Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá học 18 2010-2012, được sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn, khoa Sau Đại học, khoa Lâm học - trường Đại học Lâm nghiệp, tôi thực
Trên thế giới
1.1.1 Phát triển bền vững Đầu thập niên 80, thuật ngữ “phát triển bền vững” lần đầu tiên được sử dụng trong chiến lược bảo tồn thế giới do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, Quỹ động vật hoang dã thế giới và Chương trình môi trường Liên hiệp quốc đề xuất, cùng sự trợ giúp của UNESCO và FAO với nội dung rất đơn giản "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Báo cáo này ghi rõ: Phát triển bền vững là "Sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ” Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường Phát triển kinh tế (quan trọng nhất là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (quan trọng nhất là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trường (quan trọng nhất là xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi cải thiện chất lượng môi trường, phòng chống cháy rừng và chặt phá rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên)
Khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu và nghèo, và giữa các thế hệ Thậm chí nó còn bao hàm sự cần thiết giải trừ quân bị, coi đây là điều kiện tiên quyết nhằm giải phóng nguồn tài chính cần thiết để áp dụng khái niệm phát triển bền vững
1.1.2 Quản lý rừng bền vững và các tổ chức QLRBV
Nỗ lực đầu tiên trong quản lý rừng bền vững được thực hiện là thành lập hệ thống rừng trang trại tại Hoa Kỳ (ATFS) năm 1941, là một chương trình của Trung tâm rừng hộ gia đình của Tổ chức Lâm nghiệp Hoa Kỳ, được cam kết duy trì các khu rừng, khu vực đầu nguồn và nơi cư trú phù hợp thông qua năng lực của đơn vị quản lý tư nhân ATFS đã xây dựng các hướng dẫn và các tiêu chuẩn cho các chủ sở hữu để đáp ứng nhu cầu trở thành trang trại có rừng được chứng nhận Theo các tiêu chuẩn và hướng dẫn này, các chủ sở hữu tư nhân phải xây dựng kế hoạch quản lý dựa trên các tiêu chuẩn môi trường chặt chẽ và phải thông qua xét duyệt của cán bộ lâm nghiệp tình nguyện của ATFS năm năm một lần ATFS đã công nhận 24 triệu mẫu Anh đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và 90473 chủ sở hữu rừng từ nhân, những người cam kết quản lý tốt rừng của mình, tại 46 bang [7]
Tiếp đó là Hội đồng Quản trị rừng (FSC) được thành lập năm 1993, bởi một nhóm gồm 130 thành viên khác nhau từ 25 quốc gia, bao gồm đại diện của các cơ quan môi trường, các thương gia, các cộng đồng dân bản xứ, ngành công nghiệp và các cơ quan cấp chứng chỉ Nhiệm vụ của FSC là thúc đẩy việc quản lý rừng trên thế giới một cách hợp lý về mặt môi trường, có ích về mặt xã hội và có thể thực hiện được về mặt kinh tế FSC đã đẩy mạnh việc áp dụng những Nguyên tắc và Tiêu chí về Quản lý rừng đối với tất cả các loại rừng trên Thế giới thông qua một chương trình ủy nhiệm tình nguyện cho các cơ quan cấp chứng chỉ Cùng với sự ra đời của FSC, một loạt các tổ chức khác cũng được thành lập: PAN-EUROPEAN cho rừng tự nhiên toàn châu Âu (Helsinki); CIFOR (Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế) cho rừng tự nhiên nói chung; ITTO (tổ chức quốc tế về gỗ nhiệt đới) cho rừng tự nhiên nhiệt đới Cộng đồng quốc tế đã tổ chức nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước bảo vệ và phát triển rừng: Chiến lược bảo tồn quốc tế (1980); Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (UNCED, Riodejaneiro, 1992); Công ước buôn bán động thực vật quý hiếm (CITES); Công ước đa dạng sinh học (CBD) Nhiều định nghĩa QLRBV được đưa ra, tuy nhiên hai định nghĩa phổ biến và được công nhận rộng rãi nhất là của ITTO và trong tiến trình Hensinki
Theo ITTO: “Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phận ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu quản lý đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội”.[23]
Theo tiến trình Hensinki: “Quản lý rừng bền vững là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng trong quá trình thực hiện và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của rừng ở cấp địa phương, cấp quốc gia và toàn cầu và không gây ra những tác hại đối với hệ sinh thái khác”
Các định nghĩa trên đều tập trung vào các vấn đề chính là: quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra, bảo đảm bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội Các yếu tố của QLRBV là: (i) Có khuôn khổ chính sách và pháp lý; (ii) Sản xuất lâm sản bền vững; (iii) Bảo vệ được môi trường; (iv) Đảm bảo lợi ích con người; (v) Đối với rừng trồng, có các cân nhắc áp dụng cụ thể phù hợp
Trên thế giới đã có các bộ tiêu chuẩn quản lý bền vững cấp quốc gia (Canada, Malaysia, Indonexia ) và cấp quốc tế của tiến trình Helsinki, tiến trình Montreal FSC và ITTO đã có bộ tiêu chuẩn của quản lý rừng được vận dụng rất rộng rãi để đánh giá quản lý rừng ở nhiều nước
Tuy nhiên, theo bản báo cáo của ITTO đã thừa nhận FSC “Gần như là chương trình duy nhất về gắn nhãn hiệu và ủy quyền đối với lâm phẩm trên toàn thế giới” Số lượng ít ỏi các cơ quan được cấp chứng chỉ rừng do FSC ủy quyền trước đây đã là một hạn chế trong việc phát triển vấn đề cấp chứng chỉ gỗ, và ngày nay đã được FSC khắc phục hiệu quả bằng việc gia tăng ủy quyền cho các tổ chức cấp chứng chỉ rừng.[6] Hiện nay có 18 tổ chức độc lập được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ FSC, thời hạn chứng chỉ mỗi lần cấp có hiệu lực 5 năm và luôn kiểm tra chất lượng Tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của FSC có 10 nguyên tắc, 56 tiêu chí Các tiêu chí vẫn luôn được xem xét, cân nhắc để chỉnh sửa thông qua đề đạt của các thành viên FSC và lấy biểu quyết trong các kỳ đại hội.[8]
1.1.3 Chứng chỉ rừng (FM-forest management) và chứng chỉ chuỗi hành trình sản phẩm(CoC-Chain of custody)
Vấn đề cấp chứng chỉ rừng là một biện pháp để đảm bảo quản lý rừng bền vững và hợp lý về mặt môi trường tuy nhiên nó cũng không thể thay thế hoàn toàn cho các công cụ khác như pháp luật, giáo dục và tuyên truyền Chứng chỉ rừng tác động vào đơn vị quản lý rừng, do đó không ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch sử dụng đất và chính sách quốc gia Việc sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ môi trường được các chuyên gia kinh tế và các tổ chức như Tổ chức Hợp tác Phát triển Kinh tế (OECD) và Ngân hàng Thế giới khuyến khích trong hai thập kỷ vừa qua
Một hệ thống chứng chỉ rừng ưu việt thường gồm có những đặc điểm sau: có khả năng thích nghi về mặt tổ chức và chính trị với các điều kiện của địa phương; có định hướng và hiệu quả trong thực hiện mục tiêu; chấp nhận được đối với tất cả các bên liên quan; dựa trên cơ sở các tiêu chuẩn chứng chỉ rừng tự nguyện ở cấp quốc gia và phù hợp với các nguyên tắc quốc tế được công nhận rộng rãi; được người tiêu dùng và các tổ chức phi chính phủ trong lĩnh vực bảo tồn tín nhiệm; dựa trên các đánh giá đáng tin cậy và độc lập; các quyết định về chứng chỉ không chịu tác động bởi các bên có liên quan về lợi ích; có hiệu quả về chi phí; minh bạch; công bằng với các nước đang phát triển [5]
Tính đến năm 2008 đã có 940 chứng chỉ rừng từ 81 quốc gia với hơn 102 triệu ha rừng [nguồn WWF] Tuy nhiên diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC chủ yếu là ở Châu Âu và Bắc Mỹ và đang có xu thế mở rộng ở Châu Á, Châu Phi và Châu Úc
Hội đồng chứng nhận gỗ Malaysia (MTCS), sử dụng phương pháp theo từng giai đoạn khi ngày càng nhiều thách thức lớn trong quản lý các khu rừng nhiệt đới phức tạp Ban đầu, tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá các đơn vị quản lý rừng chi các mục tiêu chứng chỉ, các tiêu chí, các hoạt động và các tiêu chuẩn phục vụ cho chứng chỉ quản lý rừng, dựa theo tiêu chuẩn của ITTO năm 1998 và những tiêu chí của quản lý rừng bền vững Cuối năm 2005 MTCS sử dụng tiêu chuẩn của Malaysia và các tiêu chí cho chứng chỉ quản lý rừng bao gồm 9 quy tắc, 47 tiêu chuẩn và 6 tiêu chí MTCS có 10 thành viên, chỉ hoạt động trong phạm vi lãnh thổ Malaysia với diện tích rừng được chứng nhận là 4,8 triệu ha
Tổ chức Lembaga Ekolanbel Indonesia (LEI) được thành lập năm 1994 là một tổ chức không được chính thức công nhận bởi FSC vì LEI không phải là cơ quan cấp chứng chỉ, song LEI là một cơ quan thừa nhận một cách chính thức các cơ quan cấp chứng chỉ ở Indonesia Hiện nay đơn vị này đã cung cấp 5 chứng chỉ đối với 885.000 ha rừng tự nhiên và 1 chứng chỉ đối với 159.000 ha rừng trồng.[7]
Ở trong nước
1.2.1 Nhận thức về phát triển bền vững và QLRBV
Khái niệm “bền vững” được thế giới sử dụng từ những năm đầu thế kỷ 18 là tiền đề cho QLRBV sau này, thì đến mãi cuối thế kỷ 20 Việt Nam mới dùng khái niệm “điều chế rừng” để quản lý, kinh doanh lâm nghiệp Đến nay, khái niệm này vẫn được coi là công cụ truyền thống để quản lý rừng theo những quy định trong Thông tư số 35/2011/TT-BNNPTNT ngày 20/5/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & PTNT Hướng dẫn thực hiện khai thác, tận thu gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Tháng 2/1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng 3 tổ chức quốc tế phát động 1 phong trào QLRBV và CCR rộng rãi trong cả nước, thông qua hội thảo quốc gia ngày 10-12/02/1998 tại Thành phố Hồ Chí Minh Tổ Công tác Quốc gia về chứng chỉ FSC ở Việt Nam (NWG) đã được thành lập gồm 12 thành viên thực hiện chương trình hành động, đồng thời xây dựng tổ chức để hoạt động lâu dài trong hệ thống thành viên của FSC nhằm thúc đẩy tiến trình QLRBV và CCR tại Việt Nam Ban đầu NWG trực thuộc Cục lâm nghiệp thuộc Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Từ năm 2001, theo quy chế của FSC, NWG trở thành một tổ chức độc lập, phi chính phủ, phi lợi nhuận thuộc Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (nay là Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng)
1.2.2 Các hoạt động chủ yếu của NWG
- Dựa trên cơ sở 10 tiêu chuẩn và 56 tiêu chí của FSC, hoàn thành dự thảo tiêu chuẩn quốc gia với 160 chỉ số phản ánh các đặc thù của Việt Nam, song vẫn đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng của FSC Đây là dự thảo lần 9 đã lấy ý kiến nhiều chủ rừng, các cơ quan tổ chức liên quan, đã 2 lần mời chuyên gia FSC sang dự hội thảo góp ý Đang chờ ý kiến FSC thẩm định
- Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho chủ rừng, các bên liên quan và cộng đồng dân cứ sống trong rừng, gần rừng
- Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, năng lực hoạt động cho chuyên gia Viện QLRBV và cán bộ lâm nghiệp
- Đánh giá chất lượng quản lý rừng khu rừng
- Tổ chức mạng lưới các mô hình QLRBV tự nguyện
Năm 2001, Chiến lược lâm nghiệp quốc gia (NFS) giai đoạn 2001-2010 đã xác định quản lý và phát triển rừng theo hướng bền vững là hướng đi chủ chốt Vào đầu năm 2007, Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020 đã được ban hành, trong đó quy định theo hướng phát triển rừng quốc gia với năm chương trình lớn Một lần nữa QLRBV là một trong ba chương trình trọng điểm của chiến lược với mục tiêu 30% (8,4 triệu ha) diện tích rừng trồng sản xuất đến năm 2020 được cấp chứng chỉ
