1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong quá trình xây dựng nông mới tại xã phương tiến huyện vị xuyên tỉnh hà giang

95 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình xây dựng nông thôn mới gắn liền với quyền lợi, lợi ích của người dân cho nên việc giám sát, đánh giá hiệu quả của chương trình có sự tham gia của người dân địa phương là phù hợ

Trang 1

ĐỖ NAM CAO

ĐÁNH GIÁ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN ĐỊA PHƯƠNG TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI

XÃ PHƯƠNG TIẾN, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2014

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS TRẦN HỮU VIÊN

Hà Nội, 2014

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sau hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu khá toàn diện và to lớn Cơ cấu kinh tế chuyển dịch th eo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường, bộ mặt vùng nông thôn có nhiều thay đổi Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện Hệ thống an ninh, chính trị luôn được củng cố và tăng cường Vị thế của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao

Tuy nhiên, đời sống kinh tế xã hội của người dân vùng nông thôn Việt Nam nói chung có nhiều khó khăn, trong đó đời sống của đồng bào miền núi

và trung du càng khó khăn hơn Do trình độ dân trí thấp, tỷ lệ thất học, bỏ học cao Tập quán canh tác lạc hậu đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân Vốn đầu tư cho phát triển sản xuất không có hoặc rất ít, cơ hội để tiếp cận với những tiến bộ của khoa học kĩ thuật cũng rất hạn chế, chưa mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, phương thức canh tác chưa hợp lý Cơ

sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại khó khăn, địa hình sản xuất phức tạp, thị trường đầu ra cho sản phẩm không ổn định Đó là những khăn và thử thách

mà người dân vùng nông thôn đã và đang gặp phải

Để giải quyết được những khó khăn và tồn tại này tại hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã ban hành nghị quyết 26/NQTW, ngày 05 tháng 8 năm 2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Để thực hiện được một cách đồng bộ và có chiến lược phát triển nông thôn lâu dài nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị thì thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

Trong thời gian qua việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn

Trang 4

mới đã được thực hiện một cách toàn diện và sâu rộng trên phạm vi cả nước nhằm góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vai trò cho cộng đồng người dân sống ở nông thôn… Tuy nhiên, trên thực tế nhiều nơi chưa phát huy hết được những nguồn lực trong thực hiện các chương trình phát triển nông thôn mới

Có rất nhiều lý do và lực cản như: trình độ hiểu biết của người dân, năng lực quản lý, cơ chế, phương pháp triển khai thực hiện và điều kiện cơ sở hạ tầng thấp kém…

Chính vì vậy để biết được hiệu quả của một chính sách ban hành và chương trình thực hiện như thế nào thì công tác kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện có ý nghĩa và vai trò quan trọng Quá trình xây dựng nông thôn mới gắn liền với quyền lợi, lợi ích của người dân cho nên việc giám sát, đánh giá hiệu quả của chương trình có sự tham gia của người dân địa phương là phù hợp, cần thiết và phát huy được vai trò của người dân khi thực hiện chương trình Đó là dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản

lý và dân hưởng lợi

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn và tính cấp thiết của chương trình trọng điểm quốc gia xây dựng nông thôn mới đang được thực hiện trên địa bàn

xã Phương Tiến Để chương trình thành công và đem lại lợi ích thật sự cho người dân địa phương, đồng thời có thể làm cơ sở để đúc rút ra những kinh nghiệm khi thực hiện xây dựng nông thôn mới tôi đã lựa chọn và tiến hành

nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự tham gia của người dân địa phương trong

quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

- Quy hoạch: là một quá trình lý thuyết về tư tưởng có quan hệ với từng

sự vật, sự việc được hình thành và thể hiện qua một quá trình hành động thực

tế Quá trình này giúp nhà quy hoạch tính toán và đề xuất những hoạt động cụ thể để đạt được mục tiêu [1]

- Quy hoạch phát triển nông thôn: là quy hoạch tổng thể, nó bao gồm tổng hợp nhiều nội dung hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội

và môi trường liên quan đến vấn đề phát triển con người trong các cộng đồng nông thôn theo các tiêu chuẩn của phát triển bền vững [1]

Đứng trên góc độ phân bố lực lượng sản xuất, quy hoạch phát triển nông thôn là sự phân bố các nguồn lực tài nguyên, đất đai, lao động, vốn, cơ

sở vật chất kỹ thuật, sự bố trí cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, dịch

vụ trên lãnh thổ nông thôn một cách hợp lý để đạt hiệu quả cao

Đứng trên góc độ kế hoạch hoá, quy hoạch phát triển nông thôn là một khâu trong quy trình kế hoạch hoá nông thôn Bắt đầu lừ chiến lược phát triển kinh tế xã hội nông thôn, đến quy hoạch phát triển nông thôn rồi cụ thể hoá bằng các kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trên địa bàn nông thôn

- Nông dân: là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp Nông dân sống chủ yếu bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu qan xuất chính là đất đai Tùy từng quốc gia, từng thời

kỳ lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò nhất định trong xã hội

- Nông thôn: là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và

Trang 6

môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác [2]

- Phát triển nông thôn: là một quá trình nhằm cải thiện và nâng cao đời

sống của người dân nông thôn một cách bền vững về kinh tế xã hội, văn hoá

và môi trường, quá trình này, trước hết là do nỗ lực từ chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Chính phủ và các tổ chức khác

- Theo tác giả TS Vũ Thị Bình: Nông thôn mới (NTM) là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững

- Quy hoạch NTM: là việc tổ chức mạng lưới điểm dân cư nông thôn hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật (HTKT), hạ tầng xã hội (HTXH) trên địa bàn xã hoặc liên xã Quy hoạch NTM bao gồm quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn trên địa bàn xã hoặc liên xã (còn gọi là quy hoạch chung xây dựng xã) và quy hoạch điểm dân cư nông thôn (còn gọi là quy hoạch chi tiết khu trung tâm xã, thôn, làng, xóm ) [1]

- Xây dựng mô hình NTM: là một chính sách về một mô hình phát triển

cả về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp, bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc, hoặc duy ý chí

- Sự tham gia của người dân: là một quá trình bàn bạc cởi mở, bình đẳng giữa cán bộ, các nhà hoạch định chính sách với người dân địa phương Trong đó kiến thức, ý kiến của người dân được khám phá và tôn trọng Họ cần được xem là chủ thể của sự bàn bạc này Kết luận cuối cùng của quá trình lập kế hoạch phát triển, thực hiện phải được họ đồng ý [7]

1.1.2 Quan điểm của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Trang 7

- Quy hoạch xây dựng NTM phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, từng vùng và quy hoạch phát triển ngành, gắn liền với định hướng phát triển hệ thống đô thị, các vùng kinh tế và phù hợp với Bộ tiêu chí quốc gia về NTM; phải xác định cụ thể định hướng phát triển đặc trưng của từng khu vực nông thôn; giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng trước mắt với phát triển lâu dài, giữa cải tạo với xây dựng mới; phù hợp với sự phát triển về kinh tế của địa phương và thu nhập thực tế của người dân

- Quy hoạch xây dựng NTM phải có sự tham gia của người dân, cộng đồng dân cư, từ ý tưởng quy hoạch đến huy động nguồn vốn, tổ chức thực hiện và quản lý xây dựng

- Quy hoạch xây dựng NTM phải đảm bảo tính đồng bộ, phù hợp với nguồn vốn đầu tư và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; định hướng, giải pháp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, xã hội, môi trường điểm dân cư, hạn chế tối đa những ảnh hưởng do thiên tai, ngập lũ, nền đất yếu

- Quy hoạch xây dựng NTM phải đảm bảo hiện đại, văn minh nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa, phong tục tập quán của từng vùng, miền, từng dân tộc; giữ gìn bảo tồn di sản và phát huy các giá trị văn hóa vật thể

1.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của mô hình Nông thôn mới

- Một là: Đối tượng của mô hình NTM là làng - xã Làng - xã thực sự là một cộng đồng, chịu sự quản lý của Nhà nước, tuy nhiên Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn, mà trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thong qua hương ước, lệ làng

- Hai là: Đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa, đô thị hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất và tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống và trở lên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ gắn bó lâu đời Trước hết, tạo mọi điều kiện cho người dân có thể làm giàu trên chính quê hương của mình

Trang 8

- Ba là: Nông dân biết khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, tăng cường kinh tế cao và bền vững, môi trường tự nhiên được giữ gìn, khai thác tốt tiềm năng du lịch, khôi phục ngành nghề truyền thống, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp

- Bốn là: Dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất Người dân được tham gia tích cực trong quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn

- Năm là: Người dân nông thôn có văn hóa, trí tuệ được nâng lên, sức lao động được giải phóng, nhân dân tích cực tham gia vào quá trình đổi mới

Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng - xã trong công cuộc xây dựng NTM Các tiêu chí này trở thành mục tiêu, yêu cầu trong hoạch định chính sách về

mô hình NTM ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.1.4 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới

- Cần phát huy sức mạnh cộng đồng: Thực hiện Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ về “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Đây là một đề án

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm phát triển nông thôn một cách toàn diện, nâng cao đời sống người dân về mọi mặt và được thực hiện chủ yếu theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng

- Rất cần thể chế, chính sách “thông minh”: Xây dựng NTM là một vấn phức tạp vì liên quan đến nhiều ngành, nhiều chính sách và hoạt động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khu vực nông thôn và đời sống của người dân Các xã cũng cần lựa chọn các tiêu chí để ưu tiên thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, hoàn thành sớm các tiêu chí có điều kiện thuận lợi để thực hiện

- Khơi dậy tinh thần đoàn kết, ý thức vươn lên của người dân: Người dân nông thôn đóng vai trò chủ thể trong quá trình xây dựng nông thôn ổn định và phát triển bền vững Ngoài phần đầu tư của Trung ương và địa

Trang 9

phương, nhiệm vụ xây dựng NTM cấp xã được thực hiện theo phương châm dựa vào nội lực của cộng đồng là chính

- Tập trung tuyên truyền, vận động để mọi người dân hiểu rõ mục tiêu chính của Chương trình xây dựng NTM là nhằm nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của người dân nông thôn Từ đó, từng người dân sẽ phát huy tốt vai trò chủ động, tích cực trong thực hiện chương trình thông qua việc quyết định các vấn đề quan trọng như công tác quy hoạch, xây dựng danh mục công trình, kể cả việc góp vốn đầu tư

1.1.5 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

- Nhóm I: gồm tiêu chí 1 là quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ [2], [14], [18]

- Nhóm II: gồm từ tiêu chí thứ 2 đến tiêu chí thứ 9 là các Nhóm tiêu chí

hạ tầng kinh tế - xã hội: Giao thông, thủy lợi, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp, điện, trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn, bưu điện, nhà ở dân cư [2], [14], [18]

- Nhóm III: Gồm tiêu chí thứ 10 đến tiêu chí thứ 13 là nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất: Thu nhập, hộ nghèo; cơ cấu lao động; hình thức

1.1.6 Nguyên tắc và yêu cầu của quy hoạch xây dựng nông thôn mới

- Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và

Trang 10

hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn

- Thực hiện Chương trình xây dựng NTM phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có quy hoạch và thực hiện các quy hoạch xây dựng NTM đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đạt yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia một cách bền vững

- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,

dự án của Chương trình xây dựng NTM

- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM

- Tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan về bảo vệ các công trình

kỹ thuật, công trình quốc phòng, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, bảo vệ môi trường và an ninh quốc phòng

- Phù hợp vơi đặc điểm của địa phương về: điều kiện tự nhiên, kinh tế,

Trang 11

Nông nghiệp phát triển tạo đà cho công nghiệp hóa: Như mọi quốc gia

Âu, Mỹ trước đây, quá trình công nghiệp hóa ở Nhật Bản bắt đầu bằng một thời gian dài tăng trưởng nhanh sản xuất nông nghiệp Trải qua một thế kỷ phát triển, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia công nghiệp hiện đại nhưng đơn vị sản xuất nông nghiệp chính vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Đặc điểm này rất giống với hoàn cảnh Việt Nam Những kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển kinh tế nông thôn có thể được tóm tắt như sau:

- Thứ nhất: Tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ, giữ lao động lại nông thôn

Trong hoàn cảnh đất chật người đông, chiến lược phát triển khôn khéo

và hiệu quả đã được Nhật Bản thực hiện thành công để đạt được mục tiêu khó khăn: đưa nông nghiệp đi vào phát triển theo chiều sâu từ giai đoạn tăng trưởng ban đầu (chiến lược này gần gũi với quan điểm “CNH - HĐH nông nghiệp” của chúng ta ngày nay) Từ năm 1878 đến năm 1912 là thời kỳ công nghiệp Nhật Bản tăng trưởng nhảy vọt nhưng tổng số lao động nông nghiệp chỉ giảm rất ít từ 15,5 triệu xuống 14,5 triệu người, công nghiệp tăng trưởng gần như chỉ thu hút phần lao động thêm ra do tăng dân số tự nhiên [31]

- Thứ hai là: Dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát triển nội lực Sau chiến tranh, nước Nhật bị tàn phá rơi vào tình trạng đói kém, ngoại

tệ thiếu hụt, khó nhập khẩu lương thực Bị dồn vào chân tường, vẫn như trước, Nhật Bản áp dụng phương châm “dưỡng dân, để dân tự tích lũy, tự khai thác nội lực tạo phát triển” [31]

Từ năm 1970, Nhật Bản đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa nông thôn, thu nhập của nhân dân tăng nhanh do chính sách phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn Cơ cấu kinh tế nông thôn thay đổi, tỷ lệ đóng góp của các ngành phi nông nghiệp trong thu cập cư dân

Trang 12

nông thôn ngày càng tăng Năm 1990, phần thu nhập phi nông nghiệp cao hơn 5,6 lần phần thu từ nông nghiệp Thu nhập từ nông nghiệp của nông dân tăng gấp 9 lần so với mức năm 1950 chủ yếu nhờ giá nông sản tăng do Chính phủ

đã trợ giá Tính cả thu nhập từ nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu nhập của nông dân tính theo đầu người hay bình quân hộ đều cao hơn thu nhập hộ công nhân đô thị

- Thứ ba là: Gắn nông nghiệp với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị

Một trong những điều kiện quan trọng để thực hiện thành công CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản là sự liên kết hài hòa giữa nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị

Phát triển kết cấu hạ tầng (thông tin, giao thông, giáo dục, nghiên cứu)

là nhân tố quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tạo nên năng suất đất đai các giai đoạn đầu thời kỳ Duy Tân và tạo điều kiện phát huy tác dụng máy móc, thiệt bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo nên năng suất lao động cao cho nông nghiệp Nhật bản giai đoạn sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Một tác động quan trọng khác của công nghiệp là tạo việc làm cho lao động nông thôn Để khắc phục tình trạng này, Chính phủ chú trọng phát triển những công nghệ thu hút nhiều lao động trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa Ngay cả đến sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi các công nghệ hiện đại thu hút nhiều vốn đã phát triển, các công nghệ thu hút lao động vẫn được coi trọng đặc biệt

Một biện pháp khác là phân bố các ngành công nghiệp, các nhà máy về nông thôn Nhờ kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và liên lạc hoàn chỉnh, giá thấp, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến dung nguyên liệu nông nghiệp như tơ tằm, dệt may mà cả các ngành cơ khí, hóa chất cũng phân bố

Trang 13

trên địa bàn nông thôn toàn quốc

1.2.1.2 Kinh nghiệm về phát triển nông nghiệp ở Trung quốc

Trong hơn 50 năm qua khoa học và công nghệ (KH&CN) nông nghiệp của Trung Quốc được đánh giá là có bước tiến mạnh mẽ, cống hiến to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Tiến bộ rõ nét nhất trong ngành trồng trọt là đã mang lại đời sống no ấm cho 1,2 tỷ dân, đặt nền móng tốt cho việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất nông nghiệp

Theo thống kê, từ năm 1949 đến năm 1998, các nhà khoa học Trung Quốc đã tạo ra được hơn 5.000 tổ hợp các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, tính chống chịu cao Các loại giống này đã làm cho giống cây trồng được đổi mới tới 4 - 5 lần, mỗi lần đổi mới, sản lượng tăng lên 10,0 - 30,0% Chỉ riêng việc trồng giống lúa lai đã làm tăng được 350,0 triệu tấn lúa gạo Hàng loạt công nghệ mới đã được sáng tạo và ứng dụng trong nông nghiệp, làm cho hơn 1/3 diện tích đất canh tác của Trung Quốc đã trồng được nhiều

vụ Công nghệ trồng trọt được định lượng hóa, mô hình hóa, hệ thống hóa và khu vực hóa, công nghệ tưới tiết kiệm nước, công nghệ phòng trừ dịch bệnh tổng hợp nhằm hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, phát triển bền vững đã

và đang được trình diễn và phổ biến

Trong phát triển nông thôn, nổi bật nhất là sự phát triển của công nghiệp hương trấn - một trong những điều khiến cho cả thế giới phải để tâm Công nghiệp hương trấn của Trung Quốc bắt đầu được khởi động từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, đến cuối những năm 80 bước vào giai đoạn tăng trưởng nhanh, đầu những năm 90 thực hiện điều chỉnh tối ưu hoá, đến giữa những năm 90 lại có bước tăng trưởng nhanh, tạo ra nhiều kỳ tích Công nghiệp hương trấn đã trở thành trụ cột và là nguồn tăng trưởng chính của kinh

tế nông thôn Trung Quốc Qua sự thành công trong phát triển KH&CN nông nghiệp của Trung Quốc có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:

Trang 14

- Phát huy tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội, tập trung nguồn lực vào những việc lớn Kết hợp chặt chẽ nhà nước, ngành và địa phương, theo phương châm: “Nhà nước lập sân khấu, cán bộ KH&CN biểu diễn”, trung ương đi đầu, địa phương phụ trách liên kết các ngành chuyên môn tập trung vào những trọng điểm KH&CN để tạo nên hiệu quả và đạt tới mục tiêu cuối cùng cho nông dân hưởng thụ [31]

- Kiên trì phương hướng phục vụ “Tam nông”: Việc lựa chọn các đề tài KH&CN nông nghiệp phải bám sát mặt trận chính là kinh tế quốc dân, hướng vào những yêu cầu của nhà nước, chọn ra những yêu cầu cấp thiết, mấu chốt của nông thôn, nông nghiệp và nông dân để giải quyết [31]

- Kết hợp giữa sáng tạo và du nhập công nghệ: Cùng với việc tự chủ sáng tạo công nghệ, cần tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài thông qua hoạt động hợp tác quốc tế, đẩy mạnh việc nhập các công nghệ tốt và thích hợp của nước ngoài

1.2.1.3 Mô hình “Làng mới” ở Hàn Quốc

Hàn quốc vào những năm 1960 vẫn là một nước chậm phát triển, nông nghiệp là hoạt động chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn Những suy nghĩ mang tính thụ động và ỷ lại ở phần đông nông dân cần được thay đổi; do vậy, các chính sách mới khơi dậy được niềm tin và tính tích cực đối với việc phát triển nông thôn, khơi dậy tính độc lập, hăng say lao động của đội ngũ nông dân ở khu vực nông thôn

Mục tiêu chính của chính sách mới là làm cho người dân có niềm tin và trở nên tích cực đối với sự nghiệp phát triển nông thôn, làm việc chăm chỉ, cần cù sáng tạo và mang tính cộng đồng

Phong trào làng mới nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất, tạo động lực cho phát triển là “ phát triển tinh thần của người nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ để kích thích tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to

Trang 15

lớn của nông dân [31]

Một số hoạt động của mô hình “Làng mới” trong việc nâng cao vai trò của người dân trong việc tham gia xây dựng mô hình [31]

- Phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, tổ chức từ cơ sở đến trung ương: Cấp được coi trọng nhất vẫn là cấp cơ sở, việc đầu tiên được tiến hành là bầu cử ra một tổ chức ở cấp cơ sở được gọi là “Ủy ban Phát triển Làng mới” [31]

- Nhà nước và nhân dân cùng làm: Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân dân đóng góp công, của’ sự giúp đỡ và hỗ trợ của nhà nước giảm dần khi quy mô của địa phương và sự tham gia của dân gia tăng Nông dân chủ động trong vấn đề ra quyết định thứ tự ưu tiên, họ tự quyết định các loại thiết kế, chỉ đạo thi công, xây lắp, nghiệm thu và giám sát công trình

- Một số kết quả đạt được từ phong trào “Làng mới”:

Bộ mặt nông thôn thay đổi một cách nhanh chóng, sau 08 năm các dự

án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn cơ bản hoàn thành Trong vòng 20 năm, rừng đã được che phủ khắp nước và trong vòng 06 năm, thu nhập bình quân các nông hộ gấp 3 lần, tính thương mại trong sản xuất nông nghiệp tăng; việc xây dựng cơ sở vật chất, đường làng nhà xưởng, hệ thống cung cấp nước, điện, chuyển giao khoa học công nghệ, tích lũy vốn, đào tạo nhân lực, bảo vệ môi trường…

Đầu tư phát triển nông thôn là quá trình lâu dài và tốn kém, để tìm ra biện pháp phát triển rút ngắn được khoảng cách thời gian, đồng thời hạn chế nguồn kinh phí hạn hẹp thì mô hình phong trào “Làng mới” là một trong số những mô hình phát triển nông thôn cần được nghiên cứu và áp dụng một cách chọn lọc, phù hợp với tình hình thực tế tại nước ta [31]

1.2.2 Kinh nghiệm về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.2.2.1 Kinh nghiệm thực hiện

Sau gần 3 năm (2010 - 2013) thực hiện, chương trình thí điểm mô hình

Trang 16

NTM đã thành công bước đầu và đạt được một số kết quả quan trọng Mô hình NTM theo 19 tiêu chí đã được hình thành, khẳng định việc lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện và tổ chức xây dựng mô hình theo Bộ tiêu chí NTM

là phù hợp

Chương trình xây dựng thí điểm mô hình NTM được thực hiện tại 11

xã, gồm Thanh Chăn (Điện Biên), Tân Thịnh (Bắc Giang), Hải Đường (Nam Định), Thuỵ Hương (Hà Nội), Tam Phước (Quảng Nam), Tân Lập (Bình Phước), Gia Phố (Hà Tĩnh), Tân Hội (Lâm Đồng), Tân Thông Hội (TP Hồ Chí Minh), Mỹ Long Nam (Trà Vinh) và Đình Hoà (Kiên Giang)

Mục tiêu của chương trình nhằm thử nghiệm các nội dung, phương pháp, cách làm, cơ chế, chính sách, xác định trách nhiệm và mối quan hệ chỉ đạo giữa các cấp trong việc xây dựng NTM; hình thành các mô hình trên thực tiễn về NTM để rút kinh nghiệm triển khai chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM trên diện rộng.

Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham quan và học tập Phát triển sản xuất, xây dựng quan hệ sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ môi trường được xác định là nội dung trọng tâm đặc biệt quan trọng của Chương trình và được đẩy mạnh triển khai trong năm 2010 Đến nay, mỗi xã đã có ít nhất 3-5 dự án, điểm trình diễn về sản xuất nông nghiệp được thực hiện

Ngoài sản xuất tập trung theo các dự án, hầu hết các xã đã tăng nguồn vốn hỗ trợ nông dân thông qua chương trình khuyến nông, khuyến công, đặc biệt là vốn tín dụng để hình thành các mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả kinh tế.Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong xây dựng NTM đã có nhiều hình thức đa dạng hơn, thu hút người dân tham gia nhiều hơn Xây dựng NTM đã được cán bộ, nhân dân ở cơ sở phấn khởi đón nhận, các xã điểm đã tổ chức để người dân đóng góp ý kiến vào đề án quy hoạch và bản kế

Trang 17

hoạch xây dựng NTM của xã, tham gia bàn bạc, lựa chọn công trình xây dựng hoặc các công việc nào cần làm trước, làm sau

1.2.2.2 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới

- Người dân là chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM; rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch xây dựng NTM, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại

- Người dân là người chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn như: giao thông, thuỷ lợi, điện, trường học,

cơ sở vật chất văn hoá, chợ, bưu điện và nhà ở dân cư nông thôn

- Người dân là chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn; tích cực xoá đói giảm nghèo

- Người dân là chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn;

- Người dân là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị - xã hội vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự xã hội ở cơ sở

1.2.2.3 Kết quả chung đạt được

Theo đánh giá tổng hợp của Ban quản lý chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020, tính đến ngày 16/7/2013 kết quả thực hiện các tiêu chí của chương trình NTM đã đạt được: 85 xã đạt 19 tiêu chí chiếm 1,1%; 226 xã đạt 15 - 18 tiêu chí chiếm 2,9%; 1.071 xã đạt 10 - 14 tiêu chí chiếm 13,6%; 3.982 xã đạt 5 - 9 tiêu chí chiếm 50,5%; 2.523 xã đạt dưới 5 tiêu chí chiếm 29,5,0% Với mức độ các tiêu chí như trên thì mục tiêu đến năm 2015 có 20,0% số xã đạt chuẩn NTM là rất khó đạt được

Một số xã đạt được kết quả thực hiện tốt ở một số mặt như: Quy hoạch

vầ thực hiện tốt quy hoạch ở Hải Đường; Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân ở Mỹ Long Nam; Huy động nguồn lực ở Thanh Chăn và

Trang 18

Định Hóa; Phát triển sản xuất gắn với quy hoạch đồng ruộng và cơ sở hạ tầng

ở Tam Phước; Cải tạo, nâng cao điều kiện sống của người dân ở Tân Thịnh; Liên kết sản xuất giữa nông dân với doanh nghiệp ở Thụy Hương, Tân Hội; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn ở Tân Thông Hội, Tân Lập Hiện các mô hình này là những điểm thực tiễn được các địa phương khác đến tham quan và học tập

Việc triển khai chương trình cũng đưa ra được kinh nghiệm bước đầu

về cách làm, cơ chế, triển vọng để thực hiện thành công Nghị quyết trung

ương 7 về nông nghiệp - nông dân - nông thôn [21]

Qua thực hiện thí điểm tại 11 xã đã có những mô hình tốt trên các mặt: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch, huy động nguồn lực; phát triển sản xuất gắn với quy hoạch ruộng đồng và cơ sở hạ tầng; phong trào cải thiện điều kiện sống của các hộ dân cư; mô hình liên kết sản xuất giữa nông dân và doanh nghiệp; thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông thôn Qua thực tiễn các

mô hình đã phát huy tốt hiểu quả và đang được lan tỏa, nhân rộng Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM đã và đang được triển khai ở các địa phương, trong đó vai trò của người nông dân là vô cùng quan trọng

Trong xây dựng NTM, người nông dân được bàn và tham gia từ đầu về quy hoạch, tạo sự nhất trí, đồng lòng cao trong cả quá trình tổ chức triển khai Người dân đã thảo luận từng việc, công trình làm trước, làm sau cho phù hợp với nguồn lực của chính họ, của địa phương và Trung ương hỗ trợ để hiệu quả nhất

Trong quá trình thực hiện người dân tự giác điều chỉnh trong nhà, vườn của mình theo quy hoạch chung của xã, góp phần văn minh, sạch - đẹp làng xã; tích cực tham gia sản xuất, xóa đói giảm nghèo, chú trọng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh, bảo đảm an ninh trật tự xã hội ở nông thôn

Trang 19

Thu nhập của người nông dân ở xã NTM tăng từ 20 - 30% Đời sống nhân dân được nâng lên rõ rệt

1.2.2.4 Các giải pháp chủ yếu xây dựng mô hình nông thôn mới

Trong đề án Chương trình mục tiêu quốc gia về NTM, Chính phủ quyết định 6 giải pháp chủ yếu để thực hiện 11 nội dung mà Chương trình mục tiêu quốc gia đề ra, nhằm đạt mục tiêu cụ thể từ nay đến năm 2015 có 20,0% số xã đạt chuẩn NTM và đến năm 2020 có 50,0% số xã đạt chuẩn NTM (theo bộ tiêu chí quốc gia về NTM do Chính phủ ban hành) Một số điểm cần lưu ý khi thực hiện các giải pháp để xây dựng NTM:

- Một là: Trong quá trình tổ chức cuộc vận động xã hội về xây dựng NTM phải nhận thức được vị thế chủ thể của người nông dân (bao gồm cả vị thế chính trị, kinh tế) Đây là nhóm dân số đông nhất hiện nay ở nước ta, nhưng hiện tại đời sống kinh tế - văn hóa đang còn nhiều khó khăn và nhìn chung là nhận thức thấp Vì vậy, cần có cách tổ chức vận động phù hợp

- Hai là: Quyết định lựa chọn một cách khoa học, sát thực tế với từng địa phương những nội dung, việc cần ưu tiên làm trước Trong đó, kiên trì quy hoạch, bổ sung quy hoạch theo tiêu chí NTM và phải đi trước một bước

Từ quy hoạch tổng thể, phân khu chức năng đến quy hoạch chi tiết Hạn chế tối đa gây xáo trộn, tốn kém gây tâm lý không tốt, không thiết thực khi làm quy hoạch Việc đầu tư cần thiết về cơ sở hạ tầng trong quá trình xây dựng NTM chỉ thực hiện khi phê duyệt xong quy hoạch

- Ba là: Kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học - kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học vào nông nghiệp, nông thôn Phải đi từ thấp lên cao, đưa ứng dụng kỹ thuật mới phải thực tế Khuyến nông là một giải pháp rất hữu hiệu ở nước ta và kinh nghiệm quốc tế Cùng với việc này là tập trung triển khai nhanh chương trình đào tạo cho người dân nông thôn

- Bốn là; Đầu tư từ nhiều nguồn cho nông thôn để xây dựng hạ tầng và

Trang 20

công trình phúc lợi công cộng (hiện nay Chính phủ quyết định bảy hạng mục công trình “cứng”) Nhà nước đầu tư 100%, tạo sự thay đổi bộ mặt nông thôn Nhưng về lâu dài là chính sách thu hút sự đầu tư của doanh nghiệp về với nông thôn

- Năm là: Có các cơ chế chính sách và biện pháp giúp người dân phát triển sản xuất gắn kết với doanh nghiệp tại nông thôn theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp nhằm “dẫn dắt nông dân ra thị trường” khắc phục được kiểu đưa thị trường về nông thôn “thả nổi nông dân trong cơ chế thị trường”

- Sáu là: Tạo cơ hội để nông dân nông thôn tham gia đầu tư không chỉ cho sản xuất của chính mình, mà cả phúc lợi công cộng do chính mình được hưởng Hình thành “giá đỡ” để nông dân yên tâm sản xuất sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp

1.2.2.4 Các căn cứ thực hiện

a) Các văn bản của Trung ương

- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật số 34/2009/QH12 do Quốc hội để sửa đổi bổ sung điều 126 của Luật nhà ở và điều 121 của Luật đất đai;

- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản số 38/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội;

- Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 24/01/2005 của Chính phủ về quy hoạch xây dựng;

- Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Nghị quyết 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;

- Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 21

về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020;

- Quyết định số 03/2008/QĐ-BXD ngày 31 tháng 3 năm 2008 của Bộ Xây dựng về việc ban hành quy định nội quy thể hiện bản vẽ, thuyết minh đối với nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng;

- Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;

- Thông tư số 17/2010/TT-BXD ngày 30/09/2010 của Bộ xây dựng về việc hướng dẫn xác định và quản lý chi phí quy hoạch xây dựng và quy hoạch

- Nghị quyết số 04-NQ/TW của BCH Đảng bộ tỉnh lần thứ XV về Xây

dựng Nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 trên địa bàn tỉnh Hà Giang;

- Quyết định số 647/QĐ-UBND ngày 12/03/2010 của UBND tỉnh Hà Giang về việc phê duyệt và ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh Hà Giang;

- Quyết định 2632/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Giang về việc ban hành định mức hỗ trợ các công trình nhà nước và nhân dân cùng làm trên địa bàn tỉnh Hà Giang năm 2011;

- Quyết định số 79/QĐ-UBND, ngày 12/1/2012 của UBND tỉnh Hà

Trang 22

Giang Về việc ban hành định mức lập dự toán quy hoạch xã Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Giang giai đoạn 2015-2020;

- Căn cứ quyết định số 7693/QĐ-UBND, ngày 31/12/2011 của UBND huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang Về việc Phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chung

đồ án quy hoạch XDNTM xã Phương Tiến giai đoạn 2011-2020;

- Quy hoạch kinh tế xã hội, quy hoạch GTVT, quy hoạch công nghiệp tiểu thủ công nghiệp của huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang;

- Quy hoạch khu kinh tế cửa khẩu Thanh Thủy và các quy hoạch có liên quan khác

c) Các quy chuẩn, tiêu chuẩn

- Quy chuẩn xây dựng Việt Nam về Quy hoạch xây dựng QCXDVN 01: 2008/BXD ban hành kèm theo Quyết định số 04/QĐ-BXD ngày 03 tháng

04 năm 2008 của Bộ xây dựng;

- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02 : 2009/BXD “Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng” ban hành kèm theo Thông tư 29/2009/TT-BXD ngày 14/8/2009;

- Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14: 2009/BXD về quy hoạch xây dựng nông thôn ban hành kèm theo Thông tư 32/2009/TT-BXD ngày 10/9/2009 của Bộ xây dựng

d) Các cơ sở bản đồ

- Bản đồ hành chính xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên

- Sơ đồ mạng lưới điện huyện Vị Xuyên

- Bản đồ hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và định hướng sử dụng đất của xã; bản đồ địa hình của xã

Trang 23

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp thực hiện xây dựng NTM mang lại lợi ích, hiệu quả cho người dân tại xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang và những nơi có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần quản lý, thực hiện xây dựng NTM đi đúng hướng, hiệu quả góp phần từng bước nâng cao đời sống của người dân tại xã Phương Tiến

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các chỉ tiêu của 19 tiêu chí về xây dựng NTM trên địa bàn xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên

- Vai trò của người dân ở xã Phương Tiến trong quá trình tham gia xây dựng NTM

2.2.2 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu của 19 tiêu chí xây dựng NTM

và vai trò tham gia của người dân địa phương trong quá trình xây dựng NTM

Trang 24

được thực hiện tại xã Phương Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Thực trạng nông thôn tại xã Phương Tiến trước và sau khi có chương trình xây dựng NTM

- Sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng NTM tại xã Phương Tiến từ năm 2011 đến nay

- Phân tích thuận lợi, khó khăn và hạn chế khi người dân tham gia xây dựng NTM tại xã Phương Tiến

- Đề xuất một số giải pháp quản lý, thực hiện xây dựng NTM hiệu quả tại xã Phương Tiến

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Phương pháp kế thừa được sử dụng để điều tra thu thập thông tin từ những tài liệu, văn bản hiện có, những số liệu thống kê lưu trữ hàng năm có liên quan đến đối tượng nghiên cứu như:

- Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các nguồn tài nguyên khác

- Hệ thống bản đồ, cở sở dữ liệu liên quan đến quy hoạch xây dựng NTM

- Các văn bản pháp luật, các nghiên cứu về chương trình mục tiêu quốc gia quy hoạch xây dựng NTM

Yêu cầu: Số liệu kế thừa phải đảm bảo chính thống, cập nhật và đáp ứng được độ chính xác của đề tài

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Điều tra thu thập số liệu một cách ngẫu nhiên, số liệu điều tra, thu thập, rà soát, đánh giá phải đủ lớn đại diện cho địa phương

2.4.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)

Trang 25

RRA được thực hiện thông qua việc phỏng vấn hộ gia đình, phỏng vấn cán bộ xã, thu thập thông tin qua kênh khảo sát Trong đó việc tổng hợp thu thập các thông tin có liên quan được phỏng vấn qua: Bí thư Đảng ủy xã làm trưởng ban chỉ đạo xây dựng NTM để thu thập các thông tin định hướng chỉ đạo cho công tác xây dựng NTM; Chủ tịch UBND xã làm trưởng ban quản lý xây dựng NTM để thu thập các thông tin về tình hình thực hiện xây dựng NTM; Các cán bộ kiêm nhiệm về địa chính, nông nghiệp, văn hóa, văn phòng

để tổng hợp các báo cáo về kết quả thực hiện chuyên môn trong quá trình xây dựng NTM Toàn xã có 8 thôn tác giả đã lựa chọn ngẫu nhiên 3 thôn (thôn Cường Thịnh, thôn Sửu, thôn Xà Phìn) để phỏng vấn mỗi thôn ngẫu nhiên 30

hộ về tình hình triển khai và thực hiện chương trình xây dựng NTM trên địa bàn thôn Các thông tin cần thu thập có liên quan đến các chỉ tiêu như:

Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý

và dân hưởng lợi Những chỉ tiêu này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của

Đảng ta “lấy dân làm gốc” Các nội dung đánh giá sự tham gia của người dân

trong việc xây dựng mô hình NTM được hiểu:

- Dân biết: là quyền lợi, nghĩa vụ và sự hiểu biết của người nông dân

về những kiến thức bản địa có thể đóng góp vào quá trình quy hoạch nông thôn, quá trình khảo sát thiết kế các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn Mặt khác, người dân có điều kiện tham gia hiệu quả hơn vào các giai đoạn sau của quá trình xây dựng công trình; Người dân nắm được thông tin đầy đủ về công trình mà họ tham gia như: mục đích xây dựng công trình, quy

mô công trình, các yêu cầu đóng góp từ công đồng, trách nhiệm và quyền lợi của cộng đồng người dân được hưởng lợi

- Dân bàn: Người dân được tham gia ý kiến, bàn luận về một hướng

sản xuất mới, đầu tư xây dựng công trình phúc lợi công cộng, các giải pháp thiết kế, phương thức khai thác công trình, tổ chức quản lý công trình, các

Trang 26

mức đóng góp và các định mức chi tiêu từ các nguồn thu, phương thức quản

lý tài chính… trong quá trình triển khai và thực hiện

- Dân đóng góp: Là một yếu tố không chỉ ở phạm trù vật chất, tiền bạc

mà còn ở cả phạm trù nhận thức về quyền sở hữu và tính trách nhiệm, tăng tính tự giác của từng người dân trong cộng đồng Hình thức đóng góp có thể bằng tiền, sức lao động, vật tư tại chỗ hoặc đóng góp bằng trí tuệ

- Dân làm: Chính là sự tham gia lao động trực tiếp từ người dân vào

các hoạt động phát triển nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các hoạt động của các nhóm khuyến nông, khuyến lâm, nhóm tín dụng tiết kiệm

và những công việc liên quan đến tổ chức tiếp nhận, quản lý và sử dụng công trình Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình cụ thể trong việc lập kế hoạch có sự tham gia cho từng hoạt động thi công, quản lý và duy tu bảo dưỡng, từ những việc tham gia đú đó tạo cơ hội cho người dân có việc làm, tăng thu nhập cho người dân

- Dân kiểm tra: Có nghĩa là thông qua các chương trình, hoạt động có sự

giám sát và đánh giá của người dân, để thực hiện các quy chế dân chủ cơ

sở của Đảng và Nhà nước nói chung và nâng cao hiệu quả chất lượng công trình Ở những công trình có nhiều bên tham gia, sự kiểm tra, giám sát của cộng đồng hưởng lợi có tác động tích cực trực tiếp đến chất lượng công trình và tính minh bạch trong việc sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của người dân vào xây dựng, quản lý và vận hành công trình Việc kiểm tra có thể được tiến hành ở tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư trờn các khía cạnh kỹ thuật cũng như tài chính

- Dân quản lý: Đó là các thành quả của các hoạt động mà người dân đã

tham gia; các công trình sau khi xây dựng xong cần được quản lý trực tiếp của một tổ chức do nông dân hưởng lợi lập ra để tránh tình trạng không rõ ràng về chủ sở hữu công trình Việc tổ chức của người dân tham gia duy tu, bảo

Trang 27

dưỡng công trình nhằm nâng cao tuổi thọ và phát huy tối đa hiệu quả trong việc sử dụng công trình

- Dân hưởng lợi: Chính là lợi ích mà các hoạt động mang lại, tuy nhiên

cần chia ra các nhóm hưởng lợi ích trực tiếp và nhóm hưởng lợi gián tiếp Nhóm hưởng lợi trực tiếp là nhóm thụ hưởng các lợi ích từ các hoạt động như thu nhập tăng thêm của năng suất cây trồng do thực hiện thâm canh, tăng vụ,

áp dụng các giống mới, các kỹ thuật tiên tiến, phòng trừ dịch bệnh và các hoạt động tài chính, tín dụng Nhóm hưởng lợi gián tiếp là nhóm thụ hưởng thành quả của các hoạt động đó, để hưởng lợi từ mức độ cải thiện môi trường sinh thái, học hỏi nhóm hưởng lợi trực tiếp từ các mô hình nhân rộng, mức độ tham gia vào thị trường để tăng thu nhập

Sơ đồ 2.1: Các chỉ tiêu đánh giá vai trò của người dân trong

việc tham gia xây dựng nông thôn mới

Kết quả phỏng vấn được ghi vào mẫu biểu phỏng vấn hộ gia đình (được thể hiện chi tiết ở phụ biểu 2)

2.4.4 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA)

Người dân

Biết Bàn Đóng góp Làm Kiểm tra Quản lý Hưởng lợi

Trang 28

PRA được áp dụng để kiểm tra kết quả xác định những yếu tố quan trọng nhất đang thúc đẩy, cản trở, thách thức với quá trình phát triển của cộng đồng, lựa chọn những giải pháp ưu tiên, đề xuất những khuyến nghị để việc xây dựng NTM sát, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính trị của địa phương

PRA được thực hiện sau nghiên cứu RRA thông qua một số cuộc họp thôn bản, thảo luận với nhóm người dân, cán bộ thôn ở địa bàn nghiên cứu Trong khi sử dụng PRA nhiệm vụ của người nghiên cứu là hướng người dân

và người tham gia khác vào các tiêu chuẩn cần đánh giá và cho họ biết cách đánh giá

Sự tham gia của người dân vào việc xây dựng NTM được coi như nhân

tố quan trọng, quyết định sự thành bại của việc áp dụng phương pháp tiếp cận phát triển dựa vào nội lực và do cộng đồng làm chủ trong thí điểm mô hình Do vậy trong quá trình xây dựng NTM luôn tìm cách nâng cao sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xây dựng và phát triển Khi xem xét quá trình tham gia của người dân trong các hoạt động trong phát triển nông thôn, ta đánh giá qua các hình thức:

2.4.4.1 Người dân tham gia đóng góp kinh phí thực hiện các mô hình sản xuất, kinh phí xây dựng công trình nông thôn

Đây là một hình thức tham gia của người dân vào các hoạt động phát triển bằng cách đóng góp một phần chi phí cho các hoạt động Điều này không những làm giảm bớt gánh nặng tài chính cho ngân sách nhà nước mà còn làm tăng tính trách nhiệm của người dân khi tham gia vào các chương trình Việc đóng góp ở mức độ nào phụ thuộc về khả năng kinh tế của từng hộ gia đình, của mỗi địa phương khác nhau, người dân có thể đóng góp một phần

để đạt được những mục tiêu đề ra nhằm xây dựng mô hình NTM

2.4.4.2 Người dân tham gia đóng góp ngày công lao động xây dựng công

Trang 29

trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

Đây cũng là một cách người dân đóng góp trực tiếp vào những chương trình phát triển, nhưng không phải về mặt giá trị mà thông qua cách người dân trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng hoặc tu sửa các công trình, kênh mương, xây dựng đường… hình thức này cũng làm nâng cao tinh thần trách nhiệm đồng thời đây là hình thức mà thu hút được sự tham gia của nhóm người dân có thu nhập thấp mà không thể đóng góp được về mặt tài chính Điều đó sẽ tạo ra sự đồng thuận cao hơn, nâng cao tinh thần đũan kết và trách nhiệm trong các hoạt động

2.4.4.3 Người dân tham gia vào hoạt động phát triển kinh tế

Người dân tham gia vào các hoạt động kinh tế như: xây dựng “mỗi làng một nghề”, phát triển và nâng cao hơn các ngành nghề truyền thống của địa phương, góp phần làm nâng cao thu nhập và phát triển kinh tế của địa phương, tạo ra những khác biệt trong phát triển các ngành nghề, những thay đổi này tác động tới những tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội,

về kinh tế và tổ chức sản xuất Những kết quả này đã làm thay đổi bộ mặt của nông thôn và tác động đến tiến trình xây dựng NTM

2.4.4.4 Người dân tham gia tập huấn và đào tạo ứng dụng kỹ thuật trong mô hình sản xuất

Để nâng cao kết quả, hiệu quả trong sản xuất, phát triển hàng hóa, điều không thể thiếu đó là kiến thức ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Khi người nông dân nắm chắc các kiến thức cơ bản, hiểu biết các ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, canh tác thì họ tự tin hơn trong việc thâm canh tăng năng suất và như vậy một lần nữa vai trò của người dân được thể hiện trong việc tự quyết định ứng dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập Khi vai trò của người dân được nâng cao thì người dân dễ dàng tiếp nhận các kiến thức mới, cũng như áp dụng các

Trang 30

tiến bộ kỹ thuật mới một cách chủ động hơn, góp phần nâng cao vai trò của người dân trong phát triển kinh tế, kỹ thuật Điều này sẽ khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng NTM

2.4.4.5 Người dân tham gia vào các lớp nâng cao năng lực cộng đồng

Nâng cao năng lực của người dân: bao gồm việc tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn ngắn hạn cho người dân nông thôn, phát triển năng lực thể chế trong thôn (tổ chức, quản lý, chế tài, phân phối lợi ích,…); Xây dựng phương pháp và

hỗ trợ người dân nông thôn tổ chức các cuộc họp thôn để cùng nhau trao đổi, xác định nhu cầu phát triển của thôn cũng như tham gia vào việc thiết kế, xây dựng, triển khai theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án triển khai tại thôn

2.4.4.6 Người dân tham gia xây dựng quy chế và lập kế hoạch phát triển thôn

Việc xây dựng mô hình phát triển nông thôn theo cách tiếp cận dựa vào người dân trước tiên thông qua quá trình lập kế hoạch phát triển thôn Việc lập kế hoạch giúp người dân tại thôn nhìn nhận các kết quả trong tương lai mà

họ thực sự mong muốn và quan tâm biến những kết quả đó thành hiện thực Động lực xây dựng NTM phải xuất phát từ mong muốn và nguyện vọng của người dân địa phương

Việc lập quy chế và kế hoạch phát triển thôn là quá trình bao gồm sự tham gia của rất nhiều bên như: trưởng thôn và một số đại diện cho các chi hội đoàn thể chính trong thôn (như mặt trận tổ quốc, chi bộ đảng, hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên) cùng với đại diện các hộ trong thôn đã tham gia trực tiếp xây dựng kế hoạch phát triển thôn Ngoài ra cũng có cán bộ của

xã (bí thư hoặc chủ tịch UBND xã hoặc nhân viên chuyên trách) cũng tham gia trong suốt quá trình lập kế hoạch này

Những người tham gia được được phát biểu, đóng góp ý, thảo luận Sau quá trình này các ý kiến sẽ được tổng hợp và được thống nhất thành các điểm chung gắn với mỗi nội dụng cho toàn cộng đồng Như vậy kết quả đưa ra có

Trang 31

thể có sự đồng thuận cao do trong quá trình lập kế hoạch có sự tham gia của người dân

2.4.5 Phương pháp ma trận đánh giá tầm quan trọng và mức độ tham gia của người dân

Việc xác định tầm quan trọng và mức độ tham gia của công đồng dân cư theo các bước:

- Phỏng vấn nhóm, hộ gia đình để liệt kê tất cả các hình thức tham gia của người dân khi thực hiện xây dựng NTM tại địa phương

- Tiếp tục lập lại như vậy đối với nhóm hộ gia đình khác

- Để dễ thực hiện, ma trận được tiến hành qua các bước sau:

Rất quan trọng Quan trọng Ít quan trọng

Là người tham gia

Sơ đồ 2.2: Các bước lập ma trận tầm quan trọng

và mức độ tham gia của người dân

Trực tiếp

Các hình thức tham gia

Gián tiếp

Câu hỏi mở: Ngoài các hình thức trên còn hình thức nào (Hiến đất )

Phỏng vấn để phân loại theo 2 tiêu chí: tầm quan trọng và mức độ mức độ tham gia của người dân

Góp ý tưởng, ý kiến

Trang 32

Đánh giá sự tham gia của người dân thông qua việc đánh giá mức độ tham gia của người dân trong việc thực hiện xây dựng NTM ở địa phương: là người tham gia trực tiếp, gián tiếp, ít hoặc không tham gia Mức độ tham gia

là sự hưởng ứng, ủng hộ, đóng góp của người dân để thực hiện chương trình Mỗi hình thức tham gia lại được đánh giá thông qua nhận thức của người tham gia theo các cấp độ là: rất quan trọng, quan trọng, ít quan trọng Kết quả

là ma trận được lập bởi từng nhóm hộ gia đình

Tổng hợp các ma trận của các nhóm hộ gia đình theo nguyên tắc "đa số

tán thành" sẽ được ma trận tầm quan trọng và mức độ tham gia của người

dân

2.4.6 Phương pháp đánh giá SWOT

Phương pháp này đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của việc xây dựng NTM có sự tham gia của người dân địa phương Qua

đó, giúp cho việc đề xuất các giải pháp quản lý xây dựng NTM phù hợp với điều kiện của xã Kết quả đánh giá được tổng hợp ở bảng sau:

S: Điểm mạnh (Strengths) W: Điểm yếu (Weakness) O: Cơ hội (Opportunities) T: Thách thức (Threats)

- Tổng hợp các thông tin từ phiếu phỏng vấn để phân tích và đưa ra các giải pháp xây dựng NTM trên địa bàn xã một cách hiệu quả đem lại lợi ích cao nhất cho người dân

Trang 33

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Xã Phương Tiến nằm ở phía Tây Bắc của huyện Vị Xuyên với tổng diện tích tự nhiên là 5.826,90 ha, cách trung tâm huyện Vị Xuyên 30 km về phía Đông nam có tọa độ địa lý 22°50′27″ - 23°03′26″ độ vĩ Bắc, 104°52′06″

- 105°07′43″ độ kinh Đông và địa giới hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Thanh Thủy và xã Phong Quang

- Phía Đông giáp giáp với xã Phương Độ thành phố Hà Giang

- Phía Tây giáp với xã Xín Chải và xã Lao Chải

- Phía Nam giáp xã Cao Bồ và xã Phương Độ

- Mối liên hệ vùng: Về đơn vị

hành chính, xã Phương Tiến được chia

8 Cường Thịnh Vị trí hành chính xã Phương Tiến

3.1.2 Địa hình, địa mạo đất đai

Địa hình, địa mạo của Phương Tiến hơn 60,0% là đồi núi có độ dốc lớn, bị chia cắt mạnh bởi các dòng suối Đất đai xây dựng chủ yếu nằm dọc theo lưu vực các suối, các khe tạo nên cảnh quan đẹp Giao thông đi lại các

Trang 34

thôn vùng cao tương đối khó khăn nên ảnh hưởng khá nhiều đến phát kinh tế

Nhiệt độ trung bình năm 22,8 - 23,2oc, nhiệt độ trung bình cao nhất là 27,6 - 28,2oc (tháng 7) và thấp nhất 16,1 - 17,5oc (tháng 1) Về mùa Đông thường có sương mù, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối có khi xuống dưới 5oc Nhiệt độ chênh lệch ngày đêm 8oc

Độ ẩm trung bình thường trên 84,0%, lượng mưa lớn trung bình 2.450mm/năm (từ tháng 5 - tháng 10 biến động 140,6 - 762,5mm, từ tháng 10

- tháng 5 năm sau biến động từ 9,7 - 169,2mm) Tần suất xuất hiện sương muối trung bình 6 ngày/năm Khí hậu thích hợp với các loài cây ăn quả có nguồn gốc cận ôn đới

Trong những năm gần đây tình hình thời tiết có nhiều diễn biến bất thường, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn, mùa khô kéo dài hơn gây nhiều ảnh hưởng xấu tới các hoạt động sinh hoạt và sản xuất Các đợt mưa tập trung

có cường độ lớn và kèm theo gió lốc, mưa thường xuyên xảy ra làm xuất hiện các đợt lũ ống, lũ quét ngày càng nhiều hơn

3.1.3.2 Thuỷ văn

Nhìn chung nguồn nước mặt rất dồi dào vào mùa mưa nhưng hạn chế

về mùa khô Tại khu vực có nhiều khe suối nhỏ, có Sông lô và Suối sửu đóng vai trò là nguồn nước chính phục vụ sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong

Trang 35

3.1.4 Nguồn tài nguyên

3.1.4.1 Tài nguyên đất đai

* Tổng diện tích tự nhiên xã Phương Tiến: 5.826,90 ha trong đó:

- Đất Nông nghiệp: 5.088,47 ha, chiếm: 87,33% diện tích đất tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp: 128,99 ha chiếm 2,21% diện tích đất tự nhiên

- Đất chưa sử dụng: 584,01 ha chiếm 10,02% diện tích đất tự nhiên

- Đất khu dân cư nông thôn: 25,43 ha chiếm 0,44% diện tích đất tự nhiên tập trung tại 8 thôn trong xã

Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất toàn xã Phương Tiến năm 2013

Hiện Trạng Diện tích

(ha)

Cơ Cấu (%) TỔNG DIỆN TÍCH ĐẤT TỰ NHIÊN 5.826,90 100,00

1.1 Đất lúa nước(gồm đất chuyên trồng lúa nước

2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự

Trang 36

2.2 Đất quốc phòng CQP - -

Nguồn: Số liệu từ nguồn kiểm kê đất đai năm 2013

3.1.4.2 Tài nguyên nước

Xã Phương Tiến có địa hình chia cắt mạnh, có độ dốc lớn, lượng nước phụ thuộc theo mùa, mùa mưa đủ nước, mùa khô thiếu nước sản xuất Nhìn chung nguồn nước mặt có thể cung cấp được 80,0%, nguồn nước ngầm rất khó khai thác điều đó ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân địa phương vào mùa khô

3.1.4.3 Tài nguyên khoáng sản

Trang 37

Trên địa bàn xã tài nguyên khoáng sản hạn chế, chưa có công ty nào tiến hành thăm dò khai thác khoáng sản ở địa phương Theo nguồn kiểm kê đất đai cũng không có diện tích đất nào phục vụ cho khai thác khoáng sản Như vậy trên địa bàn xã nguồn tài nguyên khoáng sản là rất khan hiếm

3.1.4.4 Cảnh quan - môi trường

Xã Phương Tiến có diện tích đất lâm nghiệp tương đối lớn, ít bị ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nhiều dãy núi đất, xen

kẽ dưới chân đồi, núi là các chân ruộng bậc thang trồng lúa, màu kết hợp một cách hài hoà, tạo nên một bức tranh thiên nhiên đa dạng và phong phú, mang đậm nét của miền núi phía Bắc

Trong quá trình khai thác sử dụng đất đai, tài nguyên thiên nhiên và tập quán sinh hoạt của người dân chưa hợp lý đã phần nào làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Xong việc thực hiện bảo vệ, khoanh nuôi, phục hồi rừng và trồng mới rừng đã được Nhà nước quan tâm Nên về cơ bản môi trường tự nhiên của xã Phương Tiến còn giữ được sắc thái tự nhiên

3.1.4.4 Tài nguyên rừng

Theo số liệu điều tra tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã Phương Tiến

là 4.283,7 ha chiếm 73,52% diện tích tự nhiên Trong đó đất rừng sản xuất là 1.634,5 ha chiếm 28,05% diện tích tự nhiên, đất rừng đặc dụng là 2.649,2 ha chiếm 45,47% diện tích tự nhiên

3.1.4.5 Tài nguyên nhân văn

- Xã Phương Tiến có 5 dân tộc sống xen kẽ với nhau trong đó dân tộc Tày và Dao chiếm chủ yếu, với 93,9% là lao động sản xuất Nông lâm nghiệp nhưng hầu hết chưa qua đào tạo, bồi dưỡng nghề, ngoài những lớp tập huấn ngắn ngày của cán bộ khuyến nông tổ chức tại xã

- Tập quán, văn hóa: Với nhiều dân tộc sinh sống trên địa bàn xã Phương Tiến nên các phong tục, tập quán còn lưu truyền được nhiều nét truyền thống

Trang 38

Nhiều thôn bản ở địa phương vẫn còn lưu giữ được những bản sắc đặc thù của của dân tộc

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

b) Cơ cấu lao động

Tổng lao động toàn xã: 1.239 người trong độ tuổi, chiếm 42,0% dân số Trong đó: Lao động nông nghiệp: 1.164 người - chiếm 93,9% tổng số lao động Lao động CN, TTCN, Xây dựng, dịch vụ, TM: 75 người - chiếm 6,1% tổng số lao động

c) Lao động và việc làm

Trên địa bàn xã lao động ở 4 thôn vùng cao chủ yếu là lao động phổ thông, không có trình độ nên năng suất lao động chưa cao, phần lớn phụ thuộc vào tự nhiên Ở 4 thôn gần trung tâm xã ngoài việc chủ động sản xuất nông nghiệp họ còn có thể lao động trong lĩnh vực công nghiệp tiểu thủ công nghiệp

và dịch vụ do điều kiện giao thông đi lại thuận lợi và gần trung tâm thành phố

Hầu hết các hộ gia đình trong xã ngoài việc sản xuất cây lúa, ngô là chủ yếu họ còn có thể trồng thảo quả, chè để tăng thêm thu nhập cho người dân Đồng thời các cấp chính quyền cũng đang từng bước giải quyết việc làm cho người dân hoặc thông qua các dự án nông lâm nghiệp như HPM, 661… đào tạo nghề, xây dựng các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã

d) Thu nhập và mức sống

Trong những năm qua cùng với phát triển kinh tế đời sống của nhân dân đã phần nào được nâng cao không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần,

Trang 39

các lĩnh vực phục vụ cần thiết cho người dân như: giao thông, văn hoá, y tế, giáo dục, thể thao… đã đáp ứng nhu cầu của người dân ngày càng tốt hơn Hiện nay mức thu nhập bình quân chung của xã đạt 15.307.000 đồng/người/năm

3.2.1.2 Y tế, văn hóa, giáo dục

b) Về văn hóa - Thông tin - Thể dục thể thao

Lĩnh vực văn hóa thông tin - TDTT thường xuyên được quan tâm cả về nội dung và hình thức gắn với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thực hiện cuộc sống mới bài trừ các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, các hủ tục lạc hậu Thường xuyên tổ chức giao lưu văn hóa văn nghệ TDTT với trường Mầm non, Tiểu học, trường cấp II, III tạo sân chơi lành mạnh cho thanh thiếu niên, nhi đồng và quần chúng nhân dân

Đến nay việc xây dựng đời sống văn hóa đã được đẩy mạnh với 6/8 làng văn hóa đã được công nhận làng văn hóa cấp huyện, cấp tỉnh, số hộ được tỉnh, huyện công nhận gia đình văn hóa đến năm 2013 đạt 75,0%, việc thực hiện quy ước, hương ước, nếp sống văn hóa có nhiều tiến bộ, đến nay có 8/8 xóm có đội văn nghệ, 4 đội bóng chuyền, 4 đội bóng đá

Trang 40

c) Về giáo dục

Về giáo dục trong những năm gần đây được nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng và phát triển tương đối toàn diện, đến nay trên địa bàn xã đã có đủ 4 cấp học mầm non, tiểu học, cấp II, cấp III Hàng năm chuyển lớp, chuyển cấp đạt tỷ lê ̣ cao: bậc tiểu học đạt 99,0%, bậc THCS dạt 99,0%, bậc THPT tỷ lệ đạt tốt nghiệp 82,0%

Công tác xã hội hoá giáo dục có bước chuyển biến đáng kể, đã thu hút được nhiều tổ chức, tham gia xây dựng trường, lớp Tuy nhiên công tác giáo dục của xã còn gặp nhiều khó khăn, số phòng học còn ít, số giáo viên có trình

độ cao còn thiếu Nhìn chung cơ sở trường và lớp học đã được xây dựng, tuy

nhiên đồ dùng phục vụ giảng dạy và học tập còn hạn chế

- Trường Mầm non: Số cán bộ giáo viên 19 người với 167 cháu được chia làm 8 lớp trong đó có 2 lớp nhà trẻ (30 cháu), 6 lớp mầm non (120 cháu)

- Trường Tiểu học: Tổng số cán bộ giáo viên 26 người, 214 em học sinh với 14 lớp học Toàn xã có 4 điểm học tập: Điểm trường chính tại thôn Sửu, điểm trường Nậm Tẹ, điểm trường Mào Phìn, điểm trường Nào Mào

- Trường cấp II, III: Tổng số cán bộ giáo viên 44 người (trong đó Đại học, cao đẳng 33 người, trung cấp, sơ cấp 11 người) Tổng số học sinh 453

em, trong đó học sinh THCS là 113 em (4 lớp), THPT là 340 em (11 lớp)

3.2.1.3 Về an ninh - quốc phòng

a) Công tác an ninh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định Công tác bảo vệ an ninh được đẩy mạnh, lực lượng công an viên được củng cố bổ xung thường xuyên và hoạt động có hiệu quả Xây dựng thế trận

an ninh nhân dân vững mạnh, ổn định Nhân dân, thường xuyên cảnh giác trước các âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch Thực hiện quản lý hộ tịch hộ khẩu, tạm trú tạm vắng và xử lý kịp thời các vụ việc xảy ra trên địa

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009), Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tập 1, tập 2, tập 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, tập 1, tập 2, tập 3
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2009
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới (cấp xã), NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới (cấp xã)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2010
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1997), Các phương pháp tiếp cận lâm nghiệp xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp tiếp cận lâm nghiệp xã hội Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000), Chiến lược phát triển lâm nghiệp 2000 - 2010, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển lâm nghiệp 2000 - 2010
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2000
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009): Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết việc lập điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
6. Cục lâm nghiệp & REFAS (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành lâm nghiệp
Tác giả: Cục lâm nghiệp & REFAS
Năm: 2006
8. Hội nghị toàn quốc sơ kết thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị (2002), về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Tác giả: Hội nghị toàn quốc sơ kết thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị
Năm: 2002
9. Võ Nguyên Huân (1999), “Làm gì để phát triển kinh tế trang trại vùng trung du và miền núi Việt nam”, Tạp chí Lâm nghiệp, (Số 7/1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm gì để phát triển kinh tế trang trại vùng trung du và miền núi Việt nam”, "Tạp chí Lâm nghiệp
Tác giả: Võ Nguyên Huân
Năm: 1999
10. Hoàng Hùng (2000), Một số vấn đề về phương pháp luận đánh giá về hiệu quả kinh tế, xã hội của xây dựng, sử dụng và quản lý công trình thuỷ lợi nhỏ có sự tham gia của người dân ở Việt Nam, chuyên đề tiến sỹ khoa học kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp luận đánh giá về hiệu quả kinh tế, xã hội của xây dựng, sử dụng và quản lý công trình thuỷ lợi nhỏ có sự tham gia của người dân ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hùng
Năm: 2000
11. Nguyễn Hải Nam (1999), Tổ công tác lâm nghiệp cộng đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ công tác lâm nghiệp cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Hải Nam
Năm: 1999
12. Nguyễn Bá Ngãi (2001), Phương pháp đánh giá nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp đánh giá nông thôn
Tác giả: Nguyễn Bá Ngãi
Năm: 2001
13. Quyết định số 1744/QĐ-UBND ngày 19/08/2011 của UBND tỉnh Hà Giang, Về việc ban hành quy định lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2020, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc ban hành quy định lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hà Giang đến năm 2020
14. Quyết định số 647/QĐ-UBND, ngày 12/03/2010 của UBND tỉnh Hà Giang, Về việc phê duyệt và ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh Hà Giang, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc phê duyệt và ban hành Bộ tiêu chí xã đạt chuẩn Nông thôn mới của tỉnh Hà Giang
15. Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu xã hội học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu xã hội học
Tác giả: Phạm Văn Quyết và Nguyễn Quý Thanh
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Hồ Văn Thông (2005): Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hồ Văn Thông
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia - Hà Nội
Năm: 2005
17. Thông tư 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 8/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
18. Thủ tướng chính phủ (2009), Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/04/2009 ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 491/QĐ-TTg, ngày 16/04/2009 ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2009
19. Thủ tướng chính phủ (2010), Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2010
20. Thủ tướng chính phủ (2012), Quyết định số 695/QĐ-TTg về việc sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 695/QĐ-TTg về việc sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Tác giả: Thủ tướng chính phủ
Năm: 2012
21. Tổng bí thư (2008), Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 về Hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 về Hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân và nông thôn
Tác giả: Tổng bí thư
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w