1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh đến sinh trưởng của keo lai tại huyện hương trà tỉnh thừa thiên huế

91 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Lâm Sinh Đến Sinh Trưởng Của Keo Lai Tại Huyện Hương Trà, Tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả Phan Minh Quang
Người hướng dẫn TS. Đỗ Anh Tuân
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (13)
    • 1.1. Lược sử về trồng rừng thâm canh (13)
      • 1.1.1. Trên thế giới (13)
      • 1.1.2. Trong nước (14)
    • 1.2. Tổng quan về trồng rừng thâm canh Keo lai (18)
      • 1.2.1. Thông tin chung (18)
      • 1.2.2. Những nghiên cứu về Keo lai (20)
    • 1.3. Thảo luận (30)
  • Chương 2. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (31)
      • 2.1.1. Về lý luận (31)
      • 2.1.2. Về thực tiễn (31)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (31)
      • 2.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai (31)
      • 2.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến (31)
    • 2.3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu (32)
      • 2.3.1. Về đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.3.2. Về địa điểm nghiên cứu (32)
      • 2.3.3. Phạm vi nghiên cứu (32)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (33)
      • 2.4.1. Phương pháp tổng quát (33)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (35)
  • Chương 3. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI (41)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (41)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (41)
      • 3.1.2. Địa hình (41)
      • 3.1.3. Khí hậu, thủy văn (42)
      • 3.1.4. Đất đai (42)
    • 3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội (43)
      • 3.2.1. Kinh tế (43)
      • 3.2.2. Về xã hội (43)
    • 3.3. Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực bố trí thí nghiệm (44)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (46)
    • 4.1. Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của rừng trồng Keo lai (46)
      • 4.1.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của Keo lai (47)
      • 4.1.3. Ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng rừng trồng Keo lai (53)
    • 4.2. Ảnh hưởng của bón phân đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của rừng trồng Keo lai (56)
      • 4.2.1. Ảnh hưởng của bón phân đến tỷ lệ sống của Keo lai (57)
      • 4.2.3. Ảnh hưởng của bón phân đến trữ lượng rừng trồng Keo lai (61)
    • 4.3. Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của (63)
      • 4.3.1. Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng (64)
      • 4.3.2. Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng (66)
      • 4.3.3. Ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân tỉa cành đến sinh trưởng của (68)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Lược sử về trồng rừng thâm canh

Trước năm 1900, nhu cầu trồng rừng thâm canh cho mục đích công nghiệp chưa xuất hiện, mặc dù một số quốc gia đã quan tâm do thiếu gỗ từ rừng tự nhiên Trong giai đoạn này, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, như việc trồng thử nghiệm cây ngoại lai như Tếch (Tectona grandis) và một số loài Bạch đàn (E tereticornis, E robusta), đã có đóng góp quan trọng Hệ thống trồng rừng "Taungya" cũng được áp dụng trong giai đoạn này, thể hiện sự phát triển trong lĩnh vực lâm nghiệp.

Giai đoạn 1900-1945, nhiều quốc gia đã bắt đầu trồng rừng với sự đa dạng về loài cây, đặc biệt là xu hướng trồng rừng bán thâm canh tại Brazil trong những năm 1920 và 1930, nơi hàng trăm ngàn hecta rừng Bạch đàn E saligna, E camaldulensis và E tereticornis được trồng Thời kỳ này cũng chứng kiến nhiều tiến bộ trong kỹ thuật lâm sinh, như nghiên cứu của Craib tại Nam Phi vào những năm 1930 về tỉa thưa và tỉa cành, cùng với hệ thống trồng rừng "Taungya" được áp dụng rộng rãi ở Kenya.

1910, ở Trinidad là phương pháp chính để trồng rừng Tếch (dẫn theo Đoàn Hoài Nam, 2006) [20]

Giai đoạn 1945-1965, trồng rừng thâm canh trở thành ưu tiên, với việc đề xuất sử dụng giống cây ngoại lai tại các nước nhiệt đới trong Hội nghị lâm nghiệp thế giới 1954 Các chương trình trồng rừng thương mại đã được triển khai tại Fiji và Papua New Guinea Đến giai đoạn 1966-1980, diện tích rừng trồng thâm canh mở rộng nhanh chóng nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp chế biến, với việc áp dụng các kỹ thuật lâm sinh và chú trọng đến công tác chọn, nhân giống Tại Brazil, hơn 400.000ha rừng kém chất lượng đã được chuyển đổi thành rừng trồng các loài cây thông (Pinus caribaea) và bạch đàn (E saligna).

Từ năm 1980, diện tích rừng trồng công nghiệp đã mở rộng đáng kể, với hơn 14 triệu ha rừng được trồng trong 15 năm Sedio (1987) ước lượng rằng diện tích rừng trồng ở Châu Mỹ La Tinh đã tăng gấp 3 lần và trữ lượng gỗ công nghiệp từ rừng trồng tăng gấp 4 lần, đáp ứng 50% nhu cầu gỗ của khu vực Theo Touzet (1985), sự phát triển của rừng trồng là thiết yếu, vì nó sẽ trở thành nguồn gỗ chính cho các ngành công nghiệp sử dụng gỗ Đặc biệt, giai đoạn này chứng kiến những bước đột phá trong trồng rừng nhờ vào nghiên cứu và thử nghiệm thành công các kỹ thuật nhân giống như nuôi cấy mô và giâm hom.

Lịch sử phát triển rừng trồng theo hướng thâm canh đã được chú trọng trong nhiều thập kỷ qua, với nhiều quốc gia tập trung nghiên cứu cải thiện giống và nhân giống cây rừng Nhờ đó, năng suất rừng trồng từ các loài cây mọc nhanh như keo và bạch đàn đã đạt được những thành tựu đáng kể Cụ thể, tại Công Gô, Trung Quốc đã chọn được giống bạch đàn với năng suất từ 40 - 50m³/ha/năm; Cộng hòa Nam Phi cũng đã tuyển chọn dòng E grandis với năng suất trên 40m³/ha/năm; trong khi đó, các nước Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Brazil thông qua lai tạo giữa các loài bạch đàn đã lựa chọn được một số tổ hợp lai có năng suất từ 40 - 60m³/ha/năm.

1.1.2 Trong nước Ở Việt Nam, trồng rừng đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc nhưng đến giai đoạn trước năm 1986, mới bắt đầu thực hiện các chương trình trồng rừng gắn mục tiêu kinh tế với phòng hộ và bảo vệ môi trường Trồng rừng cung cấp nguyên liệu công nghiệp (chủ yếu là nguyên liệu giấy) được ưu tiên phát triển, tập trung ở hai khu vực Trung tâm Bắc Bộ và Đông Nam Bộ, một số loài cây ưa sáng, mọc nhanh đã được đưa ra gây trồng như Bồ đề, Mỡ, Nhưng tỷ lệ thành rừng thấp chỉ đạt từ 40% - 60% theo diện tích trồng, năng suất bình quân chỉ đạt từ 4 - 6 m 3 /ha/năm với trữ lượng bình quân đạt được từ 40- 60 m 3 /ha trong một chu kỳ kinh doanh [22] Nguyên nhân chính là do đầu tư cho trồng rừng hạn chế; công tác chọn giống và khảo nghiệm giống còn ít; chọn đất trồng rừng không phù hợp với loài cây trồng; kỹ thuật trồng rừng yếu kém, chủ yếu vẫn là trồng rừng mang tính chất quảng canh,

Giai đoạn từ năm 1986 đến 1990, các mục tiêu trồng rừng công nghiệp và thâm canh được triển khai, tuy nhiên hiệu quả vẫn còn thấp Trong giai đoạn này, 92 loài cây được xác định cho 9 vùng sinh thái khác nhau Phương thức trồng rừng thâm canh được thực hiện thông qua chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển, tập trung vào các cây gỗ mọc nhanh có năng suất cao Tỷ lệ thành rừng đạt khoảng 60%, và năng suất rừng trồng cuối giai đoạn này đã tăng lên, bình quân đạt 7 m³/ha/năm.

Từ năm 1991, trồng rừng và kinh doanh rừng trồng đã nhận được sự quan tâm lớn, với sự chú trọng vào việc thâm canh và phát triển đa mục đích Tập đoàn cây trồng ngày càng phong phú, dẫn đến năng suất rừng trồng được cải thiện Tuy nhiên, hiệu quả của phần lớn rừng trồng vẫn còn thấp, chưa khai thác hết tiềm năng của đất đai và khí hậu nhiệt đới, đồng thời chưa đáp ứng đủ nhu cầu cung cấp gỗ nguyên liệu cho ngành công nghiệp.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 1997, việc xây dựng kế hoạch trồng mới 5 triệu ha rừng dựa trên thống kê năng suất rừng trồng sản xuất cho thấy kết quả rất thấp.

- Cây mọc nhanh cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp như Bồ đề,

Mỡ, Thông đuôi ngựa, bạch đàn và keo các loại, năng suất đạt bình quân 7,5 m 3 /ha/năm với chu kỳ bình quân 10 năm;

- Cây mọc nhanh cung cấp gỗ lớn như Sao đen, Dầu rái, Tếch năng suất bình quân đạt 6 m 3 /ha/năm với chu kỳ bình quân 40 năm

Trong gần một thập kỷ qua, việc phát triển trồng rừng thâm canh nhằm cung cấp gỗ nguyên liệu cho xã hội đã có những cải tiến đáng kể Bên cạnh các loài cây bản địa như Bồ đề, Mỡ, Tre, Luồng, một số loài cây mọc nhanh như bạch đàn và keo cũng đã khẳng định được vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng lâm nghiệp Hiện nay, khoảng 70% giống cây trồng rừng sản xuất có chất lượng tốt, với tỷ lệ thành rừng đạt trên 80% và năng suất rừng trồng đạt từ 15-20 m³/ha/năm.

Trong những năm gần đây, nghiên cứu đã tập trung vào các khâu kỹ thuật để tạo ra những bước đột phá về năng suất, và đã đạt được những kết quả đáng kể.

Công tác cải thiện giống đã mang lại nhiều giống cây được công nhận là giống quốc gia, bao gồm các dòng Keo lai như BV10, BV16, BV32, và Bạch đàn urophylla như PN2, PN14, U6 Ngoài ra, nhiều dòng Bạch đàn urophylla, Bạch đàn camaldulensis, Keo lá tràm, Thông caribaea, Phi lao cùng hàng chục dòng Keo lai khác cũng đã được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật.

Các biện pháp kỹ thuật thâm canh như làm đất và bón phân đang được nghiên cứu và áp dụng mạnh mẽ, giúp nâng cao năng suất rừng trồng Kết quả khảo nghiệm cho thấy, cây Keo lai đạt năng suất cao, góp phần cải thiện hiệu quả sản xuất lâm nghiệp.

25 m 3 /ha/năm; Bạch đàn urophylla trồng thâm canh cũng cho năng suất từ 18-

25 m 3 /ha/năm; một số dòng Bạch đàn PN2 và PN14 sau 8 năm trồng ở Tây

Nguyên bình quân đạt 21 m³/ha/năm là cơ sở quan trọng cho nghiên cứu chọn giống và áp dụng biện pháp trồng rừng thâm canh.

Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đã cải thiện đáng kể trữ lượng và năng suất của rừng trồng, với năng suất tăng gấp 2-3 lần so với các loài cây trồng trước đây Kết quả đánh giá cho thấy tiềm năng nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng trồng vẫn còn rất lớn khi tiếp tục áp dụng các biện pháp kỹ thuật này.

Tổng quan về trồng rừng thâm canh Keo lai

Keo lai là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis)

Keo lai tự nhiên được phát hiện lần đầu bởi Herburn và Shim vào năm 1972 tại bang Sabah, Malaysia, và được xác định là giống lai bởi Sedgley vào năm 1978 Nghiên cứu năm 1987 của Rufelds chỉ ra rằng ở miền Bắc Sabah, keo lai xuất hiện với mật độ 3-4 cây/ha, trong khi Wrong cho rằng tỷ lệ xuất hiện có thể là 1/500 Keo lai cũng được phát hiện tại Balamuk và Old Tonda ở Papua New Guinea, cũng như ở Thái Lan, Đài Loan và Quảng Châu, Trung Quốc, nhưng diện tích trồng rất hạn chế Tại Việt Nam, keo lai lần đầu được Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát hiện ở Hà Tây và sau đó ở Đồng Nai.

Theo nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự năm 1993, các cây lai giữa Keo tai tượng (A mangium) và Keo lá tràm (A auriculiformis) đã được phát hiện trong rừng trồng Keo tai tượng, được lấy giống từ các khảo nghiệm trồng cạnh rừng Keo lá tràm.

Keo lai sở hữu những đặc tính sinh vật học và sinh thái học vượt trội so với các loài bố mẹ và một số cây trồng rừng khác Cụ thể, cây có tốc độ sinh trưởng nhanh về đường kính, chiều cao và hình khối với thân cây đơn trục, thẳng đứng, cành nhánh nhỏ và sức khỏe tốt Ngoài ra, keo lai có biên độ sinh thái rộng, có thể được trồng ở nhiều vùng khác nhau như Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Bắc Trung Bộ Cây cũng có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và thích ứng với nhiều điều kiện lập địa cũng như các loại đất khác nhau.

Keo lai có khả năng cải tạo đất hiệu quả nhờ vào khả năng cố định đạm và cung cấp khoảng 4-5 tấn cành khô, lá rụng mỗi năm trên mỗi hectare, theo nghiên cứu của Vũ Tấn Phương (2001) Điều này giúp bổ sung một lượng chất hữu cơ đáng kể cho đất.

Keo lai có khả năng nhân nhanh giống bằng con đường vô tính cho phép tạo ra vùng trồng rừng nguyên liệu lớn tập trung cho công nghiệp

Keo lai là cây trồng rừng có hiệu quả kinh tế cao Nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam năm 2003 cho thấy năng suất rừng trồng Keo lai bình quân đạt mức ấn tượng trong điều kiện kinh doanh thông thường.

Hiệu quả kinh tế của sản xuất lâm nghiệp được đánh giá qua chỉ tiêu tỉ suất thu hồi nội bộ (IRR) đạt từ 0,18 đến 0,25 khi năng suất đạt 20-25m³/ha/năm, cho thấy đây là tỉ suất lãi tương đối cao.

Keo lai, với đặc điểm và công dụng đa dạng, đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều khu vực trên cả nước Loại cây này được đánh giá là có nhiều tác dụng, đóng vai trò quan trọng trong danh mục cây trồng lâm nghiệp chủ lực Việc phát triển Keo lai sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trồng rừng, đặc biệt là trong lĩnh vực rừng kinh tế.

1.2.2 Những nghiên cứu về Keo lai

Keo lai, theo nhận xét của Zobel và Talbert (1984), thể hiện những tính trạng tốt nhất và mong muốn nhất từ bố mẹ, nhưng cũng có thể xuất hiện những tính trạng xấu Đặc biệt, ở thế hệ F1, hầu hết các cá thể keo lai cho thấy ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng (dẫn theo Lê Đình Khả, 1999).

Pinso và Nasi (1991) đã chỉ ra rằng Keo lai sở hữu nhiều đặc điểm vượt trội so với cây bố mẹ, bao gồm độ thẳng của thân cây, chiều cao dưới cành và độ tròn đều của thân Đặc biệt, đỉnh ngọn phát triển tốt và thân cây đơn trục khiến Keo lai trở thành lựa chọn lý tưởng cho các chương trình trồng rừng thương mại Nghiên cứu cũng cho thấy cây Keo lai có nguồn gốc từ Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng Mặc dù có thể có ưu thế lai, nhưng điều này không phải lúc nào cũng đảm bảo do ảnh hưởng của yếu tố di truyền và điều kiện lập địa Thêm vào đó, sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn, nhưng từ đời F2 trở đi, sự sinh trưởng trở nên không đồng đều và trung bình kém hơn cả Keo tai tượng.

Thông tin về nghiên cứu biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh Keo lai và hiệu quả kinh tế của nó vẫn còn hạn chế Theo đánh giá của Lê Đình Khả (1999), mặc dù Keo lai đã được phát hiện và nghiên cứu trong lĩnh vực trồng rừng từ sớm, nhưng số lượng công trình nghiên cứu về Keo lai, đặc biệt trong kỹ thuật thâm canh rừng công nghiệp, vẫn chưa nhiều Điều này dẫn đến việc chưa thể đánh giá đầy đủ hiệu quả của rừng trồng thâm canh Keo lai.

1.2.2.2 Trong nước a) Về điều kiện gây trồng Keo lai

Nghiên cứu của Lê Đình Khả (1999) về vùng phân bố Keo lai cho thấy rằng các giống lai tại Việt Nam, dù được phát hiện hoặc lấy giống từ miền Bắc hay miền Nam, đều có nguồn gốc từ những cây mẹ thuộc các vùng sinh thái tương tự Điều này cho thấy khả năng phát triển của chúng trên các vùng sinh thái chính của đất nước là tương đương.

Lê Đình Khả và các cộng sự (2003) đã tiến hành khảo nghiệm về chọn tạo giống và nhân giống Keo lai, trong đó tuyển chọn 06 dòng Keo lai tự nhiên có sinh trưởng tốt nhất Kết quả cho thấy, tại tất cả các vùng sinh thái nơi được trồng Keo lai, tốc độ sinh trưởng của chúng nhanh gấp 1,5-4 lần so với Keo lá tràm và Keo tai tượng.

Lê Đình Khả và cộng sự (1999) đã nghiên cứu khả năng chịu hạn của một số dòng Keo lai ở giai đoạn tuổi non, so sánh với Keo tai tượng và Keo lá tràm Kết quả cho thấy hai dòng BV10 và BV32 có khả năng chịu hạn tốt nhất Hơn nữa, khả năng chịu hạn của Keo lai được đánh giá là trung gian giữa hai loài bố và mẹ, trong khi Keo lai và Keo lá tràm có khả năng chịu hạn tốt hơn so với Keo tai tượng.

Phạm Văn Tuấn và cộng sự (2001) đã khảo nghiệm 16 dòng Keo lai tại khu vực Đông Nam Bộ, cho thấy một số dòng như TB03, TB05, TB06 và TB12 có sinh trưởng vượt trội so với Keo tai tượng đối chứng trong giai đoạn 1995-1998, với D1,3 và Hvn bình quân hàng năm cao hơn Kết quả này cho phép tác giả lựa chọn những dòng Keo lai tốt nhất để nhân giống đại trà cho trồng rừng ở Đông Nam Bộ.

Bộ và các địa phương có điều kiện lập địa tương tự

Nghiên cứu của Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004) cho thấy khả năng sinh trưởng của cây Keo lai khác nhau trên hai loại đất ở Đông Nam Bộ, với cây phát triển tốt hơn trên đất nâu đỏ so với đất xám phù sa cổ, mặc dù áp dụng cùng một kỹ thuật Đỗ Đình Sâm (2001) cũng khẳng định rằng năng suất rừng trồng công nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với điều kiện lập địa, cho thấy tầm quan trọng của yếu tố này trong việc nâng cao năng suất rừng.

Thảo luận

Nghiên cứu toàn cầu đã đạt được nhiều thành tựu trong trồng rừng thâm canh năng suất cao, nhưng nghiên cứu về trồng rừng thâm canh Keo lai tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Các nghiên cứu đã đóng góp vào việc phát triển trồng rừng Keo lai và nâng cao năng suất cho loài cây này Đặc biệt, công tác chọn giống và khảo nghiệm các dòng Keo lai năng suất cao đã được thực hiện tại một số vùng sinh thái, cùng với các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như mật độ trồng và bón phân, nhằm tối ưu hóa năng suất Hơn nữa, rừng trồng Keo lai mang lại nhiều ưu thế về hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường Những kết quả này là cơ sở quan trọng cho định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, các nghiên cứu hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc xác định cơ sở khoa học cho các biện pháp kỹ thuật trồng rừng Các phương pháp kỹ thuật lâm sinh chưa được hệ thống hóa và đồng bộ Do đó, cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như mật độ trồng, bón phân, tỉa thân và tỉa cành đến sự sinh trưởng của cây Keo lai.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm cung cấp cơ sở khoa học về tác động của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đến sự sinh trưởng của cây Keo lai, từ đó đề xuất các phương pháp trồng rừng thâm canh Keo lai hiệu quả cao.

- Xác định được ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai

- Xác định được ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của Keo lai

Nghiên cứu đã xác định ảnh hưởng của các biện pháp tỉa thân và tỉa cành đến sự sinh trưởng của cây Keo lai, bao gồm các yếu tố như đường kính ngang ngực, chiều cao vút ngọn và đường kính tán Việc áp dụng các kỹ thuật tỉa hợp lý có thể cải thiện đáng kể sự phát triển của cây, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng gỗ.

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai

- Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của Keo lai

- Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của rừng rồng Keo lai

- Ảnh hưởng của mật độ đến trữ lượng rừng trồng Keo lai

2.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp bón phân đến tỷ lệ sống, sinh trưởng và trữ lượng của Keo lai của Keo lai

- Ảnh hưởng của bón phân đến tỷ lệ sống của Keo lai

- Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng của rừng trồng Keo lai

- Ảnh hưởng của bón phân đến trữ lượng của rừng trồng Keo lai

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp tỉa thân, tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai

- Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân đến sinh trưởng D1.3 (cm)

- Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn) của Keo lai

- Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân đến sinh trưởng đường kính tán (Dt) của Keo lai

Giới hạn phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Về đối tượng nghiên cứu

Keo lai tự nhiên (Acacia hybrids) giữa Keo tai tượng (A.magium) và Keo lá tràm (A auriculiformis) đã được công nhận là giống quốc gia theo quyết định số 4260/QĐ-BNN ngày 12/10/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Dòng Keo lai nghiên cứu được chú trọng là dòng BV32.

- Loại đất: Đất Feralit phát triển trên phiến thạch sét

- Loại địa hình: gò đồi, độ dốc < 25 độ

2.3.2 Về địa điểm nghiên cứu Đề tài tiến hành nghiên cứu tại xã Bình Thành, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, với tổng diện tích mô hình thí nghiệm 10ha

Nội dung nghiên cứu tập trung vào ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như mật độ trồng, bón phân, tỉa thân và tỉa cành đến sự sinh trưởng của cây Keo lai Các yếu tố này được phân tích để xác định tác động của chúng đối với sự phát triển và năng suất của cây trồng, từ đó đưa ra những khuyến nghị về kỹ thuật canh tác hiệu quả nhằm tối ưu hóa sự sinh trưởng của Keo lai.

+ Mật độ: chỉ nghiên cứu 3 mật độ 1660 cây/ha; 2000 cây/ha, 2500 cây/ha

Thí nghiệm về tỉa thân và tỉa cành được thực hiện nhằm so sánh hiệu quả giữa việc áp dụng các biện pháp tỉa và không tỉa Kết quả sẽ giúp xác định sự khác biệt trong sự phát triển của cây trồng giữa hai phương pháp này.

+ Bón phân: thí nghiệm 5 công thức bón phân như sau:

Công thức 2: 100g NPK + 400g VS Sông Gianh

Công thức 3: 500g VS sông gianh

Công thức 4: 200g NPK + 200g VS Sông Gianh

Công thức 5: Đối chứng không bón phân

Phương pháp nghiên cứu

2.4.1.1 Quan điểm và phương pháp luận

Để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong trồng rừng, cần hiểu rằng cây rừng và hoàn cảnh là một thể thống nhất, có mối quan hệ mật thiết Khi điều kiện trồng trọt phù hợp với đặc điểm của loài hoặc giống cây, chúng sẽ phát huy tối đa khả năng sinh trưởng và phát triển Ngoài các yếu tố tự nhiên và sinh học, cần chú ý đến tác động của con người trong việc điều chỉnh các yếu tố hoàn cảnh, nhằm tối ưu hóa mối quan hệ giữa cây trồng và môi trường, cũng như giữa các cây trồng với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của từng cá thể và toàn bộ lâm phần.

Để nâng cao năng suất rừng trồng, có ba cách tiếp cận chính: cải thiện giống, cải thiện điều kiện gây trồng, hoặc kết hợp cả hai Một giống tốt nếu được trồng trong điều kiện không phù hợp sẽ không đạt năng suất cao, trong khi một giống bình thường trồng trong điều kiện phù hợp và áp dụng kỹ thuật thâm canh cũng chưa chắc đạt được kết quả mong muốn Do đó, giống được cải thiện cần được trồng đồng bộ và liên hoàn để phát huy hiệu quả tối đa.

Để trồng rừng Keo lai đạt năng suất và chất lượng cao, cần chú trọng vào việc lựa chọn điều kiện gây trồng phù hợp, giống cây tốt và các biện pháp tác động hợp lý Trong khuôn khổ nghiên cứu, giống cây đã được tuyển chọn và công nhận sẽ không được xem xét; nghiên cứu chỉ tập trung vào điều kiện gây trồng tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; và các biện pháp lâm sinh sẽ được giới hạn ở những biện pháp chủ yếu ảnh hưởng quyết định đến năng suất rừng trồng.

2.4.1.2 Một số nguyên tắc chung và cách tiếp cận trong nghiên cứu

Không gian được sử dụng thay cho thời gian, đồng thời kế thừa một số mô hình đã được xây dựng phù hợp với nội dung nghiên cứu, nhằm bổ sung các thông tin cần thiết phục vụ cho nghiên cứu của luận văn.

Nghiên cứu sinh thái thực nghiệm được thực hiện thông qua việc bố trí các công thức thí nghiệm với những biện pháp tác động khác nhau Mục tiêu là xác định biện pháp thích hợp nhất cho từng trường hợp Các công thức thí nghiệm được thiết kế theo nguyên tắc một sai khác và được lặp lại ít nhất 3 lần để đảm bảo tính chính xác của kết quả.

Sử dụng phương pháp điều tra khảo sát kết hợp với thí nghiệm định vị ngoài hiện trường và phân tích trong phòng để định lượng các chỉ tiêu cần thiết.

Xử lý số liệu trong lâm nghiệp được thực hiện bằng các phương pháp toán thống kê và ứng dụng phần mềm phổ biến như SPSS, Excel 7.0 và Mapinfo Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, các bước trong quá trình này được hệ thống hoá một cách rõ ràng.

Hình 2.1 các bước thực hiện đề tài

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.4.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm a, Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai Để xác định ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của Keo lai, đề tài tiến hành lập các ô tiêu chuẩn tạm thời có diện tích từ 200- 400m 2 (tùy thuộc vào mật độ, đảm bảo số cây trong ô tiêu chuẩn lớn hơn 30 cây) trên các công

Mục tiêu nghiên cứu Ảnh hưởng của tỉa cành, tỉa thân Ảnh hưởng của mật độ

Nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của bón phân

Phân tích và xử lý số liệu là bước quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp phù hợp với mật độ cây trồng Dựa trên mật độ đã được áp dụng trong sản xuất tại tỉnh Thừa Thiên Huế, thí nghiệm được thiết kế theo ba công thức mật độ khác nhau.

 Công thức 1: Mật độ trồng ban đầu 1660 cây/ha (3mx2m)

 Công thức 2: Mật độ trồng ban đầu 2000 cây/ha (2mx2,5m)

 Công thức 2: Mật độ trồng ban đầu 2500 cây/ha (2mx2m)

Chỉ tiêu kỹ thuật áp dụng bao gồm việc sử dụng giống Keo lai hom dòng BV32 và thực hiện xử lý thực bì toàn diện mà không đốt Hố trồng được cuốc theo hình nanh sấu với kích thước 40x40x40cm Trong năm đầu, cây sẽ được chăm sóc hai lần, bao gồm việc phát sạch thực bì và cỏ dại cạnh tranh, cũng như xới vun gốc trong bán kính từ 0,8m đến 1m Ngoài ra, cần lưu ý không tỉa cành và tỉa thân Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ tập trung vào ảnh hưởng của việc bón phân đến sinh trưởng của cây Keo lai.

Căn cứu vào điều kiện đất đai, địa hình thí nghiệm bón phân được bố trí theo 5 công thức như sau:

 Công thức 2: 100g NPK + 400g VS Sông Gianh

 Công thức 3: 500g VS Sông Gianh

 Công thức 4: 200g NPK + 200g VS Sông Gianh

 Công thức 5: đối chứng không bón phân

Nghiên cứu áp dụng các chỉ tiêu kỹ thuật như nguồn giống Keo lai hom dòng BV32, xử lý thực bì toàn diện không đốt, và cuốc hố hình nanh sấu kích thước 40x40x40cm Trước khi trồng rừng 15 ngày, cần bón phân và trộn đều với đất Việc chăm sóc được thực hiện 2 lần mỗi năm, bao gồm phát sạch thực bì và xới cỏ vun gốc với bán kính từ 0,8 – 1m Mỗi công thức bón phân sẽ được lập 3 ô tiêu chuẩn ở vị trí chân và sườn đỉnh với diện tích 200m² Để nghiên cứu ảnh hưởng của tỉa thân và tỉa cành đến sinh trưởng của Keo lai, các ô tiêu chuẩn tạm thời cũng được thiết lập với diện tích 200m² trên hai công thức thí nghiệm.

Công thức 1 bao gồm việc tỉa cành và tỉa thân cây, với hướng dẫn cụ thể là tỉa cành cao tới 1/3 chiều cao của thân cây Đối với những cây có nhiều thân, chỉ nên giữ lại một thân chính và tỉa bỏ các thân phụ.

 Công thức 2: đối chứng (không áp dụng biện pháp tỉa thân và tỉa cành)

Để trồng rừng hiệu quả với giống keo BV32, cần thực hiện xử lý thực bì toàn diện, cuốc hố kích thước 40x40x40cm và chăm sóc cây 2 lần mỗi năm, bao gồm xới cỏ và vun gốc với bán kính 1m Kỹ thuật tỉa thân và tỉa cành được thực hiện sau khi cây keo lai đạt 4-6 tháng tuổi, tỉa cành sát thân và cao đến 1/3 chiều cao cây Đối với cây đa thân, chọn một thân chính khỏe mạnh và loại bỏ các thân phụ, tiếp tục tỉa cành trong các đợt chăm sóc để duy trì chiều cao tỉa cành bằng 1/3 chiều cao cây.

2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu

 Số liệu về điều kiện tự nhiên: kế thừa số liệu sẵn có đã được công bố

Tại mỗi khu vực nghiên cứu, mẫu đất được lấy từ tầng đất 0 – 20cm bằng phương pháp lấy mẫu riêng biệt, trộn mẫu và lấy mẫu hỗn hợp Các mẫu riêng biệt sau khi được băm nhỏ sẽ được trộn đều trên giấy hoặc nilon Sau đó, mẫu được dàn mỏng, chia làm 4 phần theo đường chéo, và hai phần đối diện nhau được trộn lại để tạo thành mẫu hỗn hợp Lượng đất của mẫu hỗn hợp khoảng 0.5 đến 1kg, được cho vào túi và ghi phiếu mẫu Có thể chọn phần 1 và 3 hoặc 2 và 4 để lấy mẫu, bỏ hai phần còn lại.

 Thu thập số liệu sinh trưởng rừng trồng:

- Đo đếm toàn bộ số cây trong ô tiêu chuẩn với các chỉ tiêu sau:

- Thống kê số cây sống và cây chết, làm cơ sở để tính tỷ lệ sống của từng loài

Đo đường kính cây ở độ cao 1,3m bằng thước kẹp kính có độ chính xác 0,1 cm, sử dụng đơn vị cm và thực hiện đo theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc cho tất cả các cây trong OTC.

- Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) bằng thước sào có khắc vạch đến cm, đơn vị tính là m

ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

Điều kiện tự nhiên

Hương Trà, huyện đồng bằng thuộc Tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm trên quốc lộ 1A, là cửa ngõ phía Bắc Thành phố Huế Huyện cùng với Hương Thủy và Phú Vang tạo thành ba cực của tam giác vệ tinh đô thị quan trọng của tỉnh.

+ Phía Đông giáp thành phố Huế, thị xã Hương Thủy

+ Phía Tây giáp huyện Phong Điền

+ Phía Nam giáp huyện A Lưới

Phía Bắc giáp huyện Quảng Điền và huyện Phú Vang

Hương Trà là huyện thuộc phía Đông tỉnh, nằm trên dải đất thấp hình thành từ phù sa sông, biển và sự bào mòn của các đồi thấp ven biển, với chiều dài 70 km và chiều rộng trung bình 12 km Địa hình của huyện tuy không cao nhưng rất đa dạng, bao gồm gò đồi, cồn cát, đồng bằng, đầm phá và các cửa sông.

Trên địa bàn huyện có bờ biển dài 7 km, có quốc lộ 1A chạy ngang dài

Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy song song với 12 km, kết nối với Quốc lộ 49A dài 25 km từ thành phố Huế đến huyện A Lưới, và Quốc lộ 49B dài 7 km nối các xã vùng biển Ngoài ra, khu vực còn có các tuyến Tỉnh lộ 8A, 8B, Tỉnh lộ 4 và đường kinh tế quốc phòng, cùng với hai con sông lớn của tỉnh chảy qua, trong đó có sông Bồ.

25 km, sông Hương dài 20 km, có phá Tam Giang rộng 700 ha.Toàn huyện có

16 đơn vị hành chính, theo địa hình chia làm 3 vùng:

- Vùng miền núi và g ̣ò đồi có 5 xã: Hồng Tiến, Bình Điền, Bình Thành, Hương Bình, Hương Thọ

Vùng đồng bằng và bán sơn địa bao gồm 8 xã và thị trấn, cụ thể là Hương Hồ, Hương Chữ, Hương An, Hương Xuân, Hương Văn, Hương Vân, Hương Toàn, Hương Vinh và Thị trấn Tứ Hạ.

- Vùng đầm phá và ven biển có 2 xã : Hương Phong và Hải Dương

Thừa Thiên - Huế có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng từ gió mùa á xích đạo miền Nam và gió mùa nội chí tuyến miền Bắc, với dãy núi Bạch Mã làm ranh giới tự nhiên Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25°C, với tổng nhiệt đạt 9.100 - 9.200°C và 2.000 giờ nắng mỗi năm Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2.700 mm đến 3.490 mm, chủ yếu tập trung từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm 85% tổng lượng mưa Đây là một trong những tỉnh có lượng mưa cao nhất Việt Nam, dẫn đến tình trạng hạn hán và lũ lụt do địa hình dốc Thừa Thiên - Huế cũng thường xuyên bị ảnh hưởng bởi bão, đặc biệt trong các tháng 8, 9 và 10, với ít nhất một cơn bão đổ bộ mỗi năm.

Huyện Hương Trà nổi bật với sông Hương, hệ thống sông dài nhất và có lưu vực lớn nhất tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm ba nhánh chính: sông Bồ, sông Hữu Trạch và sông Tả Trạch Sông Bồ đóng vai trò là ranh giới tự nhiên giữa huyện Hương Điền và Hương Trà, chảy ra phá Tam Giang, và có các phụ lưu đáng chú ý như Rào Tráng và Rào Nái.

Sông Truồi, dài 24km, bắt nguồn từ khu vực Vườn quốc gia Bạch Mã và chảy chủ yếu qua huyện Phú Lộc, cuối cùng đổ ra đầm Cầu Hai.

Thừa Thiên - Huế có tổng diện tích đất tự nhiên là 506.530 ha, bao gồm hai hệ đất chính: hệ feralit ở vùng đồi núi và hệ phù sa ở vùng đồng bằng Tỉnh này có khoảng 10 loại đất, trong đó đất phù sa, đất đỏ vàng, đất mùn vàng trên núi, đất cát và đất mặn chiếm diện tích lớn Đất tự nhiên có thể chia thành ba nhóm chính: nhóm feralit phát triển trên đá, phân bố rộng rãi ở vùng đồi núi phía Tây và Nam, và nhóm đất phù sa tập trung chủ yếu ở dải đồng bằng duyên hải cùng một phần nhỏ dọc theo thung lũng các sông suối.

Về cơ cấu sử dụng đất, diện tích đất được khai thác vào mục đích nông

Lâm nghiệp chiếm 47,6% tổng diện tích lãnh thổ, trong khi đất chuyên dùng và đất ở chỉ chiếm 4,78% Phần diện tích còn lại chủ yếu là đất chưa sử dụng, bao gồm đất trống và đồi trọc, tập trung chủ yếu ở các vùng đất cát và đồi núi.

Điều kiện kinh tế - xã hội

Huyện Hương Trà đang phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, với mục tiêu đạt tăng trưởng cao, hiệu quả và ổn định Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người dự kiến tăng gấp 2,4 lần so với năm 2000 Đồng thời, huyện đặt mục tiêu tăng thu ngân sách đạt ít nhất 10% GDP vào năm 2010 và nâng tỷ lệ đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn tự có trong nước lên 27-34% GDP.

Huyện Hương Trà đã đáp ứng vững chắc các nhu cầu cơ bản về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần cho nhân dân Tính đến năm 2010, phần lớn thanh niên trong độ tuổi lao động có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trở lên, với việc giải quyết việc làm cho 800-1000 người mỗi năm Tỷ lệ người lao động qua đào tạo đã đạt 25% vào năm 2005 và 30% vào năm 2010 Huyện cũng đã tăng cường công tác y tế cộng đồng, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, phấn đấu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bà mẹ và trẻ em, ngăn chặn kịp thời các dịch bệnh và thanh toán bệnh bại liệt Nhờ đó, tuổi thọ trung bình của người dân đã tăng thêm 1 tuổi sau 5 năm.

Hương Trà, huyện có tiềm năng phát triển kinh tế và xã hội lớn, nằm trên trục quốc lộ 1A, được xem là một trong ba vệ tinh đô thị quan trọng của tỉnh Vị trí thuận lợi này tạo điều kiện cho giao thông phát triển, lưu thông hàng hóa, và thúc đẩy nhanh chóng tốc độ phát triển kinh tế thị trường.

Huyện có diện tích đất lớn, được bồi đắp bởi các dòng sông, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông lâm nghiệp Tuy nhiên, trên các diện tích đất đồi núi, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, do đó, phát triển trồng rừng sản xuất là rất cần thiết và mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Huyện Hương Trà đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, bão lũ xảy ra hàng năm, gây thiệt hại lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp Do đó, cần triển khai các giải pháp hiệu quả nhằm khắc phục và hạn chế tối đa ảnh hưởng của thiên tai đến lĩnh vực nông lâm nghiệp.

Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu vực bố trí thí nghiệm

Khu vực thí nghiệm điều tra đo điếm nằm ở xã Binh Thành, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, với điều tự nhiên như sau:

Khí hậu khu vực nghiên cứu rất khắc nghiệt với mùa mưa ngắn từ tháng 8 đến tháng 11, đặc biệt là lượng mưa lớn trong tháng 9 và 10 Lượng mưa trung bình hàng năm đạt từ 2.500 đến 2.700mm, trong khi nhiệt độ trung bình dao động từ 22 đến 26 độ C và độ ẩm không khí trung bình từ 80 đến 90%.

Trong khu vực thí nghiệm điều tra đo đếm, thực bì chủ yếu bao gồm các loài cây bụi như Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Mua, Thẩu tấu (Aporosa microcalyx Hassk) và cỏ Tranh.

 Đất đai: Đất đai trong khu vực nghiên cứu chủ yếu là đất Feralit phát triển trên phiến thích sét, có độ dày tầng đất từ 90 – 120 cm, độ dốc < 25 0

Hình 3.1 Phẫu diện đất tại khu vực nghiên cứu trước khi trồng rừng

Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất tại khu vực bố trí thí nghiệm trước khi trồng rừng tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Mẫu Độ xốp pH Kcl

Khu vực nghiên cứu có đất khá chua và nghèo dinh dưỡng, với pH KCl dao động từ 3,72 đến 4,17 Hàm lượng mùn trong đất chỉ đạt từ 1,39% đến 3,62%, trong khi hàm lượng đạm tổng số biến động từ 0,106% đến 0,280% Ngoài ra, hàm lượng P2O5 và K2O dễ tiêu ở mức trung bình, trong khi Mg2+ và Ca2+ lại ở mức thấp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trọng Bình (2003), “Lập biểu cấp đất và thể tích tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT , (Số 7), tr.918- 920 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu cấp đất và thể tích tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Nguyễn Trọng Bình
Năm: 2003
2. Nguyễn Trọng Bình (2004), “Lập biểu sinh trưởng và trữ lượng tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT , (Số 1), tr. 103- 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu sinh trưởng và trữ lượng tạm thời cho rừng Keo lai trồng thuần loài”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Nguyễn Trọng Bình
Năm: 2004
3. Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc (2004), “Năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật- lập địa cần quan tâm”, Thông tin Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp VN (Số 2), tr. 5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ và những vấn đề kỹ thuật- lập địa cần quan tâm”, "Thông tin Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp VN
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Phạm Viết Tùng, Ngô Văn Ngọc
Năm: 2004
4. Phạm Thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Nguyễn Thanh Bình (2004). “Ảnh hưởng của bón lót phân đến sinh trưởng các dòng Keo lai tại Tân Lập- Bình Phước”, Thông tin Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, (Số 4), tr. 5- 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của bón lót phân đến sinh trưởng các dòng Keo lai tại Tân Lập- Bình Phước”, "Thông tin Khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Tác giả: Phạm Thế Dũng, Ngô Văn Ngọc, Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2004
5. Nguyễn Quang Dương (2001), “Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng với việc trồng rừng kinh tế chủ lực”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT , (Số 12), tr. 854- 855 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng với việc trồng rừng kinh tế chủ lực”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Nguyễn Quang Dương
Năm: 2001
6. Bùi Thanh Hằng (2005), Bước đầu nghiên cứi một số biện pháp trồng rừng thâm canh Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp – Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứi một số biện pháp trồng rừng thâm canh Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ
Tác giả: Bùi Thanh Hằng
Năm: 2005
7. Triệu Văn Hùng và các tác giả (2005), “Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài keo và bạch đàn các biện pháp tác động cho rừng thâm canh năng suất cao và ổn định bền vững ở Tây Nguyên”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT , (Số 1), tr. 91- 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài keo và bạch đàn các biện pháp tác động cho rừng thâm canh năng suất cao và ổn định bền vững ở Tây Nguyên”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Triệu Văn Hùng và các tác giả
Năm: 2005
8. Lê Quốc Huy, Nguyễn Minh Châu (2002), Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm Rhizobium cho Keo lai và Keo tai tượng vườn ươm &amp; rừng non nhằm nâng cao năng suất rừng trồng, Báo cáo tổng kết đề tài, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm Rhizobium cho Keo lai và Keo tai tượng vườn ươm & rừng non nhằm nâng cao năng suất rừng trồng, Báo cáo tổng kết đề tài
Tác giả: Lê Quốc Huy, Nguyễn Minh Châu
Năm: 2002
9. Lê Đình Khả và các tác giả (1993), ”Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm”, Tạp chí lâm nghiệp, (Số 7), tr. 18- 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí lâm nghiệp
Tác giả: Lê Đình Khả và các tác giả
Năm: 1993
10. Lê Đình Khả (1997), “Không dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới”, Tạp chí lâm nghiệp, (Số 6), tr. 22- 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng rừng mới”, "Tạp chí lâm nghiệp
Tác giả: Lê Đình Khả
Năm: 1997
11. Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998), “Giống Keo lai và vai trò của cải thiện giống và các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng”, Tạp chí lâm nghiệp, (Số 9), tr. 48- 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giống Keo lai và vai trò của cải thiện giống và các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng”, "Tạp chí lâm nghiệp
Tác giả: Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh
Năm: 1998
12. Lê Đình Khả (1999), Nghiên cứu sử dụng giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm, NXB. Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sử dụng giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm
Tác giả: Lê Đình Khả
Nhà XB: NXB. Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Lê Đình Khả và các tác giả (2000), “Nốt sần và khả năng cải tạo đất của Keo lai và các loài keo bố mẹ”, Tạp chí lâm nghiệp, (Số 6), tr. 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nốt sần và khả năng cải tạo đất của Keo lai và các loài keo bố mẹ”, "Tạp chí lâm nghiệp
Tác giả: Lê Đình Khả và các tác giả
Năm: 2000
15. Lê Đình Khả, Đoàn Ngọc Giao (2004), “Kết quả mới về khảo nghiệm giống Keo lai tại một số vùng sinh thái ở nước ta”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, (Số 3), tr. 392- 394 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả mới về khảo nghiệm giống Keo lai tại một số vùng sinh thái ở nước ta”, "Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Lê Đình Khả, Đoàn Ngọc Giao
Năm: 2004
16. Đào Công Khanh (2012), Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật, Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên – Dự án KfW6 , tr. 38-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn kỹ thuật
Tác giả: Đào Công Khanh
Năm: 2012
18. Đoàn Hoài Nam (2003), “Triển vọng của trồng rừng thâm canh Keo lai tại một số vùng sản xuất lâm nghiệp tập trung”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, (Số 8), tr. 1051- 1052 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng của trồng rừng thâm canh Keo lai tại một số vùng sản xuất lâm nghiệp tập trung”," Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Đoàn Hoài Nam
Năm: 2003
19. Đoàn Hoài Nam (2003), “Điều tra sinh trưởng của Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ”, Tạp chí Nông nghiệp và PTNT, (Số 12), tr. 1571- 1572 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra sinh trưởng của Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ”," Tạp chí Nông nghiệp và PTNT
Tác giả: Đoàn Hoài Nam
Năm: 2003
20. Đoàn Hoài Nam (2006), Hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai có hiệu quả cao tại một số vùng trong điểm ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai có hiệu quả cao tại một số vùng trong điểm ở Việt Nam
Tác giả: Đoàn Hoài Nam
Năm: 2006
21. Vũ Tấn Phương (2001), Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất ở Ba Vì, Luận văn Thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của Keo lai với một số tính chất đất ở Ba Vì
Tác giả: Vũ Tấn Phương
Năm: 2001
22. Nguyễn Xuân Quát (1999), Bài giảng trồng rừng thâm canh, Giáo trình dành cho cao học lâm nghiệp, Trường Đại học lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng trồng rừng thâm canh
Tác giả: Nguyễn Xuân Quát
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w