1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm góp phần bảo tồn rừng sến mật madhucac pasquieri tại khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến tam quy hà trung thanh hóa

108 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Thực Trạng Và Đề Xuất Các Giải Pháp Kỹ Thuật Lâm Sinh Nhằm Góp Phần Bảo Tồn Rừng Sến Mật Madhuca Pasquieri Tại Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Rừng Sến Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa
Tác giả Dương Quang Trung
Người hướng dẫn PGS.TS. Vừ Đại Hải
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.1. Trên thế giới (15)
      • 1.1.1. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học (15)
      • 1.1.2. Nghiên cứu về loài Sến mật (17)
    • 1.2. Ở Việt Nam (18)
      • 1.2.1. Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học (18)
      • 1.2.2. Các nghiên cứu về ba ̉o tồn nguồn gen cây rừng và loài Sến mâ ̣t (20)
    • 1.3. Nhận xét và đánh giá chung (26)
  • Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 16 2.1. Mục tiêu (28)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.3. Giới hạn nghiên cứu (28)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (28)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (29)
      • 2.5.1. Phương pháp luận (29)
      • 2.5.2. Phương pháp kế thừa số liệu (29)
      • 2.5.4. Phương pha ́p xử lý số liê ̣u (35)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (42)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (42)
      • 3.1.2. Địa hình (42)
      • 3.1.3. Khí hậu, thủy văn (43)
      • 3.1.4. Đá mẹ (44)
      • 3.1.5. Lịch sử khu rừng nghiên cứu (45)
    • 3.2. Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội (46)
      • 3.2.1. Thành phần dân tộc (47)
      • 3.2.2. Dân số và lao động (47)
      • 3.2.3. Hoạt động trồng trọt (47)
      • 3.2.4. Hoạt động lâm nghiệp các xã vùng đệm (48)
      • 3.2.5. Cơ sở hạ tầng văn hóa xã hội (48)
    • 3.3. Nhận xét và đánh giá chung (49)
      • 3.3.1. Thuận lợi (49)
      • 3.3.2. Khó khăn (49)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (42)
    • 4.1. Tổng kết và đánh giá công tác bảo tồn rừng Sến mật Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa từ trước đến nay (50)
      • 4.1.1. Cơ cấu tổ chức của Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến mật Tam Quy (50)
      • 4.1.2. Công tác bảo vệ rừng (52)
      • 4.1.3. Công tác phát triển rừng (54)
      • 4.1.4. Một số hoạt động nhằm nâng cao công tác bảo tồn rừng Sến mật . 46 4.2. Đánh giá thực trạng cấu trúc và tái sinh rừng Sến mật hiện nay (58)
      • 4.2.1. Cấu trúc tầng cây cao (62)
      • 4.2.2. Thực trạng tái sinh rừng Sến mật (77)
      • 4.2.3. Đặc điểm cây bụi thảm tươi rừng Sến mật (82)
      • 4.3.2. Tình hình sinh trưởng chiều cao của loài Sến mật (86)
      • 4.3.3. Tình hình sinh trưởng đường kính tán của loài Sến mật (88)
      • 4.3.4. Tình hình sinh trưởng của các loài cây trong lâm phần (91)
      • 4.3.5. Chất lượng các loài cây trong lâm phần (94)
    • 4.4. Đề xuất định hướng mô ̣t số giải pháp kỹ thuâ ̣t lâm sinh góp phần bảo tồ n rư ̀ ng Sến Tam Quy (97)
      • 4.4.1. Định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho tầng cây cao . 85 4.4.2. Định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho tầng cây tái (97)
  • PHỤ LỤC (108)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong hệ sinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên; đa dạng sinh học bao gồm đa dạng sinh học trong loài (đa dạng di truyền), giữa các loài và các hệ sinh thái

Nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học toàn cầu trong nhiều năm Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể được nhắc đến nhằm làm nổi bật tầm quan trọng của việc bảo vệ hệ sinh thái và các loài sinh vật.

Tại Canada, Sherry, E.E (1999) đã nghiên cứu về sự hợp tác quản lý tại Vườn quốc gia Vutut, nơi kết hợp giữa bảo tồn thiên nhiên và di sản văn hóa của người thổ dân Bắc cực Liên minh giữa chính quyền và cộng đồng thổ dân đã huy động nguồn lực và phối hợp với ban quản lý để cải thiện công tác bảo tồn và gia tăng giá trị của vườn quốc gia Hợp tác này đã tích hợp kiến thức bản địa với mục tiêu bảo tồn, đồng thời ban quản lý hỗ trợ người dân về kỹ thuật xây dựng mô hình, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế - xã hội Theo tác giả, mô hình hợp tác quản lý này rất thành công và được thiết kế để kết hợp những ưu điểm của cả hai thế giới: nhà nước văn minh và thổ dân.

Vườn quốc gia Andringitra, được thành lập theo nghị định của chính phủ Madagascar, là một khu vực núi đa dạng sinh học, kết hợp giữa các hệ sinh thái, cảnh quan và di tích văn hóa Chính phủ đã bảo đảm quyền của người dân, bao gồm quyền chăn thả gia súc và khai thác tài nguyên rừng, đồng thời khuyến khích việc gìn giữ các điểm thờ cúng thần rừng Để duy trì những quyền lợi này, người dân cần có trách nhiệm bảo vệ sự ổn định của các hệ sinh thái trong khu vực Ngoài ra, nhiều bên liên quan như ngành du lịch và chính quyền cũng tham gia vào Ban đồng quản lý để hỗ trợ công tác bảo tồn.

Gilmour D.A (1999) chỉ ra rằng hiệu quả kém của các chương trình bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý tài nguyên thiên nhiên chủ yếu do chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, cũng như giữa lợi ích của cộng đồng địa phương và lợi ích quốc gia Điều này dẫn đến việc chưa phát huy được nội lực của các cộng đồng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Do đó, quản lý tài nguyên rừng cần được phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với sản xuất, nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân và thống nhất lợi ích của họ với lợi ích quốc gia trong công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng.

Trong báo cáo “Liên minh cộng đồng: đồng quản lý rừng ở Thái Lan” của Poffenberger và McGean (1993), nghiên cứu tại vườn quốc gia Dong Yai và khu phòng hộ Nam Sa cho thấy người dân địa phương đã tự tổ chức hiệu quả các hoạt động bảo tồn Tại Dong Yai, họ đã hợp tác với Cục lâm nghiệp Hoàng gia để xây dựng hệ thống quản lý rừng bền vững, đảm bảo môi trường sinh thái và lợi ích cho cộng đồng Tương tự, tại Nam Sa, cộng đồng cũng đạt được thành công trong quản lý rừng phòng hộ Họ tin rằng nếu Chính phủ có chính sách khuyến khích và chuyển giao quyền lực, họ sẽ kiểm soát tài nguyên hiệu quả hơn.

Nick Salafsky và các cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng vào những năm 90, các nhà bảo tồn đã phát triển một cách tiếp cận mới nhằm kết hợp lợi ích kinh tế với bảo tồn Cách tiếp cận này tập trung vào việc thực hiện các sinh kế độc lập, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ giữa đa dạng sinh học và con người Người dân địa phương được hưởng lợi từ đa dạng sinh học, từ đó hạn chế các tác nhân gây hại từ bên ngoài Sự phát triển đời sống của cộng đồng sẽ hỗ trợ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học thay vì cạnh tranh Chương trình này cũng công nhận vai trò quan trọng của người dân địa phương, giúp họ khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ và phát triển du lịch sinh thái.

Chương trình hỗ trợ đa dạng sinh học (BSP) được triển khai từ năm 2000 đã thực hiện nhiều dự án nhằm tạo ra tác động thực sự trong việc bảo tồn Những nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng để đạt được mục tiêu bảo tồn, cần có sự đồng thuận từ tất cả các bên liên quan Đồng thời, các hoạt động bảo tồn cần phải phù hợp với lợi ích và nhu cầu của cộng đồng địa phương Việc nâng cao nhận thức và kiến thức về đa dạng sinh học là rất quan trọng, nhưng chỉ có động lực thôi thì chưa đủ; con người cần phải trang bị đầy đủ kỹ năng và năng lực để biến ý tưởng thành hành động.

Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF) nhấn mạnh rằng việc bảo tồn cần phải kết hợp với nỗ lực xóa đói giảm nghèo, coi đây là một phần thiết yếu trong chính sách bảo vệ tài nguyên rừng.

1.1.2 Nghiên cứu về loài Sến mật

Sến mật (Theo H.J Lam và Kerpel, 1939) là cây gỗ lớn, cao từ 35-40 m với đường kính 80-120 cm, tán lá dày và xanh thẫm Thân cây thẳng, hình trụ và phân cành muộn, vỏ ngoài có màu nâu đen, nứt thành hình chữ nhật đặc trưng Vỏ trong dày khoảng 1 cm, màu hồng, có nhựa mủ trắng khi bị cắt Lá đơn, mọc cách, tập trung ở đỉnh cành con, hình trứng ngược, dài 12-16 cm và rộng 4-6 cm, với đầu lá tròn và mũi ngắn Hoa thường xuất hiện đơn độc hoặc thành cụm ở nách lá, có màu trắng hoặc vàng nhạt, với lá đài 4 xếp chéo và tràng hoa có 4 thùy hình thuôn Quả hạch có hình trứng hoặc gần hình cầu, dài 2-3 cm, và có lá đài tồn tại ở gốc.

Sến mật là loài cây gỗ quý hiếm, phân bố chủ yếu ở Vân Nam (Trung Quốc) và rải rác từ Lạng Sơn đến Quảng Bình (Việt Nam) Loài cây này có sự phân bố hẹp và là đặc hữu của Việt Nam, dẫn đến việc nghiên cứu về Sến mật còn hạn chế Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái học và mức độ đe dọa của loài Theo tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế, Sến mật được xếp vào nhóm dễ bị tổn thương và cần được bảo tồn.

Ở Việt Nam

1.2.1 Nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học

Việt Nam được công nhận là trung tâm đa dạng sinh học với 5 vùng chim đặc hữu, 3 vùng sinh thái và 6 trung tâm đa dạng sinh học về thực vật Đất nước nằm trong điểm nóng Inđô - Bơ Ma, một trong những khu vực sinh học phong phú và đe dọa nhất thế giới Chính phủ Việt Nam đã có những hành động tích cực từ những năm 1960 để bảo tồn đa dạng sinh học, với nhiều văn bản pháp luật và chương trình lớn được thực hiện Đồng thời, nhằm ngăn chặn khai thác tài nguyên thiên nhiên trái phép và thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước bảo tồn đa dạng sinh học như Ramsar, di sản văn hóa thế giới, CITES và công ước về đa dạng sinh học.

Cartagena về an toàn sinh học năm (2004) và hiệp định Asean về bảo tồn thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên (1985)

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, nhấn mạnh rằng cộng đồng địa phương là những người hiểu rõ nhất về tài nguyên và mối quan hệ kinh tế - xã hội trong khu vực Họ có khả năng phát triển cây trồng và vật nuôi bền vững, phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương Cộng đồng không chỉ thực hiện các chương trình quản lý tài nguyên mà còn là những người hưởng lợi từ chúng, do đó, các giải pháp quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học cần phải phù hợp với phong tục, tập quán và kiến thức của họ để đảm bảo tính khả thi cao.

Lê Trọng Cúc (2002) nhấn mạnh mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, cho rằng việc phát triển không nên ảnh hưởng tiêu cực đến thiên nhiên Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cần gắn liền với nhu cầu phát triển bền vững của cộng đồng địa phương, bao gồm ba yếu tố chính: (i) Nếu nhu cầu phát triển có thể được đáp ứng bằng nguồn thay thế, thì tác động lên tài nguyên sẽ giảm và tài nguyên được bảo tồn; (ii) Trong trường hợp cộng đồng gặp khó khăn kinh tế, họ sẽ không thể quan tâm đến bảo tồn nếu nhu cầu sống thiết yếu chưa được đáp ứng, do đó cần cải thiện kinh tế xã hội để họ có thể chú ý đến bảo tồn; (iii) Cộng đồng địa phương sẽ đồng thuận với việc bảo tồn nếu họ có cơ hội tham gia tích cực vào quy hoạch và quản lý tài nguyên, từ đó chia sẻ lợi ích từ tài nguyên Bằng cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi vẫn đáp ứng một số nhu cầu cơ bản của người dân thông qua khai thác bền vững.

Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam năm 2005 nhấn mạnh rằng bảo vệ hệ sinh thái rừng mang lại nhiều giá trị gián tiếp cho phát triển, bao gồm: đảm bảo an toàn kinh tế cho cộng đồng nghèo quanh các khu bảo tồn, ngăn ngừa lũ lụt và cung cấp nước sinh hoạt, bảo vệ lưu vực hồ thủy điện, bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp và tạo môi trường cho quần thể cá, cũng như hỗ trợ bảo tồn đa dạng di truyền và cảnh quan cho các thế hệ tương lai.

1.2.2 Các nghiên cứu về ba ̉ o tồn nguồn gen cây rừng và loài Sến mật

Bảo tồn nguồn gen cây rừng là việc duy trì đa dạng di truyền cần thiết cho việc cải thiện giống cây, phục vụ cho cả ngắn hạn và dài hạn Mục tiêu chính của bảo tồn nguồn gen là giữ gìn vốn gen lâu dài, đảm bảo lưu giữ sự đa dạng di truyền của các loài động thực vật làm cơ sở cho công tác chọn giống Tại Việt Nam, các phương pháp bảo tồn nguồn gen cây rừng phổ biến bao gồm bảo tồn nguyên vị (In situ) và bảo tồn di chuyển (Ex situ) Năm 1989, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã thực hiện nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen cây rừng, áp dụng các phương pháp này để bảo vệ sự đa dạng di truyền của cây rừng.

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận 53 loài cây lá kim, 42 loài thuộc 6 chi Dầu, 216 loài/phân loài của 25 chi tre và 107 loài cây lá rộng khác, tạo cơ sở cho việc bảo tồn và đánh giá mức độ đe dọa theo tiêu chí IUCN Giai đoạn 1996 - 2000, hệ thống bảo tồn nguồn gen quốc gia được hình thành với 10 đơn vị đầu mối và hơn 60 đơn vị phối hợp, bảo tồn trên 13.500 giống thực vật, 450 giống lúa kháng hạn, úng mặn và bệnh hại, 485 giống cây ăn quả, rau, cùng 42 loài cây rừng quý và 50 giống vật nuôi Hiện nay, gần 80 ha quần thụ bảo tồn ex-situ và trên 60 ha rừng trồng đã được xây dựng tại nhiều địa điểm trên cả nước, trong đó có 100 nguồn gen của 38 loài quý hiếm.

Về đặc tính sinh học, sinh thái học thì Sến mật có tên khoa học là:

Madhuca pasquieri, thuộc họ Hồng Xiêm (Sapotaceae) và bộ Sapotales, là một loài cây gỗ lớn, thường xanh, với thân thẳng và sinh trưởng chậm Vỏ cây có màu nâu thẫm, dày khoảng 0,9cm và nứt ô vuông Lá cây có hình trứng ngược hoặc hình bầu dục dài, kích thước từ 6-16cm chiều dài và 2-6cm chiều rộng, với 13-22 đôi gân bậc hai và cuống lá dài từ 1,5-3,5cm Hoa của loài này mọc thành chùm 2-3 ở nách lá, có cuống dài từ 1,5-3,5cm, với nhị dài từ 12-22cm và bầu hình trứng có 6-8 ô, vòi dài từ 8-10mm Quả của cây có hình bầu dục hoặc gần hình cầu, dài từ 2,5-3cm, hạt có hình bầu dục, dài 2,2cm và rộng từ 1,5-1,8cm.

Sến mật là loài cây gỗ quý, chịu bóng khi nhỏ và ưa sáng khi trưởng thành, thường mọc ở tầng cao nhất của rừng Cây có khả năng thích nghi với nhiều loại đất, bao gồm đất khô, nghèo dinh dưỡng, và phát triển tốt trên đất sét pha hoặc đất phong hóa từ đá vôi Mùa hoa nở từ tháng 1 đến tháng 3, trong khi quả chín vào tháng 11 và 12 Sến tái sinh bằng hạt và chồi, gỗ của nó có màu đỏ nâu, cứng và ít bị mối mọt, được sử dụng trong xây dựng nhà, đồ gia dụng, công trình thủy lợi, đóng tàu, cầu và dụng cụ thể thao Mặc dù mọc rải rác, sến ít khi trở thành loài ưu thế trong rừng, đặc biệt là ở Tam Quy và độ cao dưới 1.000m trong rừng mưa nhiệt đới thường xanh.

Sến mật không chỉ có giá trị trong ẩm thực mà còn trong y học, với lá và vỏ được sử dụng làm nguyên liệu cho thuốc đặc trị bỏng Gần đây, các nhà khoa học tại Trung tâm Nghiên cứu sản xuất thuốc (Học viện Quân y 103) đã thành công trong việc phát triển công nghệ sản xuất thuốc từ lá cây Sến mật nhằm điều trị bỏng.

Nghiên cứu của Đỗ Đình Tiến (2004) về loài Sến mật tại Vườn quốc gia Tam Đảo đã chỉ ra một số đặc điểm hình thái và sinh thái quan trọng Sến mật là cây gỗ lớn với thân thẳng, tròn, vỏ nâu nứt thành ô vuông và có nhựa mủ trắng Lá đơn, mọc cách, gần chụm ở đầu cành, có hình trứng ngược, xanh đậm ở mặt trên và xanh nhạt ở mặt dưới, với kích thước trung bình từ 4,95 – 5,03 cm chiều rộng và 12,95 – 13,25 cm chiều dài Hoa mọc đơn lẻ hoặc cụm ở nách lá, có màu trắng hoặc vàng, với đài xếp đối chữ thập Quả của Sến mật là quả mọng, hình trứng hoặc hình cầu, và khả năng nhân giống bằng hom rất khó khăn, cần được nghiên cứu bổ sung để phục vụ công tác bảo tồn.

Trong công trình phân loại thực vật của Lecomte và Humbert (1907 –

Cây Sến mật, theo các tác giả năm 1937, mọc rải rác ở Thanh Hóa và Ba Vì, nhưng thực tế lại xuất hiện phổ biến trong rừng tự nhiên ở nhiều vùng sinh thái khác nhau tại Việt Nam Tại khu vực nghiên cứu, cây Sến mật phát triển tương đối tập trung và thuần loài.

Theo Vụ khoa học công nghệ - Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn

(1994) thì Sến mật phân bố ở hầu khắp các tỉnh Thừa Thiên Huế trở ra Nghệ

Sến mật thường phát triển ở độ cao từ 200 – 1.000m so với mực nước biển, mọc hỗn giao với nhiều loài cây khác trên các loại đất như đất sét pha, đất đá vôi và đất cát Tại Việt Nam, nghiên cứu về Sến mật chủ yếu tập trung vào đặc điểm lâm học và kỹ thuật nhân giống Tuy nhiên, hiện tại kỹ thuật nhân giống và trồng trọt vẫn chỉ dừng lại ở mức tài liệu hướng dẫn mà chưa có quy trình chính thức, với một số hạn chế như chưa xác định được cường độ che bóng tối ưu cho cây con trong giai đoạn ươm, cũng như độ tàn che thích hợp và thời điểm cây Sến mật không cần che bóng.

Theo Phạm Quang Vinh (2001), trọng lượng khô của 1.000 hạt Sến mật đạt 1.650 gram, tương đương với 600 - 650 hạt trong 1 kg Độ thuần của hạt thu nhặt từ đất rất cao (k=0,91), đảm bảo chất lượng cho việc sản xuất cây con trồng rừng Hàm lượng nước trong hạt Sến mật trung bình đạt 48,5% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiệt độ 40 độ C là điều kiện thích hợp để kích thích hạt giống nảy mầm.

Nhiệt độ 45 độ C (2 sôi + 3 lạnh) tối ưu cho tỷ lệ nảy mầm của hạt giống đạt cao nhất (P%) và thế nảy mầm cũng đạt mức tối ưu (T0%), với tốc độ nảy mầm trung bình là 9 ngày Đối với phương pháp bảo quản, hạt Sến có chứa tinh dầu và hàm lượng nước cao, nên việc bảo quản trong cát hiệu quả hơn so với bảo quản trong túi P.E Thời gian bảo quản không nên vượt quá 60 ngày, vì sau thời gian này tỷ lệ nảy mầm sẽ giảm Mặc dù bảo quản bằng cát ẩm có tỷ lệ nảy mầm cao (đạt 78%), nhưng hạt dễ nảy mầm trong quá trình bảo quản.

Trương Thanh Khai (1996) [10]“Bước đầu nghiên cứu một số đặc tính

Lâm học của loài Sến mật tại khu vực Phong Nha - Quảng Bình”đã đưa ra những đặc điểm lâm học của loài tại khu vực nghiên cứu

Nghiên cứu của Trần Đức Việt (2012) về loài Sến mật tại Vườn quốc gia Tam Đảo cho thấy rằng loài cây này chiếm ưu thế ở tầng tán chính của rừng nhờ khả năng ưa sáng, nhưng ở giai đoạn non, nó lại có khả năng chịu bóng.

Tại rừng Sến Tam Quy mới chỉ có những nghiên cứu về “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của cây Sến mật - Lê Xuân Cường – 2011”;

“Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Sến mật - Lê Văn Sơn – 2011” và

Nhận xét và đánh giá chung

Các nghiên cứu về bảo tồn tài nguyên rừng đang thu hút sự quan tâm lớn từ nhiều quốc gia, với chú trọng vào ảnh hưởng của quản lý và các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội đến việc bảo tồn loài trong các khu bảo tồn và vườn quốc gia Mặc dù đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện sinh kế và tăng cường sự tham gia của cộng đồng, nhưng các nghiên cứu toàn cầu vẫn chủ yếu tập trung vào công tác quản lý bảo tồn mà thiếu các nghiên cứu cụ thể về loài Sến mật Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bảo tồn nguồn gen cây rừng còn hạn chế và chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú của tài nguyên rừng Mặc dù có nhiều tác giả nghiên cứu về loài Sến mật, nhưng chủ yếu chỉ tập trung vào phân bố, tái sinh và đặc điểm sinh thái học.

Sến mật là loài cây gỗ quý, nhưng với sự gia tăng nhu cầu gỗ, nguy cơ bị khai thác đang đe dọa sự tồn tại của chúng Khu bảo tồn rừng Sến Tam Quy là nơi duy nhất ở Việt Nam có sự tập trung của loài cây này, tuy nhiên, nghiên cứu về khu vực này vẫn còn hạn chế và chưa mang lại nhiều giá trị thực tiễn.

Loài Sến mật (Madhuca pasquieri) có đặc tính sinh trưởng ưa sáng, nhưng hiện đang bị chèn ép về không gian dinh dưỡng dưới tán Lim xanh Tình trạng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của Sến mật, và nếu không có giải pháp kịp thời để điều chỉnh không gian dinh dưỡng, rừng Sến mật sẽ bị thay thế bởi rừng Lim xanh Sự diễn thế mạnh mẽ giữa Lim và Sến đang gia tăng, làm rõ nguy cơ mất đi rừng Sến mật Đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm góp phần bảo tồn rừng Sến mật tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tam Quy” là cần thiết để bảo vệ loài cây quý giá này.

Bảo tồn và phát triển tự nhiên loài cây gỗ quý hiếm tại Hà Trung, Thanh Hoá là yêu cầu cấp thiết để nghiên cứu đa dạng sinh học và duy trì sự tồn tại của các loài gỗ quý trong nhóm tứ thiết: Đinh, Lim, Sến, Táu.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16 2.1 Mục tiêu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là rừng Sến mật tại Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá.

Giới hạn nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng các đặc điểm cấu trúc của rừng Sến mật và ba chỉ tiêu sinh trưởng của loài cây này.

- Về địa bàn nghiên cứu: giới hạn trong địa bàn Khu bảo tồn rừng Sến Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá.

Nội dung nghiên cứu

Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c tiêu đề ra, đề tài thực hiê ̣n mô ̣t số nô ̣i dung nghiên cứu sau:

- Tổng kết và đánh giá công tác bảo tồn rừng Sến mâ ̣t ở Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá từ trước đến nay

- Đánh giá thực trạng cấu trúc và tái sinh rừng Sến mật hiện nay

- Đánh giá tình hình sinh trưởng của Sến mật tại Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa

- Đề xuất định hướng một số giải pháp kỹ thuâ ̣t lâm sinh góp phần bảo tồ n rừ ng Sến Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá.

Phương pháp nghiên cứu

Phương hướng giải quyết vấn đề được khái quát theo sơ đồ sau:

Hình 2.1: Phương hướng giải quyết vấn đề của đề tài

2.5.2 Phương pháp kế thừa số liệu Đề tài dự kiến kế thừa các tài liê ̣u, số liê ̣u sau:

- Các tài liê ̣u, số liê ̣u, công trình nghiên cứu về bảo tồn cây Sến mâ ̣t ở trong và ngoài nước

Khảo sát tổng thể khu vực nghiên cứu

Thu thập các thông tin, số liệu đã có

Lựa chọn địa điểm điều tra chi tiết

Bài viết tổng kết và đánh giá công tác bảo tồn rừng Sến mật, tập trung vào tình hình sinh trưởng của loài cây này Đánh giá thực trạng cấu trúc và khả năng tái sinh của rừng Sến mật cũng được đề cập, nhằm đưa ra những nhận định chính xác về sức khỏe của hệ sinh thái Cuối cùng, bài viết đề xuất các giải pháp quản lý và bảo tồn bền vững (KTLS) nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn rừng Sến mật trong tương lai.

Dữ liệu hiện trạng rừng, đánh giá sinh trưởng và bản đồ rừng Sến mật tại Khu bảo tồn rừng Sến Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình rừng tại khu vực này.

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hô ̣i ta ̣i Khu bảo tồn thiên nhiên Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá,…

2.5.3 Phương pháp thu thập số liệu Để tổng kết và đánh giá công tác bảo tồn rừng Sến mật ngoài việc sử dụng phương pháp kế thừa các số liê ̣u, tài liê ̣u, các công trình nghiên cứu về rừ ng Sến mâ ̣t tại khu vực nghiên cứu đề tài sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) tiến hành điều tra, phỏng vấn các đối tượng có liên quan để kiểm chứng thông tin và tìm hiểu các ý kiến phản hồi

Trong những năm qua, khu bảo tồn đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm bảo tồn loài Sến mật, bao gồm việc đánh giá hiệu quả của các biện pháp này Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn gặp phải nhiều vướng mắc và khó khăn, đặc biệt trong việc bảo tồn rừng Sến mật tại Tam Quy.

Người dân địa phương đã có những hoạt động sinh kế như chặt gỗ, chăn thả gia súc, thu hái quả, và xâm lấn đất đai, ảnh hưởng đến loài Sến mật trong khu bảo tồn Tam Quy Khu bảo tồn đã triển khai các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động của người dân và tăng cường hiệu quả bảo tồn rừng Sến mật, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần giải quyết Người dân địa phương có thể hưởng lợi từ khu bảo tồn, nhưng cũng mong muốn có sự tham gia tích cực trong công tác bảo vệ rừng Để bảo tồn bền vững, phát triển rừng, đặc biệt là trồng rừng, là nhiệm vụ quan trọng; nghiên cứu sinh trưởng của rừng trồng Sến mật thuần loài dưới tán Keo lá tràm giai đoạn 2002 là cần thiết để đánh giá hiệu quả công tác này.

2005, đề tài lập 4 ô tiêu chuẩn ở 4 độ tuổi khác nhau có diện tích 500m 2 (20x25m) để điều tra

Số liệu điều tra ghi trong mẫu biểu sau:

MẪU BIỂU 01: PHIẾU ĐIỀU TRA RỪNG TRỒNG SẾN MẬT

Số hiệu ÔTC:……… Diện tích ÔTC:………… Mật độ trước đây:… …… ………… Ngày điều tra:… ……… Người điều tra:………Địa điểm:………

TT Tên loài D 1.3 (cm) H vn (m) H dc (m) Ghi chú

Đề tài nghiên cứu tiến hành khảo sát hiện trường và bố trí các ô tiêu chuẩn để đo đếm các chỉ tiêu của tầng cây cao và tầng cây tái sinh, nhằm xác định cấu trúc hiện tại của rừng Sến mật Trong nghiên cứu, 9 ô tiêu chuẩn sơ cấp đã được lập, mỗi ô có diện tích 2500m² (50x50m), được đặt tại các khu vực có mật độ Sến mật khác nhau.

+ 3 ô tiêu chuẩn mật độ thấp: < 200 cây/ha

+ 3 ô tiêu chuẩn mật độ cao > 300 cây/ha

+ 3 ô tiêu chuẩn mật độ trung bình từ 200 – 300 cây/ha

Trong mỗi OTC sơ cấp, tiến hành lập 5 ô dạng bản (ODB) với diện tích mỗi ô là 25m² (5x5m) để khảo sát cây tái sinh và mô tả cây bụi thảm tươi dưới tán rừng Mô hình bố trí một ô tiêu chuẩn sơ cấp cùng các ô dạng bản được thể hiện rõ trong hình 2.2.

Hình 2.2: Lâ ̣p OTC và ODB đo đếm rừng tự nhiên a) Điều tra tầng cây cao

- Điều tra tầng cây cao: điều tra các chỉ tiêu sau

Xác định tên cây bao gồm các loài cây hỗn giao với rừng Sến mật Đo đường kính thân cây (D1.3) bằng thước kẹp kính chính xác tới mm Đo đường kính tán cây bằng thước dây theo hai hướng Đông-Tây và Bắc-Nam, sau đó tính trung bình để có kết quả chính xác.

+ Chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) được xác định bằng thước Blummeleiss, kết hợp với thước đo có độ chính xác tới cm

+ Phẩm chất cây được phân theo 3 cấp:

Cây tốt (A): Là những cây có thân thẳng, không cong queo, sâu bệnh, phát triển tốt, tán cây tròn đẹp

Cây trung bình (B): Là những cây có chất lượng thân, tán, khả năng sinh trưởng trung bình

Cây xấu (C): Là những cây cong queo, sâu bệnh, tán lệch, khả năng sinh trưởng kém so với cây khác trong ô tiêu chuẩn

Hình 2.3: Điều tra tầng cây cao

Các số liệu điều tra tầng cây cao ghi vào biểu mẫu sau:

MẪU BIỂU 02: PHIẾU ĐIỀU TRA TẦNG CÂY CAO

Số hiệu ÔTC:……… Loại rừng:……… ……Diện tích ÔTC:………… Độ dốc:……… …… Hướng phơi:………… Địa điểm:………….….… Người điều tra:………Ngày điều tra:…….……

H vn (m) H dc (m) Phẩm chất ĐT NB

Độ tàn che trong ô tiêu chuẩn được đánh giá bằng phương pháp 100 điểm, chia thành 5 tuyến với mỗi tuyến có 20 điểm cách nhau 2m Để xác định độ tàn che, sử dụng giấy A4 cuộn tròn với đường kính lỗ khoảng 1cm Tại các vị trí đã xác định, quan sát qua lỗ để đánh giá diện tích tán lá Điểm số được chấm dựa trên diện tích nhìn thấy, với 0 điểm cho trường hợp không thấy tán lá và điểm số tăng dần khi thấy mép tán.

0,5 điểm, thấy tán giao nhau: 1 điểm Sau đó tính toán tổng hợp các giá trị thu được độ tàn che của tầng cây cao

Phương pháp xác định độ tàn che trong ô tiêu chuẩn được mô tả chi tiết trong hình 2.4:

Hình 2.4: Sơ đồ điều tra độ tàn che

Cấu trúc tầng thứ của lâm phần được mô tả thông qua phương pháp vẽ trắc đồ đứng của David & Richards, sử dụng dải vẽ có kích thước 25x50m với tỷ lệ 1/100 Bên cạnh đó, việc điều tra cây tái sinh cũng là một phần quan trọng trong nghiên cứu này.

Trong mỗi ô dạng bản xác định tên cây tái sinh, chiều cao, số lượng, nguồn gốc cây tái sinh Các kết quả thu được ghi vào bảng mẫu sau:

MẪU BIỂU 03: PHIẾU ĐIỀU TRA TẦNG CÂY TÁI SINH

Số hiệu ÔTC:……… Loại rừng:……… ……Diện tích ÔTC:……… Độ dốc:……… …… Hướng phơi:………….Địa điểm:………….…

Người điều tra:……… Ngày điều tra:………

TT Tên loài H vn (m) Nguồn gốc tái sinh

Tuyến điều tra c, Điều tra cây bụi thảm tươi

Trong các ô dạng bản xác định tên các loài chủ yếu, chiều cao bình quân, độ che phủ và sức sống của loài

Hình 2.5: Điều tra cây bụi thảm tươi BIỂU 04: BIỂU ĐIỀU TRA CÂY BỤI, THẢM TƯƠI

Số hiệu ÔTC:……… Loại rừng:……… ……Diện tích ÔTC:……… Độ dốc:……… …… Hướng phơi:………… Địa điểm:………….…

Người điều tra:………Ngày điều tra:………… ÔDB TT Tên loài chủ yếu H tb (m) Độ che phủ (%) Phẩm chất

2.5.4 Phương pha ́ p xử lý số liê ̣u

2.5.3.1 Cấu trúc tầng cây cao

Các số liê ̣u thu thâ ̣p đươ ̣c phân tích và xử lý bằng các hàm thống kê thông du ̣ng trong phần mềm Excel và SPSS

+ Để xác định tổ thành tầng cây cao, đề tài sử dụng chỉ số IV% theo phương pháp của Daniel Marmillod (Đào Công Khanh, 1996) [9]:

(2-1) Trong đó: IVi% là chỉ số quan trọng (Important Value) của loài i

Ni% là % theo số cây của loài i trong QXTV rừng Gi% là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng, được tính theo công thức Gi 4

Theo Daniel M., chỉ những loài cây có IV% ≥ 5% mới có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần Thái Văn Trừng (1978) cho rằng nếu một nhóm loài cây chiếm hơn 50% tổng số cá thể của tầng cây cao, thì nhóm đó được xem là ưu thế Do đó, cần tính tổng IV% của các loài có trị số lớn hơn 5%, sắp xếp từ cao xuống thấp và dừng lại khi tổng IV% đạt 50%.

+ Công thức xác định mật độ như sau:

Trong đó: n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong ÔTC

Việc xác định phân bố số cây theo đường kính (N/D1.3) và chiều cao (N/Hvn) là rất quan trọng trong nghiên cứu Nông - Lâm nghiệp, vì nó giúp mô hình hóa quy luật cấu trúc tần số trong thực tiễn Những quy luật này không chỉ phản ánh sự phân bố vốn tồn tại khách quan mà còn có thể được biểu thị bằng các biểu thức toán học, cho phép xác định tần số tương ứng với từng tổ của đại lượng điều tra Hơn nữa, nghiên cứu các quy luật phân bố này còn tạo cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý.

Để tính các đặc trưng mẫu theo chương trình thống kê mô tả, chúng ta cần chia tổ ghép nhóm các trị số quan sát dựa trên công thức kinh nghiệm của Brooks và Carruthers, cụ thể là m = 5.lg(n) Công thức này giúp xác định số lượng tổ ghép cần thiết để phân tích dữ liệu một cách hiệu quả.

Trong đó: m là số tổ

Xmax, Xmin là trị số quan sát lớn nhất và nhỏ nhất

Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hoá quy luật cấu trúc tần số theo những phân bố lý thuyết khác nhau

+ Phân bố giảm (phân bố mũ)

Trong lĩnh vực lâm nghiệp, hàm phân bố giảm Meyer thường được sử dụng để mô phỏng quy luật cấu trúc tần số số cây theo đường kính (N/D1.3) và chiều cao (N/Hvn) ở các lâm phần hỗn giao, khác tuổi Phương pháp này áp dụng trong khai thác chọn không quy tắc nhiều lần, với hàm Meyer có dạng: ft = α.e^(-βx).

Trong đó: ft là tần số quan sát, x là cỡ kính hoặc cỡ chiều cao

Để xác định tham số phân bố giảm của hàm Meyer, trước tiên cần tuyến tính hóa phương trình mũ bằng cách áp dụng logarit cho cả hai vế của phương trình Điều này giúp chuyển đổi thành dạng phương trình hồi quy tuyến tính một lớp, cụ thể là y = a + bx.

- Phân bố Weibull: Là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục với miền giá trị (0,+ ), hàm mật độ có dạng: f(x)  α.λ.x α  1 e  λ.x α (2-6)

Trong đó:  và  là hai tham số của phân bố Weibull Tham số  đặc trưng cho độ nhọn phân bố, tham số  biểu thị độ lệch của phân bố

Nếu  = 1 phân bố có dạng giảm

 = 3 phân bố có dạng đối xứng

 > 3 phân bố có dạng lệch phải

 < 3 phân bố có dạng lệch trái

Tham số  được ước lượng theo phương pháp tối đa hợp lý bằng công thức:

+ Phân bố khoảng cách: Là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên đứt quãng, hàm toán học có dạng:

Trong đó:  =f0/n, với f0 là tần số quan sát tuyệt đối ứng với tổ đầu tiên n là dung lượng mẫu

Điều kiện tự nhiên

Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy có to ̣a đô ̣ đi ̣a lý:

- Từ 20 0 00’ 00” đến 20 0 01’ 00” Vĩ độ Bắc

- Từ 105 0 47’ 00” đến 105 0 47’ 30” Kinh độ Đông

Thuộc địa phận 3 xã Hà Lĩnh, Hà Tân, Hà Đông, huyện Hà Trung Đỉnh cao nhất là đỉnh Cate (mốc ranh giới giữa ba xã)

Ranh giới phía Bắc được xác định bởi con đường đất từ đập cầu Thọ Lộc, xã Hà Lĩnh, dẫn ra quốc lộ 1A và đi qua làng lâm nghiệp Tam Quy thuộc xã.

- Ranh giới phía Nam từ đập Ngang (Thọ Lộc, Hà Lĩnh) đi theo khe suối lên đỉnh 300m, đến ngã ba ranh giới 3 xã Hà Tân, Hà Lĩnh, Hà Đông

- Ranh giới phía Đông nằm trùng với ranh giới giữa hai xã Hà Tân và

- Ranh giới phía Tây giáp làng Thọ Lộc xã Hà Lĩnh

Trung tâm khu bảo tồn thiên nhiên Rừng Sến Tam Quy, cách đường quốc lộ 1A và thị trấn Hà Trung 5 km về phía Tây

Khu bảo tồn rừng Sến Tam Quy nằm sâu trong khu vực nội chí tuyến Bắc, điều này cho thấy vị trí địa lý tự nhiên của nó Đặc điểm này đã góp phần tạo ra tính chất nhiệt đới đặc trưng cho lãnh thổ rừng Sến.

Rừng Sến Tam Quy nằm trên địa hình đồi bóc mòn, với những đồi trung bình và cao tạo thành dãy đồi liên tiếp theo hướng Đông - Tây Đỉnh đồi có độ cao tuyệt đối đạt 325m, tạo nên cảnh quan thiên nhiên độc đáo.

Đồi rừng Tam Quy có độ cao 315m, thuộc loại địa hình trung bình với hình thái đồi đặc trưng Đỉnh đồi hơi bằng phẳng, sườn đồi nhìn chung phẳng có chỗ lồi, trong khi các khe rãnh hẹp và nông Độ dốc giảm dần từ sườn trên xuống sườn dưới và chân đồi, thể hiện rõ đặc trưng của kiểu đồi trầm tích được hình thành từ đá phấn sa đến cát kết.

- Địa thế bằng < 7 0 , chiếm 12,0% diện tích

- Địa thế sườn dốc thoải 8 0 - 15 0 ,chiếm 31,0% diện tích

- Địa thế sườn dốc 16 o - 25 0 , chiếm 27% diện tích

- Địa thế sườn dốc lớn 26 0 - 35 0 , chiếm 30,0% diện tích

Sự phân hoá độ dốc địa thế ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình lắng đọng và phân bố sản phẩm phong hoá, từ đó tạo ra độ dày khác nhau của tầng đất mịn Cụ thể, độ dốc lớn sẽ dẫn đến lượng sản phẩm lắng đọng ít hơn và độ dày tầng đất mịn mỏng hơn, trong khi độ dốc nhỏ lại cho phép lắng đọng nhiều hơn và độ dày tầng đất mịn dày hơn.

Rừng Sến Tam Quy tọa lạc trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh và ít mưa, còn mùa hè thì nóng và có nhiều mưa Nơi đây có hai mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.

Nhiệt độ trung bình năm từ 21 0 - 23 0 C, nhiệt độ cao trung bình đạt 30 o C vào tháng 6 và 7 và thấp trung bình là 17 o C vào tháng 12 và tháng 1năm sau

Lượng mưa hàng năm khoảng 1.707 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 đạt 400mm, lượng mưa ít nhất < 20mm vào tháng 12, 1 và

2, tháng ẩm nhất là 7 và 8

Gió có 2 mùa gió: Tốc độ gió bình quân là 1,5 - 1,8 m/giây

+ Gió mùa Đông Bắc thường mang theo mưa phùn và rét

+ Mùa hè thịnh hành gió Tây Nam có mưa lớn, có lốc và đôi khi có bão

Sương mù xuất hiện từ 22 đến 26 ngày mỗi năm, chủ yếu vào các tháng 10, 11 và 12, làm tăng độ ẩm không khí và độ ẩm đất Trong những năm có nhiều sương muối, hiện tượng này thường xảy ra vào tháng 1 và 2, gây ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất và đời sống của người dân.

Do ảnh hưởng của địa hình, các rãnh khe hẹp và nông khiến một số khu vực dễ bị ngập sâu trong mùa mưa, dẫn đến lũ lụt và xói lở Mùa khô kéo dài dự báo sẽ làm mực nước hai hồ tại thôn Thọ Cầu giảm thấp, nhanh chóng cạn kiệt nguồn nước trong rừng đặc dụng Sến Tam Quy và hạ thấp mực nước ngầm Điều này gia tăng nguy cơ cháy rừng và thiếu nước cho công tác chữa cháy cũng như nước uống cho động vật trong mùa khô.

Đặc trưng khí hậu và thủy văn của rừng Sến mật bao gồm nền nhiệt độ cao, mùa hè nóng và mùa đông ấm áp với lượng mưa trung bình Khí hậu này không chỉ ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của đất mà còn quyết định sự đa dạng sinh vật tại khu vực.

3.1.4 Đá mẹ Đá phấn sa (Alơrôlit) là đá mẹ tạo đất chính rừng Sến Tam Quy Phấn sa là đá trầm tích được gắn kết bởi các hạt có kích thước 0,1- 0,01mm Thành phần hóa học chính của Alơrôlit là silic và limon Khối lượng Thạch anh chiếm 99% Ngoài ra, Alơrôlit còn chứa một số khoáng vật khác như mica, fenpat, nhưng khối lượng không đáng kể Vì vậy, đây là một loại đá nghèo

Mẫu chất tạo đất Rừng sến thuộc nhóm vỏ phong hóa tại chỗ feralit từ đá mẹ phấn sa có đặc tính chính là thành phần oxit sắt và oxit nhôm tương đương nhau Đặc điểm phụ của mẫu chất này là vẫn giữ được cấu trúc đá mẹ ban đầu Dưới sự ảnh hưởng của địa hình, mẫu chất phong hóa feralit tại chỗ được phân thành hai kiểu: mẫu chất tàn tích phân bố ở đỉnh và một phần sườn trên, trong khi mẫu chất sườn tích phân bố ở sườn.

Mẫu chất phong hóa tại chỗ và tàn tích có quá trình tích lũy sắt nhôm mạnh mẽ, dẫn đến sự chuyển hóa khoáng sét là điều tất yếu Sự chuyển hóa khoáng sét theo chiều hướng xấu làm cho đất có nhiều đặc tính không mong muốn, với quá trình chuyển đổi từ khoáng sét Monmorilonit sang Hiđromica và cuối cùng là Kaolinit.

3.1.5 Lịch sử khu rừng nghiên cứu

Người dân Tam Quy và các khu vực lân cận đã gắn bó sâu sắc với rừng Sến mật, nơi cung cấp gỗ củi, đồ mộc cao cấp và dầu hạt quý giá Ngoài ra, lá Sến mật còn được sử dụng làm dược liệu hiệu quả trong việc chữa bỏng, trong khi các sản phẩm phụ như mật ong, chim thú và cây thuốc mang lại nguồn lợi lớn Rừng Sến mật không chỉ giữ không khí trong lành mà còn cung cấp nguồn nước tưới cho mùa màng bội thu và là điểm đến cho du lịch sinh thái Để bày tỏ lòng biết ơn đối với thiên nhiên và tổ tiên đã gìn giữ tài nguyên quý giá này, rừng Sến đã được đặt tên là rừng Sến Tam Quy.

Năm 1970, rừng Sến mật thuộc quản lý của Lâm trường Hà Trung Ngày 9/8/1986, rừng Sến Tam Quy được quy hoạch thành Khu bảo tồn nguồn gen cây Sến mật theo Quyết định số 194-CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, trở thành một trong 87 khu rừng đặc dụng của Việt Nam với diện tích 350 ha (Bộ NN&PTNT, 1997) Tuy nhiên, đến năm 1992, diện tích còn lại chỉ còn 308 ha.

1996 còn lại 292 ha và đến tháng 10 năm 2000 diện tích rừng Sến chỉ còn 272,4 ha Trong thời gian này, nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo vệ rừng

Sến Tam quy, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định số 1766/QĐ-

Vào ngày 13/7/2001, UB đã phê duyệt Dự án Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy do Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng năm 2000 Tuy nhiên, do những yếu tố khách quan, Dự án chưa thể triển khai Khu vực này thuộc sự quản lý của Lâm trường Hà Trung, được đổi tên thành Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Hà Trung vào năm 2006 Nhiệm vụ chính của ban là trồng rừng Thông nhựa, khai thác và sử dụng rừng tự nhiên, cùng với việc hướng dẫn người dân trồng rừng Đến năm 2010, ban đã được đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu - Ứng dụng Khoa học công nghệ Lâm nghiệp Hiện tại, rừng Sến Tam Quy có tuổi đời khoảng 65 - 70 năm, trước đây từng có nhiều cây Sến mật mẹ lớn nhưng do nhu cầu gỗ cao, những cây này đã bị khai thác hết, đặc biệt là vào năm 1945.

1954 rừng bị khai thác một cách nghiêm trọng để lấy gỗ và sau đó tái sinh bằng chồi nên cho đến bây giờ là những cây đồng tuổi

Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội

Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy nằm trên địa bàn 3 xã: Hà Tân, Hà Lĩnh, và Hà Đông Trong khu vực bảo tồn, hiện có 2 hộ dân sinh sống, trong khi dân cư chủ yếu tập trung ở vùng đệm xung quanh Vùng đệm này bao gồm một phần diện tích của 4 xã: Hà Tân, Hà Lĩnh, và Hà Đông.

Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy gồm hai hệ tộc người:

+ Dân tộc kinh chủ yếu chiếm 99,96%

3.2.2 Dân số và lao động

Dân số và lao động Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến Tam Quy được thể hiện qua biểu sau:

Bảng 3.1 :Dân số và lực lượng lao động khu vực nghiên cứu

Tên xã Số hộ Số khẩu

Người/km 2 Tổng Nam Nữ

Khu vực 602 có mật độ dân cư khá đến trung bình, với dân số đông đúc Điều này dẫn đến áp lực cho khu bảo tồn do đất canh tác nông nghiệp hạn chế và lao động nông nghiệp dư thừa.

3.2.3 Hoạt động trồng trọt Địa hình bốn xã trong vùng đệm Khu bảo tồn là tiểu vùng đồi xen ruộng cho nên diện tích đất canh tác ít, đồng thời năng suất trồng cũng thấp và không ổn định (trước năm 1996) Kể từ năm 1996 trở lại đây, nhất là năm

Trong giai đoạn 1999-2000, nhờ vào việc chủ động trong tưới tiêu, đầu tư vào giống cây mới, phân bón và thuốc trừ sâu, năng suất cây trồng đã tăng đáng kể Tổng sản lượng lương thực tăng lên, với bình quân lương thực đầu người đạt 35,75 kg/tháng Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 9,6%, trong khi số hộ đạt mức trung bình và khá lên tới 90,4% Mặc dù chưa có hộ giàu, nhưng điều này phản ánh chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà Nước trong việc xóa đói giảm nghèo, đồng thời cho thấy sự vươn lên của người dân trong vùng đệm.

3.2.4 Hoạt động lâm nghiệp các xã vùng đệm

Trung tâm quản lý vùng đệm có diện tích 35,1 ha được giao cho thôn Thọ Lộc, xã Hà Tân, cùng với 43,3 ha được giao cho làng Tam Quy, thuộc xã khác.

Hà Tân là khu vực đã được lâm nghiệp và địa chính huyện giao khoán cho người dân sử dụng Người dân nơi đây đã trồng cây lấy gỗ củi và cây ăn trái, với nhiều diện tích đã được trồng từ 3-4 năm Điều này giúp giảm áp lực về gỗ củi của cộng đồng đối với khu bảo tồn.

3.2.5 Cơ sở hạ tầng văn hóa xã hội

Hệ thống giao thông tại khu vực bao gồm các đường liên xã và liên thôn được xây dựng bằng cấp phối, cùng với các đường đất dẫn đến các thôn làng Mỗi cụm xã đều có chợ phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và hỗ trợ sản xuất cho người dân.

- Trường học: Mỗi xã đều có trường cấp I, cấp II và mẫu giáo

- Trạm y tế: Tất cả các xã đều có 1 trạm y tế riêng xã Hà Lĩnh có 2 trạm y tế, nhân dân trong xã đều được khám chữa bệnh

- Điện sinh hoạt: Ngườ i dân trong xã 100% đã có điện sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất

- Nước sinh hoạt: Đại bộ phận ngườ i dân dùng nước sạch (Hà Đông 92,6%, Hà Lĩnh 60,2%, Hà Tân 83,95%, Hà Ninh 36,3% hộ dùng nước sạch)

- Tập quán canh tác: Ở đây chủ yếu là quảng canh, ít được chăm sóc một cách khoa học.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Tổng kết và đánh giá công tác bảo tồn rừng Sến mật Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa từ trước đến nay

4.1.1 Cơ cấu tổ chức của Khu bảo tồn thiên nhiên rừng Sến mật Tam Quy

Khu bảo tồn rừng Sến mật Tam Quy được thành lập theo Quyết định số 194 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vào ngày 9/8/1986, nhằm bảo tồn nguồn gen cây Sến mật Trước đây, khu vực này thuộc quản lý của Lâm trường Hà Trung, nhưng từ năm 2006, Lâm trường đã được đổi tên thành Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Hà Trung theo Quyết định số 1464TC/UBTH/25/11/1970 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, với nhiệm vụ chính là trồng Thông nhựa và hướng dẫn người dân trong việc trồng rừng Đến năm 2010, Ban quản lý này được đổi tên thành Trung tâm nghiên cứu - Ứng dụng Khoa học công nghệ Lâm nghiệp.

Khu BTTN đã trải qua nhiều thay đổi về nhân sự trong bộ máy quản lý, hiện tại có tổng cộng 54 cán bộ công nhân viên, bao gồm Ban giám đốc với Giám đốc và Phó giám đốc.

Khu bảo tồn hiện có 3 phòng chức năng chính là Kỹ thuật, Kế toán và Tổ chức Hành chính, cùng với 1 vườn ươm và 1 Trạm bảo vệ rừng Cơ cấu tổ chức quản lý của khu bảo tồn đã được cập nhật gần đây, như thể hiện trong hình 4.1.

Hình 4.1: Cơ cấu tổ chức Khu bảo tồn rừng Sến mật Tam Quy

Vườn ươm Trạm bảo vệ rừng

Phòng Kế toán Phòng Kế hoạch – Tổ Chức

Gần đây, bộ máy tổ chức sản xuất của Khu bảo tồn đã trở nên tinh gọn nhưng vẫn đảm bảo mọi hoạt động diễn ra thuận lợi Sự điều chỉnh và sắp xếp bộ máy tổ chức này liên tục diễn ra để phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, nhân viên Khu bảo tồn trong thời gian gần đây được mô tả tại bảng 4.1

Bảng 4.1: Kết quả điều tra về trình độ chuyên môn của cán bộ, nhân viên

Số lượng trình độ chuyên môn

Thạc sĩ Đại học Cao chú đẳng

Kết quả điều tra cho thấy trình độ chuyên môn của cán bộ Khu bảo tồn đã có sự cải thiện trong những năm gần đây, với số lượng cán bộ có trình độ thạc sỹ và đại học tăng lên đáng kể, trong khi đó trình độ cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp giảm Hiện tại, đội ngũ cán bộ nhân viên Khu bảo tồn Tam Quy có 54 người, trong đó chỉ 25 người có trình độ đại học và thạc sỹ, chiếm 46,3% Số lượng cán bộ có trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp chiếm 53,7% Mặc dù đã có sự quan tâm từ các cấp chính quyền trong việc bổ sung nhân sự, nhưng lực lượng cán bộ trong các lĩnh vực bảo tồn, giám sát đa dạng sinh học, tuyên truyền bảo vệ rừng và hướng dẫn du lịch sinh thái vẫn còn thiếu hụt.

4.1.2 Công tác bảo vệ rừng

Khu bảo tồn có tổng diện tích quy hoạch 518,5 ha, trong đó 418,1 ha là đất có rừng và 37,4 ha là đất lâm nghiệp có trảng cỏ, cây bụi Diện tích đất có rừng bao gồm nhiều loại rừng như: rừng Sến mật thuần loài (42,0 ha), rừng Sến mật + Lim xanh (145,5 ha), rừng Lim xanh + Sến mật (63,1 ha), rừng Lim xanh thuần loại (12,1 ha), rừng Sến mật + Dẻ (9,7 ha), rừng trồng Thông nhựa (169,5 ha), rừng trồng Sở (5,0 ha), và rừng trồng cây Muồng + Keo (34,2 ha).

Tổng diện tích khu bảo tồn loài Sến mật là 349 ha

Vùng đệm rộng 795,5 ha bao quanh khu bảo tồn, nằm trong địa phận các xã Hà Đông, Hà Ninh, Hà Lĩnh, và Hà Tân, chủ yếu là rừng thông nhựa với diện tích 672,5 ha.

Khu bảo tồn gặp khó khăn trong công tác quản lý và bảo vệ rừng do có nhiều hộ dân sinh sống xen kẽ Diện tích rừng Sến mật 349 ha và rừng thông nhựa 169,5 ha không được giao khoán bảo vệ cho dân, khiến Trung tâm phải đảm nhận toàn bộ công tác bảo vệ Việc thành lập các trạm bảo vệ rừng được chú trọng, nhưng lực lượng bảo vệ còn hạn chế, đặc biệt trong giai đoạn chuyển đổi từ Lâm trường sang Ban quản lý rừng phòng hộ và đặc dụng Nhà nước chỉ cấp 5 định biên cho lực lượng bảo vệ, do đó Ban quản lý phải thuê thêm 3 người để hỗ trợ công tác này.

Tính đến thời điểm hiện tại, Trung tâm chỉ còn 5 người trong lực lượng bảo vệ rừng do thiếu kinh phí hỗ trợ Lương của họ được trả theo quy định của nhà nước thông qua các định suất biên chế Đội bảo vệ rừng đang phối hợp với 3 xã để thực hiện công tác tuần tra, bảo vệ và xử lý các vi phạm.

Tình trạng xâm phạm tài nguyên rừng tại khu bảo tồn vẫn diễn ra với tần suất khác nhau, chủ yếu bao gồm khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trái phép, chăn thả gia súc, cũng như săn bắn chim thú Thống kê từ năm 2008 đến tháng 11 năm 2012 cho thấy số vụ vi phạm và đối tượng bị xử lý trong khu bảo tồn, được trình bày trong bảng 4.2.

Bảng 4.2: Tình hình xâm phạm trái phép tài nguyên rừng tại khu BTTN rừng Sến Tam Quy

Săn bắn Hành vi khác

Số đối tượng vi phạm 18 42 9 7

Số đối tượng vi phạm 13 35 20 3

Số đối tượng vi phạm 12 21 16 4

Số đối tượng vi phạm 8 18 4 3

Số đối tượng vi phạm 7 13 11 3

Tổng Số vụ vi phạm 37 107 43 17

Số đối tượng vi phạm 58 129 60 20

Từ kết quả bảng 4.2, có thể thấy rằng tình trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ diễn ra phổ biến tại khu bảo tồn, với những hoạt động này xảy ra liên tục từ năm 2008 đến cuối năm 2012.

Trong thời gian qua, đã xảy ra 107 vụ vi phạm liên quan đến việc khai thác lâm sản ngoài gỗ, bao gồm các loại Song, Mây, cây thuốc và cây cảnh, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng tại chỗ và bán ra thị trường, góp phần tạo thu nhập cho người dân địa phương Tuy nhiên, nguồn lợi từ tài nguyên rừng giáp với khu bảo tồn đang dần cạn kiệt, khiến người dân có xu hướng xâm nhập sâu vào khu bảo tồn, kể cả những khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt Hoạt động khai thác này không chỉ làm giảm tính đa dạng sinh học của rừng mà còn gây ra sự xáo trộn sinh cảnh, ảnh hưởng tiêu cực đến sự hoạt động của các loài động vật trong khu bảo tồn.

Khu bảo tồn hiện có hai loài cây quý giá là Sến mật và Lim xanh, dẫn đến tình trạng khai thác gỗ vẫn diễn ra để phục vụ nhu cầu xây dựng của người dân và thị trường tiêu thụ Với lực lượng bảo vệ mỏng và vị trí gần khu dân cư cùng tuyến đường quốc lộ 1A, việc kiểm soát vi phạm khai thác rừng trái phép gặp nhiều khó khăn Để đối phó, khu bảo tồn đã tích cực phối hợp với chính quyền địa phương và kiểm lâm huyện để tuần tra và rà soát khu vực, đồng thời xử lý nghiêm các vi phạm bằng nhiều hình thức, từ cảnh cáo đến phạt hành chính và truy tố trước pháp luật.

4.1.3.Công tác phát triển rừng

* Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh:

Khoanh nuôi và xúc tiến tái sinh tự nhiên là giải pháp quan trọng để phục hồi và phát triển vốn rừng tại khu bảo tồn Tuy nhiên, do nguồn kinh phí hạn chế, Trung tâm chỉ có thể thực hiện công tác quản lý và bảo vệ rừng mà chưa thể tiến hành khoanh nuôi để phát triển loài cây này.

Theo điều tra, tỷ lệ tái sinh cây Sến mật chủ yếu qua chồi hơn là hạt, nhưng cây con chỉ phát triển từ 0 – 100cm rồi chết, rất ít cây phát triển tốt Do đó, công tác nhân giống được Khu bảo tồn chú trọng Trung tâm đã xây dựng hệ thống vườn ươm 0,4 ha để bảo vệ và gieo ươm, đạt tỷ lệ nảy mầm 98% Sến mật cần được chăm sóc kỹ trong vườn ươm từ 1 - 2 năm, với kích thước cây đưa vào bầu ở giai đoạn đầu là 7.

Đề xuất định hướng mô ̣t số giải pháp kỹ thuâ ̣t lâm sinh góp phần bảo tồ n rư ̀ ng Sến Tam Quy

Đầu tư cho công tác bảo tồn rừng Sến mật Tam Quy là cần thiết và mang lại ý nghĩa khoa học, thực tiễn cao, vì cây Sến mật không chỉ quý hiếm mà còn đa tác dụng, góp phần bảo vệ thiên nhiên và bảo tồn nguồn gen quý Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng bảo tồn, cấu trúc và tái sinh, đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm giảm thiểu tối đa các tác động xấu đến công tác bảo tồn rừng Sến mật trong thời gian tới.

4.4.1 Định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho tầng cây cao

Trong KBT rừng Sến Tam Quy, sự cạnh tranh giữa hai loài Sến mật và Lim xanh đang diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng đến số lượng cây và không gian dinh dưỡng Hiện trạng rừng tại khu vực này đang có sự thay đổi về tổ thành loài Nếu không có biện pháp kịp thời để điều chỉnh không gian dinh dưỡng cho cây Sến mật, cây này sẽ bị chèn ép, không đủ điều kiện sống và có nguy cơ bị chết.

Tổ thành tầng cây cao tại khu vực nghiên cứu chủ yếu gồm hai loài ưu thế là Sến mật và Lim xanh, trong khi các loài khác chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể Kiểu rừng nghiên cứu là rừng thuần loài Sến mật, với sự kết hợp ưu việt giữa Lim xanh và Sến mật Tuy nhiên, hiện tại, tán cây Lim xanh đã che lấp và chèn ép cây Sến mật.

Để Sến mật phát triển tốt, cần tỉa thưa Lim xanh để giảm mật độ và tạo không gian dinh dưỡng Việc mở tán nên thực hiện theo lộ trình, không nên mở quá mạnh ngay lập tức để tránh đổ vỡ và giúp Sến mật thích nghi Giai đoạn đầu có thể điều chỉnh khoảng 30%.

Mật độ tầng cây cao trong khu vực nghiên cứu dao động từ 319-333 cây/ha, trong đó mật độ Sến mật chỉ từ 186-237 cây/ha, cho thấy cần theo dõi sự sinh trưởng và phát triển của loài này để nắm bắt tình hình biến động trong rừng Hiện tại, mật độ Sến mật đang ở mức thấp, do đó việc điều chỉnh mật độ là rất cần thiết Biện pháp điều chỉnh có thể thông qua việc xúc tiến tái sinh tự nhiên, trồng bổ sung ở những khu vực có mật độ Sến mật thấp, và thực hiện chặt tỉa những cây có phẩm chất kém, sâu bệnh, cong queo tại những nơi có mật độ cây tập trung, nhằm tạo không gian dinh dưỡng thuận lợi cho sự phát triển của cây.

Cấu trúc tầng thứ trong rừng được xác định dựa trên chiều cao và đường kính của hai loài chủ yếu là Lim xanh và Sến mật Để giảm thiểu sự cạnh tranh giữa Lim xanh và Sến mật, cần thiết phải thực hiện các biện pháp lâm sinh phù hợp Việc xem xét trắc đồ đứng và trắc đồ ngang của lâm phần sẽ giúp xác định các giải pháp hiệu quả.

Tỉa thưa là một phương pháp quan trọng nhằm loại bỏ các cành, nhánh và cây chèn ép Sến mật, từ đó tạo điều kiện tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của loài này Để thực hiện tỉa thưa, cần xây dựng hồ sơ thiết kế và đánh dấu cây để được phê duyệt trước khi tiến hành Trong quá trình tỉa thưa, cần chú ý đến hướng đổ của cành để không làm ảnh hưởng đến các cây còn lại Ngoài ra, có thể thử nghiệm các mô hình điều khiển diễn thế Lim xanh – Sến mật với các cường độ chặt tỉa thưa khác nhau nhằm bảo tồn loài Sến mật.

Chăm sóc rừng Sến mật bao gồm việc phát bỏ cây bụi và dây leo, nhằm đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển của cây Sến mật Nên thực hiện công tác chăm sóc này từ 1 đến 2 lần mỗi năm để đạt hiệu quả tốt nhất.

4.4.2 Định hướng một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho tầng cây tái sinh Đại bộ phận diện tích Sến mật tái sinh chồi ở tuổi cây mạ với chiều cao từ

Chiều cao của cây Sến mật tái sinh thường chỉ đạt từ 10 đến 100cm, trừ những khu vực xa xôi, ít tác động môi trường mới có thể thấy cây phát triển vượt quá 100cm Nguyên nhân chính khiến cây Sến mật không phát triển là do thảm thực bì quá dày, gây cản trở ánh sáng cần thiết cho sự sinh trưởng Cây Sến mật yếu ớt thường bị thảm thực bì lấn át và chết ở giai đoạn cây mạ Để bảo tồn và phát triển loài Sến mật trong khu bảo tồn, cần áp dụng các biện pháp lâm sinh để điều chỉnh không gian dinh dưỡng, như hạ thấp độ tàn che của Lim xanh trong các khu vực có sự kết hợp giữa Sến mật và Lim xanh.

Trong quá trình nuôi dưỡng và phục hồi rừng, cần nâng cao tỷ lệ cây tái sinh, đặc biệt là các loài cây có mục đích như Sến mật Điều này có thể đạt được thông qua các biện pháp như tỉa thưa cây mẹ có mục đích, loại bỏ cây già cỗi, sâu bệnh và kém phẩm chất, đồng thời giữ lại các cây mẹ khỏe mạnh Bên cạnh đó, việc cuốc xới quanh cây mẹ, bón phân và vun gốc cũng góp phần tạo môi trường thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây.

Tỷ lệ và chất lượng cây tái sinh của loài Lim xanh cao hơn so với loài Sến mật, vì vậy cần áp dụng các biện pháp như nhổ bỏ cây Lim xanh để điều chỉnh mật độ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Sến mật tái sinh.

Hiện nay, tỷ lệ tái sinh của cây Sến mật chủ yếu thông qua chồi, trong khi tái sinh bằng hạt còn thấp Để cải thiện tình hình, cần triển khai tái sinh nhân tạo bằng cách gieo trồng cây con từ hạt hoặc ươm hạt để tạo ra cây con, đồng thời trồng dặm ở những khu vực có mật độ Sến mật thấp Độ che phủ của tầng cây bụi hiện khá lớn và chiều cao của chúng vượt quá tầng cây tái sinh, vì vậy cần thiết phải phát quang cây bụi xung quanh cây mẹ và điều chỉnh chiều cao của tầng cây bụi, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cây tái sinh phát triển.

KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYỄN NGHỊ

Từ những kết quả đã nghiên cứu, đề tài rút ra một số kết luận sau:

Khu bảo tồn có diện tích 518,5 ha, trong đó 349 ha là rừng Sến mật Mặc dù nhận được sự quan tâm từ các cấp chính quyền, khu bảo tồn mới chỉ thực hiện công tác bảo vệ Từ năm 2002 đến 2005, Trung tâm đã trồng được 56 ha rừng Sến mật thuần loài dưới tán Keo lá chàm Kết quả điều tra sinh trưởng năm 2002 cho thấy đường kính trung bình đạt 4,16 cm và chiều cao trung bình là 4,27 m.

Khu bảo tồn đã tích cực nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn rừng Sến mật thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và nghiên cứu khoa học, phối hợp với chính quyền địa phương, trường học, đài truyền thanh và báo chí Tuy nhiên, do hạn chế về kinh phí, nhiều hoạt động cần thiết như đóng cọc mốc ranh giới khu bảo tồn, xây dựng hệ thống băng cản lửa, chòi canh và trang thiết bị vẫn chưa được thực hiện, mặc dù đã có trong quy hoạch.

- Về thực trạng cấu trúc rừng:

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), số 175/1998/QĐ- BNN/KHCN ngày 4/11/1998 Quyết định ban hành Quy phạm phục hồi khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21- 98) 2. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000), Thực vật rừng, Giáo trình TrườngĐại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy phạm phục hồi khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung" (QPN 21- 98) 2. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền (2000), "Thực vật rừng
Tác giả: Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1998), số 175/1998/QĐ- BNN/KHCN ngày 4/11/1998 Quyết định ban hành Quy phạm phục hồi khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 21- 98) 2. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyền
Năm: 2000
3. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên
Tác giả: Lê Trọng Cúc
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
4. Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Vĩnh, Lâm Xuân Sanh, Nguyễn Hữu Lộc (1992), Lâm sinh học, Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm sinh học
Tác giả: Ngô Quang Đê, Triệu Văn Hùng, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Vĩnh, Lâm Xuân Sanh, Nguyễn Hữu Lộc
Nhà XB: Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1992
5. Nguyễn Thành Huân (1997), “Nghiên cứu một số đặc tính lâm học của loài Sến mật tại Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất các biện pháp làm giàu rừng tại khu vực này”, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu một số đặc tính lâm học của loài Sến mật tại Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất các biện pháp làm giàu rừng tại khu vực này”
Tác giả: Nguyễn Thành Huân
Năm: 1997
9. Đào Công Khanh (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn, Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng
Tác giả: Đào Công Khanh
Năm: 1996
10. Trương Thanh Khai (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài Sến mật tại Phong Nha- Quảng Bình, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài Sến mật tại Phong Nha- Quảng Bình
Tác giả: Trương Thanh Khai
Năm: 1996
11. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1997), Bảo tồn nguồn gen cây rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn nguồn gen cây rừng
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
12. Nguyễn Hoàng Nghĩa (1999), Một số loài cây bị đe dọa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, trang 98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số loài cây bị đe dọa ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phí Hồng Hải (2010), “Công tác bảo tồn nguồn gen cây rừng giai đoạn 1996 – 2010”, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ Lâm nghiệp với phát triển rừng bền vững và Biến đổi khí hậu, trang 45 – 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác bảo tồn nguồn gen cây rừng giai đoạn 1996 – 2010”, "Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Công nghệ Lâm nghiệp với phát triển rừng bền vững và Biến đổi khí hậu
Tác giả: Nguyễn Hoàng Nghĩa, Phí Hồng Hải
Năm: 2010
14. Nguyễn Quảng Phú, 1998, Nghiên cứu tình hình sinh trưởng và sản lượng quả của loài Sến mật tại Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá, Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình sinh trưởng và sản lượng quả của loài Sến mật tại Tam Quy, Hà Trung, Thanh Hoá
15. Đỗ Đình Tiến và cộng sự (2007), Nghiên cứu bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm, đặc hữu ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Báo cáo khoa học, Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm, đặc hữu ở Vườn quốc gia Tam Đảo
Tác giả: Đỗ Đình Tiến và cộng sự
Năm: 2007
16. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật rừng Việt Nam trên quan điểm hệ sinh thái
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
17. Trần Đức Việt (2012), Nghiên cứu đặc điểm phân bố và khả năng tái sinh tự nhiên của loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubar)H. J. Lam) tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Luận văn thạc sỹ khoa học Lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm phân bố và khả năng tái sinh tự nhiên của loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubar)H. J. Lam) tại Vườn quốc gia Tam Đảo
Tác giả: Trần Đức Việt
Năm: 2012
18. Phạm Quang Vinh (2001), “Phẩm chất gieo ươm của loài Sến mật có xuất xứ tại Tam Quy – Thanh Hóa” Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (số 8), trang 116 – 120 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẩm chất gieo ươm của loài Sến mật có xuất xứ tại Tam Quy – Thanh Hóa” "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (số 8)
Tác giả: Phạm Quang Vinh
Năm: 2001
19. Phạm Quang Vinh (2010), “Một số đặc điểm lâm học loài Sến mật (Madhuca pasquieri H.J.Lam) tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 5/2010, trang 119 – 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm lâm học loài Sến mật (Madhuca pasquieri H.J.Lam) tại khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang”, "Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn số 5/2010
Tác giả: Phạm Quang Vinh
Năm: 2010
21. Gilmour, DA and Nguyen Van San (1999), Buffer Zone management in Viet Nam, Ha Noi, IUCN Vietnam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Buffer Zone management in Viet Nam
Tác giả: Gilmour, DA and Nguyen Van San
Năm: 1999
23. Proffenberger, M&amp;MC Grean, Bo(eds) (1993), Community allies: forest co-management in Thai Land, Research network report, No.2, southeast Asia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Community allies: forest co-management in Thai Land
Tác giả: Proffenberger, M&amp;MC Grean, Bo(eds)
Năm: 1993
24. Schachenmann P. (1999), “Andringitra National Pack (Madagascar): A success of learning by doing” CM News, Newsletter of the IUCN Collaborative Management Working Group, No.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Andringitra National Pack (Madagascar): A success of learning by doing” "CM News, Newsletter of the IUCN Collaborative Management Working Group
Tác giả: Schachenmann P
Năm: 1999
25. Sherry, E.E. (1999), ”Protected Areas and Aboriginal Interest”, At Home in the Canadian Arctic Wilderness, International Journal of Wilderness, vol.5, no.2, 16- Sách, tạp chí
Tiêu đề: At Home in the Canadian Arctic Wilderness, International Journal of Wilderness
Tác giả: Sherry, E.E
Năm: 1999
22. Nick Salafsky(2000), Biodiversity support programe. Washington, DC, USA: Linking livehoods and conservation: A conceptual framework and scale for assesing the Intergation of human needs and Biodiversity Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w