Có thể khẳng định, phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân bằng nhiều biện pháp làm giảm, hạn chế và từng bướ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THIÊN HOÀNG
VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THIÊN HOÀNG
VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI, năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Nội dung cơ bản và những kiến nghị, đề xuất của luận văn là chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện hàn lâm – Viện khoa học và xã hội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Viện hàn lâm – Viện Khoa học và xã hội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thiên Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN 6
1.1 Nhận thức về phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản 6 1.2 Vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản 17
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
2.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 34 2.2 Thực trạng các hoạt động thể hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 51 2.3 Nhận xét, đánh giá về vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 61
CHƯƠNG 3 DỰ BÁO VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66
3.1 Dự báo tình hình có liên quan đến vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 66 3.2 Một số giải pháp nâng cao vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 70
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đà Nẵng là thành phố lớn nhất khu vực miền Trung - Tây Nguyên, nằm trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, đóng vai trò hạt nhân, quan trọng trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, đồng thời cũng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, đô thị loại I, trung tâm cấp quốc gia, cùng với Hải Phòng và Cần Thơ Thành phố Đà Nẵng là thành phố tổng hợp đa ngành, đa lĩnh vực; với vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội, công nghiệp, tài chính, du lịch, dịch vụ, văn hóa, giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học - công nghệ, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên và cả nước; trung tâm tổ chức các sự kiện tầm khu vực và quốc tế Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển và thành tựu đã đạt được, tình hình tội phạm nói chung, tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình đảm bảo an ninh trật tự, an toàn
xã hội và đời sống của nhân dân
Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, từ năm
2016 đến năm 2020, trên địa bàn thành phố xảy ra 151 vụ án cướp giật tài sản, đã điều tra, khám phá 92 vụ, với 120 đối tượng Nhìn chung, số lượng các vụ án cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chiếm tỷ lệ không cao trong tổng số vụ phạm pháp hình sự nhưng lại có những diễn biến khá phức tạp, khó lường, tính chất, mức độ phạm tội hết sức tinh vi, xảo quyệt, thành phần đối tượng phạm tội rất đa dạng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an tòa xã hội, gây căm phẫn, bất bình trong quần chúng nhân dân Mặc dù trong thời gian qua, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có rất nhiều hoạt động phòng ngừa, đấu tranh các loại tội phạm nhưng tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng vẫn đang là mối lo ngại lớn của toàn xã hội
Có thể khẳng định, phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân bằng nhiều biện pháp làm giảm, hạn chế và từng bước loại trừ, triệt tiêu những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản nhằm hướng đến mục đích ngăn chặn, loại trừ tội cướp
Trang 6để có những hiểu biết sâu sắc về lý luận cũng như thực tiễn thể hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng những năm qua, đánh giá đúng đắn toàn diện về thực trạng, trên
cơ sở đó đề xuất các giải pháp, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Vai trò của lực lượng
Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành tội phạm học và
phòng ngừa tội phạm
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản nói riêng, đến nay đã có một số công trình tiếp cận nghiên
cứu dưới những góc độ và khía cạnh khác nhau, tiêu biểu như:
- Nguyễn Văn Thái (2011), Điều tra tội phạm cướp giật tài sản người nước
ngoài của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân,
Thành phố Hồ Chí Minh [24];
- Đặng Thúy Quỳnh (2013), Đấu tranh phòng chống tội cướp giật tài sản ở
Trang 73
nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội [23];
- Phạm Văn Trung (2017), Tội cướp giật tài sản trên địa bàn miền Đông
Nam Bộ: Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa, Luận án tiến sĩ luật học,
Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội [26] …
Có thể nhận thấy, kết quả của các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu là tương đối phong phú Mặc dù vậy, các công trình này chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu về hoạt động phòng ngừa, điều tra, hoặc các chiến thuật được áp dụng trong quá trình điều tra đối với một loại tội phạm nhất định hay tiếp cận nghiên cứu dưới những góc độ, khía cạnh không giống nhau xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra Đến nay chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về Vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Vì vậy, đây là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn áp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản;
- Nghiên cứu khảo sát làm rõ thực trạng vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng;
- Dự báo tình hình và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 84
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng
ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
- Phạm vi chủ thể: Lực lượng Cảnh sát nhân dân
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này dùng để thu thập, xử lý và phân
tích số liệu về tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm
2016 đến năm 2020
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết thực tiễn các hoạt động thể hiện
vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thông qua báo cáo tổng kết, các chuyên đề về phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ các thông tin, tài liệu thu thập được,
tiến hành phân tích để làm rõ tình hình, đặc điểm đặc trưng của tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020 Đánh giá thực trạng thể hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 95
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu, đánh giá các tài liệu có liên
quan đến đề tài nghiên cứu, phục vụ cho việc xây dựng luận cứ lý thuyết và luận cứ thực tiễn của đề tài sẽ được đề đề cập trong chương 1
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Tập trung nghiên cứu 35 bản kết luận điều tra và 35 bản án về tội cướp giật tài sản xảy ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
từ năm 2016 đến năm 2020
- Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến các nhà khoa học có chuyên môn sâu
về lĩnh vực nghiên cứu để bổ sung, hoàn chỉnh kết quả nghiên cứu của đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được cấu trúc làm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Chương 2: Thực trạng vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Dự báo và giải pháp nâng cao vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 106
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA
TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1 Nhận thức về phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
1.1.1 Khái niệm, nhiệm vụ, yêu cầu và nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
1.1.1.1 Khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Có thể khẳng định, để xây dựng được khái niệm về phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản cần xuất phát và dựa trên nền tảng tri thức về phòng ngừa tội phạm nói chung, gắn liền với đặc trưng về loại tội phạm cướp giật tài sản Tiếp cận nghiên cứu các công trình khoa học đã được công bố về lĩnh vực tội phạm học và phòng ngừa tội phạm cho thấy, đến nay xung quanh khái niệm phòng ngừa tội phạm tồn tại một số quan niệm điển hình, chẳng hạn:
Theo GS.TS Nguyễn Xuân Yêm thì: Phòng ngừa tội phạm là không để tội phạm xảy ra và gây hậu quả cho xã hội, không để cho con người sống trong xã hội phải đối mặt và gánh chịu những hình phạt nghiêm khắc của luật pháp Nếu một người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đến mức phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ Luật hình sự hiện hành thì phải được phát hiện kịp thời, điều tra khám phá để truy tố, xét xử theo quy định, tiến hành các biện pháp quản lý, giáo
dục và cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội [32]
Theo Giáo trình Tội phạm học của Trường Đại học CSND năm 2008 thì: Phòng ngừa tội phạm không chỉ bao gồm các hoạt động nhằm thủ tiêu nguyên nhân
và điều kiện phạm tội, không để cho tội phạm xảy ra mà còn bao gồm cả những hoạt động ngăn chặn tội phạm, phát hiện điều tra khám phá tội phạm, truy tố, xét xử nghiêm minh các hành vi phạm tội nhằm trừng trị giáo dục người phạm tội trở thành người công dân có ích cho xã hội Truy cứu trách nhiệm hình sự cũng là một hình thức phòng ngừa tội phạm chủ động và có hiệu quả Việc trừng trị người phạm tội và ngăn chặn không cho họ thực hiện hành vi phạm tội mới còn có ý nghĩa tác
Trang 117
động đối với những người xung quanh, khiến cho họ từ bỏ ý định phạm tội, từ bỏ sự chuẩn bị hay tiến hành một tội phạm nào đó Việc truy tố, xét xử và buộc người phạm tội phải chịu một hình phạt không những có ý nghĩa phòng ngừa cá biệt mà còn có ý nghĩa phòng ngừa chung Tuy nhiên, phòng ngừa tội phạm còn được thể hiện ở việc cải thiện các điều kiện kinh tế, xã hội, xóa bỏ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, hình thành các điều kiện tích cực cho sự phát triển, hoàn thiện nhân cách con người Như vậy, phòng ngừa tội phạm không những ngăn ngừa tội phạm xảy ra mà còn trừng trị người phạm tội và giáo dục cải tạo họ thành công dân có ích cho xã hội
Giáo trình Tội phạm học của GS.TS Đỗ Ngọc Quang chỉ ra phòng ngừa tội phạm theo hai nghĩa: Nghĩa rộng, bằng mọi cách để ngăn chặn tội phạm, kịp thời phát hiện tội phạm, xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và cuối cùng là cải tạo giáo dục người phạm tội, đưa họ trở thành những công dân có ích cho xã hội Theo nghĩa hẹp, phòng ngừa tội phạm là không cho tội phạm xảy ra, không để cho tội phạm gây hậu quả cho xã hội, không để cho các thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật, tiết kiệm được những chi phí cần thiết cho Nhà nước trong
công tác điều tra, truy tố, xét xử và cải tạo giáo dục người phạm tội [29] Như vậy,
theo quan niệm này công tác phòng ngừa tội phạm khác với công tác điều tra khám phá, xử lý tội phạm
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh thì: Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ các biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội
phạm[28] Phòng ngừa tội phạm là hoạt động được tiến hành bằng nhiều biện pháp
để phát hiện nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, nhằm xóa bỏ, hạn chế hoặc làm mất tác dụng của nó, không để tội phạm xảy ra, tiến tới thủ tiêu hiện tượng tội phạm trong xã hội tương lai; đồng thời cũng tức là không để tội phạm xảy ra và gây nên những hậu quả nguy hiểm cho xã hội, không để cho các thành viên của xã hội phải chịu hình phạt Nếu tội phạm xảy ra thì phải kịp thời phát hiện xử lý để bảo đảm cho người phạm tội không thể tránh khỏi hình phạt, không để lọt tội phạm, tiến
Trang 128
hành giáo dục và cải tạo những người phạm tội trở thành những công dân có ích cho
xã hội
Từ việc tiếp thu những luận cứ khoa học nêu trên, xuất phát từ đặc điểm đặc
trưng của tình hình tội cướp giật tài sản, tác giả cho rằng: Phòng ngừa tình hình tội
cướp giật tài sản là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân bằng nhiều biện pháp khác nhau hướng đến loại trừ, triệt tiêu những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản nhằm ngăn chặn, hạn chế làm giảm và từng bước loại trừ tội cướp giật tài sản ra khỏi đời sống xã hội
1.1.1.2 Nhiệm vụ phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Có thể khẳng định, phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là nhiệm vụ cấp bách, hết sức quan trọng và cần thiết, góp phần bảo đảm an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội và cuộc sống thường ngày của người dân
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là hoạt động hết sức đặc thù, bởi lẽ
nó được tiến hành đối với một loại tội phạm đặc thù, với đối tượng đặc thù và trên địa bàn rất đặc thù
Nhiệm vụ phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản gồm:
+ Làm rõ nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản, tức là xác định cho được những hiện tượng xã hội tiêu cực làm hình thành nên động cơ thúc đẩy một cá nhân thực hiện hành vi phạm tội và những yếu tố xã hội làm hình thành nhu cầu lợi ích, định hướng giá trị xã hội lệch lạc cùng với những yếu tố tạo thuận lợi cho việc thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản Các hiện tượng xã hội tiêu cực làm nảy sinh hoặc tạo thuận lợi cho tình hình tội cướp giật tài sản xảy
ra trong thực tế rất phức tạp, có sự đan xen vào nhau; mặt khác nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản không thể tách rời nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm nói chung Vì vậy, đề cập đến nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản, có thể tiếp cận, nghiên cứu, phân tích, luận giải, xem
xét những hiện tượng xã hội tiêu cực đóng vai trò làm phát sinh tội phạm nói chung
+ Đề xuất các phương pháp, giải pháp phòng ngừa cụ thể:
Trên cơ sở nghiên cứu làm rõ nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội cướp
Trang 139
giật tài sản thì nhiệm vụ tiếp theo của phòng ngừa tình hình tội phạm đó là soạn thảo, đề xuất các phương pháp, giải pháp nhằm tác động làm mất đi các nguyên nhân, điều kiện
+ Tổ chức hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản:
Tiếp đến là tổ chức hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản bằng việc nghiên cứu nắm vững các đặc điểm, quy luật hình thành ý định, động cơ, mục đích phạm tội, phương thức thủ đoạn hoạt động của đối tượng phạm tội; lập kế hoạch phòng ngừa, đề xuất các biện pháp phòng ngừa gắn với xây dựng môi trường giáo dục nhân cách, trong việc quản lý con người, quản lý đối tượng có nguy cơ phạm tội, trong ngăn chặn tội phạm, xác định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cấp, các đơn vị cụ thể trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản; đề xuất, kiến nghị ban hành các chủ trương, các văn bản pháp luật để nâng cao hiệu quả phòng ngừa Ở phạm vi, cấp độ chung nhất, hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản có thể bao gồm các biện pháp như: Tăng cường giáo dục, tuyên truyền nếp sống lành mạnh; loại trừ ảnh hưởng tiêu cực của các tệ nạn xã hội; tăng cường công tác quản lý an ninh trật tự, quản lý xã hội; giải quyết việc làm cho những người trong độ tuổi lao động; phát động phong trào nâng cao ý thức trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tình hình tội cướp giật tài sản trong nhân dân; tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tình hình tội cướp giật tài sản của các cơ quan bảo vệ pháp luật
+ Xây dựng được chiến lược dài hạn, hoạch định kế hoạch hành động:
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là chủ đề nhận được sự quan tâm của đông đảo người dân, của toàn bộ hệ thống chính trị, chính quyền cơ sở thời gian vừa qua, hiện tại và trong những năm sắp tới Chính vì thế, cần phải xây dựng được chiến lược dài hạn, hoạch định kế hoạch hành động cụ thể, chi tiết, huy động sức mạnh của toàn xã hội, của mỗi nhà trường, gia đình trong việc thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn chặn tình hình tội cướp giật tài sản trong thực tiễn đời sống xã hội
1.1.1.3 Yêu cầu phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải đặt dưới sự lãnh
Trang 1410
đạo trực tiếp, thường xuyên của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải được tiến hành dưới sự chủ trì của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, là lực lượng chủ công, chịu trách nhiệm chính trong xây dựng kế hoạch, tổ chức hoạt động phòng ngừa, đầu mối gắn kết các chủ thể khác
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải có sự tham gia phối hợp của tất cả các chủ thể, phát huy sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn xã hội, đặc biệt là phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản cần được tiến hành toàn diện, đồng bộ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp
vụ Đồng thời, cần được đảm bảo về nhân sự và nguồn kinh phí cũng như cơ sở pháp lý, cơ chế phối hợp cần thiết
1.1.1.4 Nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông thì, nguyên tắc là những quy định, phép
tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, làm chỗ dựa để xem xét, làm việc [36] Như vậy, nguyên
tắc là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo hoạt động của con người, chỉ đạo mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với xã hội Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản muốn đạt kết quả tốt phải được tiến hành trên cơ sở quán triệt và tuân thủ một số nguyên tắc sau đây:
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải được tiến hành dựa trên cơ sở quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm tôn trọng quyền con người, quyền công dân, duy trì trật tự an toàn xã hội
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải chú trọng làm tốt công tác tham mưu cho các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong việc huy động sức mạnh của hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó Công an nhân dân, Viện Kiểm sát, Tòa án giữ vai trò nòng cốt, xung kích, đi đầu
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải triệt để khai thác, phát huy hiệu quả quan hệ phối hợp giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các
Trang 1511
ban ngành đoàn thể trong đề xuất và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải gắn liền với việc tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, vận động quyền chúng nhân dân cùng tham gia
Phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản phải gắn liền với việc nâng cao hiệu quả công tác điều tra, khám phá và xử lý nghiêm khắc, nhanh chóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội cướp giật tài sản
1.1.2 Chủ thể tiến hành phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản không chỉ do lực lượng Công an nhân dân đảm nhận mà đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lực lượng, của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức quần chúng và mọi công dân Nhưng do chức năng, nhiệm vụ, vị trí hoạt động của từng ngành, từng cấp, từng lực lượng khác nhau nên vai trò và việc thực hiện nhiệm vụ của mỗi chủ thể trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài
Trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn cụ thể, các cấp ủy Đảng giữ vai trò lãnh đạo hoạt động phòng ngừa tội phạm, nghe báo cáo của các ngành, các lực lượng về tình hình tình hình tội cướp giật tài sản xảy ra trong phạm vi lĩnh vực, địa phương của mình, đề ra chủ trương, phương hướng hoạt động phòng ngừa có hiệu quả Đồng thời, kiểm tra, giám sát hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản để có sự lãnh đạo kịp thời, sửa chữa, khắc phục những
Trang 1612
sai lầm, thiếu sót trong quản lý xã hội, kinh doanh, sản xuất, sử dụng lao động, đảm bảo cho hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản đi đúng hướng, thiết thực và đạt hiệu quả cao
Quyết định số 623/QĐ-TTg ngày 14/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016 – 2020 và định hướng đến năm 2030 đề ra các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tạo tiền đề thuận lợi cho việc thực hiện các giải pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Bên cạnh đó, các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp tại từng địa phương căn cứ vào tình hình cụ thể ở mỗi giai đoạn, thời kỳ chủ động ban hành các văn bản pháp luật phục vụ có hiệu quả công tác phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, có thẩm quyền ra các nghị quyết chỉ đạo, tổ chức hoạt động phòng ngừa tội phạm nói chung cũng như hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản nói riêng Vì vậy, Hội đồng nhân dân được coi là chủ thể quan trọng trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Hội đồng nhân dân tham gia vào chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, tập trung chỉ đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội liên quan đến hoạt động phòng ngừa tội phạm; chỉ đạo việc thực hiện chương trình phòng ngừa tội phạm trong phạm vi địa phương mình quản lý Thành lập và lãnh đạo các tổ chuyên trách phòng ngừa tội phạm, hướng dẫn, tổ chức các tập thể, quần chúng nhân dân tham gia vào các hoạt động giáo dục, giám sát các đối tượng có biểu hiện tiêu cực, người có tiền án, tiền sự đang sinh sống hoặc cư trú trên địa bàn mà địa phương quản lý, kịp thời giải quyết những mâu thuẫn trong cuộc sống của cộng đồng dân cư, ngăn chặn được các hành vi tiêu cực
dễ dẫn đến việc nảy sinh tội phạm cướp giật tài sản
Ủy ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước nằm trong hệ thống hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là cơ quan hành chính nhà nước địa phương, cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân các cấp, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan nhà nước ở Trung ương
Trang 17Điều 67 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy
định: “Nhà nước xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm” [19]
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội
phạm [20] Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc không
thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm Đặc biệt, trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư
pháp [22] Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Đồng thời, Tòa án nhân dân phối hợp với cơ quan, tổ chức phát huy tác dụng giáo dục của phiên tòa và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân cùng với cơ quan, tổ chức nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách, pháp
Trang 1814
luật về phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo đảm an ninh quốc gia, trật
tự an toàn xã hội Trong trường hợp cần thiết, cùng với việc ra bản án, quyết định, Tòa án nhân dân kiến nghị yêu cầu cơ quan, tổ chức áp dụng biện pháp khắc phục nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm hoặc vi phạm pháp luật tại cơ quan, tổ chức đó Cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị có trách nhiệm thực hiện và trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị phải thông báo cho Tòa án về kết quả giải quyết kiến nghị
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [23] Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo
vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an, Tòa án, Thi hành án, Thanh tra, Kiểm toán, các cơ quan nhà nước khác, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận để phòng, chống tội phạm có hiệu quả; xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm và vi phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng pháp luật; nghiên cứu tội phạm và vi phạm pháp
luật [18]
Luật Công an nhân dân năm 2018 quy định: Công an nhân dân là lực lượng
vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp
luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội [24] Công an nhân dân có chức
năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Trang 1915
Xuất phát từ các cơ sở pháp lý đó, cụ thể trên thực tiễn:
+ Cơ quan Công an tổ chức các hoạt động phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực mà mình có trách nhiệm quản lý thông qua hoạt động kiểm tra, kiểm soát nghề, nhân khẩu, hộ khẩu, vũ khí, phòng, chống cháy nổ…, quản lý các đối tượng có nhân thân xấu, đối tượng hình sự “không vững vàng” trong cuộc sống để có biện pháp phòng ngừa riêng, phối hợp, phát hiện, điều tra tội phạm đảm bảo không để lọt tội phạm; truy nã người phạm tội bỏ trốn nhằm trốn tránh pháp luật; giám sát, giáo dục người đang chấp hành án tại địa phương nơi người bị kết án cư trú hay tại cơ quan chuyên môn; hướng dẫn các tổ chức tự quản ở địa phương nắm bắt các thao tác nghiệp vụ, phương pháp thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm… Hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản của cơ quan Công an thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức cơ bản như: Tổ chức hoạt động và kế hoạch phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản tại khu vực mình phụ trách; quản lý chặt chẽ các đối tượng hình sự, các đối tượng có tiền án, tiền sự; kịp thời truy nã các đối tượng phạm tội còn lẩn trốn; phối hợp với các cơ quan hữu quan lên kế hoạch và thực hiện
kế hoạch phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản; tổ chức và đào tạo hệ thống chuyên gia phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản chuyên trách; phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát và Tòa án trong việc tuyên truyền, hướng dẫn và huy động các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và Nhân dân vào hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn tình hình tội cướp giật tài sản
+ Viện kiểm sát nhân dân với chức năng của mình, bên cạnh việc thực hành quyền công tố trong các vụ án cướp giật tài sản, Viện kiểm sát còn kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong các hoạt động tư pháp; giám sát việc thực hiện các biện pháp và chương trình phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản; kiểm tra, giám sát công tác cải tạo, giáo dục người phạm tội; phối hợp với các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Thông qua kiểm sát hoạt động điều tra cũng như trực tiếp điều tra các vụ án cướp giật tài sản, Viện kiểm sát nhân dân xác định được nguyên nhân, điều kiện của tình hình tình hình tội cướp giật tài sản và các đặc điểm thuộc nhân thân người phạm tội, kiến nghị các cơ quan hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa hiệu quả
Trang 20áp dụng các biện pháp nhằm khắc phục hoặc yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội đó, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật của mọi người trong xã hội, tạo điều kiện để công dân và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Đặc biệt, Tòa án nhân dân còn trực tiếp đề xuất, kiến nghị với các cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp về việc ban hành và thực hiện các chính sách xã hội liên quan đến phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
1.1.2.3 Chủ thể tham gia phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản (Mặt trận, các ban ngành, đoàn thể, gia đình, nhà trường)
Trong hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, vai trò của Mặt trận, các ban ngành, đoàn thể, gia đình, nhà trường có ý nghĩa to lớn và là nhân tố, tiền đề để triển khai thực hiện có hiệu quả các biện pháp, giải pháp phòng ngừa
Điều 46 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
quy định: “Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật; tham gia
bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng” [19, tr.11]
Điều 64 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy
định: “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân Nhà
nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo
vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới Cơ quan,
tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh” [19, tr.14]
Xuất phát từ đặc thù về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao mà mỗi thiết chế trong hệ thống thực hiện những công việc, phần việc cụ thể tạo thành hoạt
Trang 2117
động chung nhằm hướng đến phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản ở phạm vi
và mức độ khác nhau Có thể khẳng định, trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản điều quan trọng và cần thiết là phải có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, thường xuyên, liên tục giữa các chủ thể nêu trên Việc phối hợp giữa các chủ thể để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là một yêu cầu tất yếu, khách quan Một mặt nhằm tăng cường sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, tính tổ chức chặt chẽ trong quá trình áp dụng các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Mặt khác, quá trình phối hợp cho phép tổng hợp, phân tích đánh giá toàn diện thông tin
về tình hình tội cướp giật tài sản, kết quả phòng, chống tình hình tội cướp giật tài sản, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản Đồng thời, sự phối hợp giữa các chủ thể còn hướng vào việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho quần chúng nhân dân về các quy định của Nhà nước liên quan đến phòng, chống tình hình tội cướp giật tài sản để quần chúng không tham gia hoặc tiếp tay, che giấu tình hình tội cướp giật tài sản, tích cực tham gia phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản góp phần tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước trên lĩnh vực này
1.2 Vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
1.2.1 Khái niệm vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong từng giai đoạn phát triển của cách mạng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Do tính chất rộng rãi và quan trọng của công cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, cho nên nó đã trở thành nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Tuy nhiên, trong chức năng của Nhà nước còn phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau như phát triển kinh tế, xây dựng quốc phòng, đối ngoại, văn hóa, thể thao v.v mà mỗi mặt nhiệm vụ đó đều có liên quan với nhau và liên
hệ động chạm tới quyền lợi quốc gia và quyền lợi của cơ quan, tổ chức, cá nhân thành viên xã hội Nhu cầu đó đòi hỏi Nhà nước tất yếu xây dựng củng cố những cơ
Trang 2218
quan chuyên trách (hay vẫn gọi là cơ quan chức năng) và xác định cho nó những chức năng nhiệm vụ cụ thể để đại diện Nhà nước tham gia điều hành quản lý trong từng lĩnh vực cụ thể (tạo thành bộ máy cơ quan chuyên trách) Đối với mỗi Nhà nước khác nhau do đặc điểm phát triển các lĩnh vực chuyên môn khác nhau và đặc điểm mỗi thời kỳ khác nhau có thể được thành lập những cơ quan chuyên trách
khác nhau phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước [18]
Ở nước ta, lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội là một trong những lĩnh vực đặc biệt có những đặc trưng khác với các lĩnh vực quản lý Nhà nước khác Đó là một lĩnh vực tổng hợp bao hàm nhiều hoạt động khác nhau như: hoạt động duy trì bảo vệ trật tự pháp luật (tuyên truyền pháp luật, kiểm tra giám sát thực hiện pháp luật, điều tra xét xử các vụ án hình sự đã xảy ra ); là hoạt động của các cơ quan tư pháp (Công an, Tòa án, Viện kiểm sát); tiến hành tổ chức thực hiện những nhiệm vụ quản lý Nhà nước về an ninh trật tự (quản lý con người, quản lý nghề nghiệp, phương tiện, trật tự an toàn xã hội ); là chức năng của cơ quan hành pháp của Nhà nước, hoạt động đấu tranh chống tội phạm; trấn áp phản cách mạng, bảo vệ biên giới v.v ; là hoạt động của cơ quan bạo lực chuyên chính mang tính vũ trang (lực lượng vũ trang của Nhà nước) Từ những đặc trưng như vậy, Nhà nước và Đảng ta ngay từ những ngày đầu thành lập đã giao phó trọng trách cho lực lượng Công an nhân dân và các lực lượng chuyên chính khác thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội Bác Hô đã nêu
trong Hồ Chí Minh - Giữ gìn an ninh trật tự - 10/10/1954: “Giữ gìn an ninh trật tự
trước hết là công việc của Công an, Bộ đội, Cảnh sát ” Để xác định phân công
trách nhiệm cụ thể hơn người còn chỉ rõ trong Hồ Chí Minh- Nói chuyện tại Hội
nghị Công an toàn quốc Lần thứ 10- 1/1956: “Nhân dân ta có hai lực lượng: Một là
quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ tổ quốc, giữ gìn hòa bình Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện còn công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc có chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột
là còn bọn phá hoại Chúng nhằm phá hoại các nước Xã hội chủ nghĩa Vì vậy,
Trang 2319
công việc Công an phải thường xuyên, không phải có từng đợt từng lúc” Như vậy,
Bác Hồ và Đảng ta đã xác định rõ ràng ranh giới trách nhiệm của mỗi công cụ bạo lực: Quân đội và Công an Khi xác định nhiệm vụ và phạm vi công tác của Công an nhân dân Bác Hồ còn chỉ rõ trong Hồ Chí Minh- Bài nói chuyện tại Hội nghị Cán
bộ ngành Công an 29/4/1963: “Công an cách mạng là một vũ khí sắc bén của
chuyên chính vô sản Cho nên nhiệm vụ Công an là cực kỳ quan trọng Nó phải giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ cho Nhân dân ta an cư lạc nghiệp, để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc làm cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà”
Những điều căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện quan điểm của Người về bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và vai trò vị trí của ngành Công an nhân dân đã được Đảng ta quán triệt tiếp tục trong đường lối của mình Khi nói về nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Lần thứ V (1982), Đảng ta chú trọng đến
việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân: “Để làm được nhiệm vụ đó, phải xây
dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, thật sự là công cụ sắc bén của chuyên chính vô sản, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhà nước và nhân dân, có lực lượng chuyên trách, chính qui hiện đại, vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, có trình độ khoa học kỹ thuật khá, được trang
bị chuyên môn cần thiết, có cơ sở quần chúng rộng khắp đảm bảo hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ… phối hợp tốt giữa các ngành Công an, Viện kiểm sát, Tư pháp trong việc tăng cường pháp chế; phối hợp tốt giữa lực lượng Công an nhân dân với quân đội nhân dân, dân quân tự vệ và lực lượng quần chúng trong việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội” Từ những vấn đề đã nêu ra và phân tích trên
đây, có thể rút ra những kết luận như sau:
Thứ nhất: Bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội luôn luôn
là một lĩnh vực hoạt động quan trọng mang tính tất yếu của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần đảm bảo thắng lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của cách mạng Việt Nam
Thứ hai: Bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đã trở thành
Trang 2420
một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng, vì vậy nó đòi hỏi trách nhiệm tham gia của mọi
cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mỗi công dân
Thứ ba: Nhiệm vụ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội do đặc điểm riêng của nó là phải đấu tranh trấn áp đối với một số đối tượng ngoan cố nguy hiểm là bọn phản cách mạng trong nước, các thế lực thù địch chống phá cách mạng
từ bên ngoài và các loại tội phạm xâm phạm đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, vì vậy cần phải sử dụng đến các cơ quan bạo lực chuyên chính như: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát, Quân đội… Những cơ quan này là công cụ đặc biệt của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn
xã hội
Thứ tư: Trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội tham gia đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, thì cơ quan Công an được Đảng và Nhà nước ta xác định là lực lượng nòng cốt xung kích, có trách nhiệm tham mưu, hướng dẫn các lực lượng Nhà nước xã hội khác tham gia Để thực hiện được trọng trách đó, cơ quan Công an nhân dân phải xây dựng cho mình có lực lượng mạnh mẽ đủ sức bảo vệ an ninh trật tự của đất nước, đồng thời cần phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội khác đặc biệt là với hệ thống
cơ quan chuyên chính như: Tòa án, Viện kiểm sát và Quân đội nhân dân
Công an nhân dân Việt Nam là một lực lượng trong hệ thống chuyên chính
vô sản, công cụ bạo lực trọng yếu của Nhà nước để bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân đã được hình thành và phát triển cùng với sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhà nước ta Xuất thân từ những tổ chức “tự vệ đỏ”, “đội danh dự trừ gian” trước cách mạng do các tổ chức Đảng cộng sản thành lập tổ chức, sau khi cách mạng thành công những tổ chức này được xây dựng và củng cố ngày càng trưởng thành, hoàn thiện với quá trình như sau: Ngày 21/02/1946 chủ tịch nước ra Sắc lệnh 23/SL thành lập Việt Nam Công an vụ; ngày 16/02/1953 Sắc lệnh 141/SL đổi tên thành Thứ Bộ Công an; đến tháng 8/1953 Chính phủ ra Nghị quyết thành lập Bộ Công an Từ đó đến nay ngành Công an luôn luôn được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng và Nhà nước về việc
Trang 2521
hoàn thiện bộ máy Công an nhân dân, xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với tình hình thực tế của mỗi giai đoạn cách mạng Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an thể hiện, trước hết trong việc tổng kết công tác đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
đề ra các chủ trương, nguyên tắc, biện pháp đấu tranh trong lĩnh vực này Những quan điểm đó được thể hiện tập trung trong các Nghị quyết của Đảng như: Nghị quyết 39/NQ/TW ngày 20/01/1962 về tăng cường đấu tranh chống phản cách mạng; Nghị quyết 31/NQ/TW ngày 02/12/1980 về nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội trong tình hình mới và các chỉ thị về từng mặt công tác đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khác như chỉ thị về đấu tranh chống tham nhũng, chỉ thị về đấu tranh bài trừ tệ nạn xã hội… Về mặt Nhà nước đã thông qua và ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng để quy định về tổ chức, xây dựng
cơ cấu bộ máy Công an nhân dân, phân công chức năng, nhiệm vụ của ngành Công
an nhân dân Đó là các văn bản như: Pháp lệnh Cảnh sát nhân dân, pháp lệnh phòng cháy, chữa cháy, pháp lệnh tình báo, Nghị định 32/CP, Nghị định 250/HĐBT, Nghị định 37/1998/NĐ-CP về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Công an, Luật Công an nhân dân Từ nội dung những văn bản trên đã tạo ra các cơ
sở lý luận và cơ sở pháp lý chỉ đạo hoạt động của ngành Công an nhân dân
Như đã phân tích ở phần trên, hoạt động của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân bằng nhiều biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Đây là hoạt động đa dạng, phức tạp với sự tham gia đông đảo của các lực lượng, tổ chức xã hội Vì vậy, để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, cần phải nghiên cứu làm rõ các nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm cướp giật tài sản; đề ra biện pháp phòng chống và tổ chức tiến hành các hoạt động phòng chống tội phạm cướp giật tài sản Bên cạnh đó, phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là việc sử dụng đồng bộ nhiều lực lượng, nhiều biện pháp nhằm khắc phục những sơ hở, thiếu sót không để đối tượng phạm tội cướp giật tài sản có thể lợi dụng hoạt động phạm tội Cần phải nghiên cứu những đặc điểm đặc trưng của tội phạm cướp giật tài sản để thấy được những nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh,
Trang 2622
phát triển loại tội phạm này, từ đó khắc phục nhằm ngăn chặn không để cho chúng
có thể xảy ra Trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản thì vai trò nòng cốt, xung kích thuộc về lực lượng Công an nhân dân mà trực tiếp là lực lượng Cảnh sát nhân dân
Lực lượng Cảnh sát nhân dân là lực lượng nòng cốt của Nhà nước trong sự nghiệp bảo vệ trật tự, an toàn xã hội Trong phạm vi chức năng của mình, lực lượng Cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội nhằm bảo vệ cuộc sống tự do, hạnh phúc, lao động hoà bình của Nhân dân, tính mạng, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, tổ chức
xã hội; bảo vệ chế độ kinh tế, sở hữu xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng ý thức tôn trọng pháp các lực lượng vũ trang khác và với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và dựa vào sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm vụ Đồng thời, các lực lượng vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mỗi công dân có trách nhiệm cộng tác, giúp đỡ lực lượng Cảnh sát nhân dân làm tròn nhiệm vụ được giao
Như vậy, vai trò của của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình
hình tội cướp giật tài sản là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được pháp luật quy định cho lực lượng Cảnh sát nhân dân và được triển khai tổ chức thực hiện trên thực tế với một hệ thống tổ chức, bộ máy, trang bị phương tiện, kỹ thuật về chuyên môn - nghiệp vụ và các phương tiện hoạt động khác nhằm loại trừ, triệt tiêu những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội cướp giật tài sản từ đó ngăn chặn, hạn chế làm giảm và từng bước loại trừ tội cướp giật tài sản ra khỏi đời sống xã hội
Vai trò của của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản được thể hiện ở một số hoạt động cụ thể dưới đây:
- Một là, tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc xây dựng các chủ trương, kế hoạch, biện pháp cụ thể để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
- Hai là, thực hiện công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội,
tổ chức hướng dẫn và phối hợp các ngành, các cấp, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Trang 2723
Nhà nước và các chương trình kế hoạch phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
- Ba là, trực tiếp tổ chức tiến hành các biện pháp cụ thể để phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
- Bốn là, tổ chức hoạt động điều tra phát hiện, làm rõ những vụ việc phạm tội cướp giật tài sản đã xảy ra và áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những người phạm tội; giai đoạn này so với giai đoạn trước thì mang tính đấu tranh một cách thụ động, tức là khi có vụ việc phạm tội xảy ra mới tiến hành đấu tranh, tuy nhiên đây cũng là hoạt động vô cùng cần thiết, không thể thiếu được, khi mà trong điều kiện hiện nay chúng ta chưa thể xóa bỏ hoàn toàn nguyên nhân dẫn đến phạm tội, chưa thể ngăn chặn một cách có hiệu quả tất cả các vụ việc phạm tội cướp giật tài sản
- Năm là, phối hợp giáo dục tổ chức vận động giữa quần chúng tham gia trong các hoạt động phòng ngừa, điều tra khám phá tội phạm cướp giật tài sản
- Sáu là, tiến hành công tác quản lý giáo dục, cải tạo những người phạm tội hoặc vi phạm pháp luật khác, tạo điều kiện giúp đỡ từ bỏ con đường sai trái
- Bảy là, phối hợp với các cơ quan tổ chức có liên quan trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Đồng thời, tổ chức xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân đủ mạnh về các mặt chính trị, phẩm chất đạo đức và chuyên môn, đủ điều kiện thực hiện công tác phòng chống tội phạm cướp giật tài sản do Nhà nước giao phó
1.2.2 Nhiệm vụ và trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Xuất phát từ yêu cầu của phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, trên cơ
sở quy định của pháp luật về nhiệm vụ và trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát nhân dân, khi thực hiện hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, lực lượng
Cảnh sát nhân dân có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Lực lượng Cảnh sát nhân dân chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm cướp giật tài sản và các vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ trật tự công cộng; phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm cướp giật tài
sản và kiến nghị các biện pháp loại trừ những nguyên nhân, điều kiện đó
Lực lượng Cảnh sát nhân dân thực hiện việc xử phạt hành chính đối với các
Trang 28quản lý, giáo dục những người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng
Lực lượng Cảnh sát nhân dân thực hiện áp giải bị can, bị cáo, bảo vệ các
phiên toà hình sự
Lực lượng Cảnh sát nhân dân thực hiện các quy định của Nhà nước về quản
lý hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân; giúp Nhân dân tìm địa chỉ người thân, tìm người bị lạc, người mất tích; kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về
cư trú, đi lại trên lãnh thổ Việt Nam
Lực lượng Cảnh sát nhân dân quản lý công tác phòng cháy và chữa cháy; đăng ký, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, trừ vũ khí, khí tài do Quân đội nhân dân quản lý; kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo quản, vận chuyển, sử dụng chất nổ, chất dễ cháy, chất độc, chất phóng xạ; quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt do Chính phủ quy định
Lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và dựa vào sự giúp đỡ của mọi công dân để đấu tranh chống tội phạm cướp giật tài sản, các tệ nạn xã hội, phòng ngừa tai nạn, thiên tai, dịch, họa; cứu giúp người bị nạn; kiểm tra việc thực hiện các quy tắc về giữ gìn vệ sinh công cộng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống
Lực lượng Cảnh sát nhân dân phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân ý thức tôn trọng pháp luật, động viên và tổ chức nhân dân tham gia bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở
Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân khi làm nhiệm vụ được ưu tiên đi lại bằng các phương tiện giao thông công cộng, được miễn cước phí giao thông trong
Trang 2925
thành phố, thị xã; trong trường hợp cấp thiết để đuổi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang có lệnh truy nã, để ngăn chặn hành động phạm tội đang được thực hiện, cấp cứu người bị nạn, được sử dụng các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân, kể cả người điều khiển các phương tiện đó, trừ các phương tiện của cơ quan ngoại giao và phải hoàn trả ngay khi tình huống cấp thiết không còn Nếu các phương tiện bị hư hỏng hoặc bị mất thì đơn vị Cảnh sát nhân dân hữu quan có trách nhiệm bồi thường
Trong trường hợp cấp thiết, để thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được tạm đình chỉ đi lại ở những đoạn đường nhất định và phải giải toả ngay khi tình huống cấp thiết không còn; tạm đình chỉ hoặc đình chỉ những việc làm
có hại đến trật tự, an toàn xã hội và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định đó
Đồng thời, phải thực hiện một số trách nhiệm sau đây:
Lực lượng Cảnh sát nhân dân chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật
Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm phối hợp với các lực lượng vũ trang khác và với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và dựa vào sức mạnh của toàn dân để thực hiện nhiệm vụ Các lực lượng vũ trang và cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mỗi công dân có trách nhiệm cộng tác, giúp đỡ Lực lượng Cảnh sát nhân dân làm tròn nhiệm vụ
Chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân địa phương có trách nhiệm định kỳ báo cáo với Hội đồng nhân dân và thường xuyên báo cáo với Uỷ ban nhân dân cùng cấp về tình hình và công tác bảo vệ trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, chịu sự chỉ đạo của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an
toàn xã hội ở địa phương
Chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân địa phương có trách nhiệm báo cáo với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về những vấn đề liên quan để phối
hợp vận động nhân dân bảo vệ trật tự, an toàn xã hội
Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận về công tác
Trang 30Các quyết định của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân xử lý vi phạm theo thẩm quyền do pháp luật quy định có hiệu lực thi hành ngay Nếu không đồng ý với các quyết định của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân, người bị xử lý có quyền khiếu nại với chỉ huy trực tiếp của người đã ra quyết định Khiếu nại đối với quyết định của chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp dưới được gửi đến chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp trên Chỉ huy Lực lượng Cảnh sát nhân dân cấp có thẩm quyền phải giải quyết và thông báo kết quả cho người khiếu nại biết trong thời hạn 15 ngày và nếu là trường hợp phức tạp thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi nhận được khiếu nại
Nếu phát hiện thấy quyết định của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân là trái pháp luật thì chỉ huy của người đã ra quyết định phải huỷ bỏ ngay quyết định đó, phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm
Trong trường hợp công dân được Lực lượng Cảnh sát nhân dân huy động hoặc cùng Lực lượng Cảnh sát nhân dân tham gia bảo vệ trật tự, an toàn xã hội mà
bị thiệt hại về vật chất hoặc nếu cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân trong khi làm nhiệm vụ mà gây thiệt hại về vật chất cho công dân thì người bị thiệt hại được đơn
vị Cảnh sát nhân dân hữu quan bồi thường; nếu bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ theo quy định
1.2.3 Các yếu tố tác động đến vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
1.2.3.1 Sự quan tâm xây dựng, lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của các tổ chức Đảng và chính quyền địa phương đối với việc thực hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Như đã trình bày ở trên, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chú trọng quan tâm đến lĩnh vực bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong mỗi thời
Trang 3127
kỳ phát triển của cách mạng, coi đó là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Từ quan điểm đó, Đảng và Nhà nước lại đặc biệt chú ý xây dựng lực lượng Công an nhân dân (trong đó có lực lượng Cảnh sát nhân dân) về mọi mặt Điều đó được thể hiện ở những khía cạnh sau đây:
Về vị trí của lực lượng Cảnh sát nhân dân đã được Đảng và Nhà nước khẳng định là công cụ chuyên chính trọng yếu của Đảng và Nhà nước, lực lượng nòng cốt xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, là một trong những lực lượng trọng yếu của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Về cơ chế hoạt động: Lực lượng Cảnh sát nhân dân trực thuộc Bộ Công an, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp toàn diện về mọi mặt của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ chính trị mà trực tiếp là Đảng ủy Công
an Trung ương và thống lĩnh của Chủ tịch nước
Đảng Cộng sản Việt Nam, trong mỗi thời kỳ phát triển của cách mạng đã xác định về phương hướng, đường lối công tác cho lực lượng Cảnh sát nhân dân, xác định đối tượng và những chủ trương lớn trong lĩnh vực công tác của ngành Những vấn đề đó được đề cập trong các nghị quyết lãnh đạo đất nước nói chung và những Nghị quyết chuyên đề về xây dựng lực lượng Công an (trong đó có lực lượng Cảnh sát nhân dân), đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm
Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chú ý chăm lo, củng cố lực lượng Cảnh sát nhân dân trở thành lực lượng trong sạch, chính quy, tinh nhuệ, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, chuyên môn Bác Hồ đã nói: “Đảng, Chính phủ rất chú ý đến công tác của Công an và đến việc giáo dục cán bộ Công an, phải thấy Đảng, Chính phủ hết sức chăm sóc đối với Công an”
Việc lãnh đạo công tác Công an của Đảng được xác lập theo một cơ cấu chặt chẽ từ cấp Trung ương đến các cấp cơ sở, mỗi cấp Công an đều được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng
Nhà nước thường xuyên chăm lo về các điều kiện phương tiện và phục vụ lực lượng Cảnh sát nhân dân hoàn thành nhiệm vụ được giao Đó là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho lực lượng Cảnh sát nhân dân thực hiện vai trò nòng cốt của mình trong cuộc đấu tranh bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an
Trang 3228
toàn xã hội nói chung và phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản nói riêng
1.2.3.2 Sự phối hợp của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và quần chúng nhân dân đối với việc thực hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Một trong những đặc điểm cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam là mang bản chất giai cấp công nhân, là con em Nhân dân, từ Nhân dân mà ra,
vì Nhân dân phục vụ Hồ Chủ Tịch đã nhiều lần nhắc nhở “Công an là bạn dân”,
“nhiệm vụ của Công an là bảo vệ nhân dân, giữ gìn trật tự trị an…”, mặt khác, khi lực lượng Cảnh sát nhân dân sử dụng lực lượng của mình để đấu tranh chống lại các loại tội phạm, bảo vệ an ninh trật tự thì cũng là bảo vệ quyền lợi của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân
Mọi hiện tượng tội phạm, mọi hiện tượng vi phạm pháp luật khác đang tồn tại trong xã hội đều mang tính “tiêu cực” Nó cản trở sự phát triển đi lên của cách mạng, cản trở cuộc sống, hoạt động bình thường hàng ngày của Nhà nước và mỗi người dân, vì vậy hiện tượng này thường bị Nhân dân căm ghét, lên án Những người dân, những cơ quan tổ chức của Nhà nước và xã hội nhận thức được điều đó,
vì vậy, trong hoạt động thực tế, họ sẽ rất nhiệt tình ủng hộ giúp đỡ lực lượng Cảnh sát nhân dân thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản nói riêng
Trên cơ sở quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân, trong nhiều năm qua các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là lực lượng Cảnh sát nhân dân đã tiến hành những cuộc vận động tuyên truyền và tổ chức Nhân dân, các ngành, các giới nhận thức đúng về vai trò của toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, tổ chức để họ biết cách tham gia đấu tranh hiệu quả trong cuộc vận động này Vì vậy, hiện nay ở nước ta, đã tạo được một phong trào quần chúng rộng rãi tham gia trong công tác bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phòng ngừa tội phạm Đó là những phong trào bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, phong trào chống tham nhũng, phong trào phòng ngừa tệ nạn xã hội v.v… với nhiều hình thức phong phú sinh động Cần phải khẳng định sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là
Trang 3329
một điều kiện thuận lợi to lớn của ngành Công an trong công tác này như Bác Hồ đã dạy: “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn Dân ta tốt, gặp trường hợp nguy hiểm, nếu Công an khéo léo thì được dân giúp đỡ ngay”
1.2.3.3 Hệ thống pháp luật quy định về vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản đầy đủ và hoàn thiện
Có thể khẳng định, việc phát huy vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản là vấn đề thực sự có ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý và thực tiễn to lớn Hoạt động này chỉ có thể thu được kết quả nếu huy động được sức mạnh của toàn xã hội, sự tham gia và hưởng ứng tích cực của các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trên địa bàn, đặc biệt, phải có sự đầu tư, đãi ngộ thích đáng về vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, kể cả đội ngũ những nhà khoa học, chuyên gia pháp lý lẫn đội ngũ những người thực thi pháp luật và tổ chức các hoạt động phòng ngừa Và điều cốt yếu, phải xây dựng được hệ thống quy phạm pháp luật thực sự đồng bộ, minh bạch, toàn diện, khả thi, cụ thể quy định và điều chỉnh những vấn đề cơ bản trong quá trình thực hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân nhằm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Có như vậy, vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản mới thực
sự được tiến hành với nền tảng pháp lý vững chắc, hiệu quả phòng ngừa đạt được cao hơn, giá trị xã hội và ý nghĩa pháp lý của phòng ngừa thiết thực hơn, mọi biện pháp phòng ngừa được tiến hành thực sự có trọng tâm, trọng điểm, có cơ sở khoa học và thực tiễn, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặt ra về mặt tổ chức, chủ thể, nguồn lực, kinh phí, trang thiết bị trong quá trình phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
1.2.3.4 Bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ chiến sĩ Cảnh sát nhân dân vừa hồng, vừa chuyên đáp ứng việc thực hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Để thực hiện và phát huy được một cách thường xuyên, liên tục vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, với tư
Trang 3430
cách là lực lượng xung kích, nòng cốt, điều kiện tiên quyết cần phải hội đủ đó là xây dựng được bộ máy tổ chức hợp lý, khoa học theo hướng Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở Đồng thời, cần tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, với bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân, lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam luôn luôn trung thành tuyệt đối với Đảng,
Tổ quốc, với chính quyền cách mạng, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, không ngại hy sinh gian khổ, đoàn kết chặt chẽ, công tác tận tuỵ, chiến đấu dũng cảm, mưu trí sáng tạo, nêu nhiều tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần xứng đáng cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đánh bại nhiều loại tình báo, gián điệp, thám báo và các bọn phản động tay sai; đập tan các âm mưu và hoạt động gây rối, gây bạo loạn, phá hoại và lật đổ của bọn phản cách mạng và bọn tội phạm khác; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do thống nhất đất nước cũng như trong
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ của lực lượng Cảnh sát nhân dân phải thực sự vừa hồng, vừa chuyên, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhà nước, với Nhân dân Suốt đời hy sinh phấn đấu vì sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự Luôn luôn mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, công tác không quản ngại khó khăn gian khổ, hy sinh, cảnh giác đánh thắng mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và bọn tội phạm, có tinh thần phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang, với các ngành và các đoàn thể quần chúng Có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Có tinh thần hợp tác quốc tế, thuỷ chung, trong sáng
Trong mọi giai đoạn cách mạng, lực lượng Cảnh sát nhân dân luôn được Đảng quan tâm tổ chức xây dựng thành một lực lượng tin cậy, sắc bén vững mạnh
về chính trị, tư tưởng và tổ chức; trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự; nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và khoa học kỹ thuật, nắm tình hình địch và chủ động đánh địch có hiệu quả, không ngừng nâng cao chất lượng công tác, chiến đấu Trong mỗi thời kỳ cách mạng, trên cơ sở yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra đối với công tác
Trang 3531
bảo vệ an ninh trật tự, Đảng kịp thời có những chủ trương, đường lối đúng đắn để xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân về tổ chức cán bộ, về chính trị - tư tưởng… giúp lực lượng Cảnh sát nhân dân có đủ những điều kiện cần thiết, tạo ra sức mạnh tổng hợp hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ đặt ra Xây dựng lực lượng Cảnh sát nhân dân mang tính nhân dân sâu sắc, luôn dựa vào dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, hết lòng phục vụ nhân dân Về tổ chức cán bộ, được xây dựng theo hướng tinh gọn, chất lượng, hiệu quả, đảm bảo về số lượng và coi trọng về chất lượng để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng và đòi hỏi của cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia Lựa chọn Công an trong những người trung thành nhất với Đảng, chỉ biết còn Đảng còn mình Bộ Công an đã thường xuyên chăm lo, lựa chọn và bồi dưỡng từ đội ngũ cán bộ chiến sĩ đến cán bộ chỉ huy, cốt cán trong Công an nhân dân để có đầy đủ những tiêu chí cần thiết, đặc biệt chăm lo bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh, trình độ chính trị, tinh thần cảnh giác, cách mạng tiến công, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ văn hoá, có tri thức
và kỹ năng nghiệp vụ, có sức khoẻ để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao
[28]
1.2.3.5 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho thực hiện vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản
Có thể khẳng định, hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản của lực lượng Cảnh sát nhân dân chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong
đó, yếu tố quan trọng không thể không nhắc đến chính là điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác Dẫu biết rằng, lực lượng Cảnh sát nhân dân không ngại gian khổ, khó khăn, chấp nhận vất vả, thậm chí là cả tính mạng và sức khỏe để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, nếu có thể việc tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho quá trình công tác sẽ tiếp thêm động lực, sự nỗ lực, lòng quyết tâm và ý chí vượt khó để có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm nói chung
và phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản nói riêng
Trang 36[30]
Kết luận Chương 1
Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã tập trung hệ thống hóa, phân tích, luận giải và đưa ra khái niệm phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, đề cập và phân tích cơ sở, yêu cầu cũng như các nguyên tắc phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ rõ căn cứ phân loại và nội dung cụ thể của các biện pháp phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, phân tích, chỉ rõ chủ thể phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản gồm: Chủ thể xây dựng chính sách, mục tiêu, định hướng phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản (Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân); chủ thể có chức năng, nhiệm vụ trực tiếp thực hiện hoạt động phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản (Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án); chủ thể tham gia phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản (mặt trận, các ban ngành, đoàn thể, gia đình, nhà trường) Đặc biệt, tác giả đã luận giải và làm sáng tỏ khái niệm, nội dung vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, quyền và nghĩa vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản, phân tích, chỉ rõ các yếu tố tác
Trang 3733
động đến vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản Đây chính là nền tảng lý luận và pháp luật cho việc phân tích, luận giải và đánh giá về thực trạng vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng sẽ được đề cập tại chương 2 của luận văn
Trang 3834
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 Thực trạng các yếu tố tác động đến vai trò của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.1.1 Tình hình phạm pháp hình sự, tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020
Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, từ năm 2016 đến năm 2020, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng xảy ra 2447 vụ phạm pháp hình sự (Giết người: 107 vụ; Cố ý gây thương tích tích: 325 vụ; Hiếp dâm trẻ em: 09 vụ; Cướp tài sản: 46 vụ; Cướp giật tài sản: 151 vụ; Trộm cắp tài sản: 1327 vụ; Án khác: 483 vụ), đã điều tra, khám phá 2054 vụ (chiếm tỷ lệ 83,93%), bắt giữ
3253 đối tượng [Xem bảng 2.1 – Phụ lục] Cụ thể: Năm 2016 xảy ra 558 vụ phạm
pháp hình sự, đã điều tra, khám phá 445 vụ (chiếm tỷ lệ 81,5%), bắt giữ 702 đối tượng; Năm 2017 xảy ra 532 vụ phạm pháp hình sự, đã điều tra, khám phá 442 vụ (chiếm tỷ lệ 83,1%), bắt giữ 677 đối tượng; Năm 2018 xảy ra 517 vụ phạm pháp hình sự, đã điều tra, khám phá 436 vụ (chiếm tỷ lệ 84,3%), bắt giữ 695 đối tượng; Năm 2019 xảy ra 467 vụ phạm pháp hình sự, đã điều tra, khám phá 400 vụ (chiếm
tỷ lệ 85,7%), bắt giữ 622 đối tượng; Năm 2020 xảy ra 375 vụ phạm pháp hình sự,
đã điều tra, khám phá 321 vụ (chiếm tỷ lệ 85,6%), bắt giữ 557 đối tượng; [Xem
bảng 2.2 – Phụ lục] Như vậy, tình hình phạm pháp hình sự trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng có xu hướng giảm dần trong các năm về sau, nếu lấy số vụ phạm pháp hình sự năm 2016 để làm mốc so sánh thì năm 2017 số vụ phạm pháp hình sự giảm
26 vụ, năm 2018 số vụ phạm pháp hình sự giảm 41 vụ, năm 2019 số vụ phạm pháp
hình sự giảm 91 vụ, năm 2020 số vụ phạm pháp hình sự giảm 183 vụ
Bên cạnh đó, đối với tình hình tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
có chiều hướng phát triển, tập trung chủ yếu trong các nhà hàng, quán ăn, quán
Trang 3935
Karaoke, khách sạn, quán Bar… và tổ chức hoạt động ngày càng kín đáo, tinh vi và
có hệ thống Ngoài ra, thời gian qua xuất hiện hình thức hoạt động mại dâm qua mạng Internet, các đối tượng môi giới và gái mại dâm sử dụng mạng xã hội như zalo, facebook… để giới thiệu và tổ chức mua bán dâm Tệ nạn cờ bạc diễn biến phức tạp, chủ yếu là tệ nạn số đề, cá độ bóng đá, đá gà, đánh bài… xuất hiện hầu như ở khắp các địa bàn, lôi kéo đủ các tầng lớp, các thành phần xã hội tham gia Các đối tượng lợi dụng địa điểm vắng vẻ ít người qua lại như khu du lịch, nghỉ dưỡng, xa khu dân
cư để tổ chức các ổ bài bạc lớn và thường xuyên thay đổi địa bàn hoạt động Trong những năm qua xuất hiện một số thủ đoạn sử dụng công nghệ cao để hoạt động phạm tội đánh bạc tại nhiều quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với nhiều đối tượng tham gia, thành phần phạm tội đa dạng, phức tạp gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, điển hình năm 2019 và năm 2020, Công an thành phố Đà Nẵng đã liên tiếp điều tra, khám phá, làm rõ 02 vụ cờ bạc sử dụng công nghệ
cao với số tiền lên đến hàng ngàn tỉ đồng [5] Đặc biệt, thực tế cho thấy, tệ nạn cờ
bạc tạo môi trường phát triển thuận lợi cho hành vi cho vay lãi nặng, tín dụng đen, bởi lẽ, để chuẩn bị chu đáo cho việc tổ chức các sòng bạc, xới bạc các đối tượng không những chuẩn bị địa điểm kiên cố, có nhiều hàng rào bảo vệ, nhiều đối tượng cảnh giới mà các đối tượng tổ chức còn có sự phân công vị trí, vai trò rất cụ thể, rõ ràng, nhất là các đối tượng chuyên làm nhiệm vụ cò mồi, cho vay lãi nặng Ở hình thức lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết, các đối tượng cầm đầu cũng tổ chức rất kín đáo, thành lập đường dây đòi nợ, xiết nợ gồm thành phần là những đối tượng hình sự côn đồ, cộm cán, có nhiều tiền án, tiền sự Bên cạnh đó, tín dụng đen hỗ trợ cho tệ nạn cờ bạc duy trì hoạt động, bởi lẽ, bản chất của các đối tượng tổ chức đánh bạc là lợi dụng vào các thủ đoạn gian dối, bịp bợm để được tiền từ người chơi bạc, do vậy, nhằm thu hút các con bạc sát phạt nhau các đối tượng thường tổ chức các hoạt động cho vay lãi nặng, tín dụng đen Như vậy, tệ nạn xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng ngày càng diễn biến phức tạp, biến tướng dưới nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, thành phần độ tuổi của đối tượng ngày càng trẻ hóa, các đối tượng có nhiều kinh nghiệm, thủ đoạn đối phó với các cơ quan chức năng Từ tệ nạn xã hội dễ dàng phát sinh, chuyển hóa sang hoạt động phạm pháp hình sự và ngược lại, ảnh hưởng
Trang 4036
đến mọi mặt đời sống xã hội
2.1.2 Tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020
2.1.2.1 Thực trạng (mức độ) của tình hình tội cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020
Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, từ năm 2016 đến năm 2020, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng xảy ra xảy ra 151 vụ án cướp giật tài sản, điều tra, khám phá 92 vụ với 120 đối tượng (chiếm tỷ lệ 6,17% tổng số vụ phạm pháp hình sự) Cụ thể: Năm 2016 xảy ra 33 vụ, điều tra khám phá
20 vụ (chiếm tỉ lệ 60,6%) với 29 đối tượng; Năm 2017 xảy ra 36 vụ, điều tra khám phá 24 vụ (chiếm tỉ lệ 66,7%) với 36 đối tượng; Năm 2018 xảy ra 33 vụ, điều tra khám phá 19 vụ (chiếm tỉ lệ 57,6%) với 28 đối tượng; Năm 2019 xảy ra 31 vụ, điều tra khám phá 14 vụ (chiếm tỉ lệ 45,2 %) với 17 đối tượng; Năm 2020 xảy ra 18 vụ,
điều tra khám phá 15 vụ (chiếm tỉ lệ 83,3%) với 10 đối tượng [Xem bảng 2.3 – Phụ
lục]
Nghiên cứu về tình hình bắt và xử lý tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ năm 2016 đến năm 2020 cho thấy, số vụ án bị đình chỉ hoặc tạm đình chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng số các vụ án đề nghị truy tố (92vụ, chiếm
tỷ lệ 60,9%) [Xem bảng 2.3 – Phụ lục] Tuy nhiên, số liệu thống kê nêu trên có thể
chưa đầy đủ vì có những hành vi phạm tội cướp giật tài sản vẫn chưa được phát hiện đưa vào thống kê hình sự bởi những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, xuất phát từ người bị hại và người làm chứng không báo tin cho cơ quan chức năng, người bị hại còn ngại tiếp xúc với cơ quan Công an, sợ thủ tục phiền hà, đi lại nhiều lần, tốn kém, mất thời gian Đó là do người bị hại nhận thức chưa đúng về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, và là do sự lơ là, chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm của một số cán bộ khi tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân, gây phiền hà, làm mất lòng tin của nhân dân vào pháp luật Mặt khác, do nhận thức chưa đầy đủ của một bộ phận quần chúng nhân dân nên những vụ cướp giật tài sản mà thiệt hại gây ra không đáng kể, người bị hại thường không khai báo Những trường