Như vậy, các vấn đề về QLRBV là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Điều này được thể hiện trong các văn bản pháp quy dưới đây:
+ Luật Đất đai, năm 2003 quy định: Việc sử dụng đất phải tôn trọng các nguyên tắc sau đây: Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh (Điều 11)
+ Luật Bảo vệ và phát triển rừng, năm 2004 [9] Điều 9 đã quy định các hoạt động để đảm bảo QLRBV: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo
PTBV về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển KTXH, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân theo quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định
+ Luật Bảo vệ môi trường, năm 2005; trong Chương IV: Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, có 7 điều (từ Điều 28 đến Điều 34) đã đưa ra những quy định liên quan tới QLRBV thuộc các lĩnh vực: điều tra, đánh giá, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học; bảo vệ và phát triển cảnh quan thiên nhiên; bảo vệ môi trường trong khảo sát, thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên; phát triển năng lượng sạch
+ Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006-2020, có một Chương trình ưu tiên phát triển được đặt lên hàng đầu là “Chương trình quản lý và phát triển rừng bền vững” với mục tiêu “đến năm 2020, thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu hecta đất qui hoạch cho Lâm nghiệp ” Đây là một mục tiêu đầy tham vọng và để đạt được mục tiêu này cần thiết phải xác lập được những định hướng mới trong phát triển nguồn lực trong QLRBV thông qua các chương trình đào tạo, hợp tác và nghiên cứu 5 chương trình trọng điểm của Chiến lược là:
(1) Quản lý và phát triển rừng bền vững (QLRBV)
(2) Bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH và phát triển dịch vụ môi trường
(3) Chế biến thương mại lâm sản
(4) Nghiên cứu, giáo dục đào tạo và khuyến lâm
(5) Đổi mới thể chế chính sách, kế hoạch, giám sát ngành
+ Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 trong đó mục tiêu bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, sử dụng tài nguyên rừng và quỹ đất được quy hoạch cho lâm nghiệp có hiệu quả và bền vững; triển khai kế hoạch Đề án cấp giấy chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế
+ Văn bản số 778/TCLN-SDR ngày 13/6/2012 của Tổng cục Lâm nghiệp về việc Hướng dẫn xây dựng Phương án Quản lý rừng bền vững
1.2.3 Một số hoạt động QLRBV
- Tuyên truyền tập huấn đào tạo về QLRBV do NWG thực hiện với sự hỗ trợ
Quỹ rừng nhiệt đới (TFT), Dự án cải cách hành chính của GTZ, WWG Đông Dương tại các hội nghị, hội thảo quốc gia, vùng, tỉnh
- Xây dựng kế hoạch chiến lược và các hoạt động QLRBV thể hiện trong Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010
- Xây dựng lộ trình thực hiện QLRBV theo hai giai đoạn 2006-2010 và sau năm 2010
- Xây dựng các điều kiện QLRBV và CCR với các hoạt động trong giai đoạn 2006-2010 gồm: tiếp tục dự án 661; rà soát và quy hoạch lại 3 loại rừng; quy hoạch sử dụng đất vĩ mô
Dựa trên thực tiễn, NWG tiến hành các khảo sát nhằm xem xét tính khả thi của bộ tiêu chuẩn quốc gia đang dự thảo, đồng thời đánh giá trình độ quản lý của các đơn vị Hiện nay một số chương trình dự án về CCR đã và đang được thực hiện:
+ Dự án điều tra xây dựng kế hoạch QLRBV tại huyện Kon-Plong (Kontum) 2000- 2002 do JICA tài trợ
+ Dự án hỗ trợ lâm trường Hà Nừng, Lâm trường Sơ pai (Gia Lai) do WWF Đông Dương tài trợ
+ Chương trình lâm nghiệp của GTZ, hợp phần QLRBV đang hỗ trợ 5 lâm trường quốc doanh quản lý rừng tự nhiên là Ma-Drak và Nam Nung (Đắc Lắk) đã mở rộng ra 3 lâm trường khác tại Quảng Bình, Ninh Thuận, Yên Bái từ 2007-2009.
+ Kế hoạch hỗ trợ CCR và tiếp thị của TFT tại Việt Nam không công bố thành một chương trình mà chỉ hỗ trợ từng phần và cho từng đơn vị quản lý rừng như tại Lâm trường Trường Sơn (Long Đại, Quảng Bình), Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương sơn (Hà Tĩnh), hành lang vùng đệm 2 VQG Kông Ka Kinh và Kông Cha Răng
Thảo luận
Ở Việt Nam, khi chuyển đổi các phương thức quản lý thông thường sang phương thức QLRBV đòi hỏi sẽ phải thay đổi một loạt khuôn khổ chính sách ở cấp trung ương; thái độ, quan điểm và sự đồng thuận của các sơ sở sản xuất kinh doanh lâm nghiệp và ngay cả người dân địa phương Tính phức tạp không chỉ thể hiện trên khía cạnh chính sách, công nghệ mà còn về sinh thái, kinh tế, xã hội, đặc biệt là nhận thức về CCR Việc xác định các tiêu chuẩn QLRBV cho mỗi hệ sinh thái của Việt Nam gặp khó khăn do tính đa dạng phức tạp của nó Các lợi ích từ quản lý và bảo vệ rừng chưa hấp dẫn người dân sống trong vùng rừng nên sự tham gia của họ còn rất hạn chế Nguồn vốn cho các hoạt động còn thiếu, thiếu cả cơ chế đảm bảo tham gia của các đối tượng hữu quan vào quản lý rừng Chi phí để đạt tiêu chuẩn CCR lại quá cao, cao hơn so với giá bán gỗ đã được cấp chứng chỉ
Nhưng cần nhìn vào lợi ích trong tương lai, QLRBV là xu thế tất yếu đối với đơn vị kinh doanh lâm nghiệp Kinh nghiệm của Công ty TNHH rừng trồng Quy Nhơn cho thấy có việc được chứng nhận FSC, khi có chứng nhận FSC thì việc kinh doanh của ho ̣ đã có thêm nhiều thuận lợi, đă ̣c biê ̣t là được khách hàng chú ý nhiều hơn Chứng chỉ rừng không chỉ làm thay đổi giá trị của hàng hoá đem lợi ích đến không chỉ cho doanh nghiệp chế biến lâm sản mà cả những đơn vị trồng rừng cũng được hưởng nhiều quyền lợi khi có được chứng nhận này Những khó khăn trở ngại nêu trở thành những thách thức đối với các nhà lâm nghiệp trong quá trình chuyển đổi quản lý rừng theo hướng bền vững mà trong đó nghiên cứu để tìm tòi một phương pháp lập kế hoạch QLRBV là bước ban đầu rất quan trọng Kết luận tại Hội nghị bảo vệ rừng khu vực Tây Nguyên và Miền Đông Nam Bộ ngày 20/10/2011 tại Đăk Lăk, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát chỉ đạo
“Việc khai thác rừng tự nhiên phải trên cơ sở có phương án quản lý rừng bền vững được duyệt; những đơn vị khác tạm thời không cấp phép khai thác chính đến khi có phương án quản lý rừng bền vững được duyệt”
Lập kế hoạch quản lý rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững phải căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng vận dụng các tiêu chuẩn này cho các đơn vị cần linh hoạt, theo điều kiện thực tế đang có Mục tiêu của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Lâm là quản lý sử dụng tài nguyên rừng bền vững Nhưng cho đến nay Công ty chưa có đánh giá nào về quản lý rừng của mình theo bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC, cũng như chưa có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá, lập kế hoạch nào của các chuyên gia Đề tài “Lập kế hoạch quản lý rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững cho Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Lâm, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng" nhằm hỗ trợ Công ty tiếp cận với phương thức quản lý rừng tiên tiến của thế giới.
Nội dung nghiên cứu
Hỗ trợ Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng lập Kế hoạch quản lý rừng theo tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Hội đồng quản trị rừng thế giới (FSC)
- Xác định được các lỗi chưa tuân thủ trong quản lý rừng của Công ty và đề ra các giải pháp khắc phục
- Xác định được các lỗi chưa tuân thủ trong quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục
- Lập được KHQLR bền vững cho Công ty trong giai đoạn 1 chu kỳ kinh doanh (30 năm)
2.2.1 Đánh giá QLR theo tiêu chuẩn QLRBV của Việt nam (TC 9C)
- Đánh giá QLR theo 10 tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam
- Xác đi ̣nh các lỗi chưa tuân thủ trong quản lý rừng và đề ra các giải pháp khắc phục các lỗi
2.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo hướng dẫn của VN
- Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm theo 9 yêu cầu của Việt Nam
- Xác đi ̣nh các lỗi chưa tuân thủ trong quản lý chuỗi hành trình sản phẩm và đề ra các giải pháp khắc phục các lỗi
2.2.3 Đánh giá điều kiê ̣n cơ bản và tình hình QLR của Công ty
2.2.3.1 Đá nh giá các điều kiện cơ bản
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và đánh giá thuận lợi khó khăn của các điều kiện cơ bản ảnh hưởng đến quản lý rừng của Công ty
- Đánh giá tình hình quản lý rừng của Công ty và bài học kinh nghiệm
2.2.3.2 Lập kế hoạch quản lý rừng
1) Căn cứ lập kế hoạch
- Chức năng, nhiệm vụ do UBND tỉnh Lâm Đồng giao cho Công ty
- Yếu tố thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Bảo Lâm
- Kết quả phân tích, đánh giá điều kiện cơ bản của Công ty
2) Xá c đi ̣nh mục tiêu quản lý rừng
3) Bố trí sử dụng đất đai
4) Kế hoạch quản lý rừng
- Kế hoạch khai thác rừng
- Kế hoạch vận chuyển, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
- Kế hoạch trồng rừng, chăm sóc rừng
- Kế hoạch bảo vệ đa dạng sinh học
- Kế hoa ̣ch giảm thiểu tác đô ̣ng môi trường
- Kế hoa ̣ch giảm thiểu tác đô ̣ng xã hô ̣i
- Kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng
- Kế hoạch nguồn nhân lực
- Kế hoạch giám sát, đánh giá
- Kế hoạch vốn và huy động nguồn vốn
5) Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng.
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Quan điểm, phương pháp luận nghiên cứu
- QLRBV là một phương thức quản lý rừng tiên tiến, CCR là kết quả của QLRBV;
- Việc đánh giá quản lý rừng cần căn cứ vào các tiêu chuẩn QLRBV, nhưng có vâ ̣n du ̣ng vào điều kiê ̣n thực tế;
- Công ty tự đánh giá có sự tư vấn hỗ trợ và chuyển giao kỹ năng đánh giá của chuyên gia Từ kết quả đánh giá đó, Công ty phải thay đổi theo phương thức quản lý tiên tiến;
- Kế hoạch quản lý rừng lập ra sau này do chính Công ty thực hiện nên cần lập KHQLR theo phương pháp có sự tham gia;
- Kế hoạch quản lý rừng sẽ do Công ty đứng ra tổ chức thực hiện, giám sát và đánh giá
2.3.2 Ca ́ c phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.3.2.1 Đánh giá tình hình quản lý rừng
- Phạm vi đánh giá: đánh giá toàn diện công tác quản lý rừng (bao gồm cả hoạt động sản xuất kinh doanh) thông qua 10 tiêu chuẩn
- Tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá: Bộ Tiêu chuẩn QLRBV- FSC Việt nam gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và 160 chỉ số Các tiêu chuẩn được cụ thể hoá bằng các tiêu chí và được thể hiện chi tiết bằng các chỉ số và các nguồn kiểm chứng
1 Tiêu chuẩn 1 - Tuân theo pháp luật và tiêu chuẩn FSC;
2 Tiêu chuẩn 2 - Quyền và trách nhiệm sử dụng đất;
3 Tiêu chuẩn 3 - Quyền của người dân sở tại;
4 Tiêu chuẩn 4 - Quan hệ cộng đồng và quyền của công nhân;
5 Tiêu chuẩn 5 - Những lợi ích từ rừng;
6 Tiêu chuẩn 6 - Tác động môi trường;
7 Tiêu chuẩn 7 - Kế hoạch quản lý;
8 Tiêu chuẩn 8 - Giám sát, đánh giá;
9 Tiêu chuẩn 9 - Duy trì những khu rừng có giá trị bảo tồn cao;
Phương pháp đánh giá quản lý rừng thông qua ba kênh thông tin: đánh giá trong phòng, đánh giá ngoài hiện trường và tham vấn
- Thu thập các thông tin về các yếu tố tác động đến quản lý rừng
Quy trình đánh giá quản lý rừng tại Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Bảo Lâm tổng hợp như sau
Sơ đồ 01: Quy trình đánh giá QLR tại Công ty
Các bước cụ thể để đánh giá QLR
Bước 1: Lập kế hoạch đánh giá nội bộ ban đầu
Tổ chức cuộc họp nội bộ nhằm mục đích nắm bắt khái quát quá trình đánh giá; lên thời gian biểu và phân công nhiệm vụ các nhóm đánh giá; lập danh sách tổ chức cá nhân cần tham vấn; câu hỏi phỏng vấn; lịch phỏng vấn, đồng thời tiến hành lập danh sách hiện trường
- Mời những người có liên quan đến công tác quản lý rừng cung cấp thông tin và trả lời các câu hỏi có liên quan do họ phụ trách
- Tìm hiểu các văn bản, tài liệu, sổ sách có liên quan đến quản lý rừng, sản xuất kinh doanh và so sánh đối chiếu các văn bản, tài liệu với yêu cầu của bộ Tiêu chuẩn của FSC
Bước 2: Đánh giá trong phòng
- Mời những người có liên quan đến công tác quản lý rừng cung cấp thông tin và trả lời các câu hỏi có liên quan do họ phụ trách
- Tìm hiểu các văn bản, tài liệu, sổ sách có liên quan đến quản lý rừng, sản xuất kinh doanh và so sánh đối chiếu các văn bản, tài liệu với yêu cầu của bộ Tiêu chuẩn FSC của Smartwood
Bước 3: Tham vấn các bên liên quan
Sử dụng các câu hỏi đã được lập sẵn xoay quanh các vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ rừng theo các tiêu chuẩn QLRBV của FSC, chuỗi hành trình sản phẩm để tham vấn các đối tượng sau:
- Nhóm môi trường: Phòng tài nguyên môi trường, các tổ chức bảo tồn
- Cơ quan Nhà nước: Hạt kiểm lâm huyện, Tài chính, Thuế, UBND xã, các phòng ban chức năng của Công ty
- Cộng đồng: dân cư sống quanh công ty, những hộ được giao đất lâm nghiệp liền kề, những hộ có tranh chấp đất đai với đơn vị
Bước 4: Khảo sát hiện trường
Công việc này được tiến hành sau khi đã xem xét các kế hoạch quản lý ban đầu và tham vấn các bên liên quan, không tới hiện trường khi không đủ những thông tin cơ bản về các hoạt động quản lý rừng Các tài liệu cần mang: bản đồ hiện trạng, các bản thiết kế trồng rừng, khai thác, vận chuyển làm cơ sở so sánh Ngoài ra, cần ghi chép đầy đủ các thông tin về địa điểm đến như: vị trí, thực trạng rừng, đặc điểm đặc trưng Các công việc cần thực hiện như sau:
- Kiểm tra, đánh giá những việc thực hiện ngoài hiện trường có đúng như trong kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã cung cấp hay không
- Phỏng vấn công nhân, người nhận khoán, UBND xã, trưởng thôn, người dân địa phương
- Khi họp với cơ quan nhà nước cần bao quát các chủ đề pháp luật; sự tuân thủ của chủ rừng (quy định quản lý đất đai, nộp thuế, BHXH ); danh sách loài quý hiếm địa phương; danh sách hóa chất bị cấm hoặc hạn chế dùng
- Khi họp với các tổ chức môi trường, cộng đồng cần bao quát vấn đề: những khu vực có tranh chấp; các trường hợp có tác động liên quan đến hoạt động của chủ rừng và tổ chức khác; xem xét những loài có nguy cơ bị đe doạ; hóa chất bị cấm; kết quả nghiên cứu hiện tại có tác dụng gì với việc quản lý của chủ rừng
- Câu hỏi đánh giá là những câu hỏi mở, không phải những câu hỏi dẫn dắt
(mớm lời), không thay 180 độ đổi chủ đề khi câu trả lời chưa rõ ràng Khi hỏi cần kiên nhẫn và đưa cùng một câu hỏi cho nhiều người khác nhau (thu được ý kiến đa chiều cho cùng một sự việc)
Bước 5: Cho điểm các nguyên tắc Đánh giá kết quả sơ bộ cho mỗi nguyên tắc (chấm điểm, cung cấp bằng chứng) Định ra điểm số ban đầu cho các tiêu chí đánh giá, ngay trong quá trình thảo luận tại thực địa Điểm được tổng hợp theo qui trình như sau: Điểm bằng chứng chỉ số tiêu chí tiêu chuẩn
Mức độ thực hiện Điểm Ghi chú
Hoàn chỉnh 8,6 - 10 Việc thực thi rõ ràng, nổi bật
Khá 7,1 - 8,6 Việc thực thi có triển vọng
Trung bình 5,6 - 7,0 Việc thực thi đúng
Kém 4,1 - 5,5 Thực thi yếu, cần cải thiện
Rất kém < 4,1 Thực thi yếu kém, không có triển vọng, không có thông tin
- Cho điểm đánh giá trong phòng: với các tiêu chí liên quan tới thu thập, lưu trữ các tài liệu, văn bản pháp luật; văn bản cam kết; bản đồ; các loại hợp đồng chiến lược phát triển; kế hoạch quản lý; các báo cáo; danh mục; quy ước
- Cho điểm đánh giá ngoài hiện trường: với các tiêu chí cần kiểm tra việc thực hiện có đúng với kế hoạch, quy trình hướng dẫn và báo cáo đã nêu trước đó hay không
- Cho điểm tham vấn: với các tiêu chí cần ý kiến của các bên liên quan với chủ rừng để kiểm tra tình hình quản lý của chủ rừng như thế nào; kiểm tra mối liên hệ giữa chủ thể và chủ rừng, mối quan tâm của chủ thể và những hoạt động quản lý của chủ rừng và chủ rừng đã lý giải như thế nào để giải quyết tranh chấp hoặc làm rõ những mối liên hệ
Người đánh giá sử dụng Phiếu đánh giá tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số QLRBV của Việt Nam để đánh giá và cho điểm
Phiếu đánh gía tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số quản lý rừng bền vững tại Công ty TNHH MTV viên Lâm nghiệp Bảo Lâm
Họ tên người đánh gía: Ngày tháng năm 2012
Tiêu chí Chỉ số Nguồn kiểm chứng
Thực hiện Điểm số Nhận xét
1.1.1 Chủ rừng lưu giữ các văn bản pháp luật, những quy định của chính quyền và cộng đồng địa phương có liên quan đến quản lý rừng
Cột (1): Ghi số hiệu tiêu chí (trong bảng tiêu chuẩn)
Cột (2): Ghi số hiệu chỉ số (trong bảng tiêu chuẩn)
Cột (3): Ghi các nguồn kiểm chứng
Cột (4) mô tả việc thực hiện chỉ số: đã thực hiện/chưa thực hiện như thế nào Cột (5) (6) (7) là điểm số đánh giá trong phòng, hiện trường, tham vấn
Cột (8) là điểm trung bình
Cột (9) mô tả nguyên nhân lỗi không tuân thủ, khả năng khắc phục
Thảo luận những tiền đề, điều kiện và khuyến nghi liên quan đến điểm
+ Điều kiện tiền đề: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng cần có trước khi chứng chỉ được cấp
+ Điều kiện hiện tại: là những cải thiện bắt buộc mà chủ rừng phải thực hiện đầy đủ theo lịch cụ thể trong suốt quá trình cấp chứng chỉ trong 5 năm
+ Khuyến nghị: những cải thiện do nhóm đánh giá gợi ý, mà không bắt buộc hoặc yêu cầu
Bước 6: Xác định các lỗi chưa tuân thủ
- Kết luận những nội dung của từng tiêu chuẩn nào chưa làm được, hoặc còn yếu kém và đưa ra khuyến nghị khắc phục
Lỗi lớn: điểm trung bình tiêu chuẩn < 5,6 các tiêu chí ít được thực hiện
Lỗi nhỏ: hầu hết các tiêu chí của tiêu chuẩn được thực hiện
Kết quả tổng hợp khiếm khuyết và khuyến nghị khắc phục
Họ tên người tổng hợp:
Chỉ tiêu Chỉ số Lỗi
Bằng chứng Giải pháp khắc phục
Bước 7: Viết báo cáo đánh giá
2.3.2.2 Đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm CoC
Phương pháp đánh giá và hệ thông cho điểm của đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm tương tự với phương pháp đánh giá quản lý rừng
Phiếu đánh giá chuỗi hành trình sản phẩm tại Công ty TNHH MTV viên Lâm nghiệp Bảo Lâm
Họ tên người đánh gía: Ngày tháng năm 2012
Thực hiện Điểm số Nhận
TP HT TV TB xét
2.3.2.3 Lập kế hoạch quản lý rừng