CƠ SỞ LÝ LU Ậ N V Ề THU Ế VÀ QU Ả N LÝ THU Ế ĐỐ I V Ớ I CÁC
M ộ t s ố v ấn đề cơ bả n v ề doanh nghi ệ p v ừ a và nh ỏ
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Hiện nay có rất nhiều quan điểm, định nghĩa cũng như tiêu thức khác nhau về DNVVN
Doanh nghiệp được định nghĩa là một cộng đồng người sản xuất ra của cải, trải qua quá trình sinh ra và phát triển với nhiều thăng trầm Trong hành trình này, doanh nghiệp có thể gặp thất bại, nhưng cũng có những thành công đáng kể Có những thời điểm khó khăn, doanh nghiệp phải vượt qua những thử thách nguy kịch, nhưng cũng có lúc phải ngừng sản xuất hoặc thậm chí đối mặt với nguy cơ tiêu vong do những khó khăn không thể vượt qua.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) được định nghĩa là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động vì mục đích lợi nhuận Quy mô của các doanh nghiệp này được xác định dựa trên các tiêu chí như vốn, lao động, doanh thu và giá trị gia tăng trong từng thời kỳ, theo quy định của từng quốc gia.
Theo Bùi Văn Vần (2018), một doanh nghiệp được xác định là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) khi đáp ứng các tiêu chí sau: phải là cơ sở kinh doanh đã đăng ký theo quy định của pháp luật và có số lao động bình quân năm hoặc quy mô tổng nguồn vốn/tổng tài sản phù hợp với các quy định hiện hành, được phân loại thành ba cấp độ: siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp (siêu nhỏ, nhỏ, vừa) khác nhau tùy theo ngành nghề Đối với lĩnh vực thương mại và dịch vụ, yêu cầu về số lượng lao động và quy mô tài sản thấp hơn so với các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng.
Theo Phạm Quang Tùng (2017), doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là những doanh nghiệp có quy mô hạn chế về vốn, lao động và doanh thu DNVVN được phân loại thành ba nhóm dựa trên quy mô, bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
Theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định pháp luật để thực hiện các hoạt động kinh doanh.
Theo 4 luật doanh nghiệp, các loại hình tổ chức kinh doanh bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Mỗi quốc gia có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Tại Việt Nam, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ban hành ngày 11/03/2018 quy định các tiêu chí xác định DNVVN.
Bảng 1.1: Tiêu chí xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ
DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa
Số LĐ tham gia BHXH bình quân năm
Tổng doanh thu của năm
Số LĐ tham gia BHXH bình quân năm
Tổng doanh thu của năm
Số LĐ tham gia BHXH bình quân năm
Tổng doanh thu của năm
Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và công nghiệp
≤ 10 người ≤ 3 tỷ đồng ≤ 3 tỷ đồng ≤ 100 người ≤ 50 tỷ đồng ≤ 20 tỷ đồng ≤ 200 người ≤ 200 tỷ đồng ≤ 100 tỷ đồng
Thương mại và dịch vụ ≤ 10 người ≤ 10 tỷ đồng ≤ 3 tỷ đồng ≤ 50 người ≤ 100 tỷ đồng ≤ 50 tỷ đồng ≤ 100 người ≤ 300 tỷ đồng ≤ 100 tỷ đồng
(Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP)
DNVVN, hay Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa, được định nghĩa khác nhau tùy theo từng thời điểm và quy định của mỗi quốc gia Thông thường, DNVVN là các cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động với mục tiêu lợi nhuận và có quy mô doanh nghiệp nhất định, được xác định dựa trên tiêu chí vốn và số lượng lao động.
1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế
- DNVVN góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh tế
Nước ta là một quốc gia đang phát triển với nhiều tiềm năng kinh tế chưa được khai thác hiệu quả, bao gồm tài nguyên, sức lao động và thị trường Lực lượng sản xuất còn yếu kém, khiến khu vực kinh tế quốc doanh chưa phát huy được nguồn tài nguyên và quy mô sản xuất nhỏ không mang lại hiệu quả cao Trong khi đó, khu vực kinh tế cá thể cũng chưa đủ khả năng khai thác tiềm năng này Do đó, sự ra đời của Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) sẽ giúp tận dụng tối đa những tiềm năng chưa được khai thác, nhờ vào khả năng tập trung vốn và linh hoạt trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi để khai thác các lĩnh vực mà nhà đầu tư lớn ít quan tâm.
- Thu hút được vốn đầu tư và khai thác các lợi thế kinh doanh
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) thường được hình thành từ các hộ kinh doanh cá thể, giúp họ chủ động về vốn và chịu trách nhiệm với kết quả kinh doanh Họ có khả năng huy động vốn từ nhiều cá nhân, khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong cộng đồng Bên cạnh đó, DNVVN còn tận dụng kinh nghiệm, truyền thống trong sản xuất kinh doanh và các lợi thế đặc thù của từng khu vực.
- Thu hút tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động ở nước ta
Người lao động tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm lao động thường xuyên và lao động nhàn rỗi, thường là lao động mùa vụ ở nông thôn Sự tham gia này không chỉ tạo thu nhập cho người lao động mà còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm và ổn định kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và khu vực khó khăn chưa có điều kiện công nghiệp hóa.
- Tăng số thu cho NSNN,góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Nguồn thu ổn định lâu dài cho ngân sách nhà nước là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia Mặc dù doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đóng góp tỷ trọng không lớn trong tổng thu ngân sách, nhưng chúng mang lại nguồn thu ổn định và có khả năng phát triển Hơn nữa, hoạt động sản xuất kinh doanh của DNVVN còn góp phần vào sự ổn định kinh tế vĩ mô và giúp cân đối ngân sách ở cấp quận, huyện.
1.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo Phạm Quang Tùng (2017), DVVVN có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh và tiềm lực tài chính nhỏ
Với vốn đầu tư tối đa 100 tỷ đồng và số lượng lao động không quá 300 người, doanh nghiệp vừa và nhỏ có khả năng dễ dàng thành lập và gia nhập thị trường Chúng cũng có khả năng thu hồi vốn nhanh chóng và phát triển đa dạng trong nhiều ngành nghề khác nhau.
Nguồn vốn chủ yếu của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) chủ yếu là vốn chủ sở hữu, khoản chiếm dụng của người bán, và khoản trả trước của khách hàng, trong khi khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng và thị trường chứng khoán còn hạn chế Điều này dẫn đến tiềm lực tài chính của DNVVN thấp, hạn chế khả năng đầu tư vào công nghệ, máy móc thiết bị, và gặp khó khăn trong việc mở rộng thị trường.
Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động tại nhiều ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh phong phú
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) hoạt động đa dạng dưới nhiều hình thức như doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, và công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau Với vốn đầu tư ban đầu thấp và bộ máy quản lý đơn giản, DNVVN có khả năng thu hồi vốn nhanh chóng, giúp hạn chế tình trạng ứ đọng vốn trong tái sản xuất Sự hấp dẫn của DNVVN đối với nhà đầu tư nằm ở khả năng phát triển nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường, đồng thời đóng góp vào ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào biến động của môi trường kinh doanh
Lý lu ậ n chung v ề thu ế
Theo Nguyễn Văn Hiệu (2012), thuế được định nghĩa là khoản phí tài chính bắt buộc mà cá nhân hoặc pháp nhân phải nộp cho tổ chức chính phủ nhằm tài trợ cho các chi tiêu công khác nhau.
Thuế có những thuộc tính ổn định qua các giai đoạn phát triển, thể hiện qua các đặc trưng và đặc điểm riêng biệt của nó.
Tính bắt buộc là thuộc tính cốt lõi của thuế, phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác của ngân sách nhà nước Đặc điểm này thể hiện rõ ràng nội dung kinh tế của thuế, là những quan hệ tiền tệ khách quan với ý nghĩa xã hội đặc biệt, thể hiện sự động viên bắt buộc từ phía nhà nước Phân phối thuế là phương thức phân phối của nhà nước, trong đó một phần thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao cho nhà nước mà không kèm theo bất kỳ quyền lợi nào, và việc đóng thuế được xem là nghĩa vụ của công dân.
Tính không hoàn trả trực tiếp
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế thể hiện qua việc người nộp thuế nhận lại lợi ích gián tiếp thông qua các dịch vụ công cộng do nhà nước cung cấp Trước khi thu thuế, nhà nước không cung cấp dịch vụ công nào cho người nộp thuế, và sau khi nộp thuế, cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho họ.
Thuế là công cụ tài chính quan trọng, được xác định bởi quyền lực chính trị của nhà nước và thể hiện qua hệ thống pháp luật.
Theo tác giả luận văn, thuế là khoản phí tài chính bắt buộc mà cá nhân và pháp nhân phải thực hiện theo quy định của pháp luật Thuế không mang tính chất đối kháng và không được hoàn trả trực tiếp cho người nộp, mà được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu công cộng.
Nền kinh tế toàn cầu hiện nay đều chịu sự quản lý của Nhà nước, với mức động viên khác nhau giữa các quốc gia, nhưng vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế là không thể phủ nhận Tích cực hay tiêu cực của vai trò này phụ thuộc vào phương thức điều hành và quản lý Hệ thống thuế cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn nội tại; vai trò của thuế rất quan trọng nhưng mức độ ảnh hưởng còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Hiện tại, vẫn tồn tại nhiều quan điểm trái ngược về vai trò của thuế, nhưng nhìn chung, hệ thống thuế trong cơ chế thị trường đóng vai trò cơ bản trong việc điều tiết nền kinh tế.
- Thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách Nhà nước
Thuế là công cụ quan trọng trong nền kinh tế, giúp tập hợp và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội cũng như thu nhập quốc dân theo định hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội Nguồn thu thuế được xác định dựa trên thu nhập xã hội, do đó, khi nền kinh tế phát triển ổn định, nguồn thu từ thuế cũng sẽ được đảm bảo ổn định.
Với nền kinh tế đa dạng, hệ thống thuế cần phải bao quát tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn thu nhập và tiêu dùng xã hội để đảm bảo thu đủ và hợp lý.
Để thuế trở thành nguồn thu chủ yếu và ổn định cho ngân sách Nhà nước, cần thiết phải xây dựng chính sách và hệ thống thuế phù hợp với khả năng của nền kinh tế và sức đóng góp của nhân dân, đồng thời hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế
Thuế không chỉ đóng góp vào ngân sách Nhà nước mà còn là công cụ quan trọng điều chỉnh nền kinh tế Nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập, cho phép Nhà nước điều chỉnh chính sách thuế phù hợp với từng tình huống kinh tế Khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, tăng thuế có thể kìm hãm phát triển, trong khi giảm thuế trong thời kỳ suy thoái có thể kích thích nhu cầu và phục hồi kinh tế Chính vì vậy, việc xây dựng chính sách thuế cần dựa trên cái nhìn tổng quan, xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội, nhằm phát huy vai trò điều hòa và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Các quy định về đối tượng, phạm vi đánh thuế, thuế suất và điều kiện miễn, giảm thuế không chỉ mang tính cưỡng chế mà còn nhằm điều chỉnh các quan hệ kinh tế, khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư vào những ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể Điều này giúp người nộp thuế nhận thức rõ hơn về nơi đầu tư có lợi nhất.
- Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội
Hệ thống thuế được áp dụng một cách đồng nhất cho tất cả các ngành nghề, thành phần kinh tế và tầng lớp dân cư, nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội Mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ như nhau, không có bất kỳ đặc quyền hay lợi ích không hợp lý nào cho một nhóm đối tượng nhất định.
Sự bình đẳng và công bằng trong chính sách thuế cần được thể hiện qua việc động viên tương tự giữa các đơn vị và cá nhân trong các thành phần kinh tế có điều kiện hoạt động giống nhau Đối với những tổ chức và cá nhân có hoàn cảnh khác nhau, việc đánh giá sự bình đẳng và công bằng phải dựa trên nhiều yếu tố, không chỉ là mức thuế suất hay phạm vi đánh thuế Cần phân biệt rõ giữa công bằng xã hội và bình quân chủ nghĩa; việc mọi người nộp thuế như nhau không phải là công bằng Ví dụ, việc đánh thuế cao hơn đối với người có thu nhập cao cần đi kèm với các quy định khuyến khích họ đầu tư vào chất xám, vốn, và cải tiến công nghệ, nhằm nâng cao thu nhập, đó mới thực sự là công bằng.
1.2.3 Khái niệm, phương pháp tính một số sắc thuế cơ bản
Theo Nghị định 22/2020/NĐ-CP ngày 24/02/2020, một số điều của Nghị định 139/2016/NĐ-CP ngày 04/10/2016 đã được sửa đổi và bổ sung, quy định rõ về lệ phí môn bài.
Qu ả n lý thu thu ế đố i v ớ i doanh nghi ệ p v ừ a và nh ỏ
1.3.1 Khái niệm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quản lý thu thuế là hoạt động của nhà nước, trong đó cơ quan thuế đóng vai trò hướng dẫn và giám sát việc thực thi pháp luật về thuế, nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển và tăng thu ngân sách nhà nước Hoạt động này bao gồm xác định đối tượng nộp thuế, số thuế phải nộp và thu thuế, với chức năng kiểm soát tuân thủ và áp dụng các khoản phạt đối với vi phạm Đồng thời, quản lý thu thuế yêu cầu các bên giao dịch với đối tượng nộp thuế phải báo cáo đầy đủ các giao dịch kinh tế phát sinh thuế Quá trình quản lý thu thuế được coi như một quá trình sản xuất, với đầu vào là nhân công và thông tin, và đầu ra là số thu cho Nhà nước cùng sự công bằng cho người nộp thuế.
Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) bao gồm các hoạt động quan trọng như hoạch định mục tiêu, phân cấp quản lý, xây dựng và ban hành quy trình thủ tục, cũng như đề ra giải pháp tổ chức thực hiện Đồng thời, cần thực hiện kiểm tra, thanh tra và sắp xếp tổ chức bộ máy cùng nhân sự để đảm bảo hiệu quả trong các khâu công việc.
1.3.2 Đặc điểm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một nhiệm vụ quan trọng, vì đây là nhóm pháp nhân nộp thuế lớn và đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng thu nội địa Do đó, việc quản lý thu thuế cho DNVVN được ưu tiên hàng đầu và nhận được sự quan tâm đặc biệt Các cơ quan thuế trên toàn thế giới cũng không ngừng tập trung nguồn lực vào việc quản lý hiệu quả nhóm đối tượng nộp thuế này.
Quản lý thu thuế dựa trên đối tượng nộp thuế yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn và chứng từ theo quy định Theo chế độ hiện hành, mọi doanh nghiệp đều phải mở sổ sách kế toán và hạch toán theo quy định, đồng thời thực hiện nghĩa vụ thuế thông qua phương pháp kê khai thuế.
Doanh nghiệp ngày nay có phạm vi kinh doanh rộng và phức tạp hơn nhiều so với hộ cá thể, với nhiều công ty hoạt động trên toàn quốc Việc kiểm soát chi phí và thu nhập để tính thuế trở nên khó khăn, vì các doanh nghiệp không trốn thuế một cách đơn giản như cá nhân mà thường sử dụng các phương pháp tinh vi, mặc dù họ luôn xuất trình đầy đủ hóa đơn và chứng từ Để quản lý thu thuế hiệu quả, cần có đội ngũ cán bộ có chuyên môn cao để phát hiện các kỹ thuật trốn thuế phức tạp và từ đó cải thiện chính sách thuế hoặc xử lý các trường hợp vi phạm.
1.3.3 Quy trình quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Quy trình quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNVVN) được thực hiện qua các bước như đăng ký thuế, kê khai thuế, miễn giảm thuế, hoàn thuế, và thanh tra kiểm tra thuế Dựa trên luật Quản lý thuế do Quốc hội thông qua, Tổng cục Thuế đã ban hành các Quyết định quy định quy trình quản lý thuế cho từng khâu công việc, liên kết với các đội chức năng Hiện nay, ngành thuế đã triển khai các quy trình quản lý thu thuế cụ thể.
(1) Quy trình quản lý đăng ký thuế
Thực hiện đúng các quy định về Đăng ký thuế theo Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn liên quan là rất quan trọng để đảm bảo tuân thủ pháp luật và quản lý thuế hiệu quả.
Cải tiến thủ tục quản lý thuế, chuẩn hoá công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt độngcủa bộ máy quản lý thuế;
Quy trình này được áp dụng cho Tổng cục Thuế, các Cục Thuế và Chi cục Thuế trên toàn quốc nhằm quản lý hiệu quả việc đăng ký thuế của người nộp thuế.
(2) Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán
Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế là yếu tố quan trọng giúp theo dõi và quản lý người nộp thuế trong việc thực hiện các thủ tục hành chính về thuế Điều này đảm bảo rằng người nộp thuế hoàn thành nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ và đúng quy định Đồng thời, quy trình cũng đảm bảo công chức thuế và cơ quan thuế thực thi đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế, các Luật thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế được áp dụng cho Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế, nhằm tuân thủ các quy định của Luật Quản lý thuế cùng với các Luật thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.
(3) Quy trình miễn thuế, giảm thuế
Cần xác định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc thực hiện và xác định số thuế được miễn, giảm theo quy định của pháp luật thuế và Luật Quản lý thuế.
Cơ quan thuế và công chức thuế có trách nhiệm thực hiện các quy định cụ thể về nội dung công việc liên quan đến việc giải quyết miễn thuế và giảm thuế, tuân thủ theo Luật Quản lý thuế.
Quy trình miễn thuế và giảm thuế được thực hiện đồng bộ tại các cấp Cơ quan thuế, bao gồm Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế Việc này nhằm đảm bảo việc giải quyết miễn thuế, giảm thuế theo đúng quy định của pháp luật thuế, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, đặc biệt trong các trường hợp mà cơ quan thuế có quyết định miễn thuế hoặc giảm thuế.
Cơ quan thuế cần xác định rõ nội dung và trình tự công việc trong việc giải quyết hoàn thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế, nhằm cải cách thủ tục hành chính và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng các quy trình và quy định pháp luật liên quan Đồng thời, cơ quan thuế cũng thực hiện kiểm tra hồ sơ theo trình tự và nội dung đã được quy định, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình hoàn thuế.
Quy trình hoàn thuế được thực hiện bởi Tổng cục Thuế, Cục Thuế và Chi cục Thuế nhằm giải quyết việc hoàn thuế theo các quy định của pháp luật thuế, Luật Quản lý thuế cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan.
(5) Quy trình quản lý nợ thuế và cưỡng chế thuế
Kinh nghi ệ m và bài h ọ c rút ra trong qu ả n lý thu thu ế đố i v ớ i doanh nghi ệ p
Tại Mỹ, người nộp thuế sẽ có nghĩa vụ khai tờ khai thuế của mình vào ngày
Hàng năm, vào ngày 15 tháng 4, người nộp thuế cần lưu ý thời hạn khai tờ khai thuế Nếu không thể hoàn thành đúng hạn, họ có thể xin gia hạn tự động đến ngày 15 tháng 10 Tuy nhiên, điều quan trọng là vẫn phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đúng thời gian quy định.
Người nộp thuế có thể bị thanh tra trong vòng ba năm kể từ ngày nộp tờ khai thuế, nhưng thời gian này có thể kéo dài nếu có kê khai thiếu thuế nghiêm trọng hoặc gian lận Trong trường hợp tờ khai là gian lận hoặc không được khai, việc thanh tra không bị giới hạn Nếu kê khai thiếu từ 25% số thuế phải nộp trở lên, thời gian thanh tra sẽ là 6 năm Cơ quan thuế Mỹ (IRS) có trách nhiệm thông báo cho người nộp thuế rằng họ không được yêu cầu gia hạn thời gian thanh tra.
Người nộp thuế sẽ nhận được thông báo về việc thanh tra thông qua một "bức thư 30 ngày" từ IRS, trong đó nêu rõ các điều chỉnh và thay đổi đề xuất Sau khi nhận được bức thư này, người nộp thuế có thời hạn 30 ngày để phản hồi.
Tại Trung Quốc, việc thu thuế được điều chỉnh bởi Luật Thu thuế và quản lý thuế, trong đó quy định rằng người nộp thuế có quyền yêu cầu cơ quan thuế bảo mật thông tin thuế của họ Tuy nhiên, hiện không có quy định nào khác về việc tiết lộ thông tin từ các tờ khai thuế được công bố trên toàn quốc.
NNT cần khai thuế đúng hạn, nhưng có thể đề nghị gia hạn nếu gặp khó khăn, yêu cầu này phải bằng văn bản Khi đề nghị gia hạn, NNT vẫn phải nộp thuế tối thiểu bằng số thuế của kỳ trước hoặc theo ấn định của cơ quan thuế Trong trường hợp bất khả kháng, NNT có thể kéo dài thời gian kê khai, nhưng phải thông báo ngay cho cơ quan thuế khi sự cố được giải quyết và có sự phê duyệt bằng văn bản từ cơ quan thuế.
Nếu người nộp thuế (NNT) gặp khó khăn đặc biệt và không thể nộp thuế đúng hạn, họ cần đề nghị gia hạn bằng văn bản tại cơ quan thuế Thời gian gia hạn tối đa không bị phạt là 3 tháng NNT có thể bị phạt 5% từ ngày quá hạn cho đến khi nộp đủ thuế Nếu cơ quan thuế nghi ngờ NNT có ý định trốn thuế, họ có thể yêu cầu NNT thực hiện nghĩa vụ thuế trong thời gian ấn định Nếu có bằng chứng về việc NNT tẩu tán hoặc che giấu tài sản, cơ quan thuế có quyền yêu cầu NNT nộp bảo lãnh cho việc thanh toán thuế Trong trường hợp NNT không thể bảo lãnh, cơ quan thuế có thể phong tỏa tài khoản ngân hàng hoặc tịch thu tài sản của NNT.
Dựa trên kinh nghiệm quản lý thuế của các quốc gia tiên tiến, bài viết sẽ phân tích các phương pháp thu thuế hiệu quả đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại một số huyện trong nước.
1.4.1 Kinh nghiệm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc
Chi cục thuế huyện Sông Lô, thành lập từ tháng 4 năm 2009, có nhiệm vụ quản lý thu ngân sách tại 18 xã và thị trấn trong huyện Mặc dù mới thành lập, nhưng đơn vị đã nhận được sự quan tâm từ ngành thuế cũng như huyện ủy và UBND huyện Sông Lô, dẫn đến việc đầu tư cơ sở vật chất cơ bản, tạo điều kiện thuận lợi cho Chi cục hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong những năm qua Chi cục liên tục hoàn thành vượt kế hoạch giao thu ngân sách
Bảng 1.2 Kết quả công tác quản lý thuế năm 2019 tại Chi cụ Thuế Sông Lô
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính Kếtquả
1 Số DNVVN phân cấp quản lý DN 712
2 Số thu ngân sách hàng năm Tỷ đồng 515,8
3 Số hồ sơ kiểm tra tại bàn Hồ sơ 1.077
4 Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp Doanh nghiệp 54
5 Số thuế truy thu Tỷ đồng
6 Số thuế nợ Tỷ đồng 8,5
Nguồn: Báo cáo của Chi cục thuế Sông Lô
Tính đến ngày 31/12/2019, Chi cục Thuế Sông Lô quản lý 712 doanh nghiệp, 100% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, với tổng số thu ngân sách đạt 515,8 tỷ đồng, chiếm từ 11% đến 30% tổng thu ngân sách hàng năm Trong năm 2019, Chi cục đã kiểm tra 1.077 hồ sơ khai thuế và thực hiện kiểm tra tại 54 doanh nghiệp, thu hồi được 3 tỷ đồng thuế GTGT và 3,1 tỷ đồng thuế TNDN, cùng với 873 triệu đồng tiền phạt Đến hết năm 2019, tổng số thuế nợ là 8,5 tỷ đồng, chiếm 26% trên tổng thu Để đạt được kết quả này, Chi cục đã triển khai nhiều giải pháp, trong đó có việc đào tạo cán bộ với tổng số 26 người, trong đó 17 người có trình độ đại học Chi cục đã chú trọng đào tạo cán bộ mới và hướng dẫn họ thông qua các buổi tập huấn nghiệp vụ.
Chi cục đã cập nhật và hoàn thành tốt nhiệm vụ giao cho cán bộ mới, đồng thời khuyến khích cán bộ nâng cao trình độ qua việc học ngoài giờ, với 1 cán bộ học liên thông lên Cao đẳng và 3 cán bộ học Đại học tại chức Việc phân công cán bộ phù hợp với năng lực đã phát huy tối đa sở trường của từng người Các chế độ đãi ngộ được thực hiện đúng quy định, và việc đánh giá cán bộ gắn với thi đua khen thưởng đã thúc đẩy nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ Trong công tác chuyên môn, cải cách và hiện đại hóa ngành thuế là giải pháp quan trọng, với các ứng dụng được triển khai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế Chi cục cũng chú trọng tuyên truyền, hỗ trợ chính sách và phân tích hoạt động kinh tế để phát hiện sai sót trong sản xuất kinh doanh, từ đó chấn chỉnh và thu hồi thuế tồn đọng Ngoài ra, các giải pháp quyết liệt trong thanh tra, kiểm tra và phối hợp với cơ quan chức năng cũng được thực hiện để chống thất thu ngân sách.
Chi cục đã chủ động tư vấn cho Huyện ủy và UBND huyện về các chính sách khuyến khích đầu tư, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững Những nỗ lực này không chỉ giúp ổn định kinh tế địa phương mà còn tạo ra nguồn thu vững chắc cho ngân sách.
1.4.2 Kinh nghiệm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Thạch Hà tỉnh Vĩnh Phúc
Chi cục thuế huyện Thạch Hà, thuộc Cục thuế tỉnh Hà Tĩnh, đã ghi nhận sự tăng trưởng đáng kể trong doanh thu thuế trong những năm qua, góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước Để đạt được thành công này, Chi cục thuế huyện Thạch Hà đã nỗ lực đổi mới công tác quản lý thu thuế, đặc biệt chú trọng đến việc thu thuế từ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).
Xác định thu thuế là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, Chi cục đã phát động phong trào thi đua nhằm hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách 374 tỷ đồng trước ngày 30/11/2019 Để đạt được mục tiêu này, Chi cục triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp quản lý thuế, đồng thời tham mưu tích cực cho UBND huyện nhằm giải quyết kịp thời các vướng mắc trong các lĩnh vực liên quan.
Phối hợp chặt chẽ với các ngành và chính quyền các cấp để triển khai quyết liệt công tác chỉ đạo thu nợ thuế và kiểm soát tăng thu Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa đổi mới và hiệu quả trong quản lý thuế, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế.
Tham mưu UBND huyện thành lập đoàn kiểm tra giám sát công tác thu ngân sách tại 31 xã thị trấn theo Quyết định số 3917/QĐ - UBND ngày 17 tháng 7 năm
Trong năm 2019, Ủy ban nhân dân Huyện Thạch Hà đã triển khai các biện pháp chấn chỉnh, loại bỏ các khoản thu sai mục đích tại các xã, thu hồi hơn 1 tỷ đồng sau kiểm tra Đoàn công tác đã phối hợp kiểm tra, giám sát thu ngân sách, rà soát hộ kinh doanh, doanh nghiệp tạm ngừng, giải thể, đồng thời kiểm tra các nguồn thu từ doanh nghiệp xây dựng, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế cho người nộp thuế được đẩy mạnh nhằm nâng cao ý thức chấp hành Bên cạnh đó, chú trọng giáo dục chính trị, đào tạo cán bộ công chức và siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong công việc Kết quả đạt được là phát hiện và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật về thuế, tạo tính răn đe và nghiêm minh của pháp luật.
1.4.3 Kinh nghiệm quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi cục thuế huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
Chi cục thuế huyện Quảng Trạch thực hiện nhiệm vụ quản lý thu ngân sách trên địa bàn huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
Bảng 1.3 Kết quả công tác quản lý thuế năm 2019 tại Chi cụ Thuế Quảng Trạch
STT Chỉ tiêu Đơn vị tính Kết quả
1 Số doanh nghiệpphân cấp quản lý DN 621
3 Số hồ sơ kiểm tra tại bàn Hồ sơ 2.973
4 Kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp Doanh nghiệp 50
5 Số thuế truy thu Triệu đồng
6 Số thuế xử phạt Triệuđồng 527
7 Tỷ lệ nợ thuế trên số thu % 15
Nguồn: Báo cáo của Chi cục thuế Quảng Trạch
Chi cục thuế Quảng Trạchcó 36 cán bộ, trong đó cán bộ có trình độ Đại học: