1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu cấu trúc và giải pháp bảo vệ phục hồi rừng tự nhiên có loài nghiến burretiodendron hsienmu phân bố tập trung ở tỉnh điện biên

93 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Trên thế giới (11)
      • 1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng (11)
      • 1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng (12)
      • 1.1.3. Một số thông tin cơ bản về cây Nghiến (14)
    • 1.2. Ở việt nam (17)
      • 1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng (17)
      • 1.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng (19)
      • 1.2.3. Một số thông tin cơ bản về cây Nghiến (22)
  • Chương 2 ĐỐI TƯ NG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Phạm vi nghiên cứu (26)
      • 2.2.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu (26)
      • 2.2.2. Phạm vi về không gian (26)
      • 2.2.3. Phạm vi về thời gian (27)
    • 2.3. Mục tiêu nghiên cứu (27)
      • 2.3.1. Mục tiêu chung (27)
      • 2.3.2. Mục tiêu cụ thể (27)
    • 2.4. Nội dung nghiên cứu (27)
      • 2.4.1. Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần (27)
      • 2.4.2. Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao (27)
      • 2.4.3. Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây tái sinh (27)
      • 2.4.4. Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển loài Nghiến ở rừng tự nhiên (27)
    • 2.5. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.5.1. Phương pháp kế thừa số liệu (28)
      • 2.5.2. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (28)
      • 2.5.3. Phương pháp xử lý, phân tích số liệu (31)
  • Chương 3 ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU TỔNG (35)
    • 3.1. Điều kiện tự nhiên (35)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (35)
      • 3.1.2. Địa hình (35)
      • 3.1.3. Khí hậu - thủy văn (36)
      • 3.1.4. Tài nguyên đất (37)
      • 3.1.5. Tài nguyên rừng (40)
    • 3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (40)
      • 3.2.1. Điều kiện xã hội (40)
      • 3.2.2. Đặc điểm kinh tế (43)
  • Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (45)
    • 4.1. Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần (45)
    • 4.2. Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao (46)
      • 4.2.1. Tỷ lệ phần trăm theo một số nhân tố điều tra của loài nghiến so với các loài khác trong rừng tự nhiên (46)
      • 4.2.2. Phân bố số cây theo đường kính(N/D) của loài Nghiến và chung (48)
      • 4.2.3. Cấu trúc tầng tái sinh (52)
    • 4.3. Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng nghiến ở điện biên (55)
      • 4.3.1. Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Tủa Chùa (55)
      • 4.3.2. Đề xuất mục tiêu, giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025 (59)
  • Chương 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ (0)
    • 5.1. Kết luận (69)
      • 5.1.1. Về cấu trúc tầng cây cao rừng tự nhiên có nghiến phân bố tập trung (69)
      • 5.1.2. Về tái sinh rừng (70)
      • 5.1.3. Kết luận chung về đối tượng nghiên cứu (70)
      • 5.1.4. Về quản lý bảo vệ rừng (70)
    • 5.2. Tồn tại (71)
    • 5.3. Kiến nghị (72)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Cấu trúc rừng được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và đã thu được những kết quả nhất định

Trong nghiên cứu cấu trúc rừng, có ba dạng chính: cấu trúc sinh thái, cấu trúc hình thái và cấu trúc theo thời gian Cấu trúc lớp thảm thực vật là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, phản ánh sự đấu tranh sinh tồn giữa các loài thực vật và môi trường sống Từ góc độ sinh thái, cấu trúc rừng thể hiện hình thức bên ngoài, đồng thời phản ánh nội dung bên trong của hệ sinh thái rừng.

Các nghiên cứu về cấu trúc rừng tập trung vào việc xây dựng cơ sở khoa học và lý luận nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng, đáp ứng nhu cầu đa dạng ngày càng tăng Ban đầu, các nghiên cứu này chủ yếu mang tính định tính, sau đó đã chuyển sang phương pháp định lượng.

Khi chuyển từ nghiên cứu định tính sang nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng, nhiều tác giả đã áp dụng công thức và hàm toán học để mô hình hóa cấu trúc rừng và xác định mối quan hệ giữa các yếu tố cấu trúc Điều này cho thấy các quy luật cấu trúc lâm phần ngày càng được mô tả bằng mô hình toán học, từ đó giúp phát triển các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm tối ưu hóa mô hình rừng cho từng đối tượng và hoàn cảnh cụ thể.

Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Mô phỏng phân bố số cây theo đường kính là một quy luật cơ bản trong cấu trúc lâm phần, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả Kiểu phân bố này thường được thể hiện qua các hàm toán học đa dạng.

Meyer (1934) đã mô tả phân bố N/D1.3 bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục và được gọi là phương trình Meyer

Theo Pierlot (1966), việc sử dụng phương trình mũ để nắn đường thực nghiệm có thể dẫn đến sai số ở các cỡ kính nhỏ Do đó, ông đề xuất rằng hàm Hyperbol là lựa chọn tốt hơn để nắn đường thực nghiệm.

Balley (1973) [51] sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba

J.L.F Batista và H.T.Z Docouto (1992) trong khi nghiên cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài của rừng nhiệt đới ở Maranhoo-Brazin đã dùng hàm Weibull để nắn phân bố số cây theo đường kính và nhận xét rằng: hàm Weibull mô phỏng rất tốt phân bố này

1.1.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Theo các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả tái sinh rừng phụ thuộc vào mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố Cây con đóng vai trò quan trọng trong việc thay thế cây già cỗi, do đó, tái sinh rừng có thể hiểu là quá trình phục hồi các thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu tập trung vào tầng cây gỗ.

Lịch sử nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên đã kéo dài hàng trăm năm, nhưng đối với rừng nhiệt đới, chủ đề này chỉ mới được đề cập từ những năm gần đây.

Kết quả nghiên cứu được tóm tắt như sau:

Richards.P.W (1952) đã tiến hành nghiên cứu về sự tái sinh trong rừng mưa nhiệt đới Kết quả cho thấy, trong các ô dạng bản, thế hệ cây tái sinh có thể có tổ hợp giống hoặc khác biệt so với cây mẹ.

Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ lớn (Mibbread, 1930; Richards, 1933; 1939; Aubresville, 1938; Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Jones, 1955-1956; Schultz, 1960; Baur, 1964; Rollet, 1969) Do tính phức tạp của tổ thành loài cây, chỉ một số loài có giá trị được chú trọng, vì vậy trong thực tiễn lâm sinh, người ta thường chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.

Vansteenis (1956) đã chỉ ra rằng đặc điểm hỗn loài của rừng mưa nhiệt đới dẫn đến sự tái sinh phân tán liên tục, và ngược lại, quá trình tái sinh này lại tạo ra các rừng mưa hỗn loài khác tuổi Các loài cây tái sinh mọc ở lỗ trống thường là những cây ưa sáng, phát triển nhanh và có tuổi thọ ngắn, có thể được mang tới bởi chim hoặc động vật khác Tỷ lệ cây ưa sáng tỷ lệ thuận với kích thước lỗ trống; lỗ trống lớn hơn sẽ có nhiều cây ưa sáng hơn Những loài cây này đóng vai trò quan trọng trong việc hàn gắn các lỗ trống trong rừng Sau khi cây ưa sáng tạo ra bóng, cây tái sinh của các loài cây chịu bóng trong rừng nguyên sinh sẽ xuất hiện và thay thế chúng Nghiên cứu về rừng nhiệt đới ở Châu Á cho thấy hai đặc điểm tái sinh phổ biến: tái sinh vệt và tái sinh phân tán liên tục.

Khi nghiên cứu về rừng mưa ở Châu Phi, A Obrevin (1938) đã phát hiện rằng cây con của các loài cây ưu thế có thể rất hiếm hoặc không xuất hiện Hiện tượng này phản ánh sự thiếu hụt sinh sản của cây mẹ trong môi trường rừng mưa Thêm vào đó, cấu trúc rừng thường thay đổi theo không gian và thời gian, dẫn đến sự thay thế tổ hợp loài cây tại cùng một địa điểm Trong phạm vi nhỏ, tổ hợp loài cây tái sinh không mang tính kế thừa, nhưng trên diện tích lớn hơn, chúng lại thể hiện sự kế thừa theo chu kỳ Thành công của A Obrevin đã tóm tắt hiện tượng bức khảm tái sinh, mà ông gọi là "hiện tượng thuần tuý ngẫu nhiên".

M.Loeschau (1977) 18 đã đưa ra một số đề nghị để đánh giá một khu rừng có tái sinh đạt yêu cầu hay không phải áp dụng phương pháp điều tra ngẫu nhiên, trừ trường hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quát về mật độ tái sinh như nơi có lượng cây tái sinh rất lớn

Trên thế giới có nhiều phương pháp nghiên cứu tái sinh, nhưng tất cả đều dựa vào việc thu thập dữ liệu tái sinh trên ô dạng bản để phân tích và đánh giá Các nhà nghiên cứu cho rằng cần sử dụng ba chỉ tiêu: mật độ, sức sống và khả năng sinh trưởng của cây con để có cái nhìn toàn diện Mật độ chỉ phản ánh số lượng cây con ở các tuổi khác nhau tại một thời điểm, mà không thể hiện khả năng tồn tại và sinh trưởng trong giai đoạn tiếp theo Vì vậy, cần kết hợp cả ba chỉ tiêu này trong một thể thống nhất để có được kết quả phân tích chính xác hơn.

Nghiên cứu về tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng toàn cầu đã cung cấp thông tin quan trọng về phương pháp nghiên cứu và quy luật tái sinh ở nhiều khu vực Tuy nhiên, thảm thực vật rừng nhiệt đới rất đa dạng và phức tạp, gắn liền với điều kiện tự nhiên của từng vùng địa lý Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu quy luật tái sinh tự nhiên của hệ sinh thái rừng ở các khu vực khác nhau, nhằm tạo cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các luận điểm khoa học chính xác.

1.1.3 Một số thông tin cơ bản về cây Nghiến

Ở việt nam

Rừng tự nhiên ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm và nghiên cứu của nhiều tác giả, dẫn đến việc công bố nhiều công trình có giá trị khoa học và thực tiễn Một số tác giả tiêu biểu đã đạt được những kết quả đáng chú ý trong nghiên cứu về rừng tự nhiên.

1.2.1 Nghiên cứu về cấu trúc rừng

Nghiên cứu cấu trúc rừng là yếu tố quan trọng cho quản lý và sử dụng rừng bền vững Trong những năm gần đây, nhiều tác giả đã tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc rừng tại Việt Nam.

Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D 1.3 )

Thống kê các công trình nghiên cứu về rừng tự nhiên ở Việt Nam cho thấy, phân bố N/D1.3 của tầng cây cao (D6cm) có 2 dạng chính sau:

- Dạng giảm liên tục và có nhiều đỉnh phụ hình răng cưa

- Dạng một đỉnh hình chữ J

Với mỗi dạng cụ thể, các tác giả chọn những mô hình toán học thích hợp để mô phỏng

Khi lập biểu thể tích cây đứng rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam, Đồng

Sỹ Hiền (1974) đã nghiên cứu nhiều lâm phần ở các địa phương khác nhau và kết luận rằng phân bố N/D có dạng giảm chung Tuy nhiên, do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc, đường thực nghiệm thường có hình dạng răng cưa Để mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính cây rừng với kiểu phân bố này, tác giả đã áp dụng hàm Meyer và họ đường cong Pearson.

Nguyễn Văn Trương (1983) [44] đã thử nghiệm dùng các hàm mũ, logarit, phân bố Poisson và phân bố Pearson để biểu thị cấu trúc N/D của rừng tự nhiên hỗn loài

Nguyễn Hải Tuất (1986) [48] sử dụng phân bố khoảng cách mô tả phân bố thực nghiệm dạng một đỉnh ở ngay sát cỡ kính bắt đầu đo

Trần Văn Con (1991) [6] đã sử dụng phân bố Weibull để mô phỏng cấu trúc đường kính cho rừng khộp ở Tây Nguyên

Lê Minh Trung (1991) đã thực hiện một nghiên cứu mô phỏng phân bố N/D của rừng tự nhiên tại Gia Nghĩa – Đắk Nông, sử dụng bốn dạng hàm: Poisson, Weibull, Hyperbol và Meyer Kết quả cho thấy phân bố Weibull là phương pháp phù hợp nhất cho mô hình này.

Bảo Huy (1993) đã thực hiện thử nghiệm mô phỏng phân bố thực nghiệm N/D cho rừng Bằng lăng ở Đắk Lắk, áp dụng các dạng phân bố như Poisson, Khoảng cách, Hình học, Weibull và Meyer Kết quả cho thấy phân bố khoảng cách là phù hợp nhất so với các phân bố khác.

Trần Xuân Thiệp và Lê Sáu (1996) đã chỉ ra rằng phân bố Weibull vượt trội hơn các phân bố khác trong việc mô tả phân bố N/D cho tất cả các trạng thái rừng tự nhiên, bất kể phân bố thực nghiệm có dạng giảm liên tục hay có một đỉnh Trong khi đó, Đào Công Khanh (1996) nhấn mạnh rằng mô tả phân bố N/D theo dạng tần số lũy tích là phù hợp hơn, do biến động của đường thực nghiệm này ít hơn nhiều so với biến động số cây hoặc tỷ lệ số cây ở các cỡ kính.

Cấu trúc tổ thành rừng là yếu tố quyết định đến sinh thái và hình thái của rừng, đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá đa dạng sinh học, tính ổn định và bền vững của hệ sinh thái rừng Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và đề cập đến cấu trúc tổ thành trong các công trình của họ.

Trần Ngũ Phương (1963) đã nghiên cứu cấu trúc của thảm thực vật rừng miền Bắc Việt Nam dựa trên điều tra từ năm 1961 đến 1965 Ông chỉ ra rằng tổ thành là nhân tố cấu trúc đầu tiên, từ đó phát hiện một số quy luật phát triển của hệ sinh thái rừng, ứng dụng vào thực tiễn sản xuất.

Bảo Huy (1993) và Đào Công Khanh (1996) đã nghiên cứu tổ thành loài cây trong rừng tự nhiên tại Đắk Lăk và Hương Sơn – Hà Tĩnh, xác định tỷ lệ tổ thành của các nhóm loài cây mục đích, hỗ trợ và phi mục đích Dựa trên những kết quả này, họ đã đề xuất các biện pháp khai thác hợp lý cho từng nhóm loài, nhằm điều chỉnh tổ thành một cách hợp lý.

Lê Sáu (1996) và Trần Cẩm Tú (50) trong nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên tại Kon Hà Nừng - Gia Lai và Hương Sơn - Hà Tĩnh đã xác định danh mục các loài cây theo cấp tổ thành Kết quả cho thấy sự phân bố của một số loài cây theo cấp tổ thành tuân theo hàm phân bố giảm, với số loài giảm dần khi cấp tổ thành tăng lên.

Ngô Minh Mẫn (2005) đã nghiên cứu cấu trúc rừng tại Vườn Quốc gia Cát Tiên và kết luận rằng sự phân bố số lượng loài cây theo cấp tổ thành của trạng thái IIIA1 và IIIA2 tuân theo quy luật phân bố khoảng cách.

Nghiên cứu của Võ Văn Sung (2005) về cấu trúc rừng tự nhiên ven biển tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cho thấy rằng tổ thành ở trạng thái IIB và IIIA2 tuân theo phân bố khoảng cách.

1.2.2 Nghiên cứu về tái sinh rừng

Rừng nhiệt đới Việt Nam có những đặc điểm tái sinh chung của rừng nhiệt đới, nhưng do phần lớn là rừng thứ sinh bị tác động bởi con người, nên quy luật tái sinh đã bị xáo trộn Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tái sinh rừng, nhưng việc tổng kết thành quy luật cho từng loại rừng vẫn còn hạn chế Các kết quả nghiên cứu hiện tại chủ yếu chỉ được đề cập trong các công trình về thảm thực vật, báo cáo khoa học hoặc trên các tạp chí lâm nghiệp.

Thái Văn Trừng (1963, 1978) đã nghiên cứu về "Thảm thực vật rừng Việt Nam" và kết luận rằng ánh sáng là yếu tố sinh thái quyết định quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng Nếu các điều kiện môi trường như đất, nhiệt độ và độ ẩm không thay đổi, thì tổ hợp các loài cây tái sinh sẽ không có sự biến đổi lớn và không diễn ra theo chu kỳ, mà sẽ phát triển theo những quy luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường.

Vũ Đình Huề (1975) 11] từ kết quả điều tra tái sinh tự nhiên theo các

Nghiên cứu về loại hình thực vật ưu thế trong rừng thứ sinh ở Yên Bái, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Lạng Sơn từ năm 1962 đến 1969 cho thấy tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang đặc điểm của rừng nhiệt đới Trong rừng nguyên sinh, cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ, trong khi rừng thứ sinh có nhiều cây gỗ mềm kém giá trị Hiện tượng tái sinh theo đám dẫn đến sự phân bố không đều của số cây trên mặt đất rừng Dựa trên những kết quả này, tác giả đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tái sinh tự nhiên cho các đối tượng rừng lá rộng ở miền Bắc Việt Nam.

ĐỐI TƯ NG, PHẠM VI, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu

Bài viết nghiên cứu các cấu trúc cơ bản của tầng cây cao và tầng cây tái sinh, đồng thời đề xuất giải pháp bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên, đặc biệt là loài nghiến, tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.

2.2.2 Phạm vi về không gian

Rừng tự nhiên tại huyện Tủa Chùa, đặc biệt là xã Xá Nhè, là nơi phân bố chủ yếu của loài Nghiến, bên cạnh huyện Tuần Giáo Nghiên cứu sẽ tập trung vào huyện Tủa Chùa để tìm hiểu thêm về loài cây này.

Hình 2.1 Sơ đồ khu vực có loài Nghiến phân bố ở huyện Tủa chùa và khu vực thu thập số liệu

2.2.3 Phạm vi về thời gian Đề tài thực hiện từ năm 2019 đến năm 2020

Mục tiêu nghiên cứu

Làm cơ sở bảo tồn và phát triển loài cây Nghiến ở huyện Tủa Chùa nói riêng và ở Điện Biên nói chung

-Xác định được một số cấu trúc cơ bản của rừng tự nhiên có loài nghiến phân bố tập trung

-Đề xuất được giải pháp bảo vệ rừng tự nhiên có loài nghiến phân bố tập trung

Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần

2.4.2 Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao

- Xác định công thức tổ thành

- Xác định quy luật phân bố số cây theo đường kính

2.4.3 Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây tái sinh

- Thành phần loài cây tái sinh;

- Mật độ và tổ thành cây tái sinh;

- Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao;

- Chất lượng cây tái sinh và số cây tái sinh có triển vọng

-Số lượng và chất lượng tái sinh của cây Nghiến

2.4.4 Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển loài Nghiến ở rừng tự nhiên khu vực nghiên cứu

-Đề xuất giải pháp quản lí bảo vệ

-Đề xuất giải pháp phục hồi rừng

Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp kế thừa số liệu

- Luận văn kế thừa số liệu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên rừng; điều kiện kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu;

Kế thừa có chọn lọc các tài liệu và kết quả nghiên cứu liên quan trong khu vực nghiên cứu là yếu tố quan trọng để giải quyết nội dung nghiên cứu của luận văn.

- Kế thừa các báo cáo về thực trạng tài nguyên rừng, công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu

2.5.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

2.5.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thực hiện các nội dung 2.4.1 và 2.4.2

Nội dung bài viết được xây dựng dựa trên số liệu từ tầng cây cao, thu thập qua các OTC được bố trí tại khu vực nghiên cứu Các OTC được sắp xếp cụ thể để phục vụ cho việc điều tra và phân tích.

Tại xã Xá Nhè, đã thiết lập 6 ô thử nghiệm (OTC) đại diện cho 3 mức độ tác động: mạnh, vừa và thấp, với kích thước mỗi ô là 2000m² (40*50m) Công tác điều tra tầng cây cao tại các OTC tập trung vào các cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 6 cm trở lên, trong đó từng cây được xác định theo các tiêu chí như tên loài, đường kính ngang ngực và chiều cao vút ngọn.

+ Trong mỗi ô, đánh dấu và đếm toàn bộ số cây trong ô

+ Xác định tên loài (những cây chưa xác định được tên cây, đánh là SP)

+ Đo chu vi vị trí độ cao 1,3 m của tất cả các cây có đường kính từ 6cm trở lên, từ đó suy ra đường kính

+Đo chiều cao vút ngọn tất cả các cây đo bằng thước đo cao Blumeleiss

2.5.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thực hiện các nội dung 2.4.3

Nội dung 2.4.3 được xây dựng dựa trên số liệu từ tầng cây tái sinh, được điều tra tại các ô dạng bản (ODB) được bố trí trên các OTC trong khu vực nghiên cứu Các ODB được sắp xếp cụ thể để thu thập dữ liệu chính xác.

Tại mỗi OTC bố trí 5 ODB, mỗi ODB có diện tích 25m 2 (5*5m) Các ODB được bố trí ở 4 góc và vị trí giữa OTC

- Phương pháp đo đếm cây tái sinh:

+ Xác định tên loài cây tái sinh;

+ Đo chiều cao vút ngọn bằng thước sào;

+ Xác định chất lượng cây: Phân theo tốt, xấu, trung bình;

Chất lượng cây tái sinh được phân theo 3 cấp:

+ Cây tốt (A): là những cây có tán lá phát triển đều, tròn, xanh biếc, thân tròn thẳng, không bị khuyết tật, không bị sâu bệnh

+ Cây trung bình (B): là những cây sinh trưởng kém hơn cây tốt, không cong queo sâu bệnh, cụt ngọn, ít khuyết tật

+ Cây xấu (C): là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh

+ Xác định nguồn gốc: Theo chồi, hạt cho từng cây, trong phiếu ghi theo số cây

Toàn bộ các số liệu thu thập, đo đếm tầng cây tái sinh được ghi chép theo mẫu biểu điều tra cây tái sinh

Biểu 1: Biểu điều tra cây tái sinh ĐIỀU TRA CÂY TÁI SINH

H Ch H Ch H ch H ch H ch H ch H ch Cộng

2.5.2.3 Phương pháp xác định độ tàn che trong mỗi OTC

Phương pháp xác địnhđo độ tàn che bằng phương pháp 100 điểm (đối với OTC 2000 m 2 , 50m*40m)

Chia ô tiêu chuẩn thành 10 tuyến điều tra cho cả hai chiều, với chiều dài 50 m được chia thành 10 tuyến song song với đường đồng mức, mỗi tuyến cách nhau 5 m Chiều rộng 40 m được chia thành 10 tuyến vuông góc với đường đồng mức, mỗi tuyến cách nhau 4 m.

Tại mỗi điểm đo, sử dụng tờ giấy A4 có đường kính 3 cm để quan sát tán cây Nếu tán cây che hoàn toàn, ghi 1; nếu che một phần, ghi 0.5; và nếu không che, ghi 0 Sau khi hoàn tất việc điều tra, tính độ tàn che bằng công thức: Độ tàn che = Tổng giá trị các điểm đo / Tổng số điểm đo.

2.5.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu

Việc xử lý số liệu quan sát, bao gồm lập dãy phân bố thực nghiệm, biểu đồ thực nghiệm và tính toán các đặc trưng mẫu, được thực hiện đồng bộ trên máy tính thông qua phần mềm Excel và SPSS 24.0.

2.5.3.2.Tính toán một số nhân tố điều tra lâm phần

Các nhân tố điều tra lâm phần bao gồm mật độ (N), đường kính bình quân ( D 1.3), chiều cao bình quân ( tổng tiết diện ngang (G), và trữ lượng (M)

Giá trị trữ lượng thực tế được tra ở biểu thể tính cây đứng rừng tự nhiên Việt Nam (Viện Điều tra và quy hoạch rừng xuất bản năm 1995)

2.5.3.3 Xác định công thức tổ thành:

+ Xác định tổng số cá thể của từng loài (ni)

+ Xác định tổng số cá thể chung cho các loài 

+ Tính số cá thể trung bình của 1 loài: m x  N (4.2)

+ So sánh các ni với x :

Nếu ni  x thì loài cây đó có mặt trong công thức tổ thành

Nếu ni< x thì loài cây đó có thể bỏ qua

+ Công thức tổ thành có dạng: k1A1 + k2A2 + … + knAn

Trong đó: Ai là tên loài ki là hệ số được tính theo công thức:

M%: là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài nào đó so với tổng số cây trên OTC

N% là phần trăm số cá thể ở tầng cây cao của loài nào đó so với tổng số cây trên OTC

G% là phần trăm tiết diện ngang của loài cây nào đó so với tổng tiết diện ngang của OTC

Những loài cây có M% lớn hơn 5% mới có ý nghĩa sinh thái trong lâm phần Theo Thái Văn Trừng (1978), nếu một nhóm loài cây chiếm hơn 50% tổng số cá thể của tầng cây cao, nhóm đó được coi là ưu thế Việc xác định loài và nhóm loài ưu thế dựa trên những chỉ dẫn này là rất quan trọng Để xác định, cần tính tổng M% của các loài có trị số trên 5% từ cao đến thấp, dừng lại khi tổng M% đạt 50%.

2.5.3.4 Xử lí số liệu tầng cây tái sinh

- Tổ thành cây tái sinh

Tổ thành loài cây tái sinh được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm giữa số lượng cây của một loài cụ thể và tổng số cây tái sinh được điều tra trong khu vực OTC.

Ki: hệ số tổ thành cây tái sinh của loài i;

Ni: số cây tái sinh của loài i trên các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn; N: tổng số cây tái sinh của các loài trên các ô dạng bản trong ô tiêu chuẩn

Nếu Ki%  5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành

Nếu Ki% < 5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành

- Mật độ cây tái sinh

Mật độ cây tái sinh được xác định theo công thức:

N/ha: mật độ cây tái sinh

No: tổng số cây tái sinh trong các ô dạng bản

So: tổng diện tích các ô dạng bản

- Mật độ cây tái sinh có triển vọng

Mật độ cây tái sinh có triển vọng được xác định theo công thức:

Ntv/ha: mật độ cây tái sinh có triển vọng

Ntv/o: tổng số cây tái sinh có triển vọng trên các ô dạng bản

So: tổng diện tích các ô dạng bản

Nghiên cứu quy luật phân bố số cây tái sinh theo chiều cao sẽ được thực hiện thông qua việc sử dụng phân bố lý thuyết để mô phỏng cấu trúc tần số của chúng.

- Xác định tỷ lệ cây tái sinh theo chất lượng

Tỷ lệ được xác định theo công thức:

Ni%: tỷ lệ % của cấp chất lượng i;

Ni: tổng số cây tái sinh ở cấp chất lượng i;

N: tổng số cây tái sinh trong các ô

2.5.3.5 Phương pháp thực hiện nội dung 2.4.4(Đề xuất giải pháp bảo vệ và phát triển loài Nghiến) Ở đây có hai giải pháp dự kiến được đề xuất, đó là giải pháp lâm sinh và giải pháp quản lí bảo vệ Cơ sở để đề xuất giải pháp kĩ thuật lâm sinh là kết quả nghiên cứu của các nội dung 2.4.1; 2.4.2; 2.4.3 Cơ sở đề xuất giải pháp quản lí bảo vệ rừng là những kết quả nghiên cứu về điều kiện kinh tế, xã hội cùng những báo cáo về tình tình quản lí bảo vệ rừng từ trước đến nay.

ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU TỔNG

Điều kiện tự nhiên

Tủa Chùa là huyện vùng cao và đặc biệt khó khăn của tỉnh Điện Biên, nằm trong danh sách 62 huyện nghèo cả nước Huyện có tọa độ địa lý từ 22°09' Vĩ Bắc đến 105°28' Kinh Đông, phía Bắc giáp huyện Sìn Hồ (tỉnh Lai Châu), phía Đông giáp huyện Quỳnh Nhai (tỉnh Sơn La), phía Nam giáp huyện Tuần Giáo, và phía Tây giáp huyện Mường Chà cùng thị xã Mường Lay.

Trung tâm huyện lỵ huyện Tủa Chùa nằm ở phía Đông - Bắc và cách trung tâm tỉnh Điện Biên 126km

Tủa Chùa có địa hình phức tạp với các dãy núi cao và vực sâu chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo địa chất đã tạo ra sự chia cắt mạnh mẽ, khiến cấu trúc núi cao trở thành đặc trưng chiếm phần lớn diện tích tự nhiên của huyện Độ cao trung bình ở đây rất đáng chú ý.

Nằm ở độ cao từ 800 đến 1000m so với mực nước biển, địa hình Tủa Chùa được hình thành bởi quá trình bào mòn mạnh, dẫn đến sự xuất hiện của các thung lũng hẹp và bãi bồi dọc theo các con sông suối Tổng thể, khu vực này có ba dạng địa hình chính.

Địa hình Tủa Chùa được chia thành hai tiểu vùng, với khu vực phía Nam huyện bao gồm các xã như Mường Báng, Xá Nhè, Mường Đun, Tủa Thàng và Huổi Só Khu vực này có đồi núi với độ dốc thấp, cùng với nguồn nước dồi dào, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi.

- Khu vực phía Bắc gồm các xã: Sính Phình, Trung Thu, Lao Xả Phình,

Tả Phìn, Tả Sìn Thàng và xã Sín Chải Khu vực này có nhiều núi cao, vực sâu, nhiều núi đá vôi, nguồn nước khan hiếm

Huyện Tủa Chùa nằm trong vùng á ôn đới được chia làm 2 mùa rõ rệt

Mùa mưa tại khu vực này kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8, với lượng mưa lớn tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 8 Đầu mùa thường chứng kiến mưa đá và lốc lớn, trong khi lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 2000 đến 2200 mm, không phân bố đều trong năm Trung bình, khu vực này có khoảng 120 ngày mưa mỗi năm.

Mùa khô ở khu vực này kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, với thời tiết lạnh, khô hanh và ít mưa Đặc biệt, trong các tháng 12, 1 và 2, thường xảy ra các đợt rét đậm, rét hại kèm theo hiện tượng sương muối.

- Nhiệt độ trung bình cả năm đạt khoảng từ 20 - 22 0 C Nhiệt độ cao nhất khoảng 35 0 C và có thời gian nhiệt độ thấp nhất xuống tới dưới 0 0 C

- Số ngày nắng trong năm vào khoảng 110 ngày, số ngày lạnh trong năm khoảng 95 ngày, độ ẩm tương đối trung bình hàng năm đạt khoảng

- Gió: Do phụ thuộc vào cấu trúc của địa hình, gió mùa Tây Nam thường xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 7 làm cho khí hậu ban ngày khô nóng

Các tiểu vùng có độ cao trên 900m so với mực nước biển thường trải qua sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa ngày và đêm Kết quả điều tra cho thấy, cứ 4-5 năm lại có hiện tượng rét đậm xảy ra vào mùa Đông tại những khu vực này.

3.1.3.2 Về chế độ thuỷ văn:

Huyện Tủa Chùa có tất cả 20 sông, suối lớn nhỏ Trong đó có 2 con sông chính và một số suối chính như sau:

Sông Đà chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, tạo thành ranh giới giữa Tủa Chùa - Sìn Hồ và Tủa Chùa - Quỳnh Nhai thuộc tỉnh Sơn La, nổi bật với lưu lượng dòng chảy lớn và độ dốc cao.

- Sông Nậm Mức: Chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, là gianh giới tiếp giáp giữa huyện Tủa Chùa với huyện Mường Chà, huyện Tuần Giáo

Các suối chính trong khu vực bao gồm Nà Sa, Tà Là Cáo và Nậm Seo, đều có những đặc điểm chung như ngắn, độ dốc cao và lưu vực nhỏ Ngoài ra, các suối này còn nhiều gềnh, thác và lưu lượng nước thay đổi theo mùa, dẫn đến khả năng khai thác hiệu quả thấp.

Huyện còn sở hữu một số nguồn nước nhỏ với tiềm năng lớn cho việc khai thác, phục vụ cho việc xây dựng các công trình thủy lợi nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt.

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện Tủa Chùa là 68.414,88 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chiếm 59,62% với 40.710,17 ha, đất lâm nghiệp có rừng chiếm 30,99% với 21.204,18 ha, và các loại đất khác như đất nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp khác, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng lần lượt chiếm 0,12%, 0,0006%, 4,51% và 4,88% Đất đai tại đây bao gồm nhiều nhóm đất chủ yếu như đất phù sa ven sông, đất đen, đất mùn, đất đỏ vàng trên núi, đất vàng nhạt trên núi cao và đất mùn vàng nhạt trên đá cát.

Nhóm đất phù sa ven sông suối là loại đất nằm ở khu vực thấp, địa hình phẳng gần bờ sông và bờ suối Diện tích của loại đất này thường nhỏ và không liên tục, tập trung chủ yếu tại các khu vực như Mường Báng, Huổi Só, Xá Nhè, Tủa Thàng, và Mường Đun.

- Nhóm đất đen: Được tập trung chủ yếu tại khu vực xã Mường Báng và thị trấn Tủa Chùa

- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Đây là loại đất có thành phần cơ giới trung bình, kết cấu tương đối bền chặt, hàm lượng mùn thấp

Nhóm đất mùn đỏ vàng trên phiến sét có chất lượng tương đối tốt, chủ yếu phân bố ở vùng cao Mặc dù có tầng canh tác mỏng, loại đất này thích hợp cho việc trồng một số loại cây công nghiệp và cây dược liệu.

Hiện trạng sử dụng Đất

Trong giai đoạn 2014-2018, tình hình sử dụng đất của huyện không có nhiều biến đổi lớn, tuy nhiên có sự thay đổi đáng kể về đất phi nông nghiệp, phản ánh sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện và nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng Từ năm 2017 đến 2018, cơ cấu sử dụng đất có sự biến động lớn, với diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm, trong khi diện tích đất lâm nghiệp tăng do người dân hạn chế trồng cây trên nương và tăng cường trồng rừng cũng như khoanh nuôi tái sinh rừng.

Trong giai đoạn 2014-2018, diện tích đất nông nghiệp của huyện có sự biến động không đáng kể, với việc giảm 164,3ha vào năm 2018 so với năm 2014, chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích đất tự nhiên.

Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1.1 Dân số, mật độ dân số

Tính đến năm 2018, huyện Tủa Chùa có tổng dân số trung bình là 53.738 người, tương ứng với 11.165 hộ, chiếm 9,31% tổng dân số của tỉnh (576.658 người) Trong huyện, có 07 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm tỷ lệ cao nhất với 73,2%, tiếp theo là dân tộc Thái chiếm 16,5%, và dân tộc Kinh chiếm 5,1% Các dân tộc khác bao gồm Dao, Hoa, Khơ Mú, và Phù Lá.

Vào năm 2018, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động đạt 32.768 người, tương đương 60,97% tổng dân số huyện Tuy nhiên, trình độ lao động còn thấp, với tỷ lệ lao động thiếu chuyên môn cao Tổng số lao động tham gia vào các ngành kinh tế quốc dân là 31.126 người, chiếm 98,4% trong số người trong độ tuổi lao động.

Tổng số lao động qua đào tạo đạt 8.559 người, tương đương 26,1% dân số trong độ tuổi lao động Trong khi đó, số lao động làm việc trong ngành Nông - Lâm - Thủy sản là 26.150 người, chiếm 79,8% dân số trong độ tuổi lao động.

Bảng 3.2 Dân số, lao động huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014 - 2018

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm

Tỷ lệ dân số khu vực nông thôn

3 Dân số trong độ tuổi lao động Người 29.105 29.479 30.080 31.372 32.768

Tỷ lệ so với dân số % 56,72 56,75 57,25 59,04 60,97

Lao động tham gia hoạt động kinh tế

Tỷ lệ so với dân số % 53,88 53,91 54,38 54,29 57,92

Tỷ lệ so với lao động trong độ tuổi lao động

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa hàng năm)

Lao động của huyện chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, chiếm 79,8% tổng số lao động toàn huyện Tuy nhiên, tỷ lệ này đang có xu hướng giảm dần, khi ngày càng nhiều người chuyển sang các ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ, từ 85,39% vào năm 2014 xuống còn 79,8% vào năm 2018.

Bảng 3.3 Hiện trạng cơ cấu lao động huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014-2018

STT Chỉ tiêu ĐVT Năm

2 Dân số trong độ tuổi lao động Người 29.105 29.479 30.080 31.372 32.768

Lao động tham gia hoạt động kinh tế

Lao động hoạt động trong ngành công nghiệp - xây dựng, thương mại

Tỷ lệ so với tổng số lao động toàn huyện

Lao động hoạt động trong ngành nông - lâm nghiệp

Tỷ lệ so với tổng số lao động toàn huyện

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa hàng năm)

Tổng giá trị sản xuất của huyện Tủa Chùa đã tăng từ 971,051 tỷ đồng vào năm 2014 lên 1.382,137 tỷ đồng vào năm 2018, tương đương với mức tăng 1,42 lần Trong đó, giá trị sản xuất khu vực nông nghiệp đạt 381,215 tỷ đồng, công nghiệp và xây dựng đạt 294,400 tỷ đồng, và thương mại, dịch vụ đạt 295,436 tỷ đồng.

Bảng 3.4 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014-2018 (Theo giá hiện hành) Đơn vị tính: Tỷ đồng

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa)

Trong giai đoạn 2014-2018, huyện ghi nhận tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ấn tượng với mức bình quân đạt 7,3% Sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, và nông - lâm - thủy sản đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng này Cụ thể, ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng trung bình 6,2%, trong khi ngành thương mại - dịch vụ đạt mức tăng 11,7% Ngành nông nghiệp, mặc dù là ngành chủ đạo, nhưng chỉ có mức tăng trưởng 4,28%.

Trong giai đoạn 2014-2018, cơ cấu giá trị sản xuất huyện Tủa Chùa thể hiện sự cân bằng giữa ba ngành kinh tế: công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ, và nông - lâm - thủy sản Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian này diễn ra tích cực, với tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm đều qua từng năm, trong khi ngành thương mại - dịch vụ có xu hướng tăng nhanh.

Bảng 3.5 Cơ cấu giá trị sản xuất huyện Tủa Chùa giai đoạn 2014-2018 Đơn vị tính: %

(Nguồn: Theo Niên giám thống kê huyện Tủa Chùa)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Xác định một số nhân tố điều tra lâm phần

Bảng 4.1 Giá trị một số nhân tố điều tra trên các OTC

Tác động OTC N (cây/ô) D(cm) H(m) G(m2/ô) M(m3/ô) Tàn che (P)

Bảng 4.2 Giá trị một số nhân tố điều tra trên hecta Tác động OTC N(cây/ha) D(cm) H(m) G(m2/ha) M(m3/ha) Tàn che (P)

Đường kính bình quân của các OTC dao động từ 21,6 cm đến 41,7 cm, cho thấy xu hướng tăng dần từ những OTC có tác động mạnh đến những OTC có tác động nhẹ.

Mật độ các OTC biến động từ 65 cây/ha đến 115 cây/ha và không thể hiện rõ quy luật theo mức độ tác động

Chiều cao bình quân của các OTC dao động từ 12,6 m đến 20,2 m, cho thấy sự tăng dần của đường kính bình quân từ các OTC có tác động mạnh đến những OTC có tác động nhẹ.

Tổng diện ngang có sự khác biệt rõ giữa các OTC có mức độ tác động khác nhau, cụ thể là:

-Ở những OTC có mức độ tác động mạnh, G/ha từ 5,9 đến 7,3 m2/ha; -Ở những OTC có mức độ tác động trung bình, G/ha từ 9,9 đến 13,6 m2/ha;

Tại các OTC có mức độ tác động nhẹ, chỉ số G/ha dao động từ 14,3 đến 17,6 m2/ha Đồng thời, trữ lượng cũng thể hiện sự khác biệt rõ rệt giữa các OTC với mức độ tác động khác nhau.

-Ở những OTC có mức độ tác động mạnh, M/ha từ 47 đến 88 m3/ha; -Ở những OTC có mức độ tác động trung bình, M/ha từ 94 đến 146 m3/ha;

Tại các OTC có tác động nhẹ, lượng M/ha dao động từ 156 đến 253 m3/ha Độ tàn che trong khu vực này nằm trong khoảng từ 0,46 đến 0,65 và không cho thấy xu hướng biến đổi rõ rệt theo mức độ tác động.

Xác định một số cấu trúc cơ bản của tầng cây cao

4.2.1 Tỷ lệ phần trăm theo một số nhân tố điều tra của loài nghiến so với các loài khác trong rừng tự nhiên

Trong quá trình điều tra và thu thập số liệu ngoài hiện trường, do hạn chế về nhận biết các loài cây rừng, chỉ có loài Nghiến được xác định Vì vậy, không thể xác định công thức tổ thành theo số cây và chỉ số M%, mà chỉ tính phần trăm số cây, phần trăm tổng diện ngang và phần trăm trữ lượng của loài Nghiến so với tất cả các loài trong lâm phần Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 4.3.

Bảng 4.3 Kết quả tính tỷ lệ phần trăm theo một số nhân tố điều tra của loài nghiến so với các loài khác trong các OTC

Tác động OTC N N nghiến N% G G nghiến G% M M nghiến

Tỷ lệ phần trăm cá thể loài nghiến trong các OTC dao động từ 20% đến 55% Trong đó, các OTC có mức độ tác động mạnh chiếm 37,5%, mức độ tác động vừa là 35%, và mức độ tác động nhẹ là 22,5%.

-Tỷ lệ phần trăm tổng diện ngang loài nghiến trong các OTC chiểm từ

Tỷ lệ tác động của các OTC được phân loại như sau: 54,3% đại diện cho mức độ tác động mạnh, 68,9% cho mức độ tác động vừa, và 75,6% cho mức độ tác động nhẹ.

Tỷ lệ phần trăm trữ lượng loài nghiến trong các OTC dao động từ 48,7% đến 88,5% Trong đó, các OTC có mức độ tác động mạnh chiếm 56,9%, mức độ tác động vừa là 73,6%, và mức độ tác động nhẹ là 82,7%.

Kết quả cho thấy tỷ lệ phần trăm của loài nghiến trong rừng đã tăng từ N% lên G% và M%, chứng minh rằng loài nghiến có kích thước vượt trội hơn so với các loài khác.

4.2.2 Phân bố số cây theo đường kính(N/D) của loài Nghiến và chung cho các loài cây rừng tự nhiên nơi có loài Nghiến phân bố

Dữ liệu từ các OTC cho thấy sự phân bố số cây theo đường kính của loài Nghiến, cũng như các loài khác, không tuân theo quy luật chung, cho thấy cấu trúc rừng tự nhiên tại đây đã bị phá vỡ do khai thác liên tục và thiếu quy hoạch Luận văn không mô phỏng phân bố N/D theo lý thuyết mà chỉ phản ánh quy luật cấu trúc N/D thông qua phân bố thực nghiệm, từ đó đưa ra nhận xét và đánh giá.

Bài viết trình bày các biểu đồ phân bố N/D thực nghiệm của loài Nghiến (ft1) và các loài chung (ft) từ 6 OTC, đại diện cho 3 mức độ tác động khác nhau Cụ thể, OTC số 1 và 2 thể hiện rừng bị tác động mạnh, OTC 3 và 4 thể hiện rừng bị tác động vừa, trong khi OTC 5 và 6 đại diện cho rừng bị tác động nhẹ.

Hình 4.1 Phân bố N/D OTC số 1 (ft:chung các loài; ft: cây nghiến)

Hình 4.2 Phân bố N/D OTC số 2 (ft:chung các loài; ft1: cây nghiến)

Hình 4.3 Phân bố N/D OTC số 3 (ft:chung các loài; ft1: cây nghiến)

Hình 4.4 Phân bố N/D OTC số 4 (ft:chung các loài; ft1: cây nghiến)

Hình 4.5 Phân bố N/D OTC số 5 (ft:chung các loài; ft 1 : cây nghiến)

Hình 4.6 Phân bố N/D OTC số 6 (ft:chung các loài; ft 1 : cây nghiến)

Các biểu đồ phân bố N/D thực nghiệm đều cho thấy quy luật chung là phân bố nhiều đỉnh, không liên tục và đứt quãng, điều này chứng tỏ rằng cấu trúc rừng đã bị phá vỡ và không còn tuân theo quy luật chung.

4.2.3 Cấu trúc tầng tái sinh

4.2.3.1 Mật độ và chất lượng cây tái sinh chung cho các loài

Bảng 4.4 Mật độ và tổ thành cây tái sinh chung cho các loài

Mật độ tái sinh ở các OTC dao động từ 3.280 đến 5.280 cây/ha, trong đó tái sinh hạt chiếm ưu thế với tỷ lệ từ 73% đến 91% Đặc biệt, tỷ lệ cây tái sinh tốt rất cao, với tái sinh hạt chiếm tới 91% số cây tốt.

Số lượng và chất lượng tái sinh ở các đối tượng rừng chịu tác động khác nhau có sự khác biệt không rõ ràng Cụ thể, OTC số 1 và 2 đại diện cho rừng bị tác động mạnh, trong khi OTC 3 và 4 đại diện cho rừng bị tác động vừa, và OTC 5 cùng 6 đại diện cho rừng bị tác động nhẹ.

4.2.3.2.Mật độ và chất lượng cây tái sinh có triển vọng chung cho các loài

(Cây chất lượng từ TB trở lên và H>1.5m)

Bảng 4.5 Mật độ và chất lƣợng cây tái sinh có triển vọng chung các loài

4.2.3.3 Mật độ và chất lượng tái sinh của loài Nghiến

Về cơ bản khi điều tra không thấy loài nghiến có tái sinh chồi, vì thế đối tượng nghiên cứu ở đây là tái sinh hạt

Bảng 4.6 Mật độ và chất lƣợng tái sinh của loài Nghiến

Bảng 4.6 cho thấy, mật độ tái sinh của loài Nghiến rất cao, dao động từ

Mật độ tái sinh của loài nghiến dao động từ 1280 đến 1920 cây/ha, với trung bình là 1600 cây/ha, và chất lượng tái sinh chủ yếu đạt từ 83% trở lên Số lượng và chất lượng tái sinh không có sự chênh lệch lớn giữa các khu vực có mức độ tác động khác nhau Cụ thể, ở khu vực bị tác động mạnh, mật độ tái sinh đạt 1520 cây/ha với tỷ lệ cây tốt là 93%; ở khu vực có mức độ tác động vừa, mật độ tái sinh là 1760 cây/ha và tỷ lệ cây tốt là 84%; trong khi ở khu vực có mức độ tác động nhẹ, mật độ tái sinh đạt 1540 cây/ha với tỷ lệ cây tốt lên tới 95%.

4.2.3.4 Tái sinh có triển vọng của loài Nghiến

Tái sinh của loài Nghiến có triển vọng tốt nhất khi cây đạt chất lượng từ trung bình trở lên và có chiều cao tối thiểu 1,5 m, tương đương với chiều cao trung bình của cây bụi thảm tươi tại các OTC.

Bảng 4.7 Số lƣợng tái sinh có triển vọng loài Nghiến

Bảng 4.7 chỉ ra rằng loài nghiến có khả năng tái sinh rất cao, với số lượng cây từ 1000 đến 1360 cây/ha, trung bình đạt 1170 cây/ha Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi của loài cây này trong khu vực nghiên cứu.

Thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng và đề xuất giải pháp phục hồi và phát triển rừng nghiến ở điện biên

4.3.1 Thực trạng tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của huyện Tủa Chùa

4.3.1.1.Hệ thống tổ chức lực lượng Ở cấp huyện có một Ban Chỉ đạo chương trình mục tiêu phát triển lâmnghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 gồm 22 thành viên của Ủy ban nhân dân huyện, Hạt Kiểm lâm và Chủ tịch Ủy ban nhân dân 11 xã, thị trấn tham gia do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện làm trưởng ban

Huyện có Hạt Kiểm lâm với 15 công chức và một lái xe theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP, bao gồm một Hạt trưởng, một Phó Hạt trưởng, và các tổ chức chuyên trách như Tổ Kiểm lâm cơ động, Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã, cùng các công chức phụ trách pháp chế, kế toán, và kỹ thuật Tại cấp xã, có 11 Ban Chỉ đạo chương trình phát triển lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 với 201 thành viên, do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã làm trưởng ban Ngoài ra, có 135 tổ, đội quản lý bảo vệ rừng với 1.020 thành viên, do Trưởng thôn hoặc đại diện chủ rừng cộng đồng tham gia.

4.3.1.2 Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

Trong những năm qua, huyện Tủa Chùa đã tích cực tuyên truyền và phổ biến Luật Lâm nghiệp cùng các chỉ thị quan trọng của Đảng về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Các hoạt động này được triển khai rộng rãi qua nhiều hình thức như xây dựng chuyên trang, tổ chức hội nghị tuyên truyền với hơn 11.550 người tham gia, và đăng tải 146 tin bài liên quan, thu hút hơn 18.203 lượt độc giả Đài Phát thanh - Truyền hình huyện cũng đã phát 56 chuyên mục, 72 phóng sự và 59 tin tức nhằm cảnh báo nguy cơ cháy rừng và khuyến khích toàn dân tham gia bảo vệ rừng.

Việc quán triệt và tuyên truyền các chủ trương của Đảng cùng chính sách, pháp luật của nhà nước đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị từ tỉnh đến thôn bản về công tác bảo vệ và phát triển rừng.

4.3.1.3 Quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên rừng Ủy ban nhân nhân huyện Tủa Chùa đã triển khai thực hiện Quyết định số 2242/QĐ-TTg ngày 11/12/2014 của Chính phủ phê duyệt Đề án tăng cường công tác quản lý khai thác gỗ rừng tự nhiên giai đoạn 2014-2020; huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đã tổ chức thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ trướng Chính phủ tại Thông báo số 511/TB-VPCP ngày 01/11/2017 của Văn phòng Chính phủ, trên địa bàn huyện Tủa Chùa đã chấm dứt việc khai thác chính, khai thác gỗ gia dụng từ rừng tự nhiên, khai thác tận thu, tận dụng gỗ; các hoạt động khai thác gỗ trên địa bàn chủ yếu từ rừng trồng và cây trồng phân tán, ngoài ra và khai thác lâm sản ngoài gỗ, sản lượng không lớn Tuy nhiên, tình hình khai thác, mua, bán, cất giữ, vận chuyển lâm sản gỗ nghiến vẫn diễn ra phức tạp ở một số xã như: Xá Nhè, Mường Đun, Mường Báng, Tủa Thàng a) Kết quả ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về lâm nghiệp

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2020, nhờ sự lãnh đạo quyết liệt của cấp ủy và chính quyền huyện Tủa Chùa, cùng với sự triển khai của Hạt Kiểm lâm và Công an huyện, đã phát hiện 343 vụ vi phạm về lâm nghiệp Cụ thể, năm 2016 ghi nhận 49 vụ, năm 2017 có 106 vụ, năm 2018 là 80 vụ, năm 2019 là 69 vụ, và trong sáu tháng đầu năm 2020 có 39 vụ Kết quả xử phạt vi phạm hành chính đạt 338 vụ, trong khi có 5 vụ được xử lý hình sự, đồng thời nhiều tài sản vi phạm đã bị tịch thu.

Trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, đã tịch thu 151 m³ gỗ, bao gồm 147 m³ gỗ nghiến và 4 m³ gỗ thông thường, cùng với 123 phương tiện vi phạm, trong đó có 2 xe ô tô và 115 xe máy, thu nộp ngân sách nhà nước 2 tỷ 700 triệu đồng Tuy nhiên, tình trạng vi phạm vẫn tồn tại do chính quyền địa phương chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm quản lý Nhà nước về lâm nghiệp Chủ rừng thiếu trách nhiệm trong việc phát hiện và ngăn chặn kịp thời các vụ khai thác rừng trái phép Ngoài ra, một số công chức quản lý nhà nước và Kiểm lâm địa bàn còn yếu kém về năng lực, không thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra và tham mưu xử lý vi phạm Sự phối hợp giữa các cấp, ngành và lực lượng chức năng trong việc đấu tranh chống vi phạm pháp luật về lâm nghiệp cũng chưa chặt chẽ và đồng bộ.

Từ năm 2016 đến năm 2020, huyện đã thực hiện trồng mới 197,9 ha rừng thay thế và rừng phòng hộ, đồng thời khoanh nuôi tái sinh tự nhiên 814,1 ha rừng Huyện cũng đã chi trả 64 tỷ đồng cho dịch vụ môi trường rừng và trồng mới 66.000 cây phân tán Các hoạt động kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về lâm nghiệp được tăng cường, giúp triệt phá các "đầu nậu" mua bán gỗ nghiến dạng thớt Đặc biệt, huyện đã bảo vệ diện tích rừng tự nhiên, nhất là các khu rừng có nhiều cây gỗ nghiến tại các xã như Xá Nhè, Mường Đun, Tủa Thàng, Huổi Só và Sín Chải.

4.3.1.4 Đánh giá chung thực trạng quản lý bảo vệ và phát triển rừng

Trong giai đoạn 2016 - 2020, huyện Tủa Chùa đã chú trọng công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhận được sự lãnh đạo và chỉ đạo từ các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền Kết quả đạt được là sự chuyển biến tích cực trong công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về lâm nghiệp, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, cộng đồng dân cư và người dân Điều này cho thấy rõ vai trò quan trọng của rừng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Huyện đã thiết lập trật tự và kỷ cương trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ các khu rừng tự nhiên có loài nghiến Kết quả rà soát và điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đến năm 2025, với định hướng đến năm 2030, đã được công bố đến từng thôn, bản để người dân nắm bắt và thực hiện.

Việc trồng rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng sản xuất mới, khoanh nuôi và tái sinh rừng đã được triển khai hiệu quả Đồng thời, các dự án chuyển mục đích sử dụng rừng, đặc biệt là trong lĩnh vực thủy điện, khai thác khoáng sản và xây dựng giao thông, được quản lý và giám sát chặt chẽ Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã được áp dụng tại 12 xã, góp phần nâng cao tỷ lệ che phủ rừng của huyện lên 37,5% vào năm 2019, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Tủa Chùa lần thứ XVII.

Công tác quản lý và bảo vệ rừng tại huyện gặp nhiều khó khăn, bao gồm tình trạng khai thác lâm sản trái phép, đặc biệt là gỗ nghiến tròn, diễn ra phức tạp Việc trồng rừng chậm tiến độ và chưa đạt chỉ tiêu đề ra Lực lượng kiểm lâm mỏng và thiếu trang thiết bị, trong khi một số cán bộ kiểm lâm còn hạn chế về trình độ Chế độ chính sách cho lực lượng kiểm lâm và bảo vệ rừng thôn bản chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao.

4.3.2 Đề xuất mục tiêu, giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025

Nghiên cứu cho thấy rừng tự nhiên có loài nghiến tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên đang ở trạng thái rừng nghèo và rừng trung bình, cần các giải pháp quản lý và bảo vệ hiệu quả Để phát triển bền vững, việc phục hồi rừng là rất cần thiết trong giai đoạn 2021-2025.

Theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND ngày 21/12/2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên, huyện Tủa Chùa được quy hoạch 2 loại rừng phòng hộ và sản xuất với tổng diện tích 40.624,7 ha, chiếm 59,37% tổng diện tích tự nhiên của huyện Cụ thể, rừng phòng hộ chiếm 29.624,7 ha và rừng sản xuất 11.096,08 ha Huyện Tủa Chùa cũng nhận được từ 16 đến 20 tỷ đồng/năm từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Trên cơ sở đó, học viên đề xuất một số mục tiêu và giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025.

4.3.2.1 Mục tiêu, giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng huyện Tủa Chùa giai đoạn 2021-2025 a) Về mục tiêu

Tiếp tục triển khai các nhiệm vụ và giải pháp theo Chỉ thị số 13-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Đồng thời, thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Điện Biên, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác này tại tỉnh Điện Biên Hướng đến việc thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 71/NQ- để nâng cao chất lượng công tác bảo vệ và phát triển rừng.

CP ngày 08/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Chỉ thị số 13-CT/TW ngày 12 tháng 01 năm

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Baur G.N. (1964), Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa, Vương Tấn Nhị dịch, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa
Tác giả: Baur G.N
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1964
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2001), Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh, tập II, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2001
7. Catinot R. (1965) , Hiện tại và tương lai rừng nhiệt đới ẩm, Thái Văn Trừng, Nguyễn Văn Dưỡng dịch, tư liệu KHKT, Viện KHLNVN, tháng 3 – 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tại và tương lai rừng nhiệt đới ẩm
8. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2002), Thực vật rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật rừng
Tác giả: Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
9. Trần Văn Con (1991), Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng Khộp Tây Nguyên, Luận án PTSKH Nông nghiệp, Viện KHLNVN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng ứng dụng mô phỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ sinh thái rừng Khộp Tây Nguyên
Tác giả: Trần Văn Con
Năm: 1991
10. Nguyễn Duy Chuyên (1985), Bước đầu nghiên cứu tái sinh khu rừng Quỳ Châu, Nghệ An, Viện Điều tra quy hoạch rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu tái sinh khu rừng Quỳ Châu, Nghệ An
Tác giả: Nguyễn Duy Chuyên
Năm: 1985
11. Đinh Quang Diệp (1993), Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng khộp Easup, ĐắkLắk, Luận án tiến sĩ Nông nghiệp, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu tiến trình tái sinh tự nhiên ở rừng khộp Easup, ĐắkLắk
Tác giả: Đinh Quang Diệp
Năm: 1993
13. Đồng Sỹ Hiền (1974), Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng Việt Nam
Tác giả: Đồng Sỹ Hiền
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1974
14. Vũ Đình Huề (1984), “ Phân loại các kiểurừng phục vụ sản xuất Lâm nghiệp ”, Tạp chí Lâm nghiệp số (7), tr. 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại các kiểurừng phục vụ sản xuất Lâm nghiệp ”
Tác giả: Vũ Đình Huề
Năm: 1984
15. Bảo Huy (1993), Góp phần nghiên cứu rừng nửa rụng lá, rụng lá Bằng lăng (Lagerstroemia calyculata Kuzr) làm cơ sở đề xuất giải pháp kỹ thuật khai thác nuôi dưỡng ở Đắc Lắc – Tây Nguyên, Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp, Viện KHLN Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu rừng nửa rụng lá, rụng lá Bằng lăng (Lagerstroemia calyculata Kuzr) làm cơ sở đề xuất giải pháp kỹ thuật khai thác nuôi dưỡng ở Đắc Lắc – Tây Nguyên
Tác giả: Bảo Huy
Năm: 1993
16. Nguyễn Hữu Hiến (1970), “Cách đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới”, Tập san Lâm nghiệp (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách đánh giá tổ thành rừng nhiệt đới”, "Tập san Lâm nghiệp (
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
Năm: 1970
17. Vũ Tiến Hinh (1991), Đặc điểm tái sinh của rừng tự nhiên, Tập san Lâm nghiệp ( 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san Lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1991
18. Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam (1989), Kết quả khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh, Một số kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp 1976 - 1985, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo nghiệm quy phạm khai thác đảm bảo tái sinh vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh
Tác giả: Vũ Đình Huề, Phạm Đình Tam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1989
19. Nguyễn Văn Hoàn, Lê Ngọc Công (2006), Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang, Tạp chí LN số 11/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu nghiên cứu đặc điểm quá trình tái sinh tự nhiên tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang
Tác giả: Nguyễn Văn Hoàn, Lê Ngọc Công
Năm: 2006
20. Đào Công Khanh (1996), Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng lá rộng thường xanh ở Hương Sơn - Hà Tĩnh làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh phục vụ khai thác và nuôi dưỡng rừng
Tác giả: Đào Công Khanh
Năm: 1996
21. M.Loeschau (1977), Một số đề nghị về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới, Triệu Văn Hùng dịch năm 1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đề nghị về điều tra và đánh giá tái sinh tự nhiên trong rừng nhiệt đới
Tác giả: M.Loeschau
Năm: 1977
22. M.Loeschau (1966), Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá rộng thường xanh nhiệt đới, Nguyễn Văn Khanh và Nguyễn Văn Thịnh dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân chia kiểu trạng thái và phương hướng kinh doanh rừng hỗn giao lá rộng thường xanh nhiệt đới
Tác giả: M.Loeschau
Năm: 1966
23. Hoàng Thị Phương Lan (2004), Nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy tại huyện Mai Sơn -tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy tại huyện Mai Sơn -tỉnh Sơn La
Tác giả: Hoàng Thị Phương Lan
Năm: 2004
24. Vũ Biệt Linh (1984), “ Vấn đề phân chia rừng theo hệ thống phân loại kinh doanh ”, Tạp chí Lâm nghiệp (11), tr.27-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Vấn đề phân chia rừng theo hệ thống phân loại kinh doanh ”
Tác giả: Vũ Biệt Linh
Năm: 1984
25. Nguyễn Ngọc Lung (1985), Những cơ sở bước đầu để xây dựng qui phạm khai thác gỗ, Một số kết quả nghiên cứu Khoa học - Kỹ thuật Lâm nghiệp 1976- 1985. Viện Lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở bước đầu để xây dựng qui phạm khai thác gỗ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1985

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w