Khái niệm về định giá hệ sinh thái
1.1.1 Phân hạng các dịch vụ hệ sinh thái và các giá trị kinh tế
Nghiên cứu phân loại dịch vụ hệ sinh thái thành 4 hạng mục cơ bản: dịch vụ cung ứng, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ và dịch vụ văn hóa Theo báo cáo của Thiên niên kỷ, các dịch vụ này không chỉ tạo ra hàng hóa và nguyên liệu thô mà còn cung cấp dịch vụ thiết yếu cho cuộc sống và hoạt động sản xuất, đóng vai trò quan trọng trong phúc lợi con người và sự vận hành của nền kinh tế Hiện nay, khái niệm dịch vụ hệ sinh thái được các nhà quy hoạch bảo tồn và hoạch định chính sách áp dụng trong công tác quản lý và phát triển.
Các dịch vụ hệ sinh thái gồm:
Dịch vụ cung ứng bao gồm thực phẩm, nước sạch, gỗ và sợi, nhiên liệu, trong khi dịch vụ điều tiết tập trung vào việc điều tiết khí hậu, kiểm soát lũ lụt, phòng chống dịch bệnh và làm sạch nước.
+ Dịch vụ hỗ trợ: chuỗi thức ăn, giữ gìn địa tầng, sản xuất cơ bản … Nhu cầu cơ bản của con người gồm:
+ An toàn: an toàn cá nhân, đảm bảo tiếp cận nguồn lực, an toàn trước những thảm họa …
+ Nhu cầu căn bản: Đủ sinh kế, đủ thức ăn, đủ nơi trú ngụ, tiếp cận hàng hóa …
+ Sức khỏe: thể lực, tinh thần, tiếp cận nguồn nước và không khí sạch
+ Các mối quan hệ xã hội tốt: gắn kết xã hội, tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau …
Tự do lực chọn và hành động: cơ hội có thể đạt những giá trị cá nhân đang có và thực hiện
Khái niệm tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value – TEV) được sử dụng để đánh giá giá trị của đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái trong kinh tế học Trong hai thập kỷ qua, TEV đã được áp dụng rộng rãi để xác định và phân loại các giá trị hệ sinh thái Điểm mới của khái niệm này là không chỉ giới hạn ở những hàng hóa có giá và có thị trường, mà còn mở rộng đến tất cả các hàng hóa và dịch vụ quan trọng về mặt kinh tế được tạo ra từ các dịch vụ hệ sinh thái.
Nghiên cứu tổng giá trị kinh tế của các hệ sinh thái liên quan đến việc phân tích các đặc điểm của chúng như hệ thống tổng hợp, kho dự trữ tài nguyên, dòng dịch vụ và các thuộc tính của hệ sinh thái.
Các giá trị trực tiếp bao gồm nguyên liệu thô và sản phẩm cơ học, phục vụ cho quá trình sản xuất, tiêu thụ và kinh doanh Những giá trị này tạo ra thu nhập, năng lượng, nơi trú ngụ, thức ăn, dược phẩm và các cơ sở giải trí.
Các giá trị gián tiếp bao gồm các chức năng sinh thái quan trọng như duy trì chất lượng nguồn nước, giữ dòng chảy, điều tiết lũ lụt, kiểm soát xói mòn, điều hòa tiểu khí hậu và hấp thụ carbon, góp phần bảo vệ các điều kiện tự nhiên và con người.
Các giá trị lựa chọn đại diện cho tiềm năng chưa được khai thác của nguồn gen từ các loài động, thực vật hoang dã Những giá trị này có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như giải trí, sản xuất dược phẩm, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, và phát triển bền vững dựa vào nguồn nước.
Các giá trị tồn tại trong hệ sinh thái và các thành phần của nó bao gồm giá trị nội tại, không phụ thuộc vào khả năng sử dụng hiện tại hay tương lai Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa, thẩm mỹ di sản và tài sản cho các thế hệ mai sau.
Giá trị sử dụng gồm: các giá trị trực tiếp, các giá trị gián tiếp, các giá trị lựa chọn
Giá trị phi sử dụng: Các giá trị tồn tại
1.1.2 Xác định ước lượng và nhận thức các giá trị hệ sinh thái
Để đảm bảo sự thay đổi của các dịch vụ hệ sinh thái được xác định và đánh giá đầy đủ, cần huy động sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bao gồm những nhóm chủ thể khác nhau trong xã hội, những người chịu ảnh hưởng và/hoặc được hưởng lợi từ sự thay đổi này.
Thứ hai, cần ước lượng và biểu thị giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái bằng phương pháp phù hợp Điều này có nghĩa là phân tích mối liên hệ giữa mức độ và thời điểm ảnh hưởng đến lợi ích và chi phí của việc sử dụng đa dạng sinh học và hệ sinh thái, nhằm xác định tác động của các quyết định.
Thứ ba, cần thừa nhận giá trị của các dịch vụ hệ sinh thái và tìm kiếm giải pháp để khắc phục những đánh giá thấp về giá trị của chúng Điều này có thể được thực hiện thông qua việc áp dụng các công cụ xây dựng chính sách dựa trên giá trị kinh tế để chứng minh tầm quan trọng của dịch vụ hệ sinh thái.
Một số nghiên cứu đã thực hiện
Khái niệm Tổng Giá trị Kinh tế của rừng (Total Economic Value - TEV) trước đây thường bị hạn chế, khi các nhà kinh tế chỉ tập trung vào giá trị sản phẩm hữu hình mà rừng cung cấp cho nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con người Tuy nhiên, cần mở rộng nhận thức về giá trị đa dạng của rừng, bao gồm cả các lợi ích phi vật chất mà chúng mang lại cho xã hội và môi trường.
Rừng không chỉ mang lại giá trị qua 6 sản phẩm có thể sử dụng trực tiếp, mà còn tạo ra nhiều lợi ích kinh tế vượt trội hơn so với giá trị của các sản phẩm hữu hình được giao dịch trên thị trường.
Nghị định thư Kyoto đã khẳng định vai trò quan trọng của rừng trong việc hấp thụ khí CO2, cho thấy rằng một khu rừng nguyên sinh có khả năng hấp thụ lượng khí này hiệu quả.
Rừng có khả năng hấp thụ khoảng 115 tấn carbon trên mỗi hectare, nhưng con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1/4 khi rừng bị chuyển đổi sang canh tác nông nghiệp Nếu đất rừng này bị chuyển thành đất du canh du cư, sẽ giải phóng khoảng 200 tấn carbon, và việc chuyển đổi sang đồng cỏ hay đất nông nghiệp sẽ thải ra lượng carbon nhiều hơn một chút.
Theo FAO vào năm 1995, rừng đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy và giảm lưu lượng nước mặt, từ đó góp phần giảm thiểu lũ lụt.
Rừng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ môi trường, vì vậy nhiều quốc gia đã triển khai cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (Payment for Environment Services – PES) để quản lý bền vững các dịch vụ này Gần đây, các vấn đề môi trường như lũ lụt, hạn hán và biến đổi khí hậu gia tăng, được coi là hệ quả của nạn chặt phá rừng Để bảo vệ và duy trì các dịch vụ môi trường từ rừng, tổ chức Nông Lâm Quốc tế (ICRAF) đã khởi xướng chương trình “Hỗ trợ nông dân vùng cao trong việc bảo vệ và duy trì các dịch vụ môi trường của rừng” từ tháng 1/2002.
Cơ cấu giá trị môi trường của rừng bao gồm: Hấp thụ carbon chiếm 27%, bảo tồn đa dạng sinh học chiếm 25%, bảo vệ đầu nguồn chiếm 21%, vẻ đẹp cảnh quan chiếm 17%, và giá trị khác chiếm 10%.
Nghiên cứu rừng đầu nguồn ở lưu vực sông Vân Nam – Trung Quốc liên quan đến khả năng giữ đất, nước và phân bón của rừng cho thấy giá trị
7 này là khoảng 4.450,5 NDT (khoảng 8.455.855 VND) chiếm 87,9% trong khi đó giá trị trực tiếp (gỗ, than củi) là 528.5 NDT (khoảng 1.384.245 VND) chiếm 12,1%[0]
1.2.1 Một số nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về lƣợng hóa giá trị các hệ sinh thái rừng, dưới đây là một số nghiên cứu minh chứng cho việc giá trị các hệ sinh thái rừng ngày càng đƣợc quan tâm và thừa nhận, công tác bảo vệ và phát triển rừng là cần thiết và cấp bách
Rừng có vai trò quan trọng trong việc điều tiết dòng chảy kiệt; khi diện tích rừng che phủ tăng, dòng chảy kiệt cũng tăng theo với cùng lượng mưa Nghiên cứu cho thấy, sự giảm diện tích rừng khoảng 20% dẫn đến lưu lượng lũ trung bình tăng khoảng 12% ở sông lớn và 40% ở sông nhỏ Ngược lại, khi diện tích rừng tăng 10%, lưu lượng nước lũ trung bình giảm khoảng 5% đối với sông lớn và 20% đối với sông vừa và nhỏ.
Trong một năm, rừng hấp thụ khoảng 100 tỷ tấn khí carbon và thải ra khoảng 80 tấn oxy Theo cơ chế phát triển sạch, giá trị cố định và lưu giữ carbon của rừng ước tính từ 14.680 đến 18.350 tỷ USD, trong khi giá trị hấp thu carbon hàng năm khoảng 1.835 tỷ USD, dựa trên giá 5 USD mỗi tấn.
Xói mòn đất là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sa mạc hóa, với khoảng 9,3 triệu ha đất ở Việt Nam, tương đương 28% tổng diện tích tự nhiên, liên quan đến vấn đề này Trong số đó, khoảng 5 triệu ha đất chưa sử dụng, 2 triệu ha đất đang sử dụng đã bị thoái hóa nặng, và hơn 2 triệu ha đang có nguy cơ thoái hóa cao Hiện nay, khoảng 20 triệu dân Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ quá trình sa mạc hóa.
Nghiên cứu cho thấy giá trị lưu giữ carbon của rừng tự nhiên dao động từ 2.300 đến 5.700 USD/ha, trong khi giá trị hấp thụ carbon của rừng trồng cây mọc nhanh với chu kỳ 7 năm khoảng 1.300 đến 1.500 USD/ha Các giá trị và dịch vụ môi trường như bảo vệ đất, điều tiết nước, cảnh quan và hấp thụ carbon đã được nghiên cứu bước đầu.
Giá trị phòng hộ đầu nguồn của rừng tại các điểm nghiên cứu do Vũ Tấn Phương xác định dao động từ 95.000 đến 895.000 đồng/ha/năm cho giá trị bảo vệ đất và từ 189.000 đến 231.000 đồng/ha/năm cho giá trị điều tiết nước tại Yên Bái Tại miền Trung, cụ thể là Thừa Thiên Huế, giá trị bảo vệ đất cũng được ghi nhận tương tự.
Giá trị kinh tế của đất đai và rừng ở Việt Nam rất đa dạng, với mức giá từ 120.000 đến 419.000 đ/ha/năm cho việc điều tiết nước Tại miền Nam (Gia Lai), giá trị bảo vệ đất dao động từ 148.000 đến 520.000 đ/ha/năm, trong khi giá trị điều tiết nước là từ 36.000 đến 47.000 đ/ha/năm Rừng ngập mặn tại Nam Định có giá trị phòng hộ đê biển khoảng 852.000 đ/ha/năm, và rừng phi lao tại Quảng Bình có giá trị phòng hộ chống cát bay khoảng 525.000 đ/ha/năm Giá trị cảnh quan cũng biến động lớn, từ 700.000 đến 2.300.000 đ/ha/năm ở miền Bắc (Yên Bái), 500.000 đến 1.200.000 đ/ha/năm ở miền Trung (Thừa Thiên Huế), và 200.000 đến 500.000 đ/ha/năm ở miền Nam (Gia Lai).
Giá trị lưu giữ carbon của rừng gỗ tự nhiên ở Việt Nam dao động từ 35 đến 84 triệu đồng mỗi hectare mỗi năm, trong khi giá trị hấp thụ carbon khoảng từ 0,4 đến 1,3 triệu đồng mỗi hectare mỗi năm tại miền Bắc Tại miền Trung, giá trị lưu giữ carbon ghi nhận từ 37 triệu đồng.
Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Đánh giá một số giá trị gia tăng góp phần tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH, BV&PTR tại VQG Cát Tiên
- Xác định đƣợc các giá trị kinh tế về bảo tồn ĐDSH và HST của VQG Cát Tiên
- đánh giá một số giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên
- Đề xuất được một số thông tin có thể sử dụng để tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn ĐDSH, BV&PTR tại VQG Cát Tiên.
Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là một số giá trị gia tăng tại VQG Cát Tiên
- Phạm vi nghiên cứu: VQG Cát Tiên
- Thời gian: Từ tháng 10/2016 đến 4/2017.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Khảo sát hiện trạng rừng, chức năng nhiệm vụ của VQG Cát Tiên 2.3.2 Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên
2.3.2.2 Giá trị phi sử dụng
2.3.3 Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên
2.3.3.1 Giá trị cảnh quan (Du lịch sinh thái)
2.3.3.2 Chi trả dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên
2.3.3.3 Giá trị hấp thụ các bon
2.3.4 Đề xuất một số giải pháptăng cường nguồn lực tại VQG Cát Tiên.
Phương pháp nghiên cứu
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu
Xác định vấn đề nghiên cứu
- Các nhà quản lý, cán bộ nhân viên Vườn liên quan đến công tác bảo tồn
- Du khách, hộ nhận khoán
Thu thập tài liệu có liên quan
- Tham khảo các tài liệu có liên quan
- Phân tích, nhận xét sơ bộ
Thu thập số liệu liên quan đến du lịch sinh thái, chi trả dịch vụ môi trường rừng, hấp thụ các bon
Phân tích, tổng hợp, đánh giá các kết quả nghiên cứu Đề xuất giải pháp tăng thu nhập và nguồn lực
2.4.1 Khảo sát hiện trạng rừng, chức năng nhiệm vụ của VQG Cát Tiên
Sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu là rất quan trọng Điều này bao gồm việc thu thập bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng thực vật rừng, cũng như các tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Các nguồn tài liệu đã được xuất bản như sách, tạp chí, và các báo cáo nghiên cứu khoa học trong khu vực cũng cần được xem xét Ngoài ra, cần chú ý đến các tài liệu đã công bố hoặc chưa công bố về hiện trạng tài nguyên đa dạng sinh học trong khu vực nghiên cứu.
2.4.2 Nghiên cứu các giá trị gia tăng của VQG Cát Tiên
Sử dụng phương pháp chuyên gia:
Xác định giá trị kinh tế của hệ sinh thái (HST) toàn cầu và tại Việt Nam, cũng như các khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và vườn quốc gia (VQG) là rất quan trọng Cần xác định nhóm giá trị để đánh giá và xây dựng phiếu hỏi, cũng như câu hỏi phỏng vấn nhằm phục vụ cho việc đánh giá các giá trị gia tăng tại VQG Cát Tiên.
2.4.3 Giá trị dịch vụ môi trường rừng của VQG Cát Tiên
Phương pháp phỏng vấn được áp dụng với đối tượng là người dân, du khách và các nhà quản lý liên quan đến công tác bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học (ĐDHS) Mục tiêu là thu thập thông tin và dữ liệu cần thiết để xác định các giá trị kinh tế, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng thu nhập và nguồn lực cho công tác bảo vệ và phát triển rừng quốc gia Cát Tiên.
2.4.3.1 Phương pháp điều tra giá trị DLST
* Phương pháp thu thập số liệu:
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ thu thập số liệu thứ cấp về các tuyến và điểm du lịch tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên, đồng thời phân tích các dịch vụ được cung cấp cho du khách Chúng tôi cũng sẽ xem xét tổng doanh thu từ du lịch sinh thái, các khoản kinh phí hỗ trợ nhằm tăng thu nhập cho cán bộ công nhân viên tại Vườn, cũng như các khoản kinh phí hỗ trợ cho công tác bảo vệ và phát triển rừng trong 5 năm qua.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp du khách và các nhà quản lý, những người làm việc trong lĩnh vực bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học Mục tiêu là thu thập thông tin và dữ liệu đầu vào, sau đó tổng hợp vào các mẫu biểu 01 và 02.
2.4.3.2 Phương pháp điều tra giá trị chi trả DVMTR
* Phương pháp thu thập số liệu:
Trong vòng 5 năm qua, việc thu thập số liệu thứ cấp liên quan đến chi trả DVMTR đã được thực hiện, bao gồm thông tin về số lượng hộ dân tham gia chương trình khoán bảo vệ rừng, đơn giá giao khoán từng năm, và tổng kinh phí trung bình mà mỗi hộ nhận được hàng năm Ngoài ra, cũng cần ghi nhận kinh phí hỗ trợ chủ rừng cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, bao gồm quản lý phí hàng năm và kinh phí tự tổ chức bảo vệ rừng.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân tham gia nhận khoán và các nhà quản lý, cũng như những cá nhân làm việc trong lĩnh vực bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học Mục tiêu là thu thập thông tin và dữ liệu đầu vào, sau đó tổng hợp vào mẫu biểu 01 và 03 để phục vụ cho công tác nghiên cứu và quản lý hiệu quả.
2.4.3.3 Giá trị hấp thụ các bon
Sử dụng phương pháp kế thừa và thu thập số liệu:
Thu thập số liệu thứ cấp từ kết quả kiểm kê rừng của VQG Cát Tiên năm 2014 tại tỉnh Lâm Đồng và năm 2016 tại tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, bao gồm bản đồ và số liệu liên quan Kết quả thu thập được ghi vào biểu mẫu để phục vụ cho việc phân tích và đánh giá.
BIỂU ĐIỀU TRA CÁC TRẠNG THÁI RỪNG Ở VQG CÁT TIÊN
3 Rừng phục hồi hỗn giao
2.4.4.1 Phương pháp xử lý thống kê
Sử dụng phần mềm excel để xử lý số liệu
Tính giá trị hấp thụ các bon sử dụng phương pháp ước lượng sinh khối dựa vào số liệu điều tra, kiểm kê rừng
Bước 1: Sử dụng kết quả xác định trữ lượng lâm phần theo trạng thái rừng
Bước 2: Xác định hệ số hấp thụ (lượng hấp thụ lưu trữ CO2 của 1 ha rừng)
Hệ số thấp thụ (EF) hay tổng lƣợng khí CO2 hấp thụ của 1 ha rừng (tấn/ha) đƣợc tính theo công thức sau:
EF(CO2 tấn/ha) = (AGB + BGB) * CF * 44/12 (1)
EF: là tổng trữ lƣợng CO2 hấp thụ của 1 ha rừng (tấn/ha)
AGB: Sinh khối trên mặt đất của cây rừng (kg) đƣợc xác định theo công thức (i) GS: trữ lƣợng của 1 ha rừng (m 3 )
BCEF: hệ số chuyển đổi mở rộng (tấn) (tra từ bảng 4.5 - Hướng dẫn của IPCC năm 2006)
BGB, hay sinh khối dưới mặt đất của cây rừng, được tính toán theo công thức (ii) Tỷ lệ carbon trong cây gỗ được xác định là 0,47, theo thông tin từ bảng 4.3 trong Hướng dẫn của IPCC năm 2006.
R: tỷ lệ sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất = 0,37[0] (tra từ bảng 4.4
- Hướng dẫn của IPCC năm 2006)
Hệ số 44/12 là hệ số chuyển đổi từ khối lƣợng các bon sang CO2
Bước 3: Tính giá trị lưu giữ các bon
Mc = ∑Efi * Si (3) i=1 Trong đó:
- Vc: giá trị lưu giữ các bon của rừng tính bằng USD hoặc đồng
- Mc: tổng trữ lƣợng các bon rừng tính bằng tấn CO2e/ha
- EFi: là tổng lƣợng khí CO2 hấp thụ của 1 ha rừng theo từng trạng thái (tấn/ha)
- Si: diện tích trạng thái rừng
- Pc: giá bán tín chỉ các bon (CER) trên thị trường tính bằng USD hoặc đồng/tấn CO2
2.4.4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Sử dụng trong quá trình viết và hoàn thiện báo cáo, các số liệu đã xử lý sẽ đƣợc diễn giải, phân tích và thảo luận chi tiết
2.4.4.3 Phương pháp đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường Đánh giá tài nguyên dựa vào thị trường thực, thị trường thay thế và thị trường giả định
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
3.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Khu rừng Cát Tiên, từng là căn cứ địa cách mạng trong những năm chiến tranh, đã được quản lý bởi Sư đoàn 600 thuộc Bộ Quốc phòng sau khi đất nước hòa bình nhằm phát triển kinh tế Với tính đa dạng sinh học cao, khu rừng này đã được Chính phủ công nhận là khu rừng đặc dụng theo Quyết định 360/TTg ngày 07/07/1978, mang tên Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Kiểm lâm Đồng Nai có trách nhiệm bảo vệ khu rừng quý hiếm này, với diện tích quản lý lên đến 38.100 ha, nằm trong huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 13/01/1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/CT thành lập VQG Cát Tiên, dựa trên diện tích của Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên, và giao cho tỉnh Đồng Nai quản lý Quyết định cũng yêu cầu Bộ Lâm nghiệp (hiện nay là Bộ NN – PTNT) cùng với UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước tiếp tục nghiên cứu để mở rộng diện tích VQG trên địa bàn của ba tỉnh này.
Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý
Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên đƣợc Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn 3 tỉnh (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước), với diện tích 73.878 ha
Vào ngày 10/11/2001, Ủy ban MAB/UNESCO đã công nhận Vườn quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 411 của thế giới, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Khu dự trữ Sinh quyển toàn cầu.
Ngày 19/8/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 173/2003/QĐ – TTg, về việc điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên, diện tích sau điều chỉnh còn 71.350 ha
Sau khi tiếp quản khu vực Tây Cát Tiên và Cát Lộc, Vườn Quốc gia Cát Tiên đã bổ sung nhân lực Kiểm lâm và xây dựng các chốt, trạm Kiểm lâm tại những khu vực nhạy cảm nhằm bảo vệ rừng một cách kịp thời.
Ngày 09/01/2015, TCLN ra Quyết định số 08/QĐ-TCLN-VP về việc
Vườn quốc gia Cát Tiên được Tổng cục Lâm nghiệp giao tổng số 211 biên chế sự nghiệp cho năm 2015.
- Biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 185 biên chế;
- Biên chế sự nghiệp tự lo lương là 26 biên chế
Hiện tại, Vườn có tổng số biên chế là 207 người, bao gồm 172 người (1 công chức và 171 viên chức), 13 hợp đồng lao động theo Nghị định 68 và 22 hợp đồng tự trả lương.
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 02 người; Thạc sĩ 04 người; Đại học 55 người; Cao đẳng 02, Trung cấp 100 người; sơ cấp 44 người
Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 04 người; Trung cấp 31 người
Ngoại ngữ: Trình độ B, C tiếng Anh 62 người
Tin học: Tin học văn phòng 165 người
Lịch sử hình thành và phát triển
Khu rừng Cát Tiên, từng là căn cứ địa cách mạng trong những năm chiến tranh, đã được quản lý bởi Sư đoàn 600 thuộc Bộ Quốc phòng sau khi hòa bình để phát triển kinh tế Với tính đa dạng sinh học cao, Chính phủ đã quyết định chuyển đổi khu rừng thành khu rừng đặc dụng theo Quyết định 360/TTg vào ngày 07/07/1978, mang tên Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên Kiểm lâm Đồng Nai có trách nhiệm bảo vệ khu rừng quý hiếm này, với diện tích quản lý lên đến 38.100 ha, nằm trong huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 13/01/1992, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 08/CT, thành lập Vườn Quốc Gia Cát Tiên từ Khu rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên, do tỉnh Đồng Nai quản lý Quyết định cũng giao Bộ Lâm nghiệp (hiện nay là Bộ NN – PTNT) cùng UBND tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước tiếp tục nghiên cứu để mở rộng diện tích VQG này.
Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao VQG Cát Tiên cho Bộ NN & PTNT quản lý
Tháng 12/1998, VQG Cát Tiên đƣợc Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn 3 tỉnh (Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước), với diện tích 73.878 ha
Vào ngày 10/11/2001, Ủy ban MAB/UNESCO đã công nhận Vườn Quốc gia Cát Tiên là Khu dự trữ Sinh quyển thứ 411 trên thế giới, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong hệ thống Khu dự trữ Sinh quyển toàn cầu.
Ngày 19/8/2003, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 173/2003/QĐ – TTg, về việc điều chỉnh ranh giới VQG Cát Tiên, diện tích sau điều chỉnh còn 71.350 ha.
Tổ chức bộ máy
Sau khi tiếp nhận khu vực Tây Cát Tiên và Cát Lộc, VQG Cát Tiên đã tiến hành tuyển dụng thêm nhân viên Kiểm lâm để xây dựng các chốt và trạm Kiểm lâm tại những khu vực xung yếu, nhằm bảo vệ rừng một cách kịp thời và hiệu quả.
Ngày 09/01/2015, TCLN ra Quyết định số 08/QĐ-TCLN-VP về việc
Vào năm 2015, Vườn quốc gia Cát Tiên đã được giao tổng số 211 biên chế sự nghiệp, thuộc các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Lâm nghiệp.
- Biên chế sự nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước là 185 biên chế;
- Biên chế sự nghiệp tự lo lương là 26 biên chế
Hiện tại, nhân sự tại cửa Vườn có tổng số 207 biên chế, bao gồm 172 người (1 công chức và 171 viên chức), 13 hợp đồng lao động theo Nghị định 68 và 22 hợp đồng do đơn vị tự trả lương.
Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 02 người; Thạc sĩ 04 người; Đại học 55 người; Cao đẳng 02, Trung cấp 100 người; sơ cấp 44 người
Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 04 người; Trung cấp 31 người
Ngoại ngữ: Trình độ B, C tiếng Anh 62 người
Tin học: Tin học văn phòng 165 người
Bộ máy tổ chức bao gồm Ban Giám đốc, các phòng chức năng như Phòng Tổ chức, Hành chính, Phòng Kế hoạch, Tài chính, Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế, cùng với Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ, Trung tâm cứu hộ, bảo tồn và phát triển sinh vật, và Hạt Kiểm lâm Hạt Kiểm lâm có 137 Kiểm lâm, được phân bổ tại 1 chốt, 22 trạm và bộ phận văn phòng.
Đặc điểm tự nhiên
VQG Cát Tiên nằm trên địa phận các huyện Vĩnh Cửu, Tân Phú (tỉnh Đồng Nai), Cát Tiên, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) và Bù Đăng (tỉnh Bình Phước),
+ Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Đắc Nông và tỉnh Bình Phước + Phía Nam giáp Công ty lâm nghiệp La Ngà (tỉnh Đồng Nai)
+ Phía Đông có ranh giới là sông Đồng Nai, giáp tỉnh Lâm Đồng + Phía Tây giáp Lâm trường Vĩnh An (tỉnh Đồng Nai)
* Tổng diện tích tự nhiên là 72.663,53 ha, trong đó:
Khu vực Nam Cát Tiên, nằm trong tỉnh Đồng Nai, có diện tích 41.020,43 ha; khu vực Tây Cát Tiên thuộc tỉnh Bình Phước với diện tích 4.382,84 ha; và khu vực Bắc Cát Tiên ở tỉnh Lâm Đồng, chiếm 27.260,26 ha.
Hình 4.1 Bản đồ hành chính VQG Cát Tiên
VQG Cát Tiên nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ và Đồng bằng Nam Bộ, với các kiểu địa hình đặc trưng của dãy Trường Sơn và vùng Đông Nam Bộ Khu vực này có năm kiểu địa hình chính, tạo nên sự đa dạng và phong phú cho cảnh quan nơi đây.
Địa hình núi cao và sườn dốc chủ yếu nằm ở phía Bắc VQG Cát Tiên, với độ cao từ 200 đến 600m so với mặt nước biển và độ dốc từ 15 đến 20 độ, có nơi lên tới trên 30 độ Khu vực này có dạng sườn dốc phân bố giữa các thung lũng sông và suối, cùng với những đỉnh bằng phẳng Mức độ chia cắt địa hình phức tạp, đồng thời đây cũng là nguồn gốc của nhiều suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai.
Kiểu địa hình trung bình sườn ít dốc tại phía Tây Nam VQG Cát Tiên có độ cao từ 200 đến 300m, với độ dốc 15 đến 20 độ và độ chia cắt cao Khu vực này là nguồn của nhiều con suối lớn, trong đó có suối Đaklua và Đatapok, chảy ra sông Đồng Nai.
+ Kiểu địa hình đồi thấp, bằng phẳng: ở phía Đông Nam VQG Cát Tiên Độ cao so với mặt nước biển 130 – 150m, độ dốc 5 – 7 0 Độ chia cắt thƣa
Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và đồi bát úp tiếp giáp đầm hồ có độ cao 130m so với mực nước biển Địa hình này kéo dài dọc theo sông Đồng Nai và khu vực ven sông phía Tây Bắc Vườn, từ ranh giới Bình Phước – Đồng Nai đến Tà Lài, với bề rộng khoảng 1.000m.
+ Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: Độ cao so với mặt nước biển thấp hơn 130m, như các bàu nước: Bàu Cá, Bàu Chim, Bàu Sấu
VQG Cát Tiên có độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, với điểm cao nhất đạt 626m ở Lộc Bắc và điểm thấp nhất là 115m tại Núi Tượng.
Nền địa chất của VQG Cát Tiên với 3 cấu tạo chính là Trầm tích, Bazal và Sa phiến thạch đã phát triển hình thành 4 loại đất chính:
Đất Feralit, phát triển trên đá bazan (Fk) và chiếm gần 60% tổng diện tích Vườn, chủ yếu phân bố ở khu vực phía Nam, là loại đất giàu dinh dưỡng, tốt, sâu và dày với màu đỏ, nâu đỏ hoặc nâu đen, có nhiều đá Tubf núi lửa chưa bị phong hóa Trên loại đất này, rừng phát triển mạnh mẽ, với nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi nhanh chóng của hệ sinh thái rừng.
Đất Feralit, chiếm khoảng 20% diện tích VQG và phát triển trên đá cát (Fq), chủ yếu phân bố ở phía Bắc Vườn dọc thượng nguồn sông Đồng Nai Loại đất này còn được gọi là đất xám bạc màu trên đá axit hoặc đá cát Mặc dù độ phì của đất Feralit kém hơn so với đất phát triển trên đá bazal, nhưng nhờ có thảm thực vật rừng che phủ, tầng đất vẫn giữ được độ dày và các tính chất tự nhiên.
Đất Feralit hình thành trên phù sa cổ (Fo) và bao gồm đất bồi tụ ven suối, ven sông Đồng Nai, chiếm khoảng 10% tổng diện tích Vườn, chủ yếu tập trung ở phía Bắc và Đông Nam Loại đất này phân bố ở những khu vực địa hình bằng phẳng và vùng trũng ngập nước vào mùa mưa Mặc dù nghèo dinh dưỡng, nhưng mực nước ngầm nông của đất Feralit tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây rừng trong mùa khô.
Đất Feralit, phát triển trên đá sét (Fs), chiếm khoảng 8% tổng diện tích Vườn và chủ yếu phân bố ở phía Nam, xen kẽ với các vạt đất từ đá bazal Loại đất này có độ phì khá, nhưng do thành phần cơ giới nặng, nên khi mất rừng, đất dễ bị thoái hóa nhanh chóng.
- VQG Cát Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Trong năm
24 có 2 mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô thường từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
VQG Cát Tiên có địa hình chia thành hai vùng chính: vùng núi và vùng đồi, với độ cao tuyệt đối khác nhau, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt về khí hậu giữa khu Bắc và khu Nam của VQG.
Số liệu thu thập từ 2 trạm thủy văn:
Trạm Cát Tiên và trạm Bảo Lộc tại tỉnh Lâm Đồng đang thu thập dữ liệu quan trọng về lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm, phản ánh điều kiện khí hậu của vùng Cát Lộc.
Trạm Tà Lài tại Đồng Nai thu thập dữ liệu về lượng mưa, trong khi trạm Bến Cát ở Bình Dương ghi nhận nhiệt độ và độ ẩm, đại diện cho khu vực Cát Tiên.
Bảng 3.1 Chỉ tiêu khí hậu VQG Cát Tiên
Stt Mô tả Vùng Cát Lộc Vùng Cát Tiên
1 Nhiệt độ trung bình năm (oC) 21,7 26,5
2 Nhiệt độ trung bình cao nhất (oC) 23,0 (tháng 6) 28,6 (tháng 6)
3 Nhiệt độ trung bình thấp nhất (oC) 21,1 (tháng 12) 20,5 (tháng 1)
4 Lƣợng mƣa trung bình hàng năm (mm) 2.675 2.175
5 Lƣợng mƣa trung bình tháng cao nhất (mm) 494,8 (tháng 9) 368 (tháng 9)
6 Lƣợng mƣa trung bình tháng thấp nhất
7 Số ngày mƣa trung bình hằng năm (ngày) 182 145
8 Độ ẩm trung bình hằng năm (%) 87 82
9 Thời gian mƣa t.bình trong mùa mƣa
10 Lƣợng mƣa mùa mƣa/L mƣa hàng năm
Khu Cát Lộc có nhiệt độ trung bình năm thấp hơn và lượng mưa cùng độ ẩm tương đối cao hơn so với khu Nam và Tây Cát Tiên, dẫn đến sự khác biệt trong phân bố thảm thực vật và thành phần thực vật.
3.3.4 Thủy văn Điều kiện thủy văn ở VQG Cát Tiên liên quan đến chế độ dòng chảy của sông Đồng Nai và các hệ thống suối, các bàu nước
Sông Đồng Nai bao quanh VQG Cát Tiên ở phía Bắc, Tây và Đông, có chiều dài khoảng 90km và chiều rộng trung bình 100m Lưu lượng nước trung bình đạt 405m³/giây, với mực nước cao nhất là 8,03m và mực nước trung bình là 5m, trong mùa kiệt dao động từ 2 đến 3m Khu vực phía Bắc, Tây Bắc và Đông từ Bến Cự đến Tà Lài cho phép thuyền máy hoạt động thuận lợi.
Trong VQG Cát Tiên có nhiều hệ suối lớn nhƣ:
+ Đaleh, Đa R’soui, Đa M’Bri (Lộc Bắc)
+ Đa Dim bo, Đa Thai, Đa Ce Nac, Đa Nhor (Bắc Cát Tiên)
+ Đa Louha, Đa Bitt, Đa Bao, Đa Tapoh, Đa Sameth (Nam Cát Tiên) Các hệ suối này đều chảy ra sông Đồng Nai
Khái quát đặc đặc điểm kinh tế - xã hội
Vùng đệm VQG Cát Tiên có diện tích 728.756 ha, nằm trên địa bàn của
86 xã, thị trấn của 11 huyện thuộc 4 tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, Đắc Nông Vùng chuyển tiếp gồm 53 xã, thị trấn bao quanh vùng đệm, diện tích 403.433ha
* Những tác động của vùng đệm đối với công tác quản lý bảo vệ rừng của VQG Cát Tiên gồm:
- Sự di dân tự do và sự gia tăng dân số trên các xã địa bàn vùng đệm vẫn chƣa kiểm soát đƣợc
Đường ranh giới của VQG Cát Tiên dài khoảng 250 km, khu vực giáp ranh với tỉnh Đắc Nông và Bình Phước không có đường tuần tra, cùng với sự gần gũi của sông Đồng Nai và lực lượng kiểm lâm hạn chế, gây khó khăn cho việc đi lại, tuần tra và bảo vệ rừng.
- Dân cƣ phân bố trên quy mô rộng, phân tán, rất khó quản lý, kiểm soát
Các hoạt động xâm phạm rừng trái phép thường diễn ra khi kẻ xấu lợi dụng những khoảng trống trong công tác tuần tra và bảo vệ rừng Khi không có lực lượng kiểm soát, họ dễ dàng thực hiện các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ rừng.
Các hoạt động xâm phạm vào Vườn Quốc gia Cát Tiên, đặc biệt ở những địa phương giáp ranh với sông Đồng Nai, bao gồm khai thác lâm sản và săn bắt thú rừng.
Các địa phương có đất nông nghiệp gần ranh giới VQG Cát Tiên thường diễn ra nhiều hoạt động như khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng, chăn thả gia súc vào trong VQG và lấn chiếm đất rừng để làm nương rẫy.
Việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang trồng cao su tại các xã vùng đệm của VQG Cát Tiên, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, đang gây áp lực lớn đối với khu vực này Sự cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng tự nhiên và rừng trồng, cùng với việc một bộ phận dân cư, đặc biệt là đồng bào dân tộc, không còn đất sản xuất nông nghiệp và thiếu vốn đầu tư, đã dẫn đến gia tăng hoạt động xâm phạm trái phép vào rừng của VQG Cát Tiên để kiếm sống.
Sự phát triển cơ sở hạ tầng xung quanh VQG Cát Tiên đã nâng cao khả năng di chuyển, giao thương hàng hóa và cải thiện đời sống sinh hoạt, y tế, giáo dục cho người dân địa phương Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc gia tăng tình trạng xâm nhập trái phép vào VQG Cát Tiên.
* Dân số, dân tộc và lao động:
VQG Cát Tiên có diện tích nằm trên địa bàn của 7 xã: Đắc Lua (huyện Tân Phú), Phú Lý (huyện Vĩnh Cửu) thuộc tỉnh Đồng Nai; Đăng Hà (huyện
Bù Đăng thuộc tỉnh Bình Phước, trong khi Lộc Bắc, Phước Cát 2, Tiên Hoàng và Đồng Nai Thượng nằm trong huyện Bảo Lâm và huyện Cát Tiên của tỉnh Lâm Đồng Đặc biệt, xã Đồng Nai Thượng và hai thôn 3 và 4 của xã Phước Cát 2, huyện Cát Tiên cũng được nhắc đến.
Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, là khu vực đệm quan trọng của Vườn Quốc Gia Cát Tiên, nơi có 6 xã hoạt động tích cực ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Những đặc điểm về dân số, dân tộc của các xã đƣợc tổng hợp ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Dân số, dân tộc của các xã vùng đệm VQG Cát Tiên
STT Tên xã Số hộ Số khẩu Dân tộc
Thƣợng 415 1.739 Mạ, Tày, Chil, Stiêng, Khmer, Kinh Thôn 3 và 4, xã Phước Cát 2 53 278 Châu mạ, Stiêng
2 Tiên Hoàng 775 3.151 Kinh, Dao, Tày, Mường, Châu Mạ
Kinh, Tày, Nùng, Dao, Châu Mạ, Mường, Ê Đê, K Ho, Stiêng, Cao Lan, Chăm, Thái
5 Đắc Lua 1.559 6.878 Kinh, Mường, Tày
Kinh, Nùng, Tày, Hoa, Dao, H Mông, Thái Mường, Cao Lan, Sán Dìu, Kh Mer, Stiêng
(Nguồn dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020)
* Kinh tế hộ gia đình:
Thu nhập chủ yếu của người dân đến từ sản xuất nông nghiệp, nhưng diện tích đất nông nghiệp hạn chế và phương thức canh tác lạc hậu Nhiều hộ dân tộc chỉ trồng cây Điều một cách độc canh với giống đại trà, dẫn đến năng suất thấp Do đó, đời sống kinh tế của người dân gặp khó khăn và thường xuyên thiếu đói.
Tỷ lệ hộ nghèo tại vùng vẫn còn cao, với xã Phước Cát 2 dẫn đầu ở mức 19,86%, theo sau là xã Đăng Hà với 18,80% Đây là những xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
Bảng 3.3 Thu nhập và tỷ lệ đói nghèo
Hạng mục ĐVT Bình quân
Phân theo xã Đồng Nai Thƣợng
(Nguồn dự án Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2016 – 2020)
* Các hoạt động kinh tế chủ yếu:
Sản xuất nông nghiệp tại các thôn, bản chủ yếu tập trung vào cây trồng như cao su, điều, cây ăn quả và cây hoa màu, trong khi diện tích trồng lương thực khá hạn chế.
Chăn nuôi gia súc và gia cầm theo quy mô hộ gia đình đang gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch heo tai xanh và cúm gia cầm Những rủi ro lớn này, cùng với giá thức ăn gia súc cao và khả năng phòng chống dịch bệnh hạn chế, đã làm giảm động lực đầu tư vào chăn nuôi Ngoài ra, diện tích đất chăn thả cho trâu bò ngày càng thu hẹp, dẫn đến lợi nhuận từ chăn nuôi cũng giảm do thiếu lợi thế cạnh tranh về giá cả và quy mô sản xuất nhỏ.
Khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tại đây phát triển hạn chế, thiếu các khu công nghiệp và cơ sở chế biến lớn, điều này gây khó khăn trong việc thu hút lao động địa phương và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việc giải quyết việc làm cho người dân nông thôn theo hướng Nông – Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ gặp nhiều thách thức.
Hệ thống giáo dục tại Việt Nam bao gồm các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh Tuy nhiên, ở bậc trung học phổ thông, số lượng học sinh phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế của từng gia đình Việc học tập của con em thường bị ảnh hưởng bởi khoảng cách trường lớp, học phí và các khoản đóng góp, dẫn đến ít hộ gia đình quan tâm đến việc học của trẻ.
Các xã đã thiết lập trạm y tế với đội ngũ y bác sĩ chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ khám và chữa bệnh thông thường Ngoài ra, họ cũng thực hiện tiêm chủng mở rộng các loại vắc xin nhằm phòng ngừa dịch bệnh Đối với những bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo, việc chuyển họ lên các tuyến trên được thực hiện kịp thời để đảm bảo cứu chữa hiệu quả.
- Về bưu chính, viễn thông: việc thông tin liên lạc đã được phủ sóng 100% với 2 hình thức là các mạng điện thoại cố định, di động
- Tất cả các xã đều có hệ thống loa phát thanh, truyền hình của trung ương và địa phương
- Trên 85% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt
- Trên 80% số hộ sử dụng nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn phục vụ sinh hoạt
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội