1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm học và kỹ thuật trồng cây sa mộc cunninghamia lanceolata lamb hook tại huyện si ma cai tỉnh lào cai

73 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Và Kỹ Thuật Trồng Cây Sa Mộc Cunninghamia Lanceolata Lamb Hook Tại Huyện Si Ma Cai Tỉnh Lào Cai
Tác giả Viên Đình Hiệp
Người hướng dẫn PGS.TS Bùi Thế Đồi, TS Phạm Minh Toại
Trường học Đại học Lâm nghiệp
Chuyên ngành Lâm nghiệp
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 3.1.4. Thủy văn

  • 3.1. 5.4.Thực trạng môi trường

  • 3.1.5.5. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên

  • Cây Sa mộc là cây trồng rừng chủ lực của các huyện vùng cao Lào Cai nói chung và Si Ma Cai nói riêng, từ khi tái lập huyện (tháng 9/2000) đến nay, mỗi năm toàn huyện trồng được từ 200 – 400 ha rừng tập trung, 100.000 – 200.000 cây phân tán, trong đó ...

  • Trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015, huyện Si Ma Cai đã trồng được 1.764,5 ha rừng, trong đó rừng trồng phòng hộ là 890 ha và rừng trồng sản xuất là 874,5 ha (bảng 4.1). Cây Sa mộc được coi là cây trồng rừng chủ lực với trên 80...

  • Theo bảng 3.3, trong 5 năm gần đây toàn huyện trồng rừng như sau:

  • - Năm 2011: trồng được 524,5 ha rừng

  • - Năm 2012: trồng được 300 ha rừng

  • - Năm 2013: trồng được 210 ha rừng

  • - Năm 2014: trồng được 400 ha rừng

  • - Năm 2015: trồng được 300 ha rừng.

  • Trong tổng số các diện tích trồng rừng phòng hộ và sản xuất, cây Sa mộc được chọn là cây trồng rừng chủ lực (chiếm từ 80% diện tích). Để thấy rõ hơn về cơ cấu trồng rừng bằng cây Sa mộc thuần loài hoặc trồng xen v...

  • Kết quả theo dõi, quan sát và mô tả cây Sa mộc tại khu vực nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một số đặt điểm sinh thái và vật hậu của loài như sau:

  • 4.1.1.1. Hình thái lá

  • Kết quả đo tính kích thước lá của các mẫu được lấy tại khu vực nghiên cứu đã xác định: Lá Sa mộc có hình ngọn giáo, dài trung bình từ 3-6 cm, rộng 3-5 mm tuỳ vị trí lấy lá cây; đầu lá nhọn, cứng; mép lá có răng cưa sắc. Dọc 2 bên gân giữa phía m...

  • 4.1.1.2. Đặc điểm hình thái nón/quả Sa mộc:

  • Kết quả quan sát 30 mẫu nón/quả cây Sa mộc ở tuổi 15 cho thấy: Cây Sa mộc có đặc điểm là: Nón đơn tính cùng gốc;nón đực mọc cụm đầu cành, nón cái mọc lẻ hoặc gồm 2-3 chiếc mọc cụm đầu cành.

  • Quả nón hình trứng tròn, dài trung bình 2,5-5 cm, đường kính trung bình 3-5 cm. Lá bắc dạng vẩy, hoá gỗ, bao phía ngoài vảy nón (lá noãn); Mỗi vảy nón mang 3 hạt.

  • Hình 4.1. Hoa, nón/quả của cây Sa mộc

  • 4.1.1.3. Đặc điểm hạt Sa mộc

  • Hạt dẹt, có cánh mỏng bao quanh. Có màu nâu sáng, kích thước hạt dao động từ 0,4-0,8 cm.

  • Hình 4.2. Quả, quả chín khô và hạt Sa mộc

  • 4.1.1.4. Hình dáng cây

  • Hình 4.3. Hình thái cây Sa mộc tại Si Ma Cai (tháng 3/2016)

  • Hình 4.4. Cây Sa mộc phát triển tốt trên đất rừng tại Si Ma Cai

  • (tháng 3/2016)

  • Hình 4.5: Sinh trưởng đường kính (D1.3) các lâm phần Sa mộc

  • Hình 4.6: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn Sa mộc ở các tuổi khác nhau

  • Với sự phân hoá này, cần có các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp để đảm bảo các lâm phần Sa mộc sinh trưởng và phát triển một các tốt nhất.

  • Hình 4.7: Sinh trưởng đường kính tán lá (Dt) và chiều cao dưới cành (Hdc) của Sa mộc ở các tuổi khác nhau

  • Hình 4.8: Đường cong tăng trưởng trữ lượng rừng theo tuổi (m3/ha/năm)

  • Hình 4.9. Một số hình ảnh về tái sinh chồi Sa mộc

  • Hình 4.10. Tương quan giữa đường kính gốc chặt (D gốc, cm) với các chỉ tiêu chồi: số lượng chồi/gốc, đường kính trung bình của cây chồi (D chồi, cm) và chiều cao trung bình cây chồi (H chồi, cm)

  • Hình 4.11. Tương quan giữa chiều cao gốc chặt (H gốc, cm) với các chỉ tiêu chồi: số lượng chồi/gốc, đường kính trung bình của cây chồi

  • (D chồi, cm)

  • Hình 4.12. Tương quan H chồi và H gốc chặt

  • 4.4. Kết quả nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Sa mộc

  • 4.4.1. Kỹ thuật nhân giống Sa mộc

  • Hình 4.13. Quả/nón Sa mộc được thu hái và hong phơi tại Si Ma Cai

  • Hình 4.14. Cây con sa mộc gieo trong các luống đang được chăm sóc tại hộ gia đình ở Si Ma Cai

  • Hình 4.15. Người dân chuẩn bị cây giống Sa mộc mang đi trồng rừng

    • 2. Tồn tại

    • 3. Khuyến nghị

  • 5. Thanh Tâm (2015), Trồng rừng Sa mộc trên đất rẫy Si Ma Cai (http://vov4.vov.vn/TV/khuyen-nong/trong-rung-sa-moc-tren-dat-ray-si-ma-cai-c1255-9250.aspx).

    • 6. Nguyễn Hữu Thiện (2012), Chuyển hóa rừng trồng Sa mộc (Manglietia glauca Dandy) và Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Hook) sản xuất gỗ nhỏ thành rừng trồng cung cấp gỗ lớn ở miền Bắc Việt Nam. Luận án tiến sĩ Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp. 1...

  • 7. Triệu Thu Thủy (2002), Nghiên cứu một số đặc điểm khuyết tật trên thân cây Sa mộc (Cunning hamia lanceolata Hook) làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tăng hiệu quả sử dụng rừng trồng nguyên liệu tại Bắc Hà-Lào Cai. Luận

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố của Sa mộc a) Đặc điểm hình thái :

Sa mộc (Cunninghamia lanceolata) hay còn gọi là Chinese fir, là một loài cây thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceae), được phát hiện bởi một bác sĩ người Anh tại đảo Chu Sơn, Trung Quốc vào năm 1701-1702 Cây có đặc điểm là lá kim, gỗ lớn, sinh trưởng nhanh, chiều cao có thể đạt tới 30 m, đường kính ngang ngực từ 2,5 đến 3,0 m và đường kính tán lên tới 9 mét Thân cây có lớp vỏ ngoài sần sùi màu nâu đậm, nứt dọc với nhiều vết nhựa chảy và có mùi thơm đặc trưng Lá của sa mộc cứng, dày, xếp hình xoắn ốc, có chiều dài từ 3,0-6,5 cm, dày từ 1,5-5 mm và rộng từ 0,3-1,2 mm, với hình dáng ngọn dáo.

Sa mộc bắt đầu ra hoa khi cây từ 6-8 tuổi, với hoa cái hình thành vào mùa thu và nở vào tháng 3-4 hàng năm, trong khi hoa đực nở vào giữa hoặc cuối tháng 3 và tồn tại từ 5-10 ngày trong điều kiện nhiệt độ 10-13 °C Hoa đực và hoa cái mọc thành cụm hình nón ở đầu cành, với 8-20 nón Nón cái có hình trứng hoặc hình tròn, dài từ 2.5 đến 5cm, rộng từ 3-4cm, màu nâu với mép răng cưa và đỉnh thon dài, thường mọc thấp hơn nón đực để thuận lợi cho quá trình thụ phấn Đặc biệt, nón quả Sa mộc rất cứng và không thu hút côn trùng Hạt Sa mộc chín vào tháng 10 đến tháng 11, có hình thuôn hoặc ô van, dài 7-8mm, rộng 4-5mm, với vỏ cứng màu nâu đậm và mép có lớp màng mỏng.

Sa mộc là loài cây ưa sáng, có khả năng sinh trưởng kém trong điều kiện thiếu ánh sáng, dẫn đến tán lá không đều Loài cây này có khả năng tái sinh tự nhiên rất thấp, vì vậy cần thực hiện các biện pháp lâm sinh như phát đốt thực bì và làm đất trồng rừng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc trồng mới, đồng thời giảm thiểu sự cạnh tranh và tác động của sâu bệnh.

Sa mộc phát triển tốt trên đất sét, cát và đất chua với khả năng thoát nước tốt Loài cây này có khả năng chịu hạn, thích nghi với vùng đất sét nghèo dinh dưỡng và không bị ngập úng, đồng thời có khả năng chống chịu sâu bệnh hiệu quả.

2014) Chính vì vậy, phòng chống sâu bệnh hại không phải là vấn đề cần được chú trọng khi trồng rừng bằng loài cây này c) Đặc điểm phân bố:

Sa mộc, theo nghiên cứu của Fung (1993), đã được trồng ở Trung Quốc từ hơn 1.000 năm trước, khiến việc phân định ranh giới giữa vùng phân bố tự nhiên và rừng trồng trở nên khó khăn Nghiên cứu của Morrell (2006) và Orwa cùng các cộng sự (2009), Bian và đồng nghiệp (2014) chỉ ra rằng sa mộc phân bố tự nhiên ở độ cao từ 1.000-2.000m so với mực nước biển tại Trung Quốc, Campuchia, Việt Nam, Lào và Malaysia, thường xuất hiện trong các khu rừng hỗn loài thường xanh hoặc rụng lá theo mùa Tại Trung Quốc, sa mộc phát triển chủ yếu ở vùng cận nhiệt đới phía Nam, từ 19°30' đến 34°03' vĩ độ Bắc và 101°30' đến 121°53' kinh độ Đông, trải dài qua 17 tỉnh Ở Việt Nam, loài cây này phân bố tự nhiên tại một số tỉnh miền núi, trong các khu vực ấm, ẩm với nhiệt độ trung bình hàng năm từ 12-23°C và có khả năng chịu đựng nhiệt độ xuống tới -15°C (Orwa và cộng sự).

Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 660 đến 2.450 mm, với điều kiện sinh trưởng tốt nhất trên đất giàu mùn, thoát nước tốt, có độ pH từ 4.7 đến 6.4 Tỷ lệ carbon và nitơ trong đất biến động từ 6,8 đến 16.

1.1.2 Giá trị kinh tế của Sa mộc

Sa mộc là cây trang trí phổ biến, thường được trồng ở công viên và khu vực rộng lớn Gỗ sa mộc có màu nâu nhạt, với đặc tính sợi thẳng, độ bền cao và mật độ từ 0,4-0,5, dễ chế biến Đặc biệt, gỗ này chống mối mọt tốt, được sử dụng trong xây dựng, làm cột chống, cầu, đóng tàu và đồ gỗ Cành to và già được dùng làm con tiện Ngoài giá trị gỗ, vỏ sa mộc được dùng để sản xuất tanin và giấy, trong khi cành được chiết xuất để làm dầu trong ngành công nghiệp nước hoa.

1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng rừng Sa mộc

Sa mộc là loài cây sinh trưởng nhanh, có giá trị gỗ cao, được trồng phổ biến tại Trung Quốc Loài cây này chiếm một phần ba diện tích rừng trồng và đóng góp khoảng 20-25% tổng sản lượng gỗ của quốc gia (Sheng, 1995).

Sa mộc được gây trồng ở một số vùng phía Nam của Trung Quốc từ hơn 1.000 năm trước đây (FAO, 1982, dẫn theo Fung, 1994) Theo Ma và cộng sự

(2002), tại Trung Quốc, vùng gây trồng của Sa mộc nằm trong khoảng từ 20- 30° vĩ Bắc, từ 100 đến 120° kinh Đông

- Kỹ thuật thu hái, chế biến và bảo quản hạt giống

Thời gian thu hái hạt Sa mộc lý tưởng là 2-3 tuần sau khi vỏ quả chuyển từ màu xanh đậm sang màu nâu vàng Nón quả được thu hoạch bằng cách sử dụng các móc dài, với sản lượng hạt giống thường đạt từ 30-50g hạt/kg nón quả khô Mỗi kg hạt Sa mộc chứa khoảng 130.000 đến 150.000 hạt Sau khi thu hoạch, hạt cần được bảo quản trong bóng râm trong khoảng một tuần, sau đó phơi dưới nắng nhẹ trong 2-3 ngày để tách hạt ra khỏi quả (Orwa và cộng sự, 2009).

- Kỹ thuật nhân giống Sa mộc

Sa mộc có thể dễ dàng được nhân giống bằng hạt, chồi gốc, hạt hoặc hom (Dallimore và Jackson, 1931; Fung, 1994)

+ Kỹ thuật nhân giống từ hạt

Theo Trung tâm hạt giống DANIDA (Dorthe, 2000), hạt Sa mộc không cần trải qua trạng thái ngủ trước khi nảy mầm và không cần xử lý trước khi gieo Tuy nhiên, ngâm hạt trong nước ấm có thể tăng khả năng nảy mầm Giai đoạn nảy mầm của hạt diễn ra từ ngày thứ 7 và kết thúc vào ngày thứ.

20 Hạt sau khi nảy mầm có thể được gieo trực tiếp lên luống hoặc cấy vào các túi bầu Nếu hạt được gieo ngay sau khi thu hái trong tháng 10-11 thì có thể đem đi trồng rừng vào tháng 2 đến tháng 4 năm sau khi cây con có chiều cao từ 35-40cm

+ Kỹ thuật nhân giống bằng hom

Theo nghiên cứu của Minghe và Ritchie (1999), việc nhân giống cây Sa mộc có thể thực hiện đơn giản bằng cách sử dụng hom cành trưởng thành và cắm thẳng xuống đất, từ đó có thể thu được cây con mới.

- Kỹ thuật trồng và chăm sóc rừng trồng Sa mộc

Theo nghiên cứu của Cai và cộng sự (2005), tại tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, vùng cận nhiệt đới có 4 mùa rõ rệt, Sa mộc thường mọc xen kẽ với các loài cây như Cà ổi nhỏ, Vối thuốc bạc, Trâm, Dẻ tung và Thông pà cò Những loài cây này phát triển ở độ cao trên 800m so với mực nước biển, nơi có nhiệt độ trung bình hàng năm là 14°C (với mức thấp nhất là -5°C và cao nhất là 34°C), lượng mưa trung bình hàng năm đạt 1.680 mm và độ ẩm tương đối là 81%.

1.1.4 Sinh trưởng và trữ lượng rừng trồng Sa mộc

Sinh trưởng của rừng trồng Sa mộc thay đổi theo dạng lập địa và vùng trồng, phụ thuộc vào nhiệt độ và chiều dài mùa sinh trưởng Nghiên cứu cho thấy cây sinh trưởng mạnh về chiều cao từ 3-10 tuổi, với tăng trưởng bình quân hàng năm từ 0,5-1,0 m Khi rừng trồng đạt 20 tuổi, lượng tăng trưởng bình quân về trữ lượng dao động từ 12,5 đến 17,5 m³/ha/năm, có thể lên tới 20 m³/ha/năm ở khu vực tốt Tuy nhiên, từ độ tuổi 30-35, lượng tăng trưởng chiều cao giảm xuống còn 0,2 đến 0,3 m/năm, và tổng trữ lượng khi khai thác ước tính từ 500-800 m³/ha.

Ở trong nước

1.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và phân bố Ở Viê ̣t Nam cây Sa mộc còn đươ ̣c gọi là Sa mu, Sam mộc; là loài cây lá kim thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceae) sinh trưởng nhanh, có kích thước lớn - chiều cao có thể lên tới 45m, đường kính ngang ngực có thể đạt tới 120 cm (Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005) Đây là loài cây ưa ánh sáng mạnh, có thể chịu bóng nhưng khả năng sinh trưởng không tốt (SPERI–FFS, 2011), có thân thẳng vỏ màu xám nứt dọc bong mảng nhỏ Khi cây còn non thì tán hình tháp, về già tán hình nón, lá dày cứng hình dải ngọn giáo xếp thành một mặt phẳng nằm ngang, mép lá có răng cưa dài từ 3-6cm Sa mộc có khả năng ra hoa từ 6 tuổi (Vũ Tiến Hinh và cộng sự, 2000) Hoa đực xếp cụm 15-20 cái, hình trụ thành đuôi sóc ở ngọn, xếp thàng 5-6 cái một Hoa cái hình trứng, đơn hay cụm lại, quả nón dài 2,5-3 cm đường kính từ 2-4 cm có chóp hình tam giác, tận cùng thành mũi thon Hạt dài từ 6-8 mm rộng từ 4-6 mm màu nâu, là cây có hai lá mầm dài từ 1,2-1,7cm, rộng không quá 2 mm, đầu tròn hơi lõm, lá ban đầu hình dải cong như lưỡi liềm dài từ 1,5-3,5cm

Sa mộc có hệ rễ nông với rễ cái phát triển kém, chủ yếu tập trung ở tầng đất từ 10 đến 60 cm Tại Việt Nam, sa mộc được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Lào Cai và Quảng Ninh, nơi có độ cao từ 500-1.800 m so với mực nước biển Khu vực này có lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.500-2.500 mm, với 3-4 tháng khô hạn trong năm (lượng mưa dưới 50 mm), độ ẩm không khí trên 85% và thường có mây mù.

Lê Thị Huyên, 2000; Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005; SPERI-FFS, 2011)

1.2.2 Nghiên cứu về kỹ thuật hạt giống và gieo ươm

Giống Sa mộc cần được lấy từ các rừng giống chuyển hóa đã được công nhận hoặc từ cây phân tán, với điều kiện cây mẹ phải từ 15-30 tuổi, sinh trưởng tốt, tán rộng đều và không bị sâu bệnh (Bộ NN&PTNT, 2002; SPERI-FFS, 2011) Tại huyện Si Ma Cai, Lào Cai, trước năm 2011, giống Sa mộc chủ yếu được mua từ Bắc Hà, nhưng từ năm 2011, nguồn giống đã được lấy từ 15 ha lâm phần tuyển chọn thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ huyện Si Ma Cai (VAFS, 2014) Ở một số khu vực giáp biên giới Việt - Trung tại Hà Giang, giống Sa mộc chủ yếu được nhập từ Trung Quốc (Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Giang, 2014).

Quả được thu hái vào tháng 10-11, sau tiết sương giá, khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng mơ, lúc này nhân hạt đã phát triển đầy đủ Sau khi thu hái, quả được ủ từ 2-4 ngày, sau đó phơi nắng nhẹ từ 2-3 ngày, mỗi ngày từ 7-8 giờ, rồi tách hạt ra khỏi quả (30-40kg quả thu được 1kg hạt) Tiếp tục phơi thêm 1-2 nắng khi đủ độ ẩm tiêu chuẩn trước khi bảo quản Hạt sau khi làm sạch, phân loại có thể gieo ươm ngay hoặc được cất trữ khô trong thùng, chum, vại, với thời gian bảo quản tối đa khoảng 6 tháng Hạt Sa mộc cũng có thể được bảo quản lạnh ở nhiệt độ từ 1°C đến 5°C, giúp giữ được tuổi thọ lên tới 12 tháng Hạt đảm bảo tiêu chuẩn có độ sạch 85-95%, mỗi kg chứa từ 120.000 đến 150.000 hạt, tỷ lệ nảy mầm trên 30%.

Sa mộc hiện đang được trồng tập trung tại một số tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, bao gồm Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Giang và Quảng Ninh.

Để chọn đất trồng Sa mộc, cần tìm các thung lũng hẹp với tầng đất dày, thoát nước tốt, có thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến sét nhẹ, ít đá lẫn và độ pH từ 5-7 Thực bì phù hợp cho việc trồng rừng Sa mộc là rừng thứ sinh nghèo kiện, nơi có các loại cây như tế, sim, mua, thẩu tấu và thành ngạnh đang phục hồi.

Để làm đất trồng rừng hiệu quả, cần thực hiện phát thực bì toàn diện tại những khu vực có độ dốc dưới 25° Việc phát thực bì nên được tiến hành theo băng, với băng chặt rộng 1m hoặc 1,5m và băng chừa 1m Kích thước hố trồng cần đạt 30x30x30cm và nên được lấp trước khi trồng rừng khoảng 1 tháng (Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2002, 2007; Chu Thị Thơm và cộng sự, 2005).

Mỗi hố bón lót 100g NPK và 200g phân hữu cơ vi sinh, công việc bón lót, lấp hỗ hoàn thành trước khi trồng từ 7-10 ngày (Bộ Nông nghiê ̣p &PTNT,

Trồng và chăm sóc rừng trồng sa mộc có thể thực hiện theo hai phương pháp: trồng thuần loài hoặc kết hợp với các cây gỗ tái sinh tự nhiên như sau sau, cáng lò và chẹo Trong 2-3 năm đầu sau khi trồng, có thể xen kẽ trồng sắn và các loại cây nông nghiệp khác để tăng hiệu quả kinh tế.

1.2.4 Sinh trưởng và sản lượng rừng trồng

Sa mộc thích hợp với khu vực có khí hậu tương đối ẩm, đất cát pha, màu

Sa mộc là loại cây phát triển nhanh trong 4-10 năm đầu khi trồng trên đất tốt, trong khi trên đất khô cằn, tốc độ tăng trưởng chỉ diễn ra mạnh mẽ trong giai đoạn đầu rồi chậm lại Tuổi thọ trung bình của cây là từ 15-30 năm, và cây có khả năng đâm chồi mạnh từ cành.

Sa mộc là loài cây mọc nhanh và sinh trưởng nhanh nhất vào giai đoạn

Trong 20 năm đầu, loài cây này phát triển theo nhịp điệu mùa vụ, với mùa xuân từ tháng 5-6 và mùa thu từ tháng 9-10 Sau 5 năm trồng, rừng cần được tỉa thưa để nâng cao chất lượng cây, điều chỉnh độ tàn che và loại bỏ những cây sinh trưởng kém, có hình dáng xấu hoặc bị sâu bệnh Mật độ cây còn lại khi khai thác chính khoảng 1.000-1.200 cây/ha Rừng Sa mu có trữ lượng cao, đạt từ 300-400 m³/ha, với mức tăng trưởng trung bình từ 15-20 m³/ha/năm.

Tại Lào Cai, rừng trồng Sa mộc làm tạo cảnh quan du lịch được tỉa thưa

Việc tỉa thưa cây được thực hiện 2 lần trong quá trình trồng Lần đầu diễn ra vào năm thứ 6-7, nhằm loại bỏ những cây cong queo, sâu bệnh, sinh trưởng kém và có hình dáng không cân đối, với mật độ để lại từ 2.500-2.700 cây/ha Lần tỉa thưa thứ hai được tiến hành sau 3 năm so với lần đầu, với mật độ để lại từ 1.600-1.800 cây/ha (UBND tỉnh Lào Cai).

Tại BQL rừng phòng hộ huyện Si Ma Cai, Lào Cai, rừng Sa mộc được trồng từ năm 1979 với mật độ 673 cây/ha Chiều cao trung bình của cây đạt trên 13m và đường kính ngang ngực là 20,3cm Trữ lượng ước tính đạt 267,9 m³/ha (VAFS, 2014).

Về chu kỳ kinh doanh, kết quả nghiên cứu của Vũ Tiến Hinh và cộng sự

Nghiên cứu cho thấy, với mật độ trồng rừng 200 cây/ha, chu kỳ kinh doanh hợp lý cho rừng Sa mộc là tối thiểu 25 năm Trong khoảng thời gian này, cần thực hiện tỉa thưa từ 1 đến 3 lần tùy theo cấp đất, với các độ tuổi tương ứng từ 8 đến 11 tuổi Mỗi lần tỉa thưa giúp chiều cao cây tăng khoảng 3,03%, tương đương 0,3 đến 0,5m Ở tuổi 22, sản lượng rừng trồng đạt 464,0 m³/ha cho cấp đất I, 332,6 m³/ha cho cấp đất II, 229,5 m³/ha cho cấp đất III và 192,7 m³/ha cho cấp đất IV.

II, III và IV (Vũ Tiến Hinh và cộng sự, 2000; Bộ NN&PTNT, 2003).

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu lý luận

Bổ sung cơ sở khoa học cho việc gây trồng và phát triển cây Sa mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.

Mục tiêu thực tiễn

- Xác định được đặc điểm lâm học cơ bản của cây Sa mộc tại huyện Si

Ma Cai, tỉnh Lào Cai

- Đánh giá được thực trạng gây trồng và phát triển cây Sa mộc tại huyện

Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

- Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phát triển bền vững cây Sa mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Cây Sa mộc trong rừng tự nhiên và được trồng ở tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu: Các xã thuộc huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai nơi có Sa mộc được gây trồng ít nhất 5 năm trở lại đây.

Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái và sinh thái loài Sa mộc

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Sa mộc ở các cấp tuổi khác nhau:

- Sinh trưởng về đường kính, chiều cao, đường kính tán lá

- Đánh giá chất lượng rừng trồng Sa mộc

2.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm kỹ thuật nhân giống và trồng cây Sa mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

2.3.4 Nghiên cứu đặc điểm tái sinh chồi của cây Sa mộc

- Sinh trưởng về đường kính, chiều cao, của cây chồi tái sinh

- Chất lượng cây Sa mộc tái sinh chồi

2.3.5 Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế và kỹ thuật nhằm phát triển cây Sa mộc tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thực địa

* Đối với rừng trồng Sa mộc

Nghiên cứu sử dụng phương pháp ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời để điều tra lâm phần cây Sa mộc ở các cấp tuổi khác nhau (5, 10 và 15 tuổi) Mỗi cấp tuổi được thiết lập 09 ô tiêu chuẩn (OTC) tại 3 vị trí địa hình: sườn chân, sườn giữa và sườn đỉnh, với 03 OTC cho mỗi vị trí, mỗi OTC có diện tích 500m² (20x25m) Tổng cộng có 27 OTC được lập Các chỉ tiêu đo đếm bao gồm đường kính D1.3, chiều cao Hvn, chiều cao đỉnh Hdc, độ tuổi Dt, chất lượng cây, cùng với các thông tin về điều kiện của OTC như loại đất, độ tàn che, độ cao và độ dốc, được thu thập theo mẫu biểu điều tra lâm học.

+ Đường kính ngang ngực (D1,3) được đo bằng thước dây: đo chu vi bằng thước dây có chia vạch đến cm tại độ cao 1,3 m

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc), được đo bằng thước đo cao, và sào khắc vạch có độ chính xác đến 10cm

Đường kính tán lá (Dt) được xác định bằng cách sử dụng thước dây và sào, với độ chính xác lên tới 10cm Việc đo được thực hiện theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính giá trị trung bình.

+ Đánh giá chất lượng cây Sa mộc theo các cấp: Tốt, Trung bình, Xấu

Mẫu biểu 01: Biểu điều tra cây

Ghi Chu vi D 1.3 ĐT NB TB chú

* Điều tra Sa mộc tái sinh chồi :

Trong mỗi vị trí địa hình của từng cấp tuổi, cần chọn một OTC để tiến hành điều tra khả năng tái sinh chồi từ các gốc cây bị chặt bỏ sau quá trình khai thác chọn.

- Tiến hành điều tra 20 đến 30 gốc chặt với các tuổi khác nhau (tuổi 5,

- Tiến hành đo đếm các chỉ tiêu của cây chồi tái sinh và ghi vào mẫu biểu 02 dưới đây:

Mẫu biểu 02: Biểu điều tra cây chồi

Ghi ĐT NB TB ĐT NB TB chú

Để thu thập mẫu hoa hoặc quả từ cây 15 tuổi, cần chọn ba cây có sự sinh trưởng và phát triển tốt Sau đó, cắt cành mang quả ở ba vị trí khác nhau: gần ngọn, giữa tán và phía dưới Cuối cùng, tiến hành mô tả, đo đếm và chụp ảnh các mẫu này.

Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn các cán bộ lâm nghiệp tại Phòng Nông nghiệp huyện Si Ma Cai cùng với một số người dân địa phương để thu thập thông tin chi tiết về vật hậu của cây Sa mộc.

Mẫu biểu 03: Biểu điều tra đặc điểm vật hậu ( Ví dụ: hình thái của Hoa)

TT mẫu quan sát Hình dạng Kích thước Màu sắc

Phương pháp chuyên gia được áp dụng trong nghiên cứu này để thu thập ý kiến và kinh nghiệm từ các chuyên gia về việc trồng, chăm sóc, khai thác, chế biến và tiêu thụ sản phẩm quả Sa mộc Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn cán bộ tại Phòng Nông nghiệp và PTNT, Hạt Kiểm lâm Si Ma Cai, cùng với một số người dân tại các xã để thu thập thông tin liên quan đến cây Sa mộc trong khu vực nghiên cứu.

Dữ liệu về diện tích và năng suất trồng cây Sa mộc đã được kế thừa từ Chi cục Thống kê, Hạt Kiểm lâm, Ban Quản lý rừng phòng hộ và Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện Si Ma Cai.

- Kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội từ các cơ quan liên quan trong huyện Si Ma Cai và các xã nghiên cứu

- Kế thừa các văn bản, chính sách hiện hành có liên quan đến Cây Sa mộc của tỉnh Lào Cai và huyện Si Ma Cai

Mẫu biểu 04: Thống kê diện tích rừng Sa mộc

Diện tích Năm trồng Hỗn giao Thuần loài

Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu

Lựa chọn địa điểm Đề xuất giải pháp Điều tra khảo sát thực tế, thu thập số liệu

Tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu

Thu thập thông tinvà phân tích tài liệu

Cấp huyện Cấp xã Cấp thôn Điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin về kỹ thuật đã áp dụng …

Lập tuyến, lập OTC, thống kê loài, đo đếm sinh trưởng, năng suất, điều tra đất đai…

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN SI MA

Điều kiện tự nhiên

Huyện Si Ma Cai nằm ở phía Bắc tỉnh Lào Cai trong tọa độ địa lý từ

22 0 35'30" đến 22 0 44'00" độ vĩ Bắc và từ 104 0 06'30" đến 104 0 12'00" độ kinh Đông

- Phía Đông giáp huyện Xín Mần của tỉnh Hà Giang, điểm cực Đông thuộc xã Lùng Sui có tọa độ 22 0 40'30" độ vĩ Bắc, 104 0 12'00" độ kinh Đông

- Phía Bắc giáp huyện Mường Khương và huyện Mã Quan thuộc nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Điểm cực Bắc thuộc xã Nàn Sán có tọa độ

22 0 44'00" độ vĩ Bắc, 104 0 07'30" độ kinh Đông

Huyện Mường Khương nằm ở phía Tây, với ranh giới được xác định bởi dòng sông Chảy dài 35,00 km Điểm cực Tây của huyện có tọa độ 22°38'00" vĩ Bắc và 104°06'30" kinh Đông.

- Phía Nam giáp huyện Bắc Hà Điểm cực Nam thuộc xã Nàn Sín có tọa độ địa lý 22 0 35'30" độ vĩ Bắc, 104 0 03'30" độ kinh Đông

Diện tích tự nhiên toàn huyện (theo số liệu thống kê đất đai đến

01/01/2014) là 23.493,83 ha, chiếm 3,68% tổng diện tích toàn tỉnh Lào Cai

Huyện có đường biên giới dài 9,25 km với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, được xác định bởi dòng sông Chảy, một vết gãy địa hình trong khối nông vòm của sông Chảy.

Huyện Si Ma Cai, với địa thế chiến lược bên dòng sông và các dãy núi cao, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ biên giới và giữ gìn an ninh quốc gia Hệ thống giao thông tương lai sẽ kết nối Si Ma Cai với Mường Khương, Xín Mần (Hà Giang) và cửa khẩu Bến Mảng với huyện Mã Quan (Trung Quốc), góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế mạnh mẽ cho Si Ma Cai.

3.1.2 Địa hình, địa mạo Địa hình huyện Si Ma Cai thuộc khối nâng vòm sông Chảy là vùng núi có tuổi cổ nhất so với nền cấu tạo địa chất Bắc bộ Địa hình được kiến tạo bởi nhiều dải núi chạy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam thấp dần về hướng Bắc Các dải núi về cơ bản được hình thành từ hai mạch núi chính

Mạch núi trung tâm của huyện Si Ma Cai bắt nguồn từ hướng Đông Nam, với đỉnh cao nhất đạt 1.800 m (ranh giới giữa xã Nàn Sán và xã Quan Thần Sán) và đỉnh 1.688 m (xã Mản Thẩn), kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Đây là dải núi đặc trưng của địa hình Si Ma Cai, nổi bật với độ cao, độ dài và mức độ chia cắt rõ rệt Dải núi này cũng tạo thành ranh giới tự nhiên giữa các xã Si Ma Cai, Sán Chải, Mản Thẩn, Cán Hồ, Quan Thần Sán và Sín Chéng.

Mạch núi khu Tây Bắc có hình dạng vòng cung, kéo dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam đến xã Sín Chéng Hướng Bắc của mạch núi này tạo nên ranh giới tự nhiên giữa xã Thào Chư Phìn và xã Bản Mế.

Ngoài hai mạch núi khu Đông Nam huyện được hình thành bởi phần cuối của dải núi nhỏ chạy từ Bắc Hà thuộc hướng Đông Bắc - Tây Nam

Địa hình huyện Si Ma Cai có sự chia cắt mạnh mẽ, với độ chia cắt từ 400 - 500 m/km² theo chiều sâu và trên 2 km/km² theo chiều ngang Khu vực này có những dải núi cao xen lẫn với các thung lũng sâu nhỏ, chủ yếu tập trung ven sông Chảy Đai cao từ 600 - 1.000 m chiếm tỷ lệ lớn trong phân bố đai cao của lãnh thổ, tạo nên sự đa dạng về khí hậu Sự chia cắt địa hình được thể hiện rõ qua độ dốc, với độ dốc lớn hơn 30 độ.

25 0 có diện tích khoảng 12.423,00 ha chiếm 53% diện tích tự nhiên; độ dốc từ

15 - 25 0 khoảng 7.501,00 ha chiếm 32% diện tích tự nhiên; độ dốc từ 7 - 15 0 diện tích khoảng 3.330,00 ha chiếm 14,20% diện tích tự nhiên; độ dốc từ 3 -

7 0 diện tích khoảng 167,00 ha chiếm 0,70% diện tích tự nhiên; độ dốc < 3 0 chiếm tỷ lệ không đáng kể

Huyện Si Ma Cai, thuộc tỉnh Lào Cai, nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do đặc điểm địa hình, khí hậu nơi đây rất phức tạp với nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau Các vùng khí hậu cận nhiệt đới và nhiệt đới không điển hình được hình thành, với những yếu tố khí hậu đặc trưng như nhiệt độ và lượng mưa cho thấy sự thay đổi rõ rệt của địa hình và độ cao, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tiểu khí hậu trên địa bàn.

Huyện Si Ma Cai có khí hậu lạnh với nhiệt độ trung bình năm đạt 18,9°C, trong đó có những tháng nhiệt độ xuống dưới 12°C Sự biến đổi nhiệt độ theo độ cao diễn ra rõ rệt, ngay cả trong phạm vi một xã Cụ thể, vùng ven sông Chảy và các thung lũng thấp có nhiệt độ cao hơn và cường độ chiếu sáng lớn hơn so với các khu vực trên độ cao 800 m.

Si Ma Cai là huyện có lượng mưa trung bình tại tỉnh Lào Cai, với tổng lượng mưa thay đổi từ 1.300 mm đến 2.000 mm trong năm Mưa chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7 và 8, trong khi các tháng còn lại có lượng mưa ít và không đồng đều Mùa lạnh khô tại đây kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Si Ma Cai có độ ẩm không khí dao động từ 83% đến 87%, với mức độ tương đối ổn định trong suốt các tháng Trong mùa mưa, độ ẩm tăng lên từ 85% đến 88% Tuy nhiên, độ ẩm cũng thay đổi tùy theo từng khu vực trong huyện, đặc biệt là ở vùng núi cao trên 800 m, nơi có độ ẩm thấp và khí hậu hanh khô.

Sương mù là hiện tượng phổ biến tại huyện Si Ma Cai, nơi có độ cao trung bình đáng kể so với các huyện khác trong tỉnh Đặc biệt vào mùa lạnh, các thung lũng sâu và khí hậu lạnh là nguyên nhân chính tạo ra sương mù Hiện tượng này có thể xuất hiện trên toàn lãnh thổ hoặc chỉ ở một số vùng thung lũng thấp.

Si Ma Cai có hai tiểu vùng khí hậu cơ bản, được xác định dựa trên ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cũng như sự hình thành và phát triển lâu đời của sản xuất nông lâm nghiệp.

Vùng ven sông Chảy, bao gồm các xã như Lùng Sui, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Nàn Sín, có khí hậu nhiệt đới không điển hình với nhiệt độ trung bình khoảng 21°C Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, với nhiệt độ có thể lên đến 35°C và lượng mưa lớn Ngược lại, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau có độ ẩm trung bình 85%, ít sương mù và mưa đá Những yếu tố khí hậu này tạo điều kiện cho sinh cảnh phong phú, giúp cây trồng nông - lâm nghiệp nhiệt đới phát triển mạnh, đặc biệt là các loại cây ăn quả như dứa, vải, đu đủ, và chuối, cho thấy tiềm năng thâm canh và tăng năng suất.

Tiểu vùng khí hậu cận nhiệt đới trên núi cao trung bình nằm ở độ cao trên 800 m, chiếm tỷ lệ lớn trong lãnh thổ Năm có hai mùa không rõ rệt, với mùa đông lạnh khô kéo dài, nhiệt độ trung bình từ 15 - 17 độ C, tháng 1 là tháng lạnh nhất, có thể xuống tới 5 - 6 độ C Mùa hè mát mẻ, với nhiệt độ cao nhất không vượt quá 32 độ C Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng

Hiện trạng sử dụng đất cu ̉ a huyê ̣n Si Ma Cai

Huyện Si Ma Cai giáp huyện Bắc Hà và Mường Khương, đồng thời còn tiếp giáp huyện Mã Quan của Trung Quốc Trong tương lai, việc xây dựng cầu dân sinh nối liền hai bên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và sản xuất hàng hóa qua cửa khẩu phụ trên biên giới.

Si Ma Cai sở hữu điều kiện tự nhiên và tiềm năng đất đai phong phú, cùng với khí hậu thuận lợi, tạo cơ hội cho việc mở rộng sản xuất nông - lâm nghiệp và đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi.

Huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cây ăn quả nhiệt đới, chăn nuôi gia súc và gia cầm, cũng như trồng lúa đặc sản và ngô hàng hóa.

Huyện có địa hình chủ yếu là đồi núi, bị chia cắt bởi các dãy núi cao và hệ thống sông, suối, gây khó khăn trong việc thiết kế và xây dựng mạng lưới giao thông cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ nhu cầu của người dân và phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, việc áp dụng máy móc và tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất còn gặp nhiều hạn chế.

Địa hình đồi núi phức tạp gây khó khăn cho việc lưu thông hàng hóa với các khu vực khác, trong khi diễn biến thời tiết khí hậu cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân.

Thời tiết khí hậu với sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa bốn mùa, cùng với tác động của sương muối và rét hạn vào mùa đông, đã ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp.

3.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Si Ma Cai

3.2.1 Cơ cấu diện tích theo tính chất sử dụng đất

Theo số liệu thống kê đất đai tính đến ngày 01/01/2014, tổng diện tích tự nhiên của huyện là 23.493,83 ha, hiện trạng sử dụng đất như sau:

Tổng diện tích đất nông nghiệp là 14.669,78 ha, chiếm 62,44% tổng diện tích tự nhiên Trong đó:

Diện tích đất trồng lúa tại khu vực này là 1.319,13 ha, chiếm 5,61% tổng diện tích tự nhiên, trong đó có 50,30 ha đất lúa được canh tác từ 2 vụ trở lên Các xã nổi bật với diện tích trồng lúa lớn bao gồm Sín Chéng, Mản Thẩn, Nàn Sán và Lùng Sui.

Đất trồng cây lâu năm tại huyện có diện tích 801,71 ha, chiếm 3,41% tổng diện tích tự nhiên Tuy nhiên, so với tiềm năng của huyện, cơ cấu đất trồng cây lâu năm còn rất nhỏ Do đó, cần khai thác triệt để diện tích đất có khả năng trồng cây lâu năm để nâng cao thu nhập cho người dân Diện tích này chủ yếu tập trung ở các xã như Cán Cấu, Bản Mế và Sán Chải.

Đất rừng phòng hộ của huyện có diện tích 4.807,70 ha, chiếm 20,46% tổng diện tích tự nhiên, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Do đó, việc bảo vệ nghiêm ngặt khu vực này là cần thiết Huyện còn nhiều diện tích đất chưa sử dụng, cần được đưa vào trồng rừng phòng hộ để bảo vệ đất, nguồn nước và hệ sinh thái Các xã có diện tích đất rừng phòng hộ tập trung bao gồm Lùng Sui, Thào Chư Phìn, Nàn Sán, Nàn Sín, và Cán Cấu.

Đất rừng sản xuất tại huyện chiếm 11,63% tổng diện tích tự nhiên, với 2.732,00 ha Cơ cấu đất lâm nghiệp cho thấy tiềm năng lớn từ diện tích đất chưa sử dụng để trồng rừng Việc đầu tư và khuyến khích người dân trồng rừng trên đất chưa sử dụng không chỉ bảo vệ môi trường mà còn gia tăng thu nhập cho cộng đồng Một số xã có diện tích đất rừng sản xuất đáng kể bao gồm Bản Mế, Sán Chải, Lử Thẩn, và Nàn Sán.

Đất nuôi trồng thủy sản tại huyện Si Ma Cai có diện tích 9,30 ha, chiếm 0,04% tổng diện tích tự nhiên của huyện Do đặc thù là huyện vùng núi cao, diện tích đất phù hợp cho nuôi trồng thủy sản rất hạn chế Vì vậy, cần khuyến khích người dân tận dụng tối đa nguồn nước mặt để phát triển nuôi trồng thủy sản, nhằm bổ sung nguồn thực phẩm cho cộng đồng Hiện tại, diện tích đất dành cho mục đích này có mặt tại các xã trong huyện.

Si Ma Cai, Bản Mế, Nàn Sín, Sín Chéng

Tính đến ngày 01/01/2014, diện tích đất nông nghiệp còn lại là 4.999,94 ha, chiếm 21,28% tổng diện tích tự nhiên Trong đó, có 143,94 ha đất trồng cỏ phục vụ chăn nuôi và 4.856,00 ha đất trồng các loại cây hàng năm khác Diện tích đất nông nghiệp này chủ yếu tập trung ở các xã như Sán Chải, Si Ma Cai, Thào Chư Phìn và Nàn Sán.

Huyện Si Ma Cai có tổng diện tích đất phi nông nghiệp là 1.515,50 ha, chiếm 6,45% tổng diện tích tự nhiên của huyện Điều này cho thấy diện tích đất dành cho các công trình trụ sở và cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây còn rất hạn chế.

Sự phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu ngày càng tăng của người dân yêu cầu cần có quỹ đất dành cho mục đích phi nông nghiệp trong tương lai.

Diện tích đất chưa sử dụng của huyện theo thống kê đất đai 01/01/2014 còn 7.308,55 ha, chiếm 31,11% tổng diện tích tự nhiên

3.2.2 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp

Kết quả sản xuất nông nghiệp đã tăng cao nhờ vào việc áp dụng các biện pháp thâm canh hiệu quả và chuyển dịch hợp lý cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mang lại hiệu quả kinh tế cao trong lĩnh vực trồng trọt.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đặc điểm hình thái cây Sa mô ̣c

Kết quả theo dõi và quan sát cây Sa mộc tại khu vực nghiên cứu cho thấy một số đặc điểm sinh thái và vật hậu quan trọng của loài này.

Kết quả đo kích thước lá Sa mộc tại khu vực nghiên cứu cho thấy lá có hình ngọn giáo, với chiều dài trung bình từ 3-6 cm và chiều rộng tương ứng.

Lá cây có kích thước 3-5 mm, với đầu lá nhọn và cứng, mép lá có răng cưa sắc Trên mặt dưới lá, dọc theo hai bên gân giữa có hai dải phấn trắng, trong khi mặt trên có hai rãnh song song với mép lá Lá xếp theo kiểu xoắn ốc, nhưng vặn ở cuống, tạo thành một mặt phẳng cùng với cành.

4.1.1.2 Đă ̣c điểm hình thái nón/quả Sa mộc:

Kết quả quan sát 30 mẫu nón/quả cây Sa mộc ở tuổi 15 cho thấy: Cây

Sa mộc có đặc điểm là: Nón đơn tính cùng gốc;nón đực mọc cụm đầu cành, nón cái mọc lẻ hoặc gồm 2-3 chiếc mọc cụm đầu cành

Quả nón có hình trứng tròn, kích thước trung bình từ 2,5-5 cm về chiều dài và đường kính từ 3-5 cm Lá bắc của quả nón có dạng vẩy, hoá gỗ và bao bọc bên ngoài vảy nón (lá noãn), với mỗi vảy nón chứa 3 hạt.

Hình 4.1 Hoa, nón/quả của cây Sa mô ̣c

4.1.1.3 Đă ̣c điểm hạt Sa mộc

Hạt dẹt, có cánh mỏng bao quanh Có màu nâu sáng, kích thước ha ̣t dao đô ̣ng từ 0,4-0,8 cm

Hình 4.2 Quả, quả chín khô và ha ̣t Sa mô ̣c

Cây Sa mộc là cây gỗ lớn, cao trên 30 m, đường kính một số cây có thể tới trên 100 cm Thân tròn và rất thẳng

Vỏ thân cây màu nâu hoặc xám nâu, nứt dọc

Phân cành thấp, cành mọc vòng, thẳng góc với thân, xếp thành nhiều tầng Tán lá hẹp chóp

Hình 4.3 Hình thái cây Sa mô ̣c ta ̣i Si Ma Cai (tháng 3/2016)

Đă ̣c điểm vâ ̣t hâ ̣u

Vật hậu là hoạt động sinh học chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và sinh sản của cây rừng, và chu kỳ này có thể khác nhau giữa các vùng sinh thái Nghiên cứu này tập trung vào vật hậu của loài Sa mộc tại một số xã của huyện Si Ma Cai Kết quả theo dõi vật hậu loài Sa mộc từ tháng 4 năm 2015 đến tháng 3 năm 2016 đã được tổng hợp và phân tích.

- Sa mộc là cây gỗ thường xanh, lá có chu kỳ sống khá dài trên cây nên không có mùa rụng lá rõ ràng

- Cây Sa mộc ra nón vào khoảng tháng 3 đến tháng 4; và chín từ tháng

10 đến tháng 11 Mô ̣t số nón sau khi chín một thời gian sẽ rụng xuống đất

Hạt có cánh mỏng chủ yếu được phát tán nhờ gió, nhưng khi rụng xuống đất và gặp điều kiện thuận lợi, chúng có thể nảy mầm và phát triển thành cây con Do đó, việc thu hái quả ngay sau khi chín là rất quan trọng để tách hạt và tiến hành gieo trồng hiệu quả.

Đặc điểm phân bố va ̀ sinh thái của Sa mộc

4.1.3.1 Phân bố của loài Sa mộc

Sa mộc phân bố tự nhiên ở vùng khí hậu ôn đới và á nhiệt đới, chủ yếu tại miền Trung và Nam Trung Quốc, gần biên giới Việt - Trung Tại Việt Nam, cây Sa mộc đã được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn, Cao Bằng và Quảng Ninh trong nhiều năm.

4.1.3.2 Đặc điểm đất dưới tán rừng trồng tại khu vực nghiên cứu Đất và khí hậu là những nhân tố sinh thái quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của cây trồng Trong một vùng khí hậu, đất là nhân tố đóng vai trò quan trọng có tính chất quyết định Đất và cây trồng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đất là nơi cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây Ngược lại trong quá trình sinh trưởng, cây trồng cũng cung cấp các chất hữu cơ trả lại cho đất, đó là các vật dụng như: lá, cành khô… sau quá trình phân huỷ nó sẽ tạo ra một lượng chất hữu cơ có lợi cho môi trường đất và cây trồng Trong nghiên cứu này, do giới ha ̣n về thời gian nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đất dưới tán rừng thông quan viê ̣c đào phẫu diê ̣n đất ở rừng trồng Sa mô ̣c, kết quả thu đươ ̣c như sau:

- Phẫu diện đất ở lâm phần Sa mô ̣c 5 tuổi: Bao gồm có ba tầng đất là A,

B, và C Với độ sâu của tầng A dầy 5 cm và tầng B dầy 32 cm, lượng mùn chiếm khá cao từ 2% - 4%, kết cấu viên hay viên hạt, độ chặt xốp ở tầng A, hơi xốp ở tầng B Thành phần cơ giới ở đây là đất thịt nhẹ tập trung ở tầng A và B, nói chung tính chất đất ở khu vực là khá tốt, thích hợp với đặc điểm sinh trưởng của loài Ngoài ra tỷ lệ đá lẫn khá nhiều ở tầng B đến tầng C, một số ít ở tầng A do quá trình xói mòn rửa trôi gây ra

- Phẫu diện lâm phần Sa mộc 10 tuổi: Có độ dầy tầng A đến tầng AB là

Đến độ sâu 20 cm, đất có lượng mùn cao từ 2-3,5%, rễ cây chiếm từ 5-10% Kết cấu đất ở mức viên, độ chặt tương đối, với thành phần cơ giới là thịt nhẹ và trung bình Tỷ lệ đá lẫn trong đất là 10% và độ ẩm tương đối cao.

Phẫu diện lâm phần 15 tuổi cho thấy độ dày tầng A đạt 8 cm và tầng B là 36 cm Lượng mùn trong đất chiếm từ 1,5% đến 3%, với kết cấu viên và thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình Tỷ lệ đá lẫn trong đất tương đối cao, dao động từ 20% đến 25%, và đất có tính chất hơi ẩm.

4.1.3.3 Một số đặc điểm hoàn cảnh sống của Sa mộc ở khu vực nghiên cứu

Theo các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về điều kiện sống của cây Sa mộc, có thể rút ra một số đặc điểm sinh thái quan trọng như: cây Sa mộc thường phát triển tốt ở những vùng có độ ẩm cao, đất phù sa màu mỡ và khí hậu ôn hòa Ngoài ra, cây cũng có khả năng chịu đựng được các điều kiện khắc nghiệt như hạn hán và ngập úng tạm thời, cho thấy tính thích nghi cao với môi trường sống khác nhau.

Sa mộc phát triển tốt trong khí hậu ôn hòa, với nhiệt độ trung bình năm từ 16°C đến 19°C Nó yêu cầu lượng mưa hàng năm từ 1300mm đến 1800mm và độ ẩm không khí trên 75% trong các tháng Vùng trồng sa mộc thường có nhiều sương mù và ánh sáng tán xạ, tạo điều kiện lý tưởng cho sự sinh trưởng của cây.

- Sa mộc ưa đất sâu ẩm, cát pha, thoát nước, mát thoáng, độ pH lớn hơn

Loại đất này, với nhiều mùn và tính chất đất rừng, phát triển tốt trên đá phiến thạch sét, phiến thạch mica, đá vôi và các loại đá macma khác Để đạt hiệu quả tối ưu, tầng đất cần có độ dày từ 0,7 đến 0,8 mét trở lên Tuy nhiên, loại đất này không phù hợp với môi trường đất kiềm hoặc mặn.

Hình 4.4 Cây Sa mô ̣c phát triển tốt trên đất rừng ta ̣i Si Ma Cai

Kết quả theo dõi khí hậu tại Trạm khí tượng Bắc Hà, cách trung tâm huyện Si Ma Cai khoảng 25 km, cho thấy các chỉ tiêu về nhiệt độ và lượng mưa khá phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của cây Sa mộc.

Bảng 4.1: Số liệu khí hậu trạm Khí tượng Bắc Hà Các nhân tố khí hậu Đơn vị Tra ̣m Bắc Hà

Nhiệt độ trung bình năm 0 C 19,6

Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 0 C 33

Nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối 0 C 3,5

Tổng lượng mưa năm mm 1.410

Lượng mưa/ ngày lớn nhất mm 72 Độ ẩm không khí cao nhất % 100 Độ ẩm không khí thấp nhất % 27

(Nguồn: Đài khí tượng thuỷ văn tỉnh Lào Cai, 2015, Trạm Bắc Hà cách trung tâm huyê ̣n Si Ma Cai khoảng 20km)

Qua bảng 4.1 và thông tin từ huyê ̣n Si Ma Cai và các đi ̣a phương lân câ ̣n nơi có loài Sa mô ̣c được gây trồng, nhâ ̣n thấy:

- Sa mộc là loài cây ưa sáng, lúc nhỏ cũng cần có bóng che, mọc khá nhanh so với các loài cây lá kim khác

Cây sa mộc có khả năng tỉa cành tự nhiên và tái sinh chồi mạnh mẽ, cho phép kinh doanh rừng chồi liên tục trong 3 đến 4 thế hệ Điều này chứng tỏ rằng điều kiện khí hậu và đất đai tại khu vực nghiên cứu hoàn toàn phù hợp cho sự phát triển của cây sa mộc.

Đặc điểm sinh trưởng của cây Sa mộc tại khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu sinh trưởng của Sa mộc được thực hiện thông qua việc lập các OTC tại các vị trí địa hình khác nhau trong rừng trồng Sa mộc ở các độ tuổi 5, 10 và 15 Kết quả cho thấy các chỉ tiêu sinh trưởng của Sa mộc được xác định rõ ràng.

4.2.1 Sinh trưởng về đường kính ngang ngực (D 1.3 )

Cây sa mộc là loài cây có tốc độ sinh trưởng nhanh, phù hợp với địa hình đồi núi cao và khí hậu lạnh Quá trình phát triển của cây sa mộc, cũng như cây rừng, phụ thuộc vào hoạt động của tượng tầng, thường bắt đầu từ mùa Xuân Sự sinh trưởng về đường kính của cây sa mộc thay đổi theo từng độ tuổi Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu sự sinh trưởng về đường kính của cây sa mộc thông qua các kết quả sinh trưởng đã thu thập.

Bả ng 4.2: Sinh trưởng đường kính D1.3 của cây Sa mô ̣c ở các tuổi khác nhau

Cấp tuổi Vi ̣ trí đi ̣a hình n D1.3

Tăng trưởng bi ̀nh quân (cm/năm)

Theo bảng 4.2, sự sinh trưởng về đường kính của cây Sa mộc ở các vị trí địa hình không có sự khác biệt lớn Ở tuổi 5 và 10, cây Sa mộc ở sườn giữa và sườn chân có sinh trưởng đường kính tốt hơn một chút so với sườn đỉnh Tuy nhiên, đến tuổi 15, xu hướng này đảo ngược, cho thấy cây Sa mộc ở sườn đỉnh lại có đường kính lớn hơn.

Kết quả kiểm tra cho thấy không có sự khác biệt thống kê đáng kể về đường kính sinh trưởng giữa các vị trí địa hình ở cả ba cấp tuổi.

Sinh trưởng bình quân đường kính cây Sa mô ̣c theo từng cấp tuổi cho thấy rằng, ở tuổi 5, 10 và 15, đường kính thân cây lần lượt đạt 8,66 cm, 16,75 cm và 23,4 cm Mặc dù đường kính tăng theo tuổi, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân lại có xu hướng giảm, cụ thể là 1,73 cm/năm ở tuổi 5, 1,67 cm/năm ở tuổi 10 và chỉ 1,56 cm/năm ở tuổi 15 Điều này cho thấy cây Sa mô ̣c có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn khi còn nhỏ, nhưng khi trưởng thành, tốc độ này giảm do thiếu không gian dinh dưỡng và không có biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động Thông tin này rất quan trọng để xác định biện pháp lâm sinh cũng như thời kỳ tỉa thưa và khai thác hợp lý trong kinh doanh rừng trồng Sa mô ̣c.

Mức độ biến động về sinh trưởng đường kính (S%) ở các ô tiêu chuẩn của cùng cấp tuổi khá đồng đều, dao động từ 13,5% đến 30,8% Điều này phản ánh sự phân hóa mạnh mẽ về đường kính D1.3 của cây Sa mộc, như thể hiện qua biểu đồ kèm theo.

Hình 4.5: Sinh trưởng đường kính (D1.3) các lâm phần Sa mô ̣c

Sự phân hoá mạnh trong các lâm phần trồng cây Sa mô ở các độ tuổi 5, 10 và 15 cho thấy cần thiết phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như chặt tỉa thưa Đặc biệt, việc chặt tỉa nên tập trung vào những cây có đường kính nhỏ và sinh trưởng kém, nhằm tạo không gian dinh dưỡng cho những cây còn lại phát triển tốt hơn, từ đó đảm bảo mục đích kinh doanh rừng hợp lý.

4.2.2 Sinh trưởng về chiều cao (Hvn)

Sinh trưởng chiều cao của cây rừng chủ yếu diễn ra nhờ hoạt động của mô phân sinh Thời kỳ này bắt đầu từ khi chồi ngọn hoạt động cho đến khi hình thành chồi ngọn mới Cây sa mộc, là loại cây hạt trần, có sự sinh trưởng chiều cao đặc trưng và dễ quan sát Để nghiên cứu sự sinh trưởng chiều cao của cây sa mộc, chúng tôi đã tiến hành điều tra ở ba cấp tuổi khác nhau và tổng hợp kết quả.

Bả ng 4.3: Sinh trưởng chiều cao (Hvn) của cây Sa mô ̣c ở các tuổi khác nhau

Cấp tuổi Vi ̣ trí đi ̣a hình n

Tăng trưởng bi ̀nh quân (m/năm)

Qua 4.5 cho thấy, sinh trưởng về chiều cao củ a cây Sa mô ̣c ở các vị trí đi ̣a hình là ít có sự khác biê ̣t, chỉ ở tuổi 5 và tuổi 15 ta ̣i vi ̣ trí sườn chân, sinh trưởng về chiều cao kém hơn so với các vi ̣ trí còn la ̣i, trong khi đó ở tuổi 10, sinh trưởng về chiều cao có xu hướng đồng đều hơn ở cả ba da ̣ng đi ̣a hình

Kết quả kiểm tra sự thuần nhất giữa các OTC trong cùng vị trí địa hình và giữa các vị trí địa hình ở cùng một cấp tuổi cho thấy không có sự khác biệt về mặt thống kê Tương tự như nghiên cứu sinh trưởng về đường kính, kết quả đánh giá về sinh trưởng chiều cao ở các vị trí địa hình của một cấp tuổi được gộp lại và tính giá trị trung bình Kết quả như sau:

Chiều cao trung bình của cây Sa mô ̣ ở các độ tuổi 5, 10 và 15 lần lượt là 4,56 m, 7,61 m và 8,53 m, cho thấy chiều cao tăng theo độ tuổi Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng chiều cao lại có xu hướng giảm theo năm tuổi, với mức tăng trưởng bình quân ở tuổi 5 đạt 0,91 m/năm, giảm xuống 0,76 m/năm ở tuổi 10 và chỉ còn 0,57 m/năm ở tuổi 15 Điều này chỉ ra rằng cây Sa mô ̣ có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn khi còn nhỏ, nhằm nhanh chóng phát triển Đến tuổi 10 và 15, tốc độ tăng trưởng chiều cao của cây có xu hướng chậm lại, tương tự như sự phát triển về đường kính.

Mức độ biến động về sinh trưởng chiều cao (S%) ở các ô tiêu chuẩn cùng cấp tuổi khá đồng đều, dao động từ 14,5% đến 24,3%, cho thấy cây Sa mộc có sự phân hóa nhẹ về chiều cao Biểu đồ ở hình 4.6 cho thấy phân hóa chiều cao ở các ô tiêu chuẩn của tuổi 5 và tuổi 15 có biến động mạnh hơn giữa các vị trí lập ô tiêu chuẩn.

Hình 4.6: Sinh trưởng chiều cao vút ngo ̣n Sa mô ̣c ở các tuổi khác nhau

Để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển tối ưu của các lâm phần sa mộc, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp với sự phân hóa hiện tại.

4.2.3 Sinh trưởng về đươ ̀ ng kính tán lá (Dt) và chiều cao dưới cành (Hdc)

Sinh trưởng về tán lá và chiều cao dưới cành của cây Sa mô ̣c phản ánh mức độ giao tán và khả năng tỉa cành tự nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy, tán lá của cây Sa mô ̣c khá hẹp, dao động từ 0,64 m ở tuổi 5 đến 0,76 m ở tuổi 10 Trong khi đó, chiều cao dưới cành dao động từ 2,58 m ở tuổi 5 đến 3,6 m ở tuổi 10 Chiều cao dưới cành chiếm từ 32,3% ở tuổi 15 đến 56,5% ở tuổi 5 so với chiều cao vút ngọn, chứng tỏ cây có sự phát triển đáng kể.

Sa mộc có khả năng tự nhiên tỉa cành hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng thân cây, đặc biệt trong giai đoạn khai thác.

Hình 4.7: Sinh trưởng đường kính tán lá (Dt) và chiều cao dưới cành

(Hdc) củ a Sa mô ̣c ở các tuổi khác nhau

4.2.4 Sinh trưởng về thể tích và trư ̃ lượng rừng trồng cây Sa mộc

Đặc điểm tái sinh chồi cu ̉ a Sa mô ̣c

Sa mộc là loài cây có khả năng tái sinh chồi tốt

Hình 4.9 Mô ̣t số hình ảnh về tái sinh chồi Sa mô ̣c

Hình 4.9 cho thấy rằng, bất kể gốc chặt cao hay thấp, phần lớn cây chồi mọc gần gốc chặt, tức là gần bề mặt hơn Ngoài ra, các cây chồi mọc ở vị trí thấp hơn có kích thước và sức sống tốt hơn Điều này cho thấy, cây Sà mọc ở các tuổi nghiên cứu, khi bị chặt, gốc còn lại đều có khả năng tái sinh chồi.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành điều tra ngẫu nhiên từ 20-30 gốc cây ở các vị trí địa hình khác nhau tại các độ tuổi khác nhau Kết quả tổng hợp cho thấy sự tái sinh chồi có sự biến đổi đáng kể, phản ánh ảnh hưởng của điều kiện môi trường và tuổi cây đến khả năng phát triển của chúng.

Bả ng 4.6 Kết quả điều tra tái sinh chồi ở các OTC ta ̣i Si Ma Cai

Vi ̣ trí đi ̣a hi ̀nh

H gốc (cm) Số chồi D chồi

Theo bảng 4.8, các chỉ tiêu về số lượng chồi, sinh trưởng chiều cao và đường kính của cây chồi không hoàn toàn phụ thuộc vào đường kính và chiều cao gốc chặt tại thời điểm nghiên cứu.

Chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm các hàm toán học để biểu diễn mối tương quan giữa các chỉ tiêu của gỗ chặt và các chỉ tiêu của cây chồi Tuy nhiên, không phát hiện mối tương quan toán học nào tồn tại (hình 4.10 và 4.11).

Tương quan giữa đường kính gốc chặt (D gốc, cm) và các chỉ tiêu chồi bao gồm số lượng chồi/gốc, đường kính trung bình của cây chồi (D chồi, cm) và chiều cao trung bình cây chồi (H chồi, cm) được thể hiện rõ trong hình 4.10.

Chiều cao gốc chặt (H gốc, cm) có mối tương quan đáng kể với các chỉ tiêu chồi, bao gồm số lượng chồi trên mỗi gốc và đường kính trung bình của cây chồi.

Qua phân tích dữ liệu, không có mối tương quan nào giữa các chỉ tiêu số chồi/gốc, đường kính và chiều cao cây chồi với đường kính gốc chặt Tương tự, không tìm thấy mối liên hệ giữa các chỉ tiêu số chồi/gốc và đường kính cây chồi với chiều cao gốc chặt Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ giữa chiều cao cây chồi và chiều cao gốc chặt, có một mối quan hệ tuyến tính với giá trị R² = 0,64 Điều này cho thấy tại thời điểm nghiên cứu, chiều cao gốc chặt có liên quan đến chiều cao cây chồi, nhưng đây là mối quan hệ thuận Mặc dù vậy, cây chồi thường mọc gần mặt đất, do đó phát hiện này không mang tính quy luật và không thể sử dụng làm cơ sở để đề xuất kỹ thuật tái sinh chồi ở rừng trồng Samộc.

Hình 4.12 Tương quan H chồi và H gốc chă ̣t

Kết qua ̉ nghiên cứu kỹ thuật nhân giống và trồng rừng Sa mô ̣c

4.4.1 Ky ̃ thuật nhân giống Sa mộc

Cây từ 10 tuổi trở lên bắt đầu ra hoa vào tháng 3 và 4, với quả chín vào tháng 10 và 11 Thời gian thu hái hạt thường diễn ra từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 12 Hạt giống tốt nhất được lấy từ những cây 15-30 tuổi, sinh trưởng tốt, có tán đều, thân thẳng, không bị sâu bệnh, rỗng ruột hoặc cụt ngọn Khi quả chín, màu sắc chuyển sang vàng nhạt, hạt có màu cánh dán, nhân trắng hoặc trắng mờ, chắc và đặc.

Phương pháp thu hái hạt được thực hiện bằng cách sử dụng cù nèo để giật bẻ từng cành nhỏ dưới 2cm có quả Sau khi bẻ từng chùm quả và loại bỏ cành lá, hạt sẽ được ủ trong 2-4 ngày trước khi đem hong phơi dưới nắng nhẹ Khi quả nứt vẩy, hạt sẽ được phơi lên mẹt, phên cót hoặc vải bạt trong râm hoặc nơi có nắng nhẹ trong 2-3 ngày Trong quá trình này, cần đập nhẹ để tách hạt và sàng sẩy để thu được hạt tốt.

Hình 4.13 Quả/nón Sa mô ̣c đươ ̣c thu hái và hong phơi ta ̣i Si Ma Cai

Để bảo quản hạt hiệu quả, cần giữ hạt khô trong chum vại, ở nơi thoáng đãng và cao ráo, đồng thời thỉnh thoảng đảo hạt Hạt chất lượng tốt có tỷ lệ nảy mầm trên 30% và chỉ nên được cất trữ dưới 6 tháng Sau tháng thứ ba, tỷ lệ nảy mầm giảm nhanh, nên hạt cần được gieo sớm sau khi chế biến Hạt đạt tiêu chuẩn có độ sạch từ 85-95%, với mỗi kg chứa từ 120.000 đến 150.000 hạt và tỷ lệ nảy mầm tối thiểu 30%.

Trước khi gieo hạt, cần ngâm chúng trong nước ấm 40°C từ 8 đến 12 giờ Sau khi vớt ra để ráo, tiến hành ủ hạt Nếu thời tiết ấm với nhiệt độ ban ngày trên 22°C, có thể gieo hạt sau 4 ngày ủ Trong trường hợp thời tiết lạnh với nhiệt độ dưới 22°C, cần chú ý đến thời gian gieo hạt.

22 o C thì thời gia53n ủ kéo dài 5 đến 6 ngày rồi đem gieo

Để gieo hạt hiệu quả, đất gieo ươm cần tơi xốp và được lên luống Thời điểm gieo hạt là vào vụ Đông Xuân, trước khi trồng từ 12-16 tháng Trung bình, 1kg hạt gieo cho diện tích 50-70 m² Sau khi gieo, cần phủ một lớp đất nhỏ dày 0,6-0,7 cm để che kín hạt, và phủ thêm lớp rơm rạ hoặc lá thông đã khử trùng để giữ ẩm Cuối cùng, rắc vôi bột quanh luống để ngăn chặn sự xâm nhập của kiến và dế gây hại.

Để cấy cây, cần tưới đủ ẩm cho luống gieo mỗi ngày một lần vào sáng sớm hoặc chiều mát Khi hạt mọc đều, hãy dỡ bỏ vật che phủ và cắm ràng hoặc làm dàn che cao từ 0,5-0,6m Sau 10-20 ngày, khi cây mầm cao từ 3-5cm, tiến hành cấy vào bầu Polyetylen kích thước 8x12cm, đục 6-8 lỗ, dán đáy và cắt góc Ruột bầu nên chứa 80% đất tầng A+B, 18% phân chuồng hoai và 2% super lân.

Có thể gieo trồng cây trên luống để sản xuất cây con với rễ trần, nhưng cần phải tỉa bớt những cây yếu để tạo không gian sống phù hợp cho các cây còn lại.

Hình 4.14 Cây con sa mô ̣c gieo trong các luống đang đươ ̣c chăm sóc ta ̣i hộ gia đình ở Si Ma Cai

Khi trồng cây, cần cắm ràng hoặc làm giàn che với chiều cao từ 0,5-0,6m cho cây Khi cây đạt chiều cao 10-15cm, giảm độ tán che xuống còn 0,4m; và khi cây cao từ 15-20cm, giảm độ tán che xuống còn 0,3m Sau 10 tháng tuổi, cần dỡ bỏ toàn bộ giàn che để cây phát triển tốt hơn.

Sau khi cấy cây được 1 tháng, cần tưới thúc phân NPK loại 5:10:3 định kỳ 20-30 ngày một lần cho đến khi cây đạt 10 tháng tuổi Lượng phân tưới cho 1 vạn cây trong lần đầu là 0,5kg pha với 100 lít nước; lần thứ hai là 1kg pha với 100 lít nước.

1,5kg/100 lít nước; các lần tiếp theo pha 2kg/100 lít nước, 3 lần cuối pha 1kg/100 lít nước

Để phòng ngừa nấm bệnh, cần nhổ bỏ và đốt cây bệnh, đồng thời phun thuốc Boóc đô với nồng độ phù hợp: 0,2-0,4% cho cây 10-90 ngày tuổi, 0,5% cho cây 91-120 ngày tuổi, và 1% cho cây 121-300 ngày tuổi Mỗi lần phun cần sử dụng 1 lít thuốc cho 4m².

Cây con đem trồng cần đạt tiêu chuẩn 12-16 tháng tuổi, cao trên 25cm, với đường kính gốc từ 0,3-0,4cm Cây phải có sinh trưởng tốt, cân đối, lá xanh đậm, thân thẳng, và đã có 3-4 cành Đặc biệt, cây không bị sâu bệnh, không cụt ngọn, và chưa ra búp non mới.

4.4.2 Kỹ thuật trồng Sa mộc

Để đạt hiệu quả cao trong việc trồng cây, thời vụ trồng vụ Xuân nên bắt đầu từ cuối tháng 2 đến giữa tháng 4, với điều kiện thời tiết râm mát, nhiều mây hoặc có mưa phùn Lưu ý không nên trồng cây vào những ngày quá rét hoặc quá khô Ngoài ra, vụ Thu cũng có thể trồng vào tháng 8-9, nhưng cần chọn những ngày thời tiết mát mẻ và sử dụng cây có bầu.

+ Nơi đất dốc dưới 25 o cần phát trắng thực bì, phát sát gốc và dọn sạch

Trên những nơi đất dốc có độ dốc trên 25 độ, cần phát băng theo đường đồng mức với băng chừa rộng 1m và băng phát trồng rộng 1,5m song song với đường đồng mức Thực bì cần được phát sạch và dọn xếp vào băng chừa, và việc xử lý thực bì phải hoàn thành trước khi trồng ít nhất 1 tháng.

- Kỹ thuâ ̣t trồng: Trồng thuần loài, mật độ 1660 cây/ha (cự ly 3 x 2 m) hoặc 2000 cây/ha (cự ly 2,5x2m)

Hình 4.15 Người dân chuẩn bi ̣ cây giống Sa mô ̣c mang đi trồng rừng

- Cuốc hố trồng với kích thước 30 x 30 x 30 cm

Trước khi trồng cây 7-10 ngày, hãy bón lót mỗi hố 100g NPK (5:10:3) và 200g phân hữu cơ vi sinh Gạt lớp đất mặt xuống, trộn đều với phân, sau đó lấp đất lại cho đầy hố Đảm bảo rằng đất trong hố phải tơi xốp, sạch cỏ và không còn rễ cây.

Chăm sóc cây trong 3-4 năm đầu là rất quan trọng Năm đầu tiên, cần thực hiện 2 lần chăm sóc, bao gồm phát quang cây bụi, cây cỏ và xới đất vun gốc, đồng thời tỉa bỏ các chồi xấu để giữ lại 1 thân chính Năm thứ hai, tiếp tục chăm sóc 2 lần với các công việc tương tự, kết hợp bón 100g NPK loại 5:10:3 cho mỗi gốc Năm thứ ba và thứ tư, quy trình chăm sóc cũng được thực hiện 2 lần như năm thứ hai để đảm bảo cây phát triển khỏe mạnh.

Đề xuất biện pháp phát triển bền vững cây Sa mộc tại huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai

4.5.1 Giải pháp kỹ thuật a) Trồng rừng và chăm sóc rừng trồng: Áp dụng quy trình, quy phạm kỹ thuật về trồng rừng Sa mộc, cải tạo, nuôi dưỡng và làm giàu rừng, phòng trừ sâu bệnh, phòng, chống cháy rừng, khai thác sử dụng rừng

* Đối với trồng rừng phòng hộ:

Phương thức trồng hỗn giao bao gồm 2-3 loài cây, trong đó cây trồng chính là Sa mộc, chiếm tỷ lệ từ 80% trở lên Việc bố trí trồng cần đảm bảo cây trồng chính được rải đều trên toàn bộ diện tích canh tác.

- Mật độ trồng: 1.660 cây/ha

- Loài cây trồng: Cây trồng rừng phòng hộ chủ yếu bố trí Sa mộc với gây trồng rừng phòng hộ ở xã vùng cao

+ Đối với các xã vùng thấp (Cán Cấu, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Sín Chéng) trồng các loài cây Vối thuốc, Trẩu, Suấn Sủ, Sa mộc

Các xã vùng cao như Lử Thẩn, Lùng Sui, Quan Thần Sán, Cán Hồ, Si Ma Cai, Mản Thẩn, Thào Chu Phìn và Nàn Sín đang trồng cây Sa mộc cùng với một số loài cây phụ trợ khác như Suấn sủ, Tống quá sủ và Trẩu.

* Đường băng xanh cản lửa:

- Phương thức trồng hỗn giao, đa loài cây

- Mật độ trồng: 2.500 cây/ha

- Loài cây trồng: Gồm các loại cây chịu được lửa rừng, lá thường xanh quanh năm, có khả năng tái sinh tốt bao gồm: Vối thuốc, Tống quá sủ,

- Làm cỏ sới đất vun gốc:

+ Phương thức: Tuỳ theo địa hình để thực hiện việc làm cỏ, sới đất theo dải hoặc theo gốc

+ Thời gian thực hiện: 3 năm đầu kể từ ngày trồng cây

+ Chu kỳ chăm sóc: Năm thứ nhất thực hiện 1-2 lần/năm; Năm thứ 2 thực hiện 2-3 lần; năm thứ 3 thực hiện từ 1-3 lần

+ Kỹ thuật : Làm cỏ xới đất thường xuyên kết hợp với vun gốc, vun quanh gốc cây trồng với đường kính 0,6 đến 1,2 m;

Năm thứ nhất xới quanh gốc với đường kính 0,5m, vun cao 10 cm; năm thứ 2 với đường kính 0,8 m, cao 0,15 m; năm thứ 3 với đường kính 1m, cao

Xây dựng vườn ươm và rừng giống là cần thiết, sử dụng nguồn giống cây con đạt tiêu chuẩn từ các lâm phần và vườn giống được công nhận theo quy định của Bộ Nông nghiệp & PTNT, UBND tỉnh để phục vụ cho trồng rừng Đồng thời, cần hỗ trợ trồng rừng sản xuất bằng cách khuyến khích trồng rừng tập trung và thay thế nương rẫy từ nhiều nguồn vốn khác nhau Việc sử dụng các loài cây mọc nhanh nhân giống vô tính và tận dụng diện tích đất vườn nhà để trồng cây phân tán không chỉ cải tạo đất mà còn cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu Ngoài ra, cần tăng cường trồng thử nghiệm các loài lâm sản có giá trị như tre, nứa, song, và mây.

- Phương thức trồng: trồng thuần loài

- Mật độ trồng: Bố trí trồng từ 2.500 - 3.300 cây/ha

- Loài cây trồng: cơ cấu cây trồng gồm: Sa mộc, Tống Quá Sủ, Trẩu, Suấn Sủ,

4.5.2 Gia ̉ i pháp quản lý rừng trồng

Mặc dù chưa có nghiên cứu sâu về vấn đề này, nhưng qua phỏng vấn và kinh nghiệm của người dân địa phương cùng các cán bộ lâm nghiệp ở huyện Si Ma Cai, bài viết mạnh dạn đề xuất một số giải pháp quản lý rừng trồng Sà Mộc.

Bảo vệ rừng và công tác phòng cháy chữa cháy rừng là rất quan trọng, đặc biệt đối với rừng Sa mộc, vì loại rừng này dễ bị cháy Các ngành chức năng cần chú trọng thực hiện các biện pháp phòng ngừa và chữa cháy hiệu quả để bảo vệ tài nguyên rừng.

Để bảo vệ rừng hiệu quả, cần thường xuyên tổ chức tuần tra trên toàn bộ diện tích rừng mà đơn vị hoặc cá nhân quản lý, nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi hủy hoại và cháy rừng.

Kiểm lâm địa bàn phối hợp với chính quyền địa phương để tăng cường tuyên truyền về ý thức bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR) Họ tổ chức các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, đồng thời giáo dục người dân về tầm quan trọng và lợi ích đa dạng của rừng đối với cuộc sống của cộng đồng Ngoài ra, họ cũng khuyến khích người dân tham gia vào công tác quản lý bảo vệ rừng và PCCCR.

Phối hợp với chính quyền địa phương và các ngành chức năng như Công an, Kiểm lâm để tổ chức lực lượng bảo vệ rừng vào những thời điểm có nguy cơ cao về phá rừng và cháy rừng, đặc biệt trong mùa khô Điều này nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời các đối tượng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

- Phối hợp với chính quyền địa phương ký khế ước QLBVR, PCCCR với người dân sinh sống gần vùng dự án

Tiến hành xác định ranh giới diện tích đất và rừng của đơn vị ngoài thực địa nhằm làm rõ quyền quản lý Đồng thời, cần đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng cho hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn, bản, để người dân thực sự làm chủ các diện tích rừng này.

Để phòng trừ sâu bệnh hiệu quả, cần thường xuyên kiểm tra và phát hiện sớm tình hình sâu bệnh trong rừng Việc hợp tác với các cơ quan chuyên môn là rất quan trọng để xử lý kịp thời khi có sự xuất hiện của sâu bệnh, đặc biệt là các loại sâu bệnh hại trên cây Sa mộc.

Để bảo vệ hiệu quả các diện tích rừng Sa mộc hiện có, cần thiết phải phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong công tác khoán quản lý bảo vệ rừng đối với các khu vực rừng trồng Sa mộc.

- Lập hồ sơ thiết kế giao khoán, ký kết hợp đồng giao khoán theo đúng quy định

Tổ chức họp với người dân để nhận khoán rừng và thành lập các tổ, đội quản lý và bảo vệ rừng Mỗi xã cần thành lập một ban chỉ đạo về lâm nghiệp cùng với một tổ đội bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR).

Hiện nay, các hình thức khoán rừng tự nhiên bao gồm khoán cho cộng đồng, như nhóm hộ hoặc tổ đội bảo vệ rừng tại xã, và khoán diện tích rừng trồng cho từng hộ gia đình tham gia bảo vệ rừng.

Bên ca ̣nh những giải pháp về kỹ thuâ ̣t trồng rừng và quản lý rừng trồng

Để phát triển rừng trồng tại Sa Mộc, cần chú trọng đến các giải pháp về chính sách, nguồn lực và vốn.

4.5.3 Giải pháp về chính sách:

Ngày đăng: 24/06/2021, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm