiệt và canh tác nương rẫy, cụ thể là ở rừng nghèo có độ tàn che từ 0,3 - 0,5.

Bảng 4.2: Kết quả nghiên cứu phân bố của Sa nhân tím theo các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cúu Đơn vị: m 2 Tuyến

Tuyến di ện tí ch (m 2)

Rung ngheo Rung trung binh Rung giau

Biểu đồ 4.1: Phân bố sa nhân tím theo trạng thái rừng tại VQG Pù Mát

- Phân bố theo điều kiện địa hình (độ cao, độ dốc, hướng phơi)

Qua khảo sát, chúng tôi ghi nhận sự phân bố của Sa nhân tím tại VQG Pù Mát có sự khác biệt rõ rệt theo độ cao, độ dốc và hướng phơi Các kết quả này được thể hiện chi tiết trong các bảng 4.3, 4.4 và 4.5.

4.1.3 Phấn bố Sa nhân tím theo độ dốc

Bảng 4.3: Kết quả nghiên cứu phân bố của Sa nhân tím theo độ dốc tại khu vực nghiên cứu Độ dốc

Biểu đồ 4.2: Phân bố sa nhân tím theo độ dốc tại VQG Pù Mát

Biểu đồ 4.2 cho thấy rằng Sa nhân tím chủ yếu phân bố ở địa hình có độ dốc từ 0 đến 10 độ, với sự tập trung lớn nhất ở những khu vực có độ dốc dưới 5 độ, tức là những vùng núi đất có độ dốc thoai thoải Ngược lại, những địa hình có độ dốc trên 15 độ rất hiếm khi có sự hiện diện của Sa nhân tím, và nếu có, diện tích phân bố cũng rất nhỏ Do đó, độ dốc được xem là một yếu tố sinh thái quan trọng trong việc lựa chọn và thiết kế mô hình trồng Sa nhân tím, cũng như trong công tác bảo tồn loài này tại khu vực nghiên cứu và miền Trung nói chung.

4.1.4 Phân bố Sa nhân tím theo độ cao tuyệt đối

Bảng 4.4: Kết quả nghiên cứu phân bố Sa nhân tím theo độ cao Độ cao (m)

Diện tích sa nhân tím

Biểu đồ 4.3: Diện tích Sa nhân tím theo độ cao tại VQG Pù Mát

Độ cao là một yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của Sa nhân tím Theo biểu đồ 4.3, khu vực nghiên cứu cho thấy diện tích Sa nhân tím lớn nhất nằm ở độ cao dưới 300m so với mực nước biển, đạt 9431 m² Kế tiếp, diện tích Sa nhân tím ở độ cao từ 300 - 500m đứng thứ hai.

Diện tích Sa nhân tím giảm dần theo độ cao, cho thấy rằng độ cao là một yếu tố sinh thái quan trọng trong việc lựa chọn giải pháp phát triển và bảo tồn loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu.

4.1.5 Phân bố Sa nhân tím theo hướng phơi tại khu vực nghiên cứu

Bảng 4.5: Phân bố Sa nhân tím theo hướng phơi tại khu vực nghiên cứu

Hướng phơi Chỉ tiêu đánh giá Đông Tây Nam Bắc

Tây Đông Nam Bắc m2 Diện tích sa nhân tím

Biểu 4.4: Diện tích Sa nhân tím theo hướng phơi tại VQG Pù Mát

Theo biểu đồ 4.4 và khảo sát thực tế, diện tích Sa nhân tím chủ yếu tập trung ở các khu vực núi đất có hướng phơi Tây, trong khi đó, loại cây này ít xuất hiện ở những khu vực núi đất có hướng phơi Nam.

4.1.6 Phân bố Sa nhân tím theo điều kiện thổ nhưỡng Điều kiện thổ nhưỡng là một trong những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phát triển của các loài thực vật nói chung (Cơ sở sinh thái học Odum, 1978) Vì vậy, khi nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của loài sa nhân tím chúng ta cần phải nắm được loại điều kiện thổ nhưỡng thích hợp cho nó sinh trưởng và phát triển tốt

Theo các nhà khoa học như Võ Văn Chi và Nguyễn Tập, sa nhân tím là cây thân thảo lâu năm với thân rễ mạnh, phát triển tốt trên thổ nhưỡng có tầng đất dày, hàm lượng mùn cao và độ ẩm lớn Nghiên cứu đã xác định điều kiện thổ nhưỡng tại 5 tuyến điều tra, nơi sa nhân tím sinh trưởng tốt nhất, với kết quả cụ thể được tổng hợp trong bảng 4.6.

Bảng 4.6: Đặc điểm điều kiện thổ nhưỡng nơi có Sa nhân tím phân bố

Thành phần cơ giới pH Màu sắc Độ dày (cm) Độ ẩm đất (%)

%N %P 2 0 5 %K 2 0 %Mùn Đặc điểm Sa nhân tím

B Thịt trung bình 5,7 Xám vàng 35 0,038 0,0302 0,381 0,992

B Thịt trung bình 5,5 Nâu vàng 30 0,11 0,044 1,212 1,442

B Thịt trung bình 5,5 Nâu vàng 31 0,11 0,044 1,212 1,442

Sa nhân tím phát triển tốt trong điều kiện thổ nhưỡng là đất tầng A có độ nhẹ đến trung bình, với hàm lượng mùn từ 0,967 đến 3,15 và độ pH từ 4,6 đến 5,7 Bề dày của đất tầng A cũng đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng của cây.

Sa nhân tím sinh trưởng tốt nhất khi chiều cao từ 15 cm trở lên, trong điều kiện thổ nhưỡng có độ pH 4,7, độ ẩm tương đối của đất 25,6% và hàm lượng mùn 3,15 Các biểu đồ 4.5, 4.6, 4.7 và 4.8 minh họa rõ ràng cho những điều kiện này.

Biểu đồ 4.5: Ảnh hưởng của độ pH tới sinh trưởng về chiều cao của Sa nhân tím

Biểu đồ 4.5 cho thấy mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa độ pH và chiều cao của Sa nhân tím; khi độ pH giảm, chiều cao của cây tăng Cụ thể, Sa nhân tím phát triển tốt nhất trong đất tầng A có độ pH dưới 5 Do đó, độ pH được xem là một trong những yếu tố sinh thái quan trọng quyết định sự sinh trưởng của loài này.

C hi ều ca o S a nh ân tí m ( H )

Biểu đồ 4.6 cho thấy mối quan hệ tích cực giữa độ ẩm đất và chiều cao sinh trưởng của sa nhân tím, với việc tăng độ ẩm đất dẫn đến sự gia tăng chiều cao của cây Độ ẩm đất, được định nghĩa là phần trăm lượng hơi nước trong đất, là yếu tố thiết yếu cho quá trình trao đổi chất của thực vật và động vật (Odum, 1978) Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, độ ẩm đất tối ưu cho sự phát triển của sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu là từ 15-25% Do đó, độ ẩm đất là một yếu tố sinh thái quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng của sa nhân tím.

C hi ều ca o S a nh ân tí m ( H )

Biểu đồ 4.7: Ảnh hưởng của hàm lượng mùn tới sinh trưởng về chiều cao của Sa nhân tím

Mùn là sản phẩm hình thành trong đất từ quá trình tích lũy và phân giải không hoàn toàn dưới điều kiện yếm khí của xác thực vật và các tồn dư sinh vật khác nhờ vào vi sinh vật đất Thành phần chính của mùn bao gồm Axit Humic, Axit Fulvic, axit ulmic và các muối của chúng, thường được gọi là humin, fulvin hay ulvin Trong khái niệm rộng, mùn trong đất bao gồm cả mùn nhuyễn (mùn theo nghĩa hẹp) và mùn thô (chất hữu cơ trong đất).

Đặc điểm sinh trưởng của Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu

4.2.1 Sinh trưởng của Sa nhân tím được trồng trên các vị trí địa hình khác nhau

Bảng 4.7: Sinh trưởng của Sa nhân tím được trồng trên ba vị trí địa hình khác nhau

Ngoài Trống Rừng trung bình Rừng giàu

Số lượng chiều dài trung bình (cm)

Số lượng chiều dài trung bình (cm)

Số lượng chiều dài trung bình (cm)

Do thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài chỉ theo dõi được 4 lần, dẫn đến số liệu thống kê chưa đủ để đưa ra kết luận chính xác Tuy nhiên, bước đầu cho thấy sự sinh trưởng của Sa nhân tím về số chồi (sự đẻ nhánh) ở vị trí dưới tán rừng trung bình là lớn nhất, trong khi ở ngoài trống là bé nhất.

4.2.2 Sinh trưởng của Sa nhân tím mọc tự nhiên ở ba vị trí thuộc khu vực nghiên cứu

Bảng 4.8: Sinh trưởng của Sa nhân tím mọc tự nhiên ở ba vị trí khác nhau thuộc khu vực nghiên cứu

I- Ngoài trống II - Rừng trung bình III - Rừng giàu

A1 b1 cm c1 c/kh a2 b2 cm c2 c/kh a3 b3 cm c3 c/kh

- a1, a2, a3: Lá Sa nhân tím mọc ngoài trống, dưới tán rừng tự nhiên có độ tàn che trung bình 0,45 ở dưới tán rừng tự nhiên có độ tàn che lớn 0,65;

- D: chiều dài lá Sa nhân tím

- R: chiều rộng lá Sa nhân tím;

-b1, b2, b3: lần lượt là chiều cao trung bình của Sa nhân tím mọc ngoài trống, dưới tán rừng tự nhiên trung bình và dưới tán rừng tự nhiên giàu;

- c1, c2, c3: lần lượt là số lượng cây/khóm của sa nhân tím mọc tự nhiên ở ngoài trống, dưới tán rừng trung bình và rừng giàu

Bảng trên cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong sinh trưởng của Sa nhân tím giữa các loại hình rừng, đặc biệt là về số lượng cây trên khóm và chiều cao trung bình của khóm Cụ thể, chiều cao trung bình của Sa nhân tím cao nhất ở rừng giàu (độ tàn che lớn), tiếp theo là rừng trung bình, và thấp nhất là Sa nhân tím mọc ở ngoài trống Tuy nhiên, mật độ cây Sa nhân tím trên khóm lại cao hơn ở ngoài trống so với rừng trung bình và rừng giàu, điều này được thể hiện rõ qua các biểu đồ 4.10, 4.11 và 4.12.

Ngoài trống Rừng trung bình Rừng giàu

Biều đồ 4.9: Tương quan giữa mật độ Sa nhân tím và điều kiện sinh cảnh của nó

Ngoài trống Rừng trung bình Rừng giàu

Cm chiều cao sa nhân tím

Biểu đồ 4.10: Tương quan giữa chiều cao trung bình của Sa nhân tím với điều kiện sinh cảnh của nó

Ngoài trống Rừng trung bình Rừng giàu

Chiều dài trung bình của lá sa nhân tím

Biều đồ 4.11: Tương quan giữa chiều dài lá Sa nhân tím với điều kiện sinh cảnh của nó a b

Hình 4.4: (a) Chiều dài lá, (b) Chiều rộng lá, (c) Chiều cao cây

Sản lượng quả Sa nhân tím

4.3.1 Đặc điểm ra hoa và kết quả của Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau

Bảng 4.9: Một số đặc điểm ra hoa và kết quả của Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau

I - Ngoài trống II-Rừng trung bình III - Rừng giàu

Kt quả h/kh q/ch/kh

Kt quả h/kh q/ch/kh

Kt quả h/kh q/ch/kh

Kết quả nghiên cứu cho thấy kích thước quả Sa nhân tím được xác định qua chiều dài (D) và chiều rộng (R) tính bằng cm Ngoài ra, số lượng hoa Sa nhân tím trên mỗi khóm (h/kh) và số lượng quả trên chùm trong khóm (q/ch/kh) cũng được ghi nhận.

Dài Rộng Dài Rộng Dài Rộng

Ngoài trống Rừng trung bình Rừng giàu Đơn vị: Cm

Biểu đồ 4.12: Kích thước quả Sa nhân tím mọc tự nhiên ở ba vị trí khác nhau tại VQG Pù Mát, Nghệ An

Ngoài trống Rừng trung bình Rừng giàu

Tỷ lệ đậu quả sa nhân tím

Biều đồ 4.13: Tỷ lệ đậu quả của loài Sa nhân tím mọc tự nhiên ở ba vị trí khác nhau tại VQG Pù Mát, Nghệ An

Tỷ lệ đậu quả của Sa nhân tím mọc tự nhiên thay đổi tùy thuộc vào loại rừng, với mức cao nhất đạt 66% ở rừng trung bình, tiếp theo là 62% ở rừng giàu, và thấp nhất là 33% khi mọc trên đất trống.

Theo kết quả khảo sát tại bảng 4.9, trung bình số quả Sa nhân tím trên mỗi chùm ở rừng tự nhiên có độ che phủ trung bình đạt 4 - 5 quả/chùm, trong khi ở khu vực ngoài trống chỉ có 2 - 3 quả/chùm, cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong điều kiện sinh trưởng.

Theo bảng 4.9, trung bình mỗi khóm Sa nhân tím trong rừng trung bình cho 28,2 quả, trong khi ở rừng giàu là 18,5 quả, và thấp nhất là 8,9 quả ở những cây Sa nhân tím mọc tự nhiên ngoài trống.

Hình 4.5: Sự ra hoa của Sa nhân tím ở trong rừng trung bình a b c

Hình 4.6: (a)Hình thái hoa Sa nhân tím,(b) Chiều dài hoa,

Hình 4.7: Chùm quả Sa nhân tím

4.3.2 Đặc điểm khối lượng quả Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau

Qua các khảo sát sản lượng quả Sa nhân tím tại ba vị trí khác nhau trong VQG Pù Mát (ngoài trống, dưới tán rừng trung bình, và dưới tán rừng giàu), đề tài đã ghi nhận một số kết quả đáng kể, được tổng hợp trong bảng dưới đây.

Bảng 4.10: Đặc điểm khối lượng quả Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau thuộc khu vực nghiên cứu

Ngoài Trống Rừng trung bình Rừng giàu

Khối lượng quả/khóm (kg)

Khối lượng quả/cây (kg)

Khối lượng quả/khóm (kg)

Khối lượng quả/cây (kg)

Khối lượng quả/khóm (kg)

Khối lượng quả Sa nhân tím trên một cây và một khóm ở ba vị trí khác nhau cho thấy sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, khối lượng trung bình lớn nhất được ghi nhận ở vị trí dưới tán rừng với 0,0131 kg/cây và 0,089 kg/khóm, trong khi khối lượng nhỏ nhất là ở vị trí ngoài trống với 0,00538 kg/cây và 0,0233 kg/khóm Sự khác biệt này được thể hiện rõ qua biểu đồ 4.15.

Khối lượng quả/khóm (kg)

Khối lượng quả/cây (kg)

Khối lượng quả/khóm (kg)

Khối lượng quả/cây (kg)

Khối lượng quả/khóm (kg)

Ngoài Trống Rừng trung bình Rừng giàu

Biểu đồ 4.14: Khối lượng quả Sa nhân tím ở ba vị trí khác nhau tại khu vực nghiên cứu

Để xác định sản lượng quả Sa nhân tím bình quân trên héc ta (ha) ở ba sinh cảnh, nghiên cứu đã tiến hành điều tra và thu thập toàn bộ số quả trong ô tiêu chuẩn tại ba thời điểm tháng 6, 7, 8, với kết quả được trình bày trong bảng 4.11.

Bảng 4 11: Sản lượng quả Sa nhân tím (kg/ha) ở ba vị trí khác nhau thuộc khu vực nghiên cứu Đơn vị: kg/100m2

Ngoài trống Rừng trung bình Rừng giàu

Qua phỏng vấn người dân sống gần VQG Pù Mát, nghiên cứu ghi nhận thời gian thu hoạch Sa nhân tím tự nhiên diễn ra từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm Do đó, đề tài đã chọn tháng 6, 7 và 8 để tiến hành điều tra và thu thập số liệu, kết quả được tổng hợp trong bảng 4.11.

Qua bảng 4.11 thấy sản lượng quả Sa nhân tím mọc ngoài trống là bé nhất, trung bình khoảng 1.65 - 1.87 kg/100m2 (165kg - 187kg/ha); lớn nhất là

Sa nhân tím thường phát triển dưới tán rừng với năng suất trung bình khoảng 3.75 - 3.85 kg/100m2, tương đương 375kg - 385kg/ha Đặc biệt, khi trồng ngoài trống và dưới tán rừng trung bình, tháng 7 là thời điểm thu hoạch quả Sa nhân tím lớn nhất, trong khi đó, Sa nhân tím mọc dưới tán rừng giàu cho năng suất cao nhất vào tháng 8.

Hình 4.8: Quả Sa nhân tím phơi khô

Hình 4.9: Kích thước quả Sa nhân tím

4.3.4 Biến động của sản lượng quả Sa nhân tím theo các nhân tố có ảnh hưởng quan trọng

Sa nhân tím phát triển tốt dưới tán rừng tự nhiên với điều kiện đất dày, độ ẩm cao và ánh sáng phù hợp Tuy nhiên, thông tin hiện có vẫn còn chung chung và thiếu số liệu cụ thể Do đó, nghiên cứu đã tiến hành xác định bề dày tầng đất (tầng A), độ ẩm đất và cường độ ánh sáng nơi Sa nhân tím mọc Với giới hạn về thời gian và kinh phí, nghiên cứu đã chọn ba vị trí: ngoài trống, dưới tán rừng trung bình và dưới tán rừng giàu để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố này đến sản lượng quả của Sa nhân tím Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 4.12.

Bảng 4.12: Biến động năng suất quả Sa nhân tím theo các nhân tố ảnh hưởng quan trọng

Trạng thái thảm thực vật

IAS Độ ẩm tầng đất mặt (A) (%) Độ dày tầng đất mặt (A) (cm)

Năng suất quả (kg/100m 2 /năm

Ánh sáng là yếu tố sinh thái quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của thực vật, đóng vai trò thiết yếu trong quá trình quang hợp Quá trình này giúp cây xanh tạo ra năng lượng ATP, cung cấp năng lượng cho các hoạt động trao đổi chất trong cơ thể thực vật.

Bảng 4.12 cho thấy rằng bề dày tầng đất, độ ẩm của tầng đất mặt và cường độ ánh sáng đều ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng quả.

Trong khu vực nghiên cứu, sa nhân tím đã được xác định; tuy nhiên, để đánh giá chính xác yếu tố nào ảnh hưởng nhất đến sản lượng quả, cần thực hiện nghiên cứu định lượng.

Sa nhân tím rất khó trồng, nhưng cường độ ánh sáng tương đối là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến sản lượng quả Hệ số cường độ ánh sáng tối ưu cho Sa nhân tím nằm trong khoảng 0,0123 - 0,0136, cao hơn so với độ sáng dưới tán rừng giàu Điều này dẫn đến độ ẩm của đất dưới tán rừng trung bình thấp hơn, do ánh sáng mạnh làm tăng sự bay hơi nước trên bề mặt đất, gây giảm độ ẩm trong đất.

Hình 4.10: Đo cường độ ánh sáng

Từ kết quả nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm bảo tồn và phát triển loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu

và phát triển loài Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu

* Căn cứ vào đặc điểm phân bố của sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu, tôi có một số đề xuất như sau:

Sa nhân tím phát triển tốt nhất ở những khu vực có rừng cây lá rộng hỗn loài, nằm trên đất thấp ở hướng Đông và Tây, với độ cao dưới 500m so với mực nước biển và độ dốc dưới 10 độ.

4.4.1 Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation)

Xác lập các tiểu khu 796a, 805, 800, 699, 705 có loài Sa nhân tím phát triển tốt và giao cho các trạm quản lý bảo vệ rừng thực hiện công tác tuần tra và kiểm tra nghiêm ngặt Cần phối hợp chặt chẽ với bộ đội, công an, kiểm lâm huyện, chính quyền địa phương và người dân thôn bản trong việc tuần tra và kiểm soát.

Cần tăng cường công tác tuyên truyền để người dân nhận thức rõ vị trí và tầm quan trọng của khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, nơi cấm hoàn toàn mọi hoạt động khai thác Đồng thời, khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý và bảo vệ rừng, thiết lập thùng thư phát giác để kịp thời ngăn chặn hành vi phá rừng trái phép, cũng như xây dựng nội quy và hương ước cho các làng bản.

Trong điều kiện thích hợp, chúng ta có thể thúc đẩy quá trình tái sinh rừng bằng cách phát dọn thực bì, nhằm tăng cường ánh sáng cho cây con Vào mùa thu hoạch quả chín, việc thu lượm và gieo hạt ở các khu vực gần đó với ánh sáng thích hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây tái sinh Đồng thời, tổ chức làm đất dưới tán rừng cũng giúp tăng cường khả năng tiếp xúc của hạt, hỗ trợ quá trình nảy mầm và phát triển nhánh.

- Thực hiện tốt chương trình nghiên cứu khoa học

Tiếp tục thực hiện tốt chương trình nghiên cứu theo hướng chuyên sâu loài

Sa nhân tím phân bố tại Vườn quốc gia Pù Mát, là loài có đặc điểm sinh thái độc đáo và khả năng tái sinh tốt Việc đánh giá chi tiết về vùng phân bố, đặc điểm sinh thái, cũng như khả năng phát triển của sa nhân tím là rất quan trọng để bảo tồn và phát triển loài này.

4.4.2 Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) Đây là giải pháp mang tính định hướng, bằng việc nhân giống sinh dưỡng (bằng hom) và nhân giống hữu tính (ươm hạt) để trồng vào các khu vực có điều kiện sinh thái phù hợp để bảo tồn loài thực vật quý hiếm này Tuy nhiên để bảo tồn chuyển vị thành công, Vườn quốc gia Pù Mát cần phải có những nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn về đặc điểm sinh thái của loài Sa nhân tím để đảm bảo thành công

- Bảo tồn, phát triển loài Sa nhân tím bằng phương pháp nhân giống vô tính bằng hom

* Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu, tôi có một số nhận xét:

Sa nhân tím, cả ở giai đoạn cây non lẫn trưởng thành, phát triển mạnh mẽ dưới tán rừng trung bình Vì vậy, việc tạo điều kiện tương tự như môi trường dưới tán rừng trung bình là rất quan trọng trước khi tiến hành trồng sa nhân tím.

Dựa trên ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái đến năng suất và sản lượng quả sa nhân tím trong khu vực nghiên cứu, bài viết đưa ra một số nhận xét quan trọng về mối quan hệ giữa các yếu tố này và sự phát triển của cây sa nhân tím.

Sa nhân tím phát triển mạnh mẽ trong môi trường rừng có độ che phủ khoảng 45%, với hệ số cường độ ánh sáng từ 0,0123 đến 0,0136 và bề dày đất tầng A từ 32 cm trở lên Do đó, để nhân rộng mô hình, người dân nên được khuyến cáo trồng sa nhân tím dưới tán rừng trồng hoặc rừng thứ sinh có các đặc điểm tương tự.

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), (2003-2005), Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập II-III, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vụ Khoa học công nghệ và Chất lượng sản phẩm, (2000), Tên cây rừng Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Vụ Khoa học công nghệ và Chất lượng sản phẩm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
3. Nguyễn Đình Cầm, Nguyễn Ngọc Hùng, (1985), Nuôi trồng khai thác Sa nhân dưới tán rừng, Tập San Lâm nghiệp, số 8, tr. 28 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi trồng khai thác Sa nhân dưới tán rừng
Tác giả: Nguyễn Đình Cầm, Nguyễn Ngọc Hùng
Năm: 1985
4. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, (2000), Thực vật rừng, Giáo trình Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng, Giáo trình Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
5. Võ Văn Chi, (1997), Từ điển cây thuốc Việt Nam, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển cây thuốc Việt Nam
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1997
6. Nguyễn Chiều, (1991), Góp phần phân loại chi Amomum Roxb,Thông báo Dược liệu - Viện Dược liệu, số 3+4, tr. 27 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phân loại chi Amomum Roxb
Tác giả: Nguyễn Chiều
Năm: 1991
7. Nguyễn Chiều, (1993), Cây Sa nhân và việc sử dụng Sa nhân trong y học dân tộc, Thông tin y học cổ truyền, số 73, tr. 25 - 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây Sa nhân và việc sử dụng Sa nhân trong y học dân tộc
Tác giả: Nguyễn Chiều
Năm: 1993
10. IUCN, (2007), Red List of Threatened Species, World Conservation Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Red List of Threatened Species
Tác giả: IUCN
Năm: 2007
11. Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh Hòa, (2002), Đất Lâm Nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Lâm Nghiệp
Tác giả: Hà Quang Khải, Đỗ Đình Sâm, Đỗ Thanh Hòa
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2002
12. Ngô Kim Khôi (1998), Thống kê toán học trong lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê toán học trong lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
13. Ngô Kim Khôi, Nguyễn Hải Tuất và Nguyễn Văn Tuấn (2001), Giáo trình tin học ứng dụng trong Lâm nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tin học ứng dụng trong Lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi, Nguyễn Hải Tuất và Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
14. Ngô Kim Khôi, Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Văn Tuấn, (2001), Tin học ứng dụng trong Lâm nghiệp, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin học ứng dụng trong Lâm nghiệp
Tác giả: Ngô Kim Khôi, Nguyễn Hải Tuất, Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2001
15. Nguyễn Thị Phương Lan, (2004), Nghiên cứu các loài Sa nhân mọc hoang ở các xã miền núi tỉnh Ninh Thuận, Luận văn thạc sỹ dược học, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các loài Sa nhân mọc hoang ở các xã miền núi tỉnh Ninh Thuận
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Lan
Năm: 2004
16. Đỗ Tất Lợi, (1995), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1995
17. Đào Lan Phương, (1995), Nghiên cứu một số loài mang tên Sa nhân ở Miền Bắc Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học y Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số loài mang tên Sa nhân ở Miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Đào Lan Phương
Năm: 1995
18. Nguyễn Thanh Phương, (2001), Kết quả nghiên cứu tuyển chọn xuất xứ giống Sa nhân tím (Amomum longiligulare T. L. Wu) cho năng suất cao, chất lượng tốt tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thanh Phương, (2001), "Kết quả nghiên cứu tuyển chọn xuất xứ giống Sa nhân tím (Amomum longiligulare "T. L. Wu)
Tác giả: Nguyễn Thanh Phương
Năm: 2001
19. Sở Khoa học và Cộng nghệ tỉnh Nghệ An, (2010), Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử đất kế hoạch chi tiết đến năm 2010, tỉnh Nghệ An 20. Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An, (2010), Báo cáo tổngkết năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử đất kế hoạch chi tiết đến năm 2010, tỉnh Nghệ An 20. "Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An, (2010), "Báo cáo tổng
Tác giả: Sở Khoa học và Cộng nghệ tỉnh Nghệ An, (2010), Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử đất kế hoạch chi tiết đến năm 2010, tỉnh Nghệ An 20. Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Nghệ An
Năm: 2010
21. Nguyễn Tập và cộng sự, (1995), Nghiên cứu bảo vệ tái sinh hai cây thuốc đặc sản: Sa nhân, vàng đắng…, Báo cáo khoa học đề tài nghiên cứu cấp nhà nước (KV.02.04) Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bảo vệ tái sinh hai cây thuốc đặc sản: Sa nhân, vàng đắng
Tác giả: Nguyễn Tập và cộng sự
Năm: 1995
22. Nguyễn Nghĩa Thìn, (1997), Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật, Nxb. Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn
Nhà XB: Nxb. Nông Nghiệp
Năm: 1997
23. Nguyễn Nghĩa Thìn, Các phương pháp nghiên cứu thực vật, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp nghiên cứu thực vật
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm