1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất các giải pháp quy hoạch sử dụng đất tại xã hồng phong huyện bắc bình tỉnh bình thuận

107 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Cơ Sở Lý Luận Và Thực Tiễn Làm Căn Cứ Đề Xuất Các Giải Pháp Quy Hoạch Sử Dụng Đất Tại Xã Hồng Phong, Huyện Bắc Bình, Tỉnh Bình Thuận
Tác giả Nguyễn Thị Danh Lam
Người hướng dẫn TS. Lê Sỹ Việt
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Đồng Nai
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân cấp hạng đất và phương pháp ti

Trang 1

NGUYỄN THỊ DANH LAM

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIỄN LÀM CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI XÃ HỒNG

PHONG, HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ ngàn xưa đất đai đã gắn bó với người dân Việt Nam, trở thành một phần trong cuộc sống của người dân Việt Đất đai là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Đất đai là tài sản quý báu của mỗi đất nước Do đó việc sử dụng đất đai hợp lý , có hiệu quả, bảo vệ đất bền lâu đang là vấn đề quan tâm hàng đầu ở nước ta Khai thác hợp lý nguồn tài nguyên đất đai đang là mục tiêu chiến lược của một nền nông lâm nghiệp sinh thái

Qui hoạch sử dụng đất là một trong những hoạt động rất quan trọng, đặc biệt đối với sản xuất lâm nông nghiệp Do đặc điểm của Việt Nam là địa hình đa dạng phức tạp, phân hoá mạnh, cùng với nền kinh tế xã hội và nhu cầu của người dân trong nền kinh tế thị trường cũng hết sức phong phú Nên việc qui hoạch sử dụng đất cho các cấp quản lý, các đơn vị sản xuất kinh doanh … đã ngày càng trở thành một đòi hỏi thực tế khách quan Qui hoạch sử dụng đất là tiền đề vững chắc cho bất

kỳ giải pháp nào nhằm phát huy đồng thời những tiềm năng to lớn nhưng cực kỳ đa dạng của đất đai và các điều kiện tự nhiên - kinh tế và xã hội khác, góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững ở địa phương và quốc gia Điều đó chứng tỏ rằng để việc sản xuất kinh doanh có hiệu quả hay sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý - bền vững cần phải có công tác qui hoạch sử dụng đất và công tác qui hoạch sử dụng đất cần phải được đi trước một bước trước khi các hoạt động khác diễn ra

Với tính chất và vai trò quan trọng như vậy, cùng với sự phát triển của xã hội loài người, QHSDĐ không ngừng phát triển và hoàn thiện, từ thực tiễn được tổng hợp thành lý luận và trở thành một phần không thể thiếu được trong sự phát triển của xã hội nói chung và trong phát triển kinh tế xã hội của nông thôn miền núi nước

ta nói riêng

Cấp xã là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống các đơn vị quản lý lãnh thổ hành chính, được coi là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp của các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân QHSDĐ cấp xã không những giải quyết được các nội dung sản xuất, giải quyết kinh tế, kỹ thuật và xã hội cụ thể, chi tiết mà

Trang 3

còn ước tính được đầu tư nguồn vốn và hiệu quả đầu tư về các mặt kinh tế - xã hội

và môi trường

Trong những năm gần đây, tiến hành QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân bước đầu được áp dụng trên địa bàn NTMN nước ta Tuy nhiên, có thể thấy QHSDĐ cấp vi mô hiện nay đang còn nhiều vấn đề cần tiếp tục được nghiên cứu để đi đến hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác này

Hồng Phong là một xã miền núi của huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận Hiện tại trên địa bàn huyện Bắc Bình còn nhiều xã chưa có QHSDĐ, hệ thống canh tác còn lạc hậu, người dân thiếu vốn sản xuất, thiếu kiến thức, việc áp dụng khoa học

kỹ thuật hiện đại và công nghệ tiên tiến vào sản xuất còn nhiều hạn chế, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mà chủ yếu chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi còn nhiều lúng túng Do vậy, một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đặt ra hiện nay là tiến hành QHSDĐ cho các xã dựa trên phương pháp PRA có sự tham gia của người dân kết hợp với kỹ thuật canh tác NLKH và áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất nhằm tạo cơ hội cho người dân tự phân tích, giác ngộ đồng thời giúp người dân

đề xuất được cơ cấu vật nuôi, cây trồng phù hợp với gia đình và phù hợp với nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ nhận thức và thực tiễn trên, để góp phần hệ thống lại lý luận QHSDĐ cấp xã và giúp các xã vận dụng phù hợp với điều kiện địa phương, làm sao kết hợp hài hoà ưu tiên, định hướng của nhà nước với nhu cầu, nguyện vọng của

nhân dân địa phương Chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu cơ sở lý

luận và thực tiễn làm căn cứ đề xuất các giải pháp QHSDĐ tại xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận”

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới

1.1.1 Những nghiên cứu liên quan đến cơ sở khoa học của QHSDĐ vĩ mô

Công trình nghiên cứu về QHSDĐ đã được quan tâm từ thế kỷ 19 Các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực này liên tục phát triển cả về mặt số lượng lẫn chất lượng Và đã đạt được những thành tựu về phân loại đất và xây dựng bản đồ đất, được sử dụng làm cơ sở cho việc tăng năng suất và sử dụng đất đai một cách có hiệu quả Các công trình nghiên cứu về QHSDĐ đều xuất phát từ nhu cầu đòi hỏi thực tế khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của xã hội

Khái niệm về ''Các khu vực trung tâm'' cho quy hoạch vùng đã được

Chrittaller đề cập vào năm 1933 [39] Với cơ sở trên, việc phân chia đất đai theo địa

lý với vùng sản xuất là nền tảng để quy hoạch vùng cho sản xuất nông lâm nghiệp

Vào những năm 30 - 40 quy hoạch ngành bắt đầu xuất hiện, giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng Thời kỳ những năm 50 đến những năm 70 trên thế giới nhấn mạnh nhiều đến nghiên cứu về đánh giá đất đai trong QHSDĐ Các tài

liệu chuyên khảo của Jacks G.V đã cho ra đời chuyên khảo đầu tiên về ''Phân loại

đất đai cho QHSDĐ'' [44]

Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifitng cultivation),

đó chính là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được phát quang để canh tác trong một thời gian, ngắn hơn thời gian bỏ hoá (Conklin, 1957) Du canh được xem là phương thức canh tác cổ xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người đã tích luỹ được những kiến thức ban đầu về tự nhiên Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng những cuộc cách mạng về kỹ thuật và trồng trọt Tuy nhiên, về chiến lược phát triển kinh tế bền vững, du canh không được nhiều Chính phủ và cơ quan quốc tế coi trọng Bởi du canh được coi như sự phí phạm về sức người, tài nguyên đất đai, là nguyên nhân chính gây nên xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tình trạng sa mạc hoá xảy ra nghiêm trọng

Trang 5

Như vậy, có thể thấy du canh là một hệ thống canh tác, trong đó các loài cây nông nghiệp và lâm nghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau, còn Taungya bao gồm sự kết hợp đồng thời của cả hai loài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trồng Đứng trên quan điểm sử dụng, quản lý đất thì cả hai quá trình trên đều có một điểm tương đồng là những cây nông nghiệp được sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phì của đất được tăng lên chính nhờ thảm mục của cây gỗ

Theo FAO, hiện nay dân số thế giới đã lên tới khoảng trên 6 tỉ người, đang

sử dụng 1,476 tỉ ha đất nông nghiệp Trong đó đất có độ dốc trên 10 độ (đất đồi, núi) là 937 triệu ha chiếm 63,5% (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989)

Cũng theo FAO, đến năm 1980 các loại hình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm tới 45% diện tích đất nông nghiệp Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hóa đất làm giảm năng suất cây trồng Để đáp ứng nhu cầu của mình, con người ngày càng xâm hại đến rừng để lấy lâm sản và đất canh tác, làm cho diện tích đất rừng ngày càng thu hẹp, đe dọa đến môi trường sống

Vì vậy để thỏa mãn nhu cầu về lương thực ngày càng cao, con người tìm cách giải quyết theo một trong hai hướng chính đó là: Tăng năng suất cây trồng bằng việc tận dụng tối đa tiềm năng của các loại đất, thâm canh tăng mùa vụ và mở rộng diện tích canh tác Để làm được điều đó thì công tác điều tra, khảo sát, phân loại và đánh giá đất đai để tìm ra giải pháp sử dụng đất có hiệu quả nhất trên cơ sở QHSDĐ hợp lý, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp tiềm năng của đất đai cho các mục tiêu sử dụng bền vững đã trở thành một yêu cầu rất bức thiết

Công cuộc tìm giải pháp nhằm nâng cao sản lượng lương thực và khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực, đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu tìm giải pháp về sử dụng đất đai bền vững Một trong những thành công của quá trình nghiên cứu đó là đã tìm ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm sử dụng đất dốc bền vững và được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mintanao Philippin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay [9]

Trang 6

- Mô hình SALT 1 (Sloping Agriculture Land Technology) với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (NN) + 50% cây nông nghiệp hàng năm

- Mô hình SALT 2 (Simple Agro - Livestock Technology) với cơ cấu 40%

NN + 20% LN + 20% chăn nuôi +20 % làm nhà ở và chuồng trại

- Mô hình SALT 3 (Sustainable Agro - Forest land Technology) với cơ cấu 40% NN + 60% LN

- Mô hình SALT 4 (Small Agro - Fruit Likelihood Technology) với cơ cấu 60% LN + 15% NN + 25% cây ăn quả

- Mô hình Taungya ở Thái Lan là mô hình làng lâm nghiệp, trong đó Nhà nước cấp đất để làm nhà ở và vườn là 0,16 ha và mỗi hộ có 1,6 ha để trồng rừng, trồng cây nông nghiệp Nhà nước còn hỗ trợ làm đường giao thông, y tế, giáo dục

- Tại Việt Nam năm 1996, tác giả Trần An Phong nghiên cứu các mô hình sử dụng đất dốc đã đi đến kết luận biện pháp sử dụng đất có hiệu quả là bố trí một chế

độ thâm canh hợp lý, triệt để lợi dụng nước trời, áp dụng các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ, giữ độ ẩm tối đa trong các lớp đất đảm bảo cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt [20]

- Tại Việt Nam năm 1996, trong công trình “ QHSDĐ nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi Việt Nam ”, Bùi Quang Toản đã đề xuất sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi và trung du [29] Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997) trong chương trình tập huấn hỗ trợ LNXH của trường Đại học Lâm nghiệp đã đưa

ra khái niệm về hệ thống sử dụng đất và đề xuất một số hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất bễn vững trong điều kiện Việt Nam [12] Trong đó, các tác giả đã đi sâu phân tích về:

Trang 7

Các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài hoà giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở có sự nghiên cứu phân bổ các loại đất đai một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và bền vững nhất về mặt môi trường sinh thái

Kết quả tổng kết các tài liệu nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch phát triển địa phương chỉ ra rất nhiều cách tiếp cận: Tiếp cận “nông thôn - trở lại-nông thôn” của Robert (Rhoades Rhoades, 1982); Tiếp cận của Robert Chambers; Tiếp cận “chẩn đoán và thiết kế của ICRAF” (Raintree); Tiếp cận của L.W.Harrington….Nhìn chung các phương pháp tiếp cận đi theo 2 hướng chính đó là: Tiếp cận từ trên xuống (Top-down approach) và tiếp cận từ dưới lên (Boottom-

up approach) Cách tiếp cận thứ nhất ngày càng bộc lộ những hạn chế, kém hiệu quả khi không có sự tham gia của cộng đồng và khi các chương trình thực hiện ở cấp vi

mô Cách tiếp cận thứ 2 được hình thành khi các nhà xã hội học chứng minh rằng sự

“không thể thiếu được” vai trò của cộng đồng nông thôn trong quản lý tài nguyên cộng đồng (Robert Chambers) Từ đó “Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng” (Community-based Planning) bắt đầu xuất hiện Khi nghiên cứu hệ thống canh tác năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn "Phát triển hệ thống canh tác" Công trình

đã chỉ rõ những ưu thế và hạn chế của 2 phương pháp tiếp cận trên [9]

Những kết quả phân tích hệ thống canh tác xác nhận rằng phân tích hệ thống canh tác là một công cụ của quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất nông lâm nghiệp cấp địa phương

Trong giai đoạn này, phát triển công nghệ có sự tham gia cũng được ứng dụng rộng rãi Phát triển công nghệ có sự tham gia (Participatory Technology Development - PTD) hay còn gọi là phát triển công nghệ cùng với người nông dân chính là sự kết hợp kiến thức và năng lực nghiên cứu của những cộng đồng địa phương và các tổ chức phát triển trong quá trình học hỏi lẫn nhau nhằm mục đích tăng cường kinh nghiệm và khả năng quản lý kỹ thuật của cộng đồng và người dân địa phương bằng chính nội lực của họ, trong đó hoạt động của người dân giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ tiến trình Tuy nhiên, phát triển công nghệ có sự tham gia đòi

Trang 8

hỏi có nhiều thời gian, sự kiên nhẫn và nhiệt thành từ phía những người bên ngoài - nhà nghiên cứu và các cán bộ khuyến nông lâm

1.1.2 Các nghiên cứu có liên quan đến phương pháp QHSDĐ cấp địa phương

Cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 các phương pháp điều tra, đánh giá truyền thống dần được thay thế bằng các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA), đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) được khởi xướng và ứng dụng đầu tiên ở Ấn Độ và được các nhà khoa học nghiên cứu, phát triển hoàn thiện dần Phương pháp này đã chứng minh ưu thế và hiệu quả nổi trội ở các quốc gia, vùng lãnh thổ Những thử nghiệm các phương pháp RRA vào thập kỷ 80 và PRA đầu thập kỷ 90 trong phát triển nông thôn và lập kế hoạch sử dụng đất được thực hiện trên 30 nước phát triển (Chambers, 1994) [38] Đặc biệt phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho QHSDĐ vi mô được nghiên cứu rộng rãi Một số kết quả thử nghiệm phân tích hệ thống canh tác tại Châu Âu, Châu Phi và Nam Mỹ đã chứng minh phân tích hệ thống canh tác là công

cụ trong quy hoạch cấp địa phương

1.1.3 Những nghiên cứu liên quan đến QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân

Từ cuối thập niên 70 vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của người dân được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và công bố kết quả Các phương pháp điều tra đánh giá cùng tham gia như đánh giá nông thôn, nông thôn tham gia đánh giá (PRA), phương pháp phân tích các hệ thống canh tác cho QHSDĐ được nghiên cứu rộng rãi Một trong những nghiên cứu có giá trị đó là tài liệu hội thảo giữa trường đại học Lâm nghiệp Việt Nam và trường tổng hợp kỹ thuật Dresden, vấn đề QHSDĐ có sự tham gia của người dân đã được Holm Uibrig đề cập khá đầy đủ và toàn diện Tài liệu đã phân tích một cách đầy đủ về mối quan hệ giữa các loại hình canh tác có liên quan như: Quy hoạch rừng, vấn đề phát triển nông thôn, QHSDĐ, phân cấp hạng đất và phương pháp tiếp cận mới trong QHSDĐ

Năm 1985, một nhóm chuyên gia tư vấn quốc tế về QHSDĐ được tổ chức

Trang 9

FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình QHSDĐ với 4 câu hỏi:

1) Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu của quy hoạch là gì?

2) Có các phương án sử dụng đất nào đang tồn tại?

3) Phương án nào là tốt nhất?

4) Có thể vận dụng vào thực tế như thế nào?

- Năm 1985, tại Hội nghị RRA ở Đại học KhonKean (Thái Lan) từ “Sự tham

gia/người tham gia” được sử dụng với sự tiếp tục của RRA

Tại Hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề QHSDĐ cấp làng xã

đã được FAO đề cập khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất cấp làng xã [42] Nội dung chủ yếu của quy trình QHSDĐ bao gồm:

- Sự tham gia của người dân trong hoạt động thực thi QHSDĐ và giao đất + Đào tạo cán bộ và chuẩn bị

- Xác định đất canh tác nông nghiệp

- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng và chuyển nhượng đất nông-lâm nghiệp

- Mở rộng quản lý sử dụng đất

- Kiểm tra và đánh giá

- Từ thời điểm năm 1987 đến năm 1988, người ta chia ra 4 loại RRA:

+ RRA cùng tham gia (Participatory RRA)

+ RRA thăm dò (Exploratory RRA)

+ RRA chủ đề (Topical RRA)

+ RRA giám sát (Monotoring RRA)

Trong đó: RRA cùng tham gia là giai đoạn chuyển đổi đầu tiên sang PRA

Trang 10

- Tiếp theo đó là sự tiếp nhận PRA của các tổ chức quốc tế như: Ford Foundation, SIDA Hiện tại đã có tài liệu chuyên khảo về PRA ở mức độ quốc tế

- Đến năm 1994 đã có 2 cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại Ấn Độ, đến nay hầu hết các nước đã và đang áp dụng PRA vào phát triển các lĩnh vực:

+ Quản lý tài nguyên thiên nhiên

- Sự tham gia của người dân trong những hoạt động thực thi QHSDĐ và giao đất: + Đào tạo cán bộ và chuẩn bị

- Xác định đất canh tác nông nghiệp

- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng (khế ước) và chuyển nhượng đất nông lâm nghiệp

- Mở rộng quản lý và sử dụng đất

- Kiểm tra và đánh giá

Trang 11

Những tài liệu hướng dẫn trên là phương tiện tốt để tiến hành QHSDĐ cho cấp xã theo phương pháp cùng tham gia

Tại Hội thảo quốc tế tại Việt Nam năm 1998 về vấn đề QHSDĐ cấp làng xã

đã được FAO đề cập khá chi tiết cả về mặt khái niệm lẫn sự tham gia trong việc đề xuất các chiến lược QHSDĐ và giao đất cấp làng xã [42] Nội dung chủ yếu của quy trình QHSDĐ bao gồm:

- Sự tham gia của người dân trong hoạt động thực thi QHSDĐ và giao đất

+ Đào tạo cán bộ và chuẩn bị + Hội nghị làng và chuẩn bị

- Điều tra ranh giới làng, khoanh vẽ đất đang sử dụng và xây dựng bản đồ sử dụng đất

- Thu thập số liệu và phân tích

- QHSDĐ đai và giao đất

- Xác định đất canh tác nông nghiệp

- Sự tham gia của người dân trong hợp đồng và chuyển nhượng đất nông-lâm nghiệp

Năm 1993, nhóm công tác Quốc tế đã kiến nghị một khung đánh giá hệ

thống quản lí và sử dụng đất bền vững và định nghĩa như sau: "Quản lý sử dụng đất

bền vững" bao hàm các quy trình công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm hội

nhập những nguyên lý kinh tế xã hội với các mối quan tâm về môi trường sao cho

có thể đồng thời: Duy trì nâng cao sản xuất và dịch vụ, giảm thiểu sự rủi ro cho sản xuất, bảo vệ tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá chất lượng đất, có khả năng thực thi về kinh tế, có thể chấp nhận được về mặt xã hội

Trang 12

Cùng với nguyên tắc trên, Dumanski [41] cũng đã đề xuất các chỉ tiêu để đánh giá và giám sát việc sử dụng đất bền vững Các chỉ tiêu này bao gồm: Năng suất cây trồng, cân bằng dinh dưỡng, sự bảo toàn độ che phủ đất, chất lượng, số lượng đất, chất lượng, số lượng nước, lợi nhuận nông trại và sự áp dụng các biện pháp bảo vệ đất Các chỉ tiêu này là cơ sở quan trọng để phân tích đánh giá các hệ thống sử dụng đất về tính bền vững, thiết lập nền móng cho chiến lược sử dụng hợp

lý và bảo vệ tài nguyên đất

Một mô hình sử dụng đất tổng hợp, bền vững phải đáp ứng một số nội dung sau:

- Giải quyết được nhiều vấn đề đặt ra cho mọi người ở từng bản làng, buôn sóc, ở từng địa phương, trong cả nước và trên toàn cầu

- Tổng hợp được các hiểu biết truyền thống với khoa học hiện đại, vận dụng thích hợp cho từng nơi

- Lấy các hệ thống thiên nhiên làm mẫu chuẩn, bắt chước các hành động hoà hợp với thiên nhiên

- Tạo lập ra các mô hình định canh lâu bền bằng việc xây dựng phù hợp với điều kiện sinh thái từng nơi Để đảm bảo sử dụng đất mang tính tổng hợp bền vững cần thực hiện theo các nguyên tắc sau:

+ Đa dạng hoá các loại hình sản xuất, các chế độ canh tác, các loại hình sản phẩm, các dạng hình sinh thái

+ Kết hợp nhiều ngành nghề: Nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản

+ Ngăn ngừa được những tai biến môi trường, những rủi ro và nạn ô nhiễm, suy thoái

+ Sử dụng được các động thực vật hoang dã, các loài cây bản địa, các loài cây quý hiếm, đa tác dụng

+ Tận dụng các nguồn tài nguyên: Đất, nước, năng lượng sinh học làm cho

nó được bảo toàn, tái tạo, tự điều chỉnh và tự tái sinh

+ Sử dụng được đất theo quy mô nhỏ, thâm canh hiệu quả, được quản lý, chăm sóc, bảo vệ và phục hồi đất

Trang 13

1.1.5 Những kết luận rút ra từ kinh nghiệm của thế giới

Từ các tài liệu nghiên cứu và kinh nghiệm QHSDĐ trên thế giới cho phép rút

ra một số kết luận sau:

- Hầu hết các phương pháp QHSDĐ chủ yếu tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế, chưa thực sự quan tâm đến xã hội và bảo vệ môi trường nên tính bền vững chưa cao

- Thiếu sự phối kết hợp giữa các ngành kinh tế trong việc xây dựng phương

án QHSDĐ dẫn tới việc lúng túng, chồng chéo trong sử dụng đất ở địa phương

- Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng là QHSDĐ, kết hợp quy hoạch từ trên xuống bằng các định hướng chiến lược và ưu tiên phạm

vi vùng với nhu cầu của cộng đồng thông qua quy hoạch phát triển và xây dựng kế hoạch cấp thôn bản

- Hệ thống canh tác trên đất dốc, quan điểm sử dụng đất bền vững là những giải pháp quan trọng và là cơ sở cho QHSDĐ cấp vi mô

1.2 Ở Việt Nam

1.2.1 Một số nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ

Ở Việt Nam, những hiểu biết và kinh nghiệm sử dụng đất đã bắt đầu được chú ý

và tổng hợp thành tài liệu từ thế kỷ 15 Lê Quý Đôn trong Vân Đài Loại Ngữ đã khuyên nông dân áp dụng luân canh với cây họ đậu để tăng năng suất lúa

Thời Pháp thuộc, những nghiên cứu về đất đai chủ yếu được tiến hành qua các nhà khoa học Pháp

Sang giai đoạn 1955 đến 1975, cả hai miền Bắc - Nam đều đã chú ý vào phân loại đất đai Từ sau năm 1975, về nghiên cứu đánh giá đất đai gắn với mục tiêu sử dụng đạt được nhiều thành tích, nhất là từ sau năm 1980, với những công trình nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá đất do FAO đề xuất Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu phân hạng đất dựa trên cơ sở vùng địa lý thổ nhưỡng, cây trồng, tính đặc thù của địa phương, trình độ thâm canh và năng suất cây nông nghiệp Những thành tựu nghiên cứu về đất đai trong các giai đoạn trên, là cơ sở

Trang 14

quan trọng góp phần vào việc bảo vệ, cải tạo, quản lý và sử dụng đất đai một cách

có hiệu quả trong cả nước

Tuy nhiên, ở nước ta, vấn đề QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân mới được nghiên cứu và ứng dụng trong những năm gần đây Về cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ cấp vi mô thực chất đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu, song mức độ đề cập có khác nhau, và còn nằm tản mạn trong nhiều công trình nghiên cứu mà chưa được phân tích, đánh giá và tập hợp thành cơ sở lý luận và thực tiễn Về vấn đề này đáng chú ý là công trình sử dụng đất tổng hợp và bền vững của Nguyễn Xuân Quát (1996) - Công trình đã nêu lên [21]:

- Những điều cần biết về đất đai

- Tình hình sử dụng đất đai ở Việt Nam, thế nào là sử dụng đất tổng hợp và bền vững

- Các mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững

- Mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng

- Cây trồng trong mô hình sử dụng đất tổng hợp và bền vững

Nguyễn Ngọc Bình (1996), trong công trình - Đất rừng Việt Nam đã trình bày [1]:

- Quan điểm nghiên cứu và phân loại đất rừng

- Những đặc điểm cơ bản của đất rừng Việt Nam

Bùi Quang Toản (1996), trong công trình - QHSDĐ nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta, đã phân tích mở rộng đất nông nghiệp vùng đồi trung du [29]

Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997), trong chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của ĐHLN về - Khái niệm về hệ thống sử dụng đất (Phần các hệ thống

và kỹ thuật sử dụng đất bền vững) - Các tác giả đã nêu lên những vấn đề cơ bản về

hệ thống sử dụng đất bền vững [12]:

- Quan điểm về tính bền vững

- Khái niệm tính bền vững và phát triển bền vững

- Hệ thống sử dụng đất bền vững

Trang 15

- Kỹ thuật sử dụng đất bền vững

- Các chỉ tiêu đánh giá tính bền vững trong các hệ thống và kỹ thuật sử dụng đất Vấn đề sử dụng đất đai gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu đất và môi trường ở vùng đồi trung du miền Bắc Việt Nam, Lê Vĩ (1996) đã nêu lên [33]:

- Tiềm năng đất vùng trung du

- Hiện trạng sử dụng đất trung du

- Các kiến nghị về sử dụng đất bền vững

Quan điểm về vấn đề hệ thống và hệ thống sử dụng đất được đề cập trong chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, trường ĐHLN, các tác giả Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ (1997), dựa trên quan điểm về hệ thống sử dụng đất của FAO

3 hệ thống canh tác trên quan điểm nông nghiệp sinh thái là: Hệ canh tác vùng đất trũng, hệ canh tác vùng ven biển và hệ canh tác vùng đồi gò làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống cây trồng

Đào Thế Tuấn (1989), nghiên cứu hệ thống nông nghiệp đồng bằng sông Hồng đã phát hiện hàng loạt vấn đề tồn tại và nguyên nhân của nó, đề xuất các mục tiêu và giải pháp khắc phục [28]

Trang 16

Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Phạm Đức Viên (1993), trên cơ sở tổng hợp các luận điểm về các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

để xây dựng cuốn giáo trình Hệ thống nông nghiệp Ngoài phần hệ thống hoá kiến thức về hệ thống nông nghiệp, các tác giả đã đề xuất hướng chiến lược phát triển,

dự kiến cấu trúc và thứ bậc hệ thống nông nghiệp Việt Nam gồm các hệ phụ: Trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, ngành nghề, quản lý, lưu thông, phân phối [25] Công trình đã hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiên cứu nông nghiệp trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn

Về hệ thống cây trồng, đầu thập kỷ 60, Đào Thế Tuấn cùng các nhà nghiên cứu của Viện KH và KTNN Việt Nam đã nghiên cứu đưa lúa xuân với các giống ngắn ngày và tập đoàn cây trồng vụ đông vào chân đất hai vụ lúa, đưa cây mầu vụ đông xuân vào chân đất một vụ lúa mùa đã tạo nên sự chuyển biến rõ nét về sản xuất lương thực, thực phẩm, trước hết là đồng bằng sông Hồng, sau đó là các vùng phụ cận góp phần tăng năng suất và hiệu suất sử dụng đất nông nghiệp

Đào Thế Tuấn (1977) khi nghiên cứu hệ thống cây trồng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng với khí hậu, đất đai, loại cây trồng, quần thể sinh vật và hệ thống canh tác [28]

Vấn đề luân canh, tăng vụ, trồng xen, trồng gối, hệ thống NLKH sẽ được trình bày ở phần sau Ở đây xin điểm một số tác giả đã nghiên cứu vấn đề này: Bùi Huy Đáp (1977, Lê Duy Thước (1971, 1991), Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn Ngọc Bình (1987), Bùi Quang Toản (1991), Nguyễn Ngọc Lung (1995)

Vấn đề kinh tế thị trường và QHSDĐ cấp vi mô trong nền kinh tế thị trường

đã được đề cập trong công trình - Phát triển và quản lý trang trại trong kinh tế thị trường của Lê Trọng (1993) - Tác giả đã đề cập tới [31]:

- Khái niệm về thị trường và kinh tế thị trường

- Tính tất yếu của sự phát triển trang trại trong kinh tế thị trường

- Những vấn đề cơ bản về quản lý trang trại trong kinh tế thị trường

Trang 17

- Thực trạng về phát triển trang trại ở nước ta hiện nay và một số bài học về quản lý trang trại trong kinh tế thị trường

Về định hướng QHSDĐ cả nước, Chính phủ đã có Nghị định số 68/2001/NĐ/CP, ngày 1/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai Chính phủ giao Tổng cục địa chính chủ trì, phối hợp với các bộ ngành có liên quan lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của cả nước, làm căn cứ để các ngành và địa phương triển khai thống nhất công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

Để làm cơ sở cho chiến lược sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, Nguyễn Huy Phồn (1977), trong luận án phó tiến sỹ khoa học nông nghiệp đã tiến hành đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông - lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vùng trung tâm của miền núi Bắc bộ Việt Nam Trên cơ sở đánh giá một cách tương đối có hệ thống về đất đai

và hiện trạng sử dụng đất nông - lâm nghiệp vùng trung tâm miền núi Bắc bộ, tác giả đã xây dựng bản đồ thích nghi sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000, đối với một số loại hình sử dụng đất bền vững phục vụ các mục tiêu kinh tế và môi trường cho toàn vùng [19]

Vấn đề hệ thống chính sách và những quy định về quản lý và sử dụng đất đai, cũng như hệ thống quản lý sử dụng đất các cấp, được đề cập khá đầy đủ và chi tiết trong: Tóm tắt báo cáo khảo sát đợt 1 về LNXH nhóm luật và chính sách (1998) của Trường ĐHLN [65] Tài liệu tập huấn về: Những quy định và chính sách quản lý sử dụng đất của Trần Thanh Bình (1997) [2], các chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế trang trại (1997) [7]

Về phương pháp tiếp cận nông thôn mới (phương pháp có sự tham gia của người dân) đã được đề cập trong chương trình tập huấn dự án hỗ trợ LNXH của trường ĐHLN: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Nghĩa Biên và Trần Ngọc Bình (1997) - Trên cơ sở phương pháp tiếp cận mới quốc tế được sự hỗ trợ của dự án

hỗ trợ LNXH, các tác giả đã phối hợp với các chuyên gia trong nước và quốc tế biên soạn tập tài liệu với những chủ đề chính [32]:

Trang 18

- Các khái niệm và phương pháp tiếp cận trong quá trình tham gia

- Các phương pháp, công cụ đánh giá nông thôn có người dân tham gia

- Tổ chức quá trình đánh giá nông thôn

- Thực hành tổng hợp

Phương pháp QHSDĐ cấp vi mô có sự tham gia của người dân được đề cập trong công trình QHSDĐ Lâm nghiệp và GĐLN có sự tham gia của người dân - Đoàn Diễm (1997) Tác giả đã nêu lên một số vấn đề cơ bản [6]:

- Phương pháp QHSDĐ và GĐLN ở Việt Nam

- Phương pháp QHSDĐ và GĐLN của dự án GCP/VIE/024/ITA

- Những tồn tại của QHSDĐ và GĐLN của Việt Nam và quốc tế

- Kiến nghị phương pháp đơn giản về QHSDĐ và GĐLN có sự tham gia của người dân

Tài liệu tập huấn về QHSDĐ và giao đất có sự tham gia của người dân - Trần Hữu Viên (1997) - Trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp QHSDĐ trong nước và phương pháp QHSDĐ của một số dự án quốc tế đang áp dụng tại một số vùng có dự

án ở Việt Nam, và tài liệu có liên quan, tác giả đã nêu lên [35]:

- Khái niệm về QHSDĐ

- Nguyên tắc chỉ đạo QHSDĐ và giao đất có người dân tham gia

- QHSDĐ và giao đất có sự tham gia của người dân

Những tài liệu trên là cơ sở quan trọng để tiến hành QHSDĐ và giao đất theo phương pháp cùng tham gia ở nước ta

1.2.2 Một số nghiên cứu về việc vận dụng phương pháp QHSDĐ vào thực tiễn ở Việt Nam

Chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển giai đoạn

1996 - 2001 trên phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ đã tiến hành thử nghiệm công tác quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trên cơ sở kế hoạch phát triển cấp thôn bản và hộ gia đình Phương pháp QHSDĐ

Trang 19

trong giai đoạn này đã căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất với cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn

Năm 1996, tác giả Vũ Văn Mễ và Desloges đã thử nghiệm phương pháp QHSDĐ có người dân tham gia tại Quảng Ninh đã đề xuất 6 nguyên tắc và các bước cơ bản trong QHSDĐ trong đó cấp xã đóng vai trò phát triển trong phương pháp quy hoạch Sáu nguyên tắc đó là:

- Kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của Chính phủ và nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân địa phương;

- Tiến hành trong khuôn khổ luật định hiện hành và các nguồn lực hiện có tại địa phương;

- Đảm bảo tính công bằng, chú ý đến cộng đồng dân tộc miền núi, nhóm người nghèo và vai trò của phụ nữ;

- Đảm bảo phát triển bền vững;

- Đảm bảo nguyên tắc cùng tham gia;

- Kết hợp hướng tới mục tiêu phát triển cộng đồng

Khi thử nghiệm phương pháp này cho các tỉnh Thừa Thiên Huế, Gia Lai và Sa Đéc tác giả đã cho rằng quy hoạch cấp xã phải dựa trên tình trạng sử dụng đất hiện tại, tiềm năng sản xuất của đất, các quy định của Nhà nước và nhu cầu nghĩa vụ của nhân dân Trong 2 năm 1996 và 1997, trong quá trình triển khai dự án quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh Tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm - nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ, phương pháp PRA được sử dụng để quy hoạch lâm - nông nghiệp và xây dựng

dự án cấp xã, thôn cho 5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp, cây ăn quả cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thuỷ lợi lập kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ của dự án xã Sau 3 năm thực hiện cho thấy bản quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vững chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng năm Tuy nhiên những hạn chế do

Trang 20

thiếu nghiên cứu về đất, phân tích hệ thống canh tác dẫn đến việc lựa chọn cây trồng chưa hợp lý Kinh nghiệm này đang được đúc rút kinh nghiệm cho những năm tiếp theo của dự án triển khai trên 4 xã mới

Năm 1996, trên cơ sở tổng kết các kinh nghiệm nhiều nơi Cục Kiểm lâm cho

ra tài liệu hướng dẫn “Nội dung, biện pháp và trình tự tiến hành giao đất lâm nghiệp trên địa bàn xã’’ Đây là tài liệu sửa đổi lần thứ 2 có nhiều bổ sung vào tài liệu năm

1994, nó đáp ứng phần nào về những hướng dẫn cơ bản về nội dung và nguyên tắc Những yêu cầu về chuyên môn và phương pháp trong hướng dẫn này còn mang nhiều phương pháp điều tra truyền thống, phù hợp với điều tra rừng trước đây

Từ những kết quả nghiên cứu “Đề tài’’ của Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của dự án khu vực Lâm nghiệp Việt nam - ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án cấp xã Mục tiêu là đưa ra một phương pháp quy hoạch lâm - nông nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân để xây dựng tiền Dự án lâm - nông nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá; Gia lai; Phú Yên và Quảng Trị Kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng phương pháp này là:

- Việc tiến hành quy hoạch phải dựa trên kết quả đánh giá và điều tra nguồn lực một cách chi tiết và đầy đủ

- Tiến hành QHSDĐ là cơ sở quan trọng cho QHSDĐ lâm - nông nghiêp

- Tiến hành phân tích hệ thống canh tác làm cơ sở cho việc lựa chọn cây trồng

- Có sự nhất trí chung của toàn xã thông qua các cuộc họp cộng đồng cấp thôn hoặc xóm…

Trang 21

Trong đầu những năm 1990, vấn đề QHSDĐ nông lâm nghiệp được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu Nghiên cứu cuả Reichenberg, 1992 cho rằng Việt Nam Chưa có QHSDĐ cấp vi mô, được xây dựng dựa trên cơ sở xem xét tất cả các khía cạnh của tất cả các ngành trong tương lai

Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng quan điểm QHSDĐ nông lâm nghiệp cấp địa phương nên đi theo hướng sau:

- Tiến hành nghiên cứu khả năng chuyển từ quy hoạch nông lâm nghiệp chủ yếu dựa trên chức năng sử dụng đất sang dựa trên tiềm năng đất đai

- Rà soát và xem lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử dụng đất bằng đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng

- Gắn 2 quá trình quy hoạch và giao đất và coi đó là hai bộ phận có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho QHSDĐ nông lâm nghiệp ở mỗi địa phương và mỗi cộng đồng

- Nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp cùng tham gia trong quá trình quy hoạch, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, xác định và phân tích rõ các chủ thể trong QHSDĐ nông lâm nghiệp cấp xã

Trong giai đoạn 2000 - 2005, Dự án phát triển nông thôn Sơn La, Lai Châu do Liên minh Châu Âu tài trợ bằng nguồn vốn ODA Mục tiêu của Dự án là cải thiện

an toàn lương thực ở khu vực Miền núi phía Bắc Việt Nam thông qua việc sử dụng bền vững và hữu ích nguồn tài nguyên thiên nhiên ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu Những hoạt động chính của Dự án đó là: QHSDĐ và giao đất, quản lý rừng đầu nguồn và phân loại đất lâm nghiệp, cải thiện giống cây trồng trên nương, cải tiến chăn nuôi, tăng cường dịch vụ khuyến nông và đào tạo

Trong những năm gần đây, các chương trình và dự án nông lâm nghiệp như dự

án PAM, dự án trồng rừng Việt - Đức (KWF) tại Lạng Sơn, Bắc Giang, Thanh Hoá, Quảng Ninh do GTZ tài trợ cũng đã sử dụng triệt để phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia Về mặt lý luận, một số đề tài nghiên cứu của Đinh Văn Đề,

Trang 22

Nguyễn Hữu Tân, Nguyễn Bá Ngãi, Nguyễn Phúc Cường cũng đã tiến hành ở một

số địa phương, có những đánh giá và kết quả có ý nghĩa thực thực tiễn nhất định

1.2.3 Đánh giá ban đầu về vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam và địa phương

Từ kết quả tổng kết và phân tích các nghiên cứu và thử nghiệm về quy hoạch lâm nông nghiệp ở Việt Nam cho phép rút ra một số kết luận cho nghiên cứu sau:

Hiện tại nước ta đã có những nghiên cứu về QHSDĐ nhưng còn nhiều hạn chế mới chỉ nghiên cứu chủ yếu đất phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp chưa mang lại hiệu quả đích thực cho xã hội

Phương pháp quy hoạch hiện còn đang lúng túng, nhiều điểm chưa rõ và được vận dụng rất khác nhau ở các chương trình, dự án Phương pháp quy hoạch có

sự tham gia của người dân đang được chú ý và thí điểm ở một số nơi Những kết quả đưa ra tuy đạt được một số thành công nhưng chưa được tổng kết, hiệu quả của quy hoạch chưa được khẳng định vì mới được đưa vào quá trình thực thi các bản quy hoạch

Cơ sở khoa học cho quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã chưa rõ ràng, thêm vào đó thực tiễn về quy hoạch này chưa nhiều để có thể tổng kết và đánh giá Vì vậy nhiều vấn đề đang đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận và chuyển giao kỹ thuật còn nặng nề về xây dựng mô hình, chưa thúc đẩy mạnh mẽ công tác thông tin, tuyên truyền, huấn luyện đồng thời

ít chú ý đến các yếu tố phi kỹ thuật như tổ chức sản xuất, thị trường tiêu thụ và yếu

tố tiếp thị nhằm đảm bảo cho các tiến bộ kỹ thuật được chuyển giao và trình diễn, phát huy hiệu quả và bền vững

Thiếu sự gắn kết giữa quy hoạch rừng với quy hoạch nông lâm nghiệp và các ngành khác (Giao thông, thuỷ lợi, xây dựng…) Đây là nguyên nhân cơ bản dẫn đến mâu thuẫn và chồng chéo trong các nội dung QHSDĐ Các quy hoạch này thiếu tính dự báo dài hạn nên nhiều bản quy hoạch phải liên tục bổ sung, điều chỉnh gây mất ổn định trong chỉ đạo và quản lý

Trang 23

Bên cạnh những hạn chế về việc nghiên cứu và thử nghiệm đối với quy hoạch lâm nông nghiệp ở Việt Nam, nhiều kết quả nghiên cứu và thử nghiệm có thể được vận dụng vào trong nghiên cứu của luận văn Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân vào quá trình quy hoạch nếu được hoàn thiện sẽ giúp ích cho nghiên cứu Phương pháp đánh giá đất đai, phân tích hệ thống canh tác để lựa chọn cây trồng và xác định các phương thức sử dụng đất sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài

Trang 24

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

2.1.2 Về thực tiễn

- Đề xuất phương án QHSDĐ tại xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình, Tỉnh Bình Thuận

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các văn bản pháp quy của Nhà nước về đất đai, chính sách bảo vệ và phát triển rừng; Định mức kinh tế kỹ thuật trong xây dựng cơ bản; Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội và nhân văn của xã; Các cơ chế chính sách đã và đang áp dụng ảnh hưởng đến QHSDĐ; Các hoạt động đã và đang thực hiện có liên quan đến QHSDĐ; một số mô hình sử dụng đất tại xã Hồng Phong, đặc biệt là sử dụng đất nông, lâm nghiệp

- Phạm vi nghiên cứu: xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình, Tỉnh Bình Thuận

2.3 Nội dung nghiên cứu

Với mục tiêu đã đề ra đề tài tiến hành tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:

2.3.1 Nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ

- Quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã trong hệ thống quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp cấp vĩ mô

Trang 25

- Vai trò tham gia của người dân trong quy hoạch phát triển nông lâm nghiệp cấp xã

- Quan điểm hệ thống QHSDĐ cấp xã

- Quan điểm QHSDĐ cấp xã

- Tác động của nền kinh tế thị trường đến QHSDĐ

- Tác động của hệ thống chính sách, pháp luật đến QHSDĐ

- Cơ sở kinh tế của QHSDĐ

- Cơ sở kỹ thuật của QHSDĐ

2.3.2 Tìm hiểu vị trí và chức năng của cấp xã trong quản lý và sử dụng đất tại địa phương

- Cơ sở và căn cứ pháp lý cho quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã

- Vị trí và chức năng của cấp xã đối với công tác quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp

2.3.3 Điều tra, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và một số yếu tố tác động đến công tác QHSDĐ tại xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình, Tỉnh Bình Thuận

- Các yếu tố tự nhiên

- Các yếu tố kinh tế - xã hội và nhân văn

- Các yếu tố tài nguyên đất đai và tài nguyên rừng

Trang 26

- Cơ sở quy hoạch phân bổ sử dụng đất

2.3.6 Dự tính đầu tư và hiệu quả của phương án quy hoạch

- Căn cứ để dự tính đầu tư và hiệu quả kinh tế sản xuất nông lâm nghiệp

- Dự tính đầu tư và hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp trong kỳ quy hoạch

- Hiệu quả xã hội

- Hiệu quả môi trường

2.3.7 Đề xuất một số giải pháp QHSDĐ tại xã Hồng Phong, huyện Bắc Bình, Tỉnh Bình Thuận

- Các nguyên tắc cơ bản của QHSDĐ; Nghiên cứu chuyển đổi các loại đất, phân bổ sử dụng đất, phương hướng, mục tiêu phát triển lâm - nông nghiệp

- Các giải pháp về cơ chế chính sách

- Các giải pháp về tổ chức quản lý

- Các giải pháp về đầu tư

- Các giải pháp về khoa học công nghệ

Trang 27

- Các giải pháp về thị trường

- Các giải pháp về môi trường

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

2.4.1.1 Những thông tin cần thu thập

* Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý, vị trí hành chính

- Điều kiện địa hình, địa thế và đất đai, thổ nhưỡng

- Đặc điểm điều kiện khí hậu, thuỷ văn

- Hiện trạng tài nguyên sinh vật rừng

- Hiện trạng sử dụng đất đai tài nguyên rừng

* Điều kiện kinh tế xã hội

- Dân số, dân tộc, lao động

- Một số chủ trương chính sách

- Thực trạng cơ sở hạ tầng

- Thực trạng sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn

- Những tồn tại trong sử dụng đất trên địa bàn

2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu

a Phương pháp kế thừa

Để thu thập được các tài liệu trên đề tài sử dụng phương pháp kế thừa có chọn lọc các nguồn tài liệu đã có của các cơ quan liên quan như: Thư viện trường Đại học Lâm nghiệp (Việt Nam), Sở tài nguyên rừng và môi trường tỉnh Bình Thuận, các phòng ban liên quan trong huyện Bắc Bình, UBND xã Hồng Phong được cập nhật qua các thời kỳ và trong năm Bao gồm:

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý; khí hậu, thời tiết; địa hình; địa chất; thủy văn

Trang 28

- Các tài liệu về điều kiện kinh tế xã hội: Dân số và lao động; kiến trúc cơ sở

hạ tầng và văn hóa xã hội; tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã; phân phối thu nhập và mức sống; tình hình sản xuất của các tổ chức, nông hộ

- Các tài liệu pháp quy và định hướng phát triển kinh tế - xã hội: Các thông

tư, chỉ thị, quyết định có liên quan đến công tác QHSDĐ; Các tài liệu đã có trên vùng lãnh thổ của xã; Các tài liệu quy hoạch của tỉnh, huyện có liên quan; Các tài liệu về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của xã trong 5 - 10 năm tới, dự kiến

phát triển các ngành nghề trên địa bàn xã

- Các tài liệu về thống kê đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của xã, sổ thống kê diện tích; Tài liệu về diện tích đất sử dụng có thời hạn; Các tài liệu về tình hình thâm canh

- Các tài liệu điều tra khảo sát đã tiến hành trên địa bàn xã: Các tài liệu khảo sát và thổ nhưỡng, xói mòn đất; Tài liệu khảo sát thực vật, tài nguyên rừng; Khảo sát về thủy văn và thủy nông; Khảo sát về giao thông

- Tài liệu bản đồ: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ QHSDĐ, bản đồ quy hoạch 3 loại rừng của xã tỷ lệ 1/10.000

Ngoài các nguồn tài liệu trên, đề tài còn thu thập một số quy phạm của ngành, các hướng dẫn kỹ thuật công tác QHSDĐ và quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp của các tổ chức, chương trình, dự án

2.4.1.3 Phương pháp điều tra thực địa

Tuỳ theo yêu cầu, đặc trưng của các loại tài liệu mà đề tài sử dụng các phương pháp thu nhập khác nhau:

a Phương pháp điều tra nhanh nông thôn

Phương pháp điều tra nhanh RRA được áp dụng để thu thập các tài liệu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, thực trạng sử dụng đất cũng như nguyện vọng của người dân địa phương trong việc phân bổ sử dụng đất đai thông qua các công cụ

Trang 29

phỏng vấn và tiếp xúc lãnh đạo các ban ngành liên quan tại tỉnh, huyện, cụm bản, bản và hộ gia đình

b Phương pháp điều tra chuyên đề

Phương pháp điều tra chuyên đề được sử dụng để điều tra bổ sung các thông tin không có trong tài liệu RRA tại các thôn, bản theo các lĩnh vực:

- Lĩnh vực trồng trọt điều tra theo các chỉ tiêu: Tình hình giao đất nông

nghiệp, các thông tin về cây trồng, năng suất và sản lượng cây trồng của xã, tình hình sâu bệnh hại tổn thất cây trồng, thông tin khuyến nông, khuyến lâm

- Lĩnh vực về chăn nuôi điều tra theo các chỉ tiêu: Tình hình chăn nuôi của

xã, các chủng loại giống vật nuôi của xã, dịch bệnh, khả năng đầu tư cải tạo con giống vật nuôi của xã

- Lĩnh vực lâm nghiệp điều tra các chỉ tiêu: Tình hình sử dụng đất lâm

nghiệp, tình hình giao đất lâm nghiệp, điều tra diện tích trữ lượng các loại rừng, điều tra tình hình quản lý bảo vệ rừng, đầu tư và phát triển rừng

c .Phương pháp đánh giá đất đai và lập bản đồ hiện trạng SDĐ

Tài nguyên đất đai của xã Hồng Phong được điều tra đánh giá với các nguyên tắc chủ yếu sau:

- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá, phân hạng cho các loại đất được sử dụng cụ thể

- Việc đánh giá yêu cầu có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được và đầu tư cần thiết trên những loại đất khác nhau

- Yêu cầu phải có quan điểm tổng hợp

- Việc đánh giá phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng

- Khả năng thích nghi đưa vào sử dụng đất phải dựa trên nguyên tắc

- Đánh giá đất có liên quan đến nhiều loại hình sử dụng đất

Điều tra và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp xã là đánh giá chi tiết tình hình sử dụng đất đai, tài nguyên rừng phục vụ công tác QHSDĐ lâm nông nghiệp có hiệu quả và với các nội dung chủ yếu sau:

Trang 30

- Thống nhất ranh giới trên bản đồ và thực địa quản lý hành chính cấp tỉnh, huyện và xã theo Quyết định số: 364/CP ngày 06 tháng 11 năm 1991 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc giải quyết đất đai có liên quan đến địa giới hành chính

- Thống nhất ranh giới phân chia theo xã và từng thôn bản

- Xác định ranh giới các loại đất (gồm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp

và đất chưa sửu dụng) và các loại rừng (bao gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất)

- Tính toán diện tích của các kiểu hình sử dụng đất như: Diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất thổ cư, đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng

- Đánh giá phân tích hiệu quả sử dụng đất Các bước tiến hành:

+ Sử dụng tài liệu có sẵn như bản đồ địa giới hành chính xã, bản đồ hiện trạng và các tài liệu có liên quan

+ Căn cứ vào bản đồ, tiến hành xác minh hiện trạng sử dụng đất trên thực địa, khoanh vẽ xác định ranh giới xã, thôn và các kiểu sử dụng đất

- Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng đất lâm nông nghiệp

Phương pháp tiến hành:

+ Tiến hành điều tra theo tuyến (đi lát cắt) và khảo sát điểm cụ thể có sự tham gia của người dân để xác định các loại hình sử dụng đất của từng thôn sau đó tổng hợp trên sơ đồ mặt cắt về sử dụng đất của xã

+ Vẽ bản đồ được thực hiện theo 2 bước

Bước 1 Hoàn chỉnh bản đồ ngoại nghiệp bằng cách chuyển hoá ranh giới các loại đất, loại rừng và bổ sung địa hình địa vật lên bản đồ Ghi các kết quả của các lô khoảnh trạng thái và tính toán diện tích trên giấy kẻ ô li

Bước 2 Xây dựng bản đồ thành quả tỷ lệ 1:10.000 theo quy phạm của Viện điều tra quy hoạch rừng năm 1984

Trang 31

Sau khi hoàn chỉnh bản đồ tiến hành họp thôn để trình bày kết quả, thảo luận

và củng cố thông tin thu thập trên bản đồ

d Phương pháp phân chia các loại trạng thái rừng

Việc phân chia các loại trạng thái rừng được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật của Bộ NN & PTNT ban hành kết hợp đi điều tra khảo sát thực địa, bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội Bổ sung hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp khoanh vẽ trạng thái rừng, lập ô tiêu chuẩn điều tra thu thập các chỉ tiêu lâm học chủ yếu và các thông tin liên quan khác

Phương pháp bổ sung hiện trạng tài nguyên rừng: Sử dụng phương pháp khoanh vẽ lô trạng thái theo dốc đối diện, diện tích lô tối thiểu 1 ha Sử dụng bản đồ địa hình gốc UTM tỷ lệ 1/25.000

Phân loại rừng tự nhiên và đất trống đồi núi trọc theo quy phạm thiết kế kinh doanh rừng (QPN 6 - 84) do bộ Lâm nghiệp (Nay là bộ Nông nghiệp & PTNT) ban hành ngày 1 tháng 8 năm 1984

Đối với rừng trồng, phân chia trạng thái theo cơ cấu loài cây trồng và năm tuổi

* Phương pháp kết hợp giữa các nguồn tài liệu được kế thừa và kiểm tra thực địa nhằm bổ sung và loại trừ những sai sót và làm cơ sở đối chứng, chọn lọc số liệu chuẩn để xây dựng đề tài

2.4.2 Phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

2.4.2.1 Tổng hợp và phân tích thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Các nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội được tổng hợp và phân tích theo các nhóm sau:

- Nhóm thông tin về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn …được thu thập từ các tài liệu, báo cáo của xã

- Nhóm tài liệu về điều kiện dân sinh kinh tế - xã hội: Dân số, dân tộc, lao động và việc làm, các dịch vụ xã hội và cơ sở hạ tầng được thu thập từ các phòng, ban liên quan và tài liệu gốc của xã sau đó tổng hợp, phân tích qua hệ thống phụ biểu báo cáo

Trang 32

- Nhóm tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng, hiện trạng sử dụng đất đai được tổng hợp với các chỉ tiêu về diện tích, tình hình sinh trưởng, phát triển, trữ lượng và chất lượng rừng

- Nhóm thông tin liên quan đến tổ chức và thể chế: Tổ chức cộng đồng, dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, quản lý và bảo vệ rừng, dịch vụ thú y, hoạt động tín dụng cộng đồng được tổng hợp và phân tích bằng phương pháp SWOT

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ QHSDĐ được xây dựng có sự trợ giúp của máy tính bằng phần mềm Mapinfo 8.5

2.4.2.2 Phương pháp SWOT

Là phương pháp phân tích điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội và thách thức của tài liệu thu thập

2.4.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

* Phương pháp phân tích hiệu quả kinh tế (CBA) được vận dụng phân tích các mô hình sản xuất, trên cơ sở đó lựa chọn ra các mô hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế nhất để tiến hành quy hoạch sản xuất Các số liệu được tổng hợp và phân tích trong chương trình EXCEL trên máy vi tính Việc tính toán, phân tích số liệu được thực hiện bằng phương pháp động thông qua các chỉ tiêu: NPV, BCR, IRR

- Giá trị hiện tại của lợi nhuận (NPV): Là giá trị hiện tại của lợi nhuận đạt

được trong cả chu kỳ đầu tư

C B NPV

1 ( 1 ) (2.1) Trong đó: - NPV: Là giá trị hiện tại của lợi nhuận (đồng)

- Bt : Là giá trị thu nhập ở năm t (đồng)

- Ct: Là giá trị chi phí ở năm t (đồng)

- r: Là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất tín dụng (%)

- t: Là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm) Tiêu chuẩn đánh giá theo NPV: NPV > 0: Mô hình có lãi NPV = 0: Mô hình hoà vốn NPV < 0: Mô hình bị thua lỗ

Trang 33

- Tỷ suất thu nhập so với chi phí (BCR): Là thương số của toàn bộ thu nhập

so với chi phí sau khi chiết khấu đưa về hiện tại Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lãi thực tế của các mô hình

n

t

t t

t C r B

1

1

) 1 (

) 1

Tiêu chuẩn đánh giá BCR: BCR > 1: Mô hình có lãi BCR = 1: Mô hình hoà vốn BCR < 1: Mô hình bị thua lỗ

- Tỷ lệ thu hồi nội tại (IRR): Là chỉ tiêu thể hiện tỷ suất lợi nhuận thực tế của

mô hình đầu tư, nếu vay vốn với lãi suất bằng với chỉ tiêu này thì mô hình hòa vốn

Ct Bt

t t

t

IRR

C IRR

B

) 1

( ) 1

(2.3) Tiêu chuẩn đánh giá IRR: IRR > r: Mô hình có lãi IRR = r: Mô hình hoà vốn IRR < r: Mô hình bị thua lỗ

* Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả xã hội

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội gồm: Mức độ đầu tư, khả năng ứng dụng của mô hình, khả năng cho sản phẩm, giải quyết việc làm, mức độ rủi ro của mô hình Mô hình nào có mức đầu tư thấp, kỹ thuật xây dựng mô hình đơn giản, nhanh chóng cho sản phẩm, sử dụng lao động hiệu quả, mức độ rủi ro thấp nhất sẽ được người dân chấp nhận

* Phương pháp phân tích đánh giá hiệu quả về môi trường: Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu các yếu tố định lượng có ảnh hưởng trực tiếp của rừng đến môi trường, mà chỉ đánh giá hiệu quả môi trường thông qua đặc điểm về cấu trúc của rừng mưa nhiệt đới có ảnh hưởng tới xói mòn đất, hạn chế dòng chảy qua việc phỏng vấn người dân trong địa bàn đối với khả năng bảo vệ đất chống xói mòn của một số mô hình và kế thừa một số công trình nghiên cứu khoa học trong nước đã được công bố

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của QHSDĐ xã Hồng Phong

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt quan trọng đối với tất cả các ngành nhất là ngành nông lâm nghiệp Việc tổ chức sử dụng đất đai hợp lý là một vấn đề rất quan trọng và cần thiết QHSDĐ nhất thiết phải được xây dựng từ những

cơ sở lý luận và thực tiễn thì mới đảm bảo được hiệu quả và nâng cao được tính cả

về kinh tế, xã hội lẫn môi trường

3.1.1 Cơ sở lý luận

QHSDĐ cấp xã là vấn đề then chốt, làm cơ sở quan trọng cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội nói chung và công tác quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng Để đảm bảo được tính hiệu quả và tính khả thi, QHSDĐ cấp xã cần được hình thành trên cơ sở lý luận Sau đây là một số kết quả nghiên cứu vấn đề này

3.1.1.1 QHSDĐ cấp xã trong hệ thống sử dụng đất vĩ mô

Hệ thống QHSDĐ ở Việt Nam được khởi xướng từ năm 1963 và được hoàn thiện dần theo thời gian Trước đây QHSDĐ thường dựa vào các đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã) hoặc theo ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản…); quy hoạch phân bổ sử dụng đất cho các ngành chủ yếu thường dựa vào điều kiện tự nhiên mà ít quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của người dân cũng như sự phát triển của môi trường sinh thái nên thực sự hiệu quả sử dụng đất không cao

Luật đất đai năm 2003 quy định tiến hành lập QHSDĐ ở cả 4 cấp quản lý hành chính Nhà nước: Toàn quốc, tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã - thành phố trực thuộc tỉnh và xã - phường - thị trấn Bên cạnh đó Luật đất đai còn khẳng định vai trò của cấp xã trong quản lý và sử dụng đất đai tại địa phương bao gồm điều tra, khảo sát đo đạc, đánh giá và phân hạng, lập bản đồ địa chính, quy hoạch và kế hoạch hóa việc sử dụng đất, đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất đai, khiếu nại, tố

Trang 35

cáo các vi phạm trong phạm vi quản lý và sử dụng đất đai của địa phương là những nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai mà cấp xã cùng với các cơ quan cấp trên thực hiện Luật đất đai cũng quy định và phân biệt rõ trong các điều

25, 26, 27, 28 về trách nhiệm lập, thẩm quyền quyết định, điều chỉnh, công bố và thực hiện QHSDĐ của các cấp chính quyền

Hiện nay hệ thống quy hoạch của cả nước bao gồm: Cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện (gọi là cấp vĩ mô) Cấp thôn bản, cấp hộ gia đình (gọi là cấp vi mô) Cấp xã là cấp chuyển tiếp giữa cấp vĩ mô và cấp vi mô Bởi vì cấp xã vừa là cấp cơ sở (vi mô) có chức năng hành pháp về quản lý nhà nước vừa là cấp quản lý kế hoạch sử dụng đất tại địa phương theo định hướng phát triển chung (vĩ mô) Vì vậy, QHSDĐ cấp xã phải kết hợp hài hoà quy hoạch vĩ mô và vi mô, nghĩa là vừa quy hoạch định hướng và quy hoạch quản lý sản xuất

Xã là đơn vị hành chính cấp thấp nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính ở nước ta QHSDĐ cấp xã nằm trong hệ thống QHSDĐ 4 cấp đơn vị hành chính đã được quy định trong luật đất đai 2003 bao gồm cấp Nhà nước, tỉnh, huyện và xã QHSDĐ cấp xã tuân thủ và cụ thể hóa quy hoạch của cấp trên mà trực tiếp là QHSDĐ cấp huyện, đồng thời QHSDĐ cấp xã là cơ sở để tổng hợp, xây dựng QHSDĐ cấp huyện

Các nội dung trong QHSDĐ cấp vĩ mô có tính chất định hướng, nguyên tắc và luôn gắn với ý đồ phát triển kinh tế của các cấp quản lý lãnh thổ Cấp xã, thôn, bản là các cấp thấp bên dưới Trong đó xã được coi là đơn vị cơ bản quản lý và tổ chức sản xuất lâm - nông nghiệp của thành phần kinh tế tập thể và tư nhân, vì vậy cấp xã là cấp quản lý hành chính thấp nhất yêu cầu giải quyết các nội dung, biện pháp kỹ thuật, kinh

tế xã hội và cần ước tính được cả về đầu tư, nguồn vốn, hiệu quả, thời gian thu hồi vốn một cách cụ thể

3.1.1.2 QHSDĐ có sự tham gia của người dân

QHSDĐ có người dân tham gia được chia làm 3 bước: Chuẩn bị, đánh giá hiện trạng và xác định nhu cầu về sử dụng đất, QHSDĐ Trong đó, mục tiêu phát triển sản

Trang 36

xuất được người dân địa phương xác định một cách cụ thể, có thể linh hoạt điều chỉnh tuỳ theo điều kiện tình hình của địa phương Người dân được khuyến khích và coi việc QHSDĐ như là nhiệm vụ của chính họ Họ sẵn sàng tự giác và chủ động trong

việc tham gia thực hiện các nội dung quy hoạch mà chính họ đã quyết định

Quá trình QHSDĐ cấp xã theo phương pháp cùng tham gia được tiến hành theo trình tự các bước với những hoạt động cụ thể sau:

- Bước 1: Chuẩn bị, bao gồm:

+ Hoạt động 1: Chuẩn bị về tổ chức

+ Hoạt động 2: Thu thập, phân tích số liệu có sẵn, các loại bản đồ và bổ sung

số liệu và QHSDĐ của huyện

+ Hoạt động 3: Rà soát và phân tích kế hoạch phát triển KTXH của tỉnh, huyện và QHSDĐ của huyện

+ Hoạt động 4: Họp dân lần 1 (Đại diện các thôn bản, các ban ngành đoàn thể cán bộ chủ chốt của xã)

+ Hoạt động 5: Chuẩn bị vật tư, phương tiện, kỹ thuật

+ Hoạt động 6: Chuẩn bị tài chính

+ Hoạt động 7: Lập kế hoạch tổ chức thực hiện QHSDĐ

- Bước 2: Đánh giá hiện trạng và xác định nhu cầu sử dụng đất, gồm:

+ Hoạt động 8: Phương pháp PRA (đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân) và họp dân lần thứ 2 (đại diện các thôn bản, các ban ngành đoàn thể và cán bộ chủ chốt của xã)

+ Hoạt động 9: Phúc tra tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân

Trang 37

+ Hoạt động 12: Họp dân lần 3 (Đại diện các thôn bản, các ban ngành đoàn thể

và cán bộ chủ chốt của xã) thảo luận và đề xuất bản QHSDĐ, quy hoạch sử dụng rừng

+ Hoạt động 13: Tổng hợp phương án QHSDĐ

+ Hoạt động 14: Trình duyệt phương án QHSDĐ

Ưu điểm của phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân là làm thay đổi thái độ và phương pháp luận về đánh giá, phát triển của cộng đồng trước đây, tạo ra quá trình học hỏi từ cả hai phía vừa cho phép cộng đồng tự đề ra các giải pháp phù hợp với chính họ để có thể thực hiện và đạt được mục đích cao nhất Tuy nhiên, do hạn chế về chuyên môn và tầm nhìn dài hạn nên bản kế hoạch

sử dụng đất xã/thôn bản chưa đủ tầm khái quát cao nên không đáp ứng được yêu cầu phát triển tổng thể Vì vậy, thay vì quy hoạch sử dụng từ trên xuống hay từ dưới lên, phương pháp phối hợp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài nhằm phát huy vai trò của tất cả các thành phần tham gia và tất cả kiến thức liên quan đến sử dụng đất đều được phối hợp sử dụng triệt để Phương pháp tiếp cận nêu trên đã phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp và sự hiểu biết của mọi thành phần để có bản kế hoạch sử dụng đất lâm - nông nghiệp cấp xã tốt nhất

3.1.1.3 QHSDĐ theo quan điểm hệ thống

Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, lý thuyết về hệ thống đã bắt đầu được xuất hiện Những nghiên cứu của L.Von Bertallanfy (1923) được ứng dụng rộng rãi nhằm mục tiêu giải thích các sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng, có thể coi đây là cơ sở để giải quyết các vấn đề phức tạp và tổng hợp

Hệ thống là một tổng thể có trật tự của các yếu tố khác nhau có quan hệ và tác động qua lại, hiểu một cách khác hệ thống là một cơ cấu hoàn chỉnh gồm nhiều bộ phận chức năng tạo nên một cách có tổ chức và trật tự, tồn tại và hoạt động theo những quy luật thống nhất, tạo nên một chất lượng mới không giống tính chất của từng yếu tố hợp thành, và cũng không phải con số cộng của những bộ phận đó Hệ thống gồm nhiều bộ phận nhưng nhiều bộ phận chưa chắc đã phải là một hệ thống

Trang 38

khi chúng chỉ là một tập hợp mất trật tự, không có mối tương tác lẫn nhau

Từ những quan niệm trên cho thấy 2 đặc trưng cơ bản của hệ thống đó là:

- Gồm nhiều hệ thống thành phần hợp thành (những hệ thống nhỏ hơn), có mối quan hệ tương tác hữu cơ và rất phức tạp

- Cấu thành một chỉnh thể có tính độc lập ở mức độ nhất định và có thể phân biệt với môi trường hoặc hệ thống khác

Lý thuyết về hệ thống được nghiên cứu và hoàn thiện dần theo thời gian, thông qua những thử nghiệm và được tổng kết từ thực tiễn sản xuất

Trong sản xuất Nông - lâm nghiệp lý thuyết về hệ thống cũng được ứng dụng một cách rộng rãi Nếu coi sản xuất nông lâm nghiệp là một hệ thống khi đó, sản xuất lương thực, rau màu, chăn nuôi, thuỷ lợi,…sẽ được coi là những bộ phận chức năng Những bộ phận này không thể thiếu được chúng nằm trong một mối quan hệ tác động qua lại một cách chặt chẽ Việc nghiên cứu cơ chế hoạt động, chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống sẽ giúp người ta đưa ra được những quyết định, tác động vào những khâu, những mắt xích ở những thời điểm thích hợp nhằm làm cho hệ thống hoạt động được nhịp nhàng, cân đối và đem lại hiệu quả cao nhất Việc tiếp cận một hệ thống sử dụng đất theo quan điểm hệ thống được tiến hành qua các khâu:

- Các hoạt động chẩn đoán ngoài thực địa dựa trên tiếp cận hệ thống

- Sự tham gia tích cực của các thành viên tại địa phương

- Khai thác các dữ liệu tại các cơ quan có liên quan

- Kết hợp các xu hướng thông qua thảo luận

Năm 1993, khi nghiên cứu về các hệ thống sử dụng đất, FAO đã đưa ra một số khái niệm về sử dụng đất như sau:

- Loại hình sử dụng đất (Major kind of land use) là một dạng chính trong sử dụng đất ở nông thôn bao gồm một nhóm các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp nhờ nước trời, cây hàng năm, cây lâu năm, cây lâm nghiệp…nó thường được dùng để đánh giá đất đai một cách định tính hoặc để khảo sát tài nguyên thiên nhiên

Trang 39

- Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được mô tả chi tiết hơn so với loại hình sử dụng đất nó chỉ ra một sự sử dụng đất thấp hơn loại hình sử dụng đất

- Hệ thống sử dụng đất bao gồm các kiểu sử dụng đất hoặc các loại hình trong

sự phối hợp, tương tác qua lại lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau trên một mảnh đất nhất định

Vì vậy, hệ thống sử dụng đất có thể có quy mô lớn nhỏ tuỳ ý và luôn luôn là một hệ cân bằng động Các yếu tố cấu thành luôn tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan

hệ biện chứng, qua đó con người phân tích bản chất và đặc tính của các mối tác động qua lại để đề xuất hệ thống canh tác hợp lý nhằm khai thác tối đa tiềm năng của chúng phục vụ cho cuộc sống của con người

Khái niệm hệ thống sử dụng đất của FAO đã chỉ ra những đặc trưng của hệ thống sử dụng đất cụ thể, đó là:

- Dựa vào đặc tính của đất đai từ đó đề xuất hệ thống canh tác hợp lý, nhằm khai thác tối đa tiềm năng sản xuất của nó để phục vụ cho cuộc sống của con người

Vì vậy hệ thống SDĐ được coi là hợp phần cơ bản của hệ thống canh tác, tất cả các tác động đều coi đất là trung tâm

- Hệ thống SDĐ luôn luôn mang tính truyền thống

Các bước thực hiện trong QHSDĐ theo quan điểm hệ thống FAO (1193):

Bước 1: Thiết lập mục tiêu và các tư liệu có liên quan

Trong tình trạng hiện tại cụ thể tìm ra những nhu cầu của người dân và nhà nước; quyết định trên vùng đất quy hoạch, diện tích cần thực hiện; những sự thống nhất nhau về mục tiêu chung và riêng của quy hoạch; sắp đặt các tư liệu liên quan trong quy hoạch

Bước 2: Tổ chức công việc

Trang 40

Quyết định những việc cần làm; xác định những hoạt động cần thực hiện và chọn lọc ra đội quy hoạch; xây dựng bảng kế hoạch và thời biểu các hoạt động và kết quả cần đạt được; bảo đảm có sự thảo luận chung để các thành viên trong đội tham gia phù hợp với khả năng và chuyên môn của mình hoặc sự đóng góp của họ trong quy hoạch

Bước 3: Phân tích vấn đề

Nghiên cứu tình trạng sử dụng đất đai hiện tại, bao gồm việc khảo sát ngoài đồng; thảo luận và nói chuyện với người sử dụng đất đai để tìm ra nhu cầu họ đang cần và tầm nhìn, quan điểm của họ, xác định ra các vấn đề và phân tích nguyên nhân; xác định các khó khăn tồn tại cần thay đổi

Bước 4: Xác định các cơ hội cho sự thay đổi

Xác định và đề xuất sơ bộ ra các kiểu sử dụng đất đai mà có thể đạt được mục tiêu đề ra trong quy hoạch; trình bày các chọn lọc trong sử dụng và thảo luận vấn đề trong quần chúng rộng rải

Bước 5: Đánh giá thích nghi đất đai

Trong mỗi kiểu sử dụng đất đai triển vọng, cần xây dựng yêu cầu sử dụng đất đai và đối chiếu yêu cầu sử dụng đất đai này với những đặc tính của đất đai để cho

ra được khả năng thích nghi đất đai trong điều kiện tự nhiên cho các kiểu sử dụng

Bước 7: Đưa ra những chọn lựa tốt nhất

Tổ chức thảo luận trong toàn cộng đồng xã hội một cách công khai những khả năng chọn lựa khác nhau và kết quả của nó Dựa trên cơ sở của các thảo luận này và

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Ngọc Lung (1998), “Hệ thống quản lý rừng và các chính sách lâm nghiệp Việt Nam”, Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống quản lý rừng và các chính sách lâm nghiệp Việt Nam”, "Hội thảo quốc gia về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1998
19. Nguyễn Huy Phồn (1997), Đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vungftrung tâm miền núi phía Bắc bộ Việt nam, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Viện KH và KTNN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các loại hình đất chủ yếu trong nông lâm nghiệp góp phần định hướng sử dụng đất vungftrung tâm miền núi phía Bắc bộ Việt nam
Tác giả: Nguyễn Huy Phồn
Năm: 1997
20. GS.TS. Trần An Phong, Mối quan hệ giữa sử dụng đất hợp lý và bảo tồn đa dạng sinh học Tây nguyên , Báo cáo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa sử dụng đất hợp lý và bảo tồn đa dạng sinh học Tây nguyên
21. Nguyễn Xuân Quát (1996), Sử dụng đất tổng hợp và bền vững, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng đất tổng hợp và bền vững
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
22. Đoàn Công Quỳ (2002), Giáo trình quy hoạch sử dụng đất, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Đoàn Công Quỳ
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2002
23. Reichenberg, BO (1992), QHSD đất cấp xã ở Việt Nam, Chương trình hợp tác Việt Nam, Thụy Điển Sách, tạp chí
Tiêu đề: QHSD đất cấp xã ở Việt Nam
Tác giả: Reichenberg, BO
Năm: 1992
25. Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên (1993), Hệ thống nông nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống nông nghiệp
Tác giả: Phạm Chí Thành, Trần Văn Diễn, Phạm Tiến Dũng, Trần Đức Viên
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1993
26. Lê Duy Thước (1987), Nông lâm kết hợp ở Việt Nam, Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp ở Việt Nam
Tác giả: Lê Duy Thước
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1987
28. Đào Thế Tuấn (1989), Hệ sinh thái Nông nghiệp, Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội 29. Bùi Quang Toản (1996),QHSDĐ nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miềnnúi nước ta, Tài liệu hội thảo đề tài cấp nhà nước 02-12-02 (khả năng đất hoang ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái Nông nghiệp", Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội 29. Bùi Quang Toản (1996),QHSDĐ nông nghiệp ổn định ở vùng trung du và miền núi nước ta, "Tài liệu hội thảo đề tài cấp nhà nước 02-12-02 (khả năng đất hoang ở Việt Nam
Tác giả: Đào Thế Tuấn (1989), Hệ sinh thái Nông nghiệp, Nhà xuất bản KHKT, Hà Nội 29. Bùi Quang Toản
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT
Năm: 1996
30. Tổng cục địa chính (1994), Dự thảo định hướng QHSDĐ cả nước đến năm 2000 và kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo định hướng QHSDĐ cả nước đến năm 2000 và kế hoạch giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp có rừng để sử dụng vào mục đích khác
Tác giả: Tổng cục địa chính
Năm: 1994
31. Lê Trọng (1993), Phát triển quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển quản lý trang trại trong nền kinh tế thị trường
Tác giả: Lê Trọng
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1993
32. Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Nghĩa, Nguyễn Hữu Biên, Trần Ngọc Bình (1997), Các phương pháp đánh giá nông thôn, tài liệu tập huấn dự án hỗ trợ LNXH, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp đánh giá nông thôn
Tác giả: Lý Văn Trọng, Nguyễn Bá Nghĩa, Nguyễn Hữu Biên, Trần Ngọc Bình
Năm: 1997
33. Lê Vĩ (1996), Vấn đề sử dụng đất gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường vùng đồi núi trung du miền bắc Việt Nam, Tài liệu hội thảo, Hà Nội 34. PGS.TS. Trần Hữu Viên - TS. Lê Sỹ Việt, Giáo trình Qui hoạch lâm nghiệp,Trường đại học lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề sử dụng đất gắn với việc bảo vệ độ phì nhiêu của đất và môi trường vùng đồi núi trung du miền bắc Việt Nam", Tài liệu hội thảo, Hà Nội 34. PGS.TS. Trần Hữu Viên - TS. Lê Sỹ Việt, "Giáo trình Qui hoạch lâm nghiệp
Tác giả: Lê Vĩ
Năm: 1996
35. PGS.TS. Trần Hữu Viên (1997), Qui hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia của người dân, (Tài liệu tập huấn Dự án hổ trợ LNXH), Trường đại học lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qui hoạch sử dụng đất và giao đất có sự tham gia của người dân
Tác giả: PGS.TS. Trần Hữu Viên
Năm: 1997
37. Chambers, Robert (1994), "Participatory rural appraisal (PRA): Analysis of experience," World Development, Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: Participatory rural appraisal (PRA): Analysis of experience
Tác giả: Chambers, Robert
Năm: 1994
38. Chambers, Robert,(1994). "The origins and practice of participatory rural appraisal," World Development, Elsevier Sách, tạp chí
Tiêu đề: The origins and practice of participatory rural appraisal
Tác giả: Chambers, Robert
Năm: 1994
39. Christaller, Walter (1933): Die zentralen Orte in Süddeutschland. Gustav Fischer, Jena Sách, tạp chí
Tiêu đề: Die zentralen Orte in Süddeutschland
Tác giả: Christaller, Walter
Năm: 1933
40. Den, D.A (1996), Guidenline for land Use Planning in Developing Countries. Soil Survey and Land Evaluation 1986, Vol. 8(2), S.67-76, Nowich Sách, tạp chí
Tiêu đề: Guidenline for land Use Planning in Developing Countries. "Soil Survey and Land Evaluation 1986, Vol. 8(2)
Tác giả: Den, D.A
Năm: 1996
41. Dumanski J (1993), Sustainland Management for the 21 st Century, Proceeding of the international Workshop on Sustainable Lan Management for the 21 st century, University of Lethbridge, Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sustainland Management for the 21"st" Century, Proceeding of the international Workshop on Sustainable Lan Management for the 21"st"century
Tác giả: Dumanski J
Năm: 1993
43. Farming system development, FAO, Roma 1990, Phát triển hệ thống canh tác, bản dịch tiếng Việt, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển hệ thống canh tác, bản dịch tiếng Việt
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w