Knowles 1999, nghiên cứu về cấu trúc và tổ thành các khu rừng từ 9 – 13 tuổi hình thành trên đất mỏ sau khai thác bauxite ở Trombetas- Brazil với các kỹ thuật phục hồi rừng khác nhau trê
Trang 1LƯU THẾ TRUNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT
SỐ LOÀI CÂY LÂM NGHIỆP TRÊN CÁC LOẠI ĐẤT
MỎ SAU KHAI THÁC BAUXITE TẠI LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
Hà Nội, 2013
Trang 2LƯU THẾ TRUNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA MỘT
SỐ LOÀI CÂY LÂM NGHIỆP TRÊN CÁC LOẠI ĐẤT
MỎ SAU KHAI THÁC BAUXITE TẠI LÂM ĐỒNG
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Khai thác bauxite ở Tây Nguyên hiện đang là vấn đề có tính thời sự và rất nhạy cảm được dư luận và xã hội quan tâm Đã có nhiều nghi vấn về hiệu quả kinh tế xã hội, cảnh báo về công nghệ, đặc biệt là các cân nhắc về hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên
Tại Lâm Đồng, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam
đã triển khai Dự án Tổ hợp Bauxite – Alumina Lâm Đồng tại huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng với công suất 0,65 triệu tấn Alumina/năm và đi vào hoạt động cuối năm 2010 Để bảo đảm hoạt động theo công suất thiết kế, mỗi năm
dự án cần khai thác mỏ với diện tích từ 50 – 60 ha; và trong thời gian hoạt động 30 năm, tổng diện tích mỏ cần cho khai thác phục vụ cho dự án này là trên 1.500 ha Bên cạnh đó, Mỏ Bauxite Bảo Lộc thuộc Công ty Hóa chất cơ bản Miền Nam đã triển khai các hoạt động khai thác và tuyển quặng bauxite tại thành phố Bảo Lộc, khai thác 220.000 tấn quặng bauxite nguyên khai/năm (tương đương 100.000 tấn quặng tinh/năm), trên diện tích vùng mỏ được cấp
là 123,5 ha, diện tích khai thác hàng năm 05 ha
Theo quy định của pháp luật, việc phục hồi môi trường, môi sinh và đất đai phải thực hiện sau khi kết thúc từng giai đoạn hoặc toàn bộ hoạt động khoáng sản Hoạt động cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản phải đảm bảo đưa môi trường tự nhiên như đất, nước, thảm thực vật, cảnh quan của toàn bộ hay từng phần khu vực mỏ sau khai thác đạt các yêu cầu theo quy định
Thủ tướng Chính phủ có QĐ số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007 phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxte giai đoạn 2007 – 2015, tầm nhìn đến 2025, theo đó hoạt động khai thác bauxite “phải phù hợp với quy hoạch phát triển công nghiệp Việt Nam,
Trang 4quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương và quy hoạch phát triển mạng hạ tầng cơ sở liên quan (giao thông vận tải, cảng biển, điện ) Đảm bảo thăm dò, khai thác và chế biến tài nguyên bauxite tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái, kết hợp việc phát triển kinh tế xã hội với việc bảo vệ an ninh quốc phòng tại các địa bàn có khoáng sản bauxite, đặc biệt là khu vực Tây Nguyên”
Trong quá trình khai thác và chế biến quặng bauxite có tác động không nhỏ đến môi trường đất và thảm thực vật, gây ra ô nhiễm do các dạng chất thải khác nhau Đất mỏ sau khai thác bauxite có sự thay đổi về cấu trúc vật lý, tính chất hóa học, so với đất nguyên trạng trước khi khai thác mỏ Do vậy sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài cây trồng nhằm hoàn phục môi trường, phục hồi thảm thực vật trên các loại đất này
Xuất phát từ những yêu cầu và thực tế trên, việc tiến hành đề tài:
“Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây lâm nghiệp trên các loại đất mỏ sau khai thác Bauxite tại Lâm Đồng” là cần thiết và có ý nghĩa
khoa học
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐẾ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Phân bố và khai thác bauxite trên thế giới
Các nước trên thế giới có trữ lượng bauxite lớn hơn 1 tỷ tấn gồm: Guinea (8,6 tỷ tấn), Australia (7,9), Việt Nam (5,5), Jamaica (2,5), Brazil (2,5), Trung Quốc (2,3), Ấn Độ (1,4) Ngoài ra còn một số nước khác có trữ lượng bauxite nhỏ hơn như Guyana, Hy lạp, Nga, Suriname… Trong năm
2006, thế giới khai thác khoảng 184 triệu tấn quặng bauxite; trong đó riêng 14
mỏ có khối lượng khai thác lớn đã khai thác khoảng 122 triệu tấn, chiếm tỉ lệ 66% sản lượng khai thác toàn thế giới Hầu hết, bauxite được khai thác ở Australia chiếm 54%, kế đến là Nam Mỹ 19%, châu Phi 16%, vùng biển Caribê 7%, và châu Á chỉ chiếm khoảng 4% (Cục Thống kê kim loại thế giới, 2008)
1.1.2 Hoàn phục môi trường sau khai thác bauxite
Công tác hoàn phục môi trường sau khai thác bauxite ngày càng được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm Theo kết quả khảo sát của Viện Nhôm quốc tế, tiến hành ở 12 nước và trên 23 mỏ (chiếm sản lượng khai thác đến 70% của thế giới) cho thấy có sự gia tăng đáng kể về diện tích mỏ sau khai thác bauxite được hoàn phục, năm 2002 có 83% tổng diện tích mỏ khai thác được phục hồi so với tỷ lệ 79% vào năm 1998 Hầu hết các quốc gia có hoạt động khai thác bauxite như: Australia, Ghana, Venezuela, Jamaica, … đều có luật liên quan đến khai thác khoáng sản và thành lập các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi về công tác khai thác khoáng sản, yêu cầu hoàn phục môi trường sau khai thác khoáng sản nói chung và bauxite nói riêng đều được quy định cụ thể
Trang 6Jamaica đã ban hành luật khai thác mỏ từ năm 1974, quy định các mỏ phải thực hiện chuyển lớp đất mặt sang một bên trước khi tiến hành khai thác
và phải hoàn phục nó trong quá trình hoàn phục môi trường
Gần đây, Trung Quốc đã ra lệnh đóng gần 100 mỏ bauxite vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng Nước này cũng quy định khai thác bauxite chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn
Về phía các doanh nghiệp, ý thức của các đơn vị khai thác mỏ về hoàn phục môi trường sau khai thác bauxite cũng dần được nâng cao Mỏ Porto Trombetas (bang Para, Brazil) đã đầu tư kinh phí trồng lại rừng trên diện tích 1.500ha; từ năm 1979 khoảng 2,7 triệu cây giống của các loài cây bản địa đã được ươm trồng, với mật độ trồng là 2.500 cây/ha
Các công ty khai thác bauxite ở Venezuela, đã triển khai các biện pháp phục hồi môi trường nhằm giảm nhẹ các tác động của khai thác bauxite đến các hoạt động của cộng đồng địa phương gắn với hỗ trợ và phát triển kinh tế cho người dân trong khu vực Các hoạt động khai thác bauxite phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường và mục tiêu xã hội; trong đó yêu cầu phải trồng lại rừng bản địa bị ảnh hưởng của hoạt động khai thác mỏ được đặt lên hàng đầu
1.1.3 Các nghiên cứu trong lĩnh vực trồng rừng
Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Những nghiên cứu về rừng tự nhiên, đặc điểm sinh thái của các loài cây làm cơ sở xây dựng các mô hình trồng rừng gỗ lớn, trồng rừng thuần loài hay trồng hỗn loài trên đất sau khai thác bauxite Trong đó nhu cầu
về ánh sáng của cây trồng được xem là có vai trò quan trọng Từ các kết quả nghiên cứu đã phân các loài cây thành ba nhóm theo nhu cầu ánh sáng, bao gồm: các loài ưa sáng, các loài chịu bóng trong giai đoạn đầu và các loài trung tính
Trang 7Bên cạnh các nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng thuần loài, các nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cũng đã được các nhà khoa học quan tâm Kolesnitsenko (1977) đã đề nghị mật độ cây trồng chính trong mô hình rừng hỗn loài không nên ít hơn 50%, các loài cây hỗ trợ không quá 30 – 40% và các loài cây ức chế khoảng 10 – 20% tổng số cây mô hình
Trong kỹ thuật trồng rừng, Appanah S và Weiland G (1993) qua tổng kết những kinh nghiệm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, đã chỉ ra những sai lầm về việc tăng ồ ạt các diện tích rừng trồng từ các loài cây nhập nội mọc nhanh; và đã hướng dẫn kỹ thuật trồng hơn 40 loài cây tiềm năng trong tài liệu “Planting quality timber trees in Peninsular Malaysia - A review” Nghiên cứu trong lĩnh vực này, còn có công trình “The silviculture
of Mahogany” của Mayhew J.E và Newton AQ.C (1998), trong đó trình bày các kỹ thuật lâm sinh về kinh doanh cây gỗ thương mại có tên Mahogany
(Swietenia macrophylla),
1.1.4 Kỹ thuật hoàn phục môi trường trên đất Bauxite
Tại mỏ khai thác bauxite đầu tiên ở Tây Úc của công ty Alcoa từng là rừng bạch đàn là một điểm nóng về đa dạng sinh học trên thế giới (bắt đầu khai thác từ 1963 đến 2001 đã hoàn nguyên thành công) Vùng mỏ có diện tích 4.090 ha với sản lượng 168 triệu tấn bauxite trong thời gian từ 1963 đến cuối 1998 Trước năm 1988 đã tiến hành phục hồi bằng giống thông và bạch đàn mang từ nơi khác đến và do chuẩn bị đất trồng không tốt nên đã thất bại, cây bị chết do nấm mang từ nơi khác đến và chủ yếu cây chết là từ giống bạch đàn không phải là bản địa, chỉ bạch đàn bản địa mới có khả năng sống sót Sau năm 1988, quá trình phục hồi thành công do cải tiến canh tác và đặc biệt chọn giống có khả năng chống chịu Như vậy vấn đề cần lưu ý khi sử dụng các loài cây trồng để phủ xanh đất hoàn thổ là phải sử dụng các giống cây bản địa, đất đai được chuẩn bị tốt
Trang 8Nghiên cứu của W Tacey và B Glossop (1980) đã xem xét 3 kỹ thuật
xử lý đất sau khai thác quặng bauxite gồm (i) giữ lại thành đống; (ii) hoàn trả trực tiếp toàn bộ lớp đất mặt; (iii) đất được tách thành 2 lớp phát triển tốt hơn nhiều so với 2 kỹ thuật xử lý đất còn lại vì chất dinh dưỡng và các vi sinh vật
có lợi ít bị mất đi Tuy nhiên, công nghệ này đòi hỏi có sự giám sát tách 2 lớp đất trên một cách triệt để mà không phải quốc gia nào cũng có thể thực hiện được
Công ty Nabalco Pty Limited sở hữu mỏ bauxite và nhà máy sản xuất nhôm tại Gove Peninsula (Australia) với công suất 2 triệu tấn/năm Các nghiên cứu của CSIRO tiến hành năm 1993 và 1997 cũng như nghiên cứu của trường Đại học Northern Territory sau đó đã chỉ ra rằng công tác hoàn thổ của Nabalco đã thành công tốt đẹp trong việc tái tạo các khu rừng bằng các giống cây trồng giống như các khu rừng nguyên thủy quanh đó Công việc chọn giống chủ yếu là việc lưu trữ và tái tạo lại các giống có trên khu mỏ trước đó Khi khai thác, công ty đã lưu giữ đất theo từng tầng canh tác và sau khai thác
sử dụng đất được trả lại theo thứ tự và độ dày nguyên thủy trên mặt đất đã biến đổi sau khai thác Vấn đề quan trọng nữa là không để xảy ra cháy rừng trong các khu vực đang hoàn thổ để tránh việc hủy hoại sự tái tạo các thành phần hữu cơ, cản trở hoạt động của vi sinh vật
Nghiên cứu của Sompetch Mungkorndin (1994) về việc tái lập hệ cây trồng trên vùng đất mỏ Maemoh, thuộc tỉnh Lampang của Thái Lan cho thấy với 37 loài thực vật được thử nghiệm, sau 7 năm có đến 84% số lượng cây trồng vẫn còn sống trên vùng đất mỏ này, trong số đó cây Giáng hương trái to
Pterocarpus macrocarpus tỏ ra ưu thế hơn cả và được khuyến cáo dùng để
trồng trên đất hoàn thổ của vùng mỏ này
Qua nghiên cứu cũng đã tiến hành biện pháp kỹ thuật canh tác, trước hết tạo lớp đất màu dày ít nhất 30 cm, cây đều trồng trong bầu to đường kính 30x30x30 cm, bổ sung phân ủ Metropolitan, 100g urê, 200g NPK (15-15-15)
Trang 9và 250 cm3 quặng phốt phát, Sau 7 năm nhận thấy có đến 84% số lượng cây trồng vẫn còn sống trên vùng đất mỏ Maemoh
Năm 1996, một nhóm các nhà khoa học của trường Đại học Western Australia, gồm J.M Koch, S.C Ward, C.D Grant và G.L.Ainsworth đã triển khai nghiên cứu ảnh hưởng của việc đào xới đất trong quá trình khai thác bauxite đến số lượng và chiều sâu phân bố hạt giống lưu trữ ở lớp đất mặt của rừng Jarrah – tây Australia, cho biết sau khi khai thác trắng và đốt dọn thì tỉ lệ hạt giống có khả năng nẩy mầm trong đất chỉ còn 74% so với khu vực chưa bị tác động Trên những vùng đất sau khi hoàn thổ, nếu được cày thì tỉ lệ hạt giống có khả năng nẩy mầm là 53% còn trên đất không được cày tỉ lệ này là 32% Từ các kết quả nghiên cứu trên, các tác giả đã khuyến nghị việc phục hồi thảm thực vật sau khi khai thác bauxite cần gắn liền với việc hoàn thổ sớm nhất và nên áp dụng biện pháp cày xới lớp đất mặt hoàn thổ để tạo điều kiện cho hạt giống cây rừng nẩy mầm thuận lợi
Mỏ bauxite của xí nghiệp Mineracao Rio del Norte (Brazil) đã áp dụng phương pháp hoàn phục cuốn chiếu tại khu mỏ lớn nhất thế giới này Từ khi khởi đầu khai thác mỏ năm 1997 đến năm 2002, xí nghiệp đã trồng lại 17 km2
rừng, có thể đốn mỗi năm 700.000 cây thuộc 100 loài khác nhau trên diện tích này Nhờ thành công này Oliver Henry Knowles đã được ghi trên danh sách
500 người trên thế giới được khen tặng vì thành tựu cho môi trường của Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP)
Lin Gao, Zewei Miao và các cộng sự (1998) đã tiến hành phục hồi đất
và thảm thực vật cho mỏ bauxite Xiaoyi, tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc Các biện pháp kỹ thuật liên hoàn đã được thực hiện, trong đó một số loài cây bụi và cỏ
được chọn trồng gồm: Madicago saticava, Astragalus adsuzgens, Onobrychis vicifolia, Caragana intermedia, Festuca, và Artemisia scoparia Kết quả cho thấy 2 loài thuộc họ đậu là Madicago saticava và Caragana intermedia có
Trang 10sinh trưởng tốt nhất Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng kết hợp các biện pháp bón phân, sử dụng các loại phân đạm và phốt pho, kết hợp bón các vi lượng qua lá như Mo, Zn, …và phân vi sinh sẽ có tác dụng tốt với cây trồng trên đất hoàn thổ sau khai thác bauxite
John A Parrotta, Oliver H Knowles (1999), nghiên cứu về cấu trúc và
tổ thành các khu rừng từ 9 – 13 tuổi hình thành trên đất mỏ sau khai thác bauxite ở Trombetas- Brazil với các kỹ thuật phục hồi rừng khác nhau trên đất rừng nguyên trạng và trên đất hoàn thổ, Các kỹ thuật phục hồi bao gồm: lợi dụng tái sinh tự nhiên, trồng hỗn giao các loài cây gỗ có giá trị kinh tế, trồng thuần loài và trồng hỗn giao các loài cây bản địa với hơn 70 loài Kết quả nghiên cứu cho thấy các loài cây bản địa trồng hỗn giao có triển vọng hơn cả
J.M Koch và S.C Ward (1999 – 2005) nghiên cứu sinh trưởng của loài
Eucalyptus marginata được trồng nhằm hoàn phục các mỏ sau khai thác
bauxite ở miền Tây Nam Australia đã đề nghị mật độ trồng hợp lý là 1.300 cây/ha
Trung tâm Hoàn nguyên đất khai thác mỏ, Đại học Queensland (2001)
thử nghiệm giống cây bạch đàn E tetrodonta ở Weipa (là một trong những
khu vực khai thác mỏ lộ thiên của Australia) do đã xác định việc trồng một số giống cây gỗ và cây bụi nhằm phục hồi đất sau khai thác bauxite đôi khi thất bại do sụt giảm hàm lượng hữu cơ tầng mặt Sau 5 năm thử nghiệm,
E.tetrodonta tỏ ra có khả năng tồn tại trên đất sau khai thác mỏ bauxite
Nghiên cứu của Achim Steiner, Paul Mitchell (2003) tại 2 mỏ bauxite Willowdalt và Huntly, vùng Darling Rang, phía Tây Nam Australia thuộc tập đoàn khai thác nhôm Alcoa đã tiến hành tái thiết rừng tự nhiên bằng giống bạch đàn (giống cây rừng ban đầu bị chặt để khai thác bauxite) Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các quá trình của hệ sinh thái đã được tái thiết phục hồi một phần trong tổng số 550 ha đã được khai thác và hoàn nguyên Các cây
Trang 11được chọn như cây thông tỏ rõ khả năng phát triển trên đất sau khai thác mỏ bauxite
Từ năm 2003 – 2006 nhóm tác giả R Luque M., M Lisena và O Luque M Đã nghiên cứu nhằm phục hồi môi trường mỏ bauxite ở Los
Pijiguaos (bang Bolivar, Venezuela), loài cỏ Vetiver (Vetiveria zizanioides)
được sử dụng kết hợp với các rào cản tạm thời như túi cát, hàng đá hoặc hàng rào gỗ, kết quả nghiên cứu đã đạt được mục tiêu bảo vệ đất chống xói mòn tốt
ở những nơi đất dốc Ngoài ra, khi nghiên cứu sinh trưởng của cỏ Vetiver được trồng từ 26 - 36 tháng trên các đất mỏ bauxite cho thấy chúng có khả năng hấp thu các kim loại nặng trong đó có nhôm
Jorg H, Schafer (2006) đã hoàn nguyên đất sau khai thác bauxite ở Jamaica, đây là một điển hình thành công vì đã cải tạo đất khu mỏ thành đất nông nghiệp và đất dùng cho chăn nuôi Chính phủ Jamaica và công ty khai thác khoáng sản mất 7 năm để biến bãi khai thác thành đất mới được hoàn nguyên hoàn chỉnh vì thực sự đất có bề mặt bị hủy bỏ trong quá trình khai thác quặng Các giống được thử nghiệm là các loại rau, một phần diện tích được trồng cỏ để che phủ đất chống thoái hóa và phục vụ chăn nuôi
Ở Brazil khi tiến hành hoạt động khai thác bauxite luôn được đặt ra mục tiêu hoàn phục môi trường sau khai thác mỏ bauxite nhằm khôi phục các điều kiện tương ứng trước khi khai thác, việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật
để xây dựng một hệ sinh thái tự duy trì bao gồm các loài động thực vật bản địa kết hợp với các phương thức sử dụng đất bảo đảm lợi ích của cộng đồng địa phương đã được triển khai Sau khi hoàn phục môi trường, diện tích rừng cây gỗ bản địa tăng lên đến 60% (Viện Nhôm quốc tế, 2008)
Ronan Courtney, George Mullen và Tom Harrington (2009) nghiên cứu phục hồi thảm thực vật trên các bãi thải sau khai thác bauxite ở vùng Limeric
- Tây Nam Ireland, từ 6 loài: Agrostis stolonifera, Fescue longifolia, Holcus
Trang 12lanatus, Lolium perenne, Trifolium repens, và Trifolium pratense trong tổng
số 47 loài được trồng từ năm 1997 – 2005 Kết quả cho thấy các loài này có
khả năng sinh trưởng tốt trên các bãi thải, trong đó Holcus lanatus và Trifolium pratense có sinh trưởng vượt trội nhất Việc áp dụng biện pháp bón
phân, khi bổ sung thạch cao sẽ có tác dụng tích cực đối với lý hóa tính lớp đất mặt (làm giảm hàm lượng Mn trong đất) và tăng khả năng sinh trưởng của cây trồng
1.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.1 Phân bố bauxite tại Việt Nam
Qua các kết quả thăm dò và nghiên cứu cho thấy ở Việt Nam có trữ lượng bauxite ước tính vào khoảng 5,5 tỉ tấn, trong số đó có khoảng 2,1 tỉ tấn
có thể khai thác được, đứng thứ ba trên thế giới sau Guinea (8,6/7,4 tỉ tấn) và Australia (7,9/5,8 tỉ tấn)
Xét về nguồn gốc quặng bauxite ở Việt Nam thuộc 2 loại chính:
- Bauxite nguồn gốc trầm tích (diaspore) nằm trên mặt bào mòn của đá vôi
cổ, tập trung ở các tỉnh miền Bắc như Hà Giang (0,5%), Cao Bằng (1,8%), Lạng Sơn (1,4%), giống như bauxite ở Vân Nam (Trung Quốc) Mỏ bauxite có quy mô nhỏ, trữ lượng ít, phân bố phân tán, không thuận lợi cho
khai thác, chế biến tập trung
- Bauxite nguồn gốc phong hoá laterite từ đá bazan (gibbsite) tập trung ở các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên như Kon Tum – Gia Lai (11%), Ðắk Nông (61%), Lâm đồng (20%), Bình Phước (4,6%), và Quảng Ngãi - Phú Yên
(0,2%), giống như ở các nước Châu Phi
Qua các số liệu nghiên cứu trên cho thấy quặng bauxite phân bố tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên Quặng bauxite ở Tây Nguyên thuộc loại thảm nằm trên sườn hay trên đỉnh đồi, với chiều dày thay đổi từ 4 đến 6m Bên trên
là lớp đất đỏ bazan có chiều dày đổi từ 0,5 đến 3m, bên dưới là lớp đất sét kaolinite khá dày
Trang 131.2.2 Một số nghiên cứu về hoàn phục môi trường
Ở Việt Nam mặc dù đã có Luật Khoáng sản được ban hành từ năm
1996, trong luật có quy định rõ yêu cầu hoàn phục môi trường sau khai thác khoáng sản Nhưng đến nay, công tác hoàn phục môi trường tại các mỏ sau khai thác khoáng sản cả về lĩnh vực nghiên cứu và triển khai vẫn còn đang ở bước đầu, thiếu các công trình có phạm vi ứng dụng rộng
Các mỏ đã khai thác khoáng sản như: mỏ khai thác than Quảng Ninh, khai thác quặng crômit Thanh Hóa, khai thác mangan Cao Bằng Các bãi thải đất đá hàng trăm triệu mét khối, cao từ 50 đến 200m đang là mối đe dọa
sự cố sụt lở, bồi lấp khi có mưa lũ ở các khu vực khai thác Nguyễn Đức Quý (2000), cho rằng sự phát triển công nghiệp khoáng sản thiếu đồng bộ với biện pháp bảo vệ môi trường trong nhiều năm qua đã để lại những hậu quả suy thoái môi trường của nhiều vùng mỏ đã và sắp ngừng hoạt động Trên 21.000
ha đất nông, lâm nghiệp bị chiếm dụng cho khai thác, sau khi mỏ ngừng hoạt động tiếp tục để hoang hóa
Về chọn loài cây trồng trên các bãi thải sau khai thác than, từ năm 2001- 2006, Đỗ Thị Lâm và các cộng sự đã nghiên cứu tuyển chọn một số loài cây và xây dựng kỹ thuật gây trồng để cố định bãi thải tại các mỏ than
vùng Đông Bắc, kết quả đã xác định được 3 loài: Cốt khí (Tephrosia candida), Sắn dây dại (Pueraria montana Merra) và Bìm bìm (Impomaea mauritana Jacq) có khả năng phủ xanh, hạn chế xói mòn, cải tạo đất; và các
loài cây gỗ có khả năng sống và sinh trưởng trên các bãi thải than gồm: Thông nhựa, Thông Đuôi ngựa, Keo lai, Phi lao và Tràm lá dài
Trong 3 năm (2006 – 2008) Lê Tuấn Lộc đã thực hiện dự án “Sử dụng một số cây phủ đất để tạo thảm thực vật cải tạo môi trường đất đá trên sườn dốc và bãi thải sau khai thác cho mỏ thiếc Sơn Dương, Tuyên Quang” Xây
dựng 3 mô hình thử nghiệm trồng cây che phủ, cải tạo đất:
Trang 14+ Trồng thuần cây cốt khí (Tephrosia candida D.C)
+ Trồng thuần cây đậu mèo Thái Lan (Mucuna spp)
+ Trồng cây cốt khí kết hợp với đậu mèo Sau 1 năm, cây cải tạo đất đã phủ xanh diện tích cải tạo và tính chất đất được cải thiện đáng kể, chất hữu cơ trong đất tăng gần 2 lần, đạm tăng đến 3 lần và kali dễ tiêu tăng gần 5 lần Trên đất sau khi cải tạo, cây ngô đã được chọn trồng và cho sinh trưởng trung bình đáp ứng được yêu cầu lương thực cho người và chăn nuôi
Mai Thế Toản (2007) có nhận xét, về tổng thể, khai thác mỏ lộ thiên gây nhiều tác động xấu tới đất đai, môi trường sinh học và cảnh quan khu vực Tuy nhiên, trong thực tế không ít những trường hợp mà đất đai của vùng
mỏ sau khai thác có giá trị cao hơn nhiều so với giá trị nguyên thuỷ trước khi
mở mỏ, thậm chí còn kéo theo sự gia tăng giá trị của các khu vực lân cận Điều này phụ thuộc vào kỹ thuật khai thác và hoàn phục môi trường phù hợp Theo Hồ Sĩ Giao, Mai Thế Toản (2008), trong trường hợp khai thác bauxite ở Đắc Nông, do các thân quặng được hình thành có chiều dày không lớn, trụ vỉa
là đất đá bazan phong hóa bở rời, dễ cải tạo để phù hợp với điều kiện sinh trưởng của một số loài cây công nghiệp như cao su, hồ tiêu, cà phê,…
Liên quan đến kỹ thuật hoàn thổ, Đinh Xuân Hùng (2009), đã có đề
xuất: để khai thác bauxite đảm bảo phát triển bền vững nên tiến hành điều tra thu thập thông tin đầy đủ về nguồn nước, đất đai, môi trường sinh thái trên khu vực Việc hoàn thổ được thực hiện ngay sau khi hoàn thành khai thác bauxite trên từng ô bằng việc lấp lại lớp đất đá phủ, san phẳng bề mặt, phủ lớp đất màu lên trên và cày xới làm tơi xốp đất Tiếp theo tiến hành trồng cây, phát triển các loài động vật côn trùng tại khu vực đã khai thác Các hoạt động hoàn thổ, phục hồi đất đai và môi trường cần tiến hành song song với công việc khai thác
Trang 15Nguyễn Thanh Sơn (2010), khi nghiên cứu tác động của quá trình khai thác bauxite ở Bảo Lộc - Lâm Đồng đã đề nghị giải pháp phục hồi môi trường đất theo phương pháp cuốn chiếu song song với quá trình khai thác và loài cây đề nghị chọn trồng để cải tạo bùn đỏ và đất pha bùn đỏ là cỏ Vetiver
1.2.3 Nghiên cứu về chọn loài cây trồng
Ở miền Nam, từ năm 1905 Maurand P đã thử nghiệm trồng sao dầu với muồng đen và sử dụng cây đậu chàm làm cây phù trợ để khôi phục rừng
lá rộng hỗn loài bị khai thác kiệt tại Trảng Bom (Đồng Nai) Nhiều công trình nghiên cứu về trồng cây lá rộng bản địa cũng đã được tiến hành từ những năm đầu của thế kỷ 20 tại các Trạm thực nghiệm Trảng Bom, Lang Hanh, Ekmat, Măng Lin, Tân Tạo,
Ở miền Bắc, các Trạm nghiên cứu Lâm nghiệp Cầu Hai (Phú Thọ), Hữu Lũng (Lạng Sơn) thuộc Viện Nghiên cứu Lâm nghiệp cũng đã tiến hành một số nghiên cứu khảo nghiệm cải tạo rừng nghèo kiệt bằng các loài cây lá
rộng bản địa như: Lim xanh (Erythrophleum fordii), Ràng ràng (Ormosia sumata), Vạng (Endospermum chinense), Giẻ đỏ (Lithocarpus ducampii), Trám (Canarium sp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis), v.v
Giai đoạn 1980 – 1990, nhiều đề tài nghiên cứu về cải tạo, làm giàu và khôi phục rừng tự nhiên nghèo theo băng hoặc theo rạch do Phân viện Lâm nghiệp Nam bộ, Trung tâm Lâm nghiệp Đông Nam bộ, Trung tâm Lâm nghiệp nhiệt đới, Trung tâm Thực nghiệm lâm nghiệp Kon Hà Nừng, Tiến
hành, bằng các loài cây Dầu rái (Dipterocarpus alatus), Sao đen (Hopea odorata), Xoan mộc (Toonna surenii), Giổi nhung (Michelia medicris) ở các
địa điểm Hiếu Liêm, Mã Đà (Đồng Nai), Sơ Pay, Kbang (Gia Lai) (Trần Văn Con, 2006)
Trong đề tài nghiên cứu “Đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp Việt Nam” của Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Ngọc Bình (2001), các tác giả đã đề
Trang 16xuất các loài cây trồng rừng chủ yếu cho vùng Tây Nguyên gồm: thông 3 lá, thông nhựa, tếch, các loài thông caribê, keo lá tràm, bạch đàn và keo tai tượng
Về mặt quản lý Nhà nước, Bộ NN&PTNT đã có Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/3/2005 ban hành danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái lâm nghiệp Trong đó, vùng Tây Nguyên có 14 loài cây bao gồm cả các loài cây bản địa và nhập nội như: Dầu rái, Sao đen, Tếch, Xà cừ, Xoan ta, Giổi xanh, Thông 3 lá, Keo lá tràm, Keo
tai tượng, Keo lai (A mangium x A auriculiformis), Thông caribê, Bạch đàn urô (E urophylla S.T Blake), Dó trầm và Bời lời đỏ
Gần đây, từ các kết quả nghiên cứu khoa học liên quan lĩnh vực chọn loài cây trồng được triển khai rộng khắp cả nước, nhiều loài cây bản địa có giá trị kinh tế đã được đề nghị chọn trồng trên các vùng lập địa thích hợp Ở vùng Tây Nguyên có các loài như: Xoan ta, Dầu rái, Sao đen, Giổi xanh, Dó
trầm,… Ở nhiều vùng khác, cây Tràm ta (Melaleuca cajuputi Powell) được
đánh giá là cây bản địa đa sinh thái và đa tác dụng, đã được nhiều tác giả như: Nguyễn Việt Cường, Phạm Đức Tuấn, Nguyễn Xuân Quát (2008), Phạm Thế Dũng (2010) nghiên cứu và đề nghị chọn trồng trên nhiều vùng lập địa khác nhau, kể cả trên các bãi thải than
1.2.4 Về kỹ thuật trồng rừng
Các công trình nghiên cứu về lĩnh vực này rất phong phú, cung cấp nhiều thông tin liên quan đến cơ sở lý luận cũng như các mô hình thành công trong thực tiễn, tạo cơ sở cho việc chọn loài cây trồng phù hợp và xây dựng các mô hình thử nghiệm trên đất bãi thải sau khai thác bauxite
- Phương thức trồng rừng: có các phương thức đã được triển khai như:
Trang 17+ Trồng rừng thuần loài đồng tuổi: là phương thức trồng độc canh một loài duy nhất trên một diện tích nhất định, phương thức này thường áp dụng cho rừng công nghiệp với các loài mọc nhanh như: Thông, Bạch đàn, Keo, Mỡ… + Trồng rừng hỗn loài đồng tuổi: trồng cùng một lúc từ hai đến nhiều loài trên cùng một diện tích Phương pháp hỗn giao có thể theo hàng, theo đám, theo băng + Phương thức trồng rừng dưới tán: phương thức tạo ra rừng nhiều tầng, khác tuổi bằng cách trồng một loài hoặc nhiều loài vào các thời điểm khác nhau
- Biện pháp kỹ thuật trồng rừng: đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan
trong lĩnh vực này, có thể kể đến các công trình tiêu biểu như: Nguyễn Xuân Quát (1990) nghiên cứu xây dựng các biện pháp kỹ thuật trồng rừng cung cấp
gỗ lạng ở Tây Nguyên; Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) nghiên cứu về cây trồng trên các dạng lập địa thích hợp ở Bình Dương, Gia Lai, Quảng Trị; Phạm Thế Dũng (2002 - 2004) về kỹ thuật thâm canh cho một số dòng Keo lai được tuyển chọn trên đất phù sa cổ tại Bình Phước; Nguyễn Huy Sơn (2005) đánh giá và xác định tập đoàn cây trồng rừng trên đất trống đồi trọc ở Bắc Tây Nguyên; Triệu Văn Hùng- Dương Tiến Đức (2007) nghiên cứu các biện pháp thâm canh rừng trồng Keo, Bạch đàn, Thông Caribeae cung cấp gỗ nguyên liệu; Ngoài ra, các nghiên cứu về trồng rừng và phục hồi rừng của
Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế, Phạm Văn Tuấn, và một số tác giả khác đã
được tổng hợp trong tài liệu “Kết quả nghiên cứu về trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên”
Nguyễn Văn Hoàn, Trần Đình Lý và CTV (2010), qua nghiên cứu biến đổi tính chất lý, hóa và vi sinh vật trong đất của một số kiểu thảm thực vật phục hồi tự nhiên ở khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang đã cho biết thời gian phục hồi rừng ảnh hưởng lớn đến tính chất lý hóa và vi sinh vật trong đất, thời gian phục hồi càng dài thì hàm lượng các chất dinh dưỡng,
số lượng vi sinh vật cũng như tính đa dạng của chúng càng cao
Trang 181.3 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Đất mỏ sau khai thác bauxite có sự thay đổi về cấu trúc vật lý, tính chất hóa học… so với đất nguyên trạng trước khi khai thác mỏ Do vậy sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loài cây trồng trên các loại đất này
Mối quan hệ giữa đặc tính sinh lý, sinh thái của cây trồng và lập địa vùng trồng (đặc biệt là nhân tố đất) rất chặt chẽ Để đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng cần tuân thủ nguyên tắc “đất nào cây ấy”
Để hoàn phục môi trường đất, phục hồi thảm thực vật trên những khu
mỏ sau khai thác, các biện pháp kỹ thuật lâm sinh được xem là giải pháp hữu hiệu và ít tốn kém Nhưng đến nay, các nghiên cứu liên quan ở Việt Nam nói chung và Lâm Đồng nói riêng còn thiếu; đặc biệt là các nghiên cứu, đánh giá
nhằm lựa chọn các loài cây phù hợp với vùng lập địa đặc thù này
Trang 19Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
a Mục tiêu tổng quát
Đánh giá khả năng thích nghi thông qua tình hình sinh trưởng của một
số loài cây Lâm nghiệp trồng trên các loại đất mỏ sau khai thác quặng bauxite, góp phần hoàn phục môi trường các vùng mỏ bauxite tại Lâm Đồng
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các loài: Sao đen, Thông 3 lá, Thông Caribea, Keo lai, Keo lá tràm, Bạch đàn, Tràm Úc,…
- Phạm vi nghiên cứu: Các khu vực mỏ Bauxite ở Thành phố Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm – Lâm Đồng
2.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều kiện lập địa vùng trồng thử nghiệm
Trang 20- Khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên đất hoàn thổ bằng lớp đất mặt sau khai thác bauxite;
+ Đất hoàn thổ bằng lớp đất mặt: là loại đất mỏ sau khai thác quặng bauxite được hoàn thổ bằng đất mặt (lớp đất mặt phủ trên thân quặng, đã được gạt riêng qua một bên để bóc quặng bauxite; sau đó được dùng để hoàn thổ)
- Khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên đất hoàn thổ bằng bùn thải có lớp đất mặt sau khai thác bauxite;
+ Đất hoàn thổ bằng bùn thải có lớp đất mặt: là loại đất sau khai thác quặng bauxite được hoàn thổ bằng bùn thải cùng với lớp đất mặt sau công đoạn tuyển quặng bauxite
- Khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên đất sau khai thác bauxite chưa hoàn thổ
+ Đất chưa hoàn thổ: là loại đất sau khai thác hết quặng bauxite được để nguyên không hoàn thổ lại bằng bất cứ loại đất nào sau công đoạn tuyển quặng bauxite
Nội dung 3: Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số loài cây lâm nghiệp trên bùn thải sau tuyển quặng bauxite
- Khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên đất hoàn thổ bằng bùn thải sau
tuyển quặng bauxite;
+ Đất hoàn thổ bằng bùn thải hoàn toàn: là loại đất sau khai thác quặng bauxite được hoàn thổ bằng bùn thải sau công đoạn tuyển quặng bauxite
- Khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên hồ bùn thải sau tuyển quặng bauxite
+ Hồ bùn thải: là loại bùn sau khai thác quặng bauxite được đem đi rửa sạch các loại đất, bùn bám quanh quặng để lấy quặng thô sau công đoạn tuyển quặng bauxite
Trang 21Nội dung 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến một số loài cây lâm nghiệp trên đất thải sau khai thác bauxite tại Bảo Lộc
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu
- Thu thập và kế thừa có chọn lọc các tài liệu và kết quả nghiên cứu có liên quan: + Về đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội, hoạt động khai thác và hoàn phục môi trường sau khai thác mỏ bauxite của khu vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu khác có liên quan;
+ Các kết quả phân tích đặc điểm đất, trên các loại đất trước khai thác, sau khi hoàn thổ và bùn thải sau tuyển quặng;
+ Số liệu đã đo đếm về sinh trưởng một số loài cây trồng lâm nghiệp liên quan đến các khảo nghiệm trên đất mỏ sau khai thác bauxite từ tháng 8/2011 đến 8/2012
2.4.2 Phương pháp thu thập mẫu và phân tích đất
- Địa điểm khảo sát và thu thập mẫu đất: triển khai tại các địa điểm thành
phố Bảo Lộc, Tân Rai – huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng
- Tổng số mẫu đất thu thập: 30 mẫu đất và 02 mẫu bùn thải sau tuyển quặng, trong đó: + Địa điểm thành phố Bảo Lộc: 15 mẫu đất và 02 mẫu bùn thải
+ Địa điểm Tân Rai – huyện Bảo Lâm: 15 mẫu đất
a Địa điểm Bảo Lộc
- Đất vùng mỏ trước khai thác: 01 phẫu diện (3 mẫu)
Trang 22- Đất sau khi khai thác đã được hoàn thổ: hoàn thổ bằng lớp đất mặt và bằng bùn thải sau công đoạn tuyển quặng: 03 phẫu diện (09 mẫu)
- Đất sau khai thác chưa hoàn thổ: 01 phẫu diện (3 mẫu)
- Bùn thải sau công đoạn tuyển quặng: 02 mẫu
Tổng cộng: 15 mẫu đất và 02 mẫu bùn thải (chi tiết ở bảng phụ lục 1)
b Địa điểm Tân Rai – Bảo Lâm
- Do Dự án khai thác mỏ của Công ty đang trong quá trình triển khai, hoạt động tuyển quặng chưa thực hiện tại thời điểm khảo sát và thu thập mẫu, cho nên chỉ tiến hành trên các đối tượng: đất vùng mỏ trước khai thác, đất sau khi khai thác đã được hoàn thổ, đất sau khai thác chưa hoàn thổ (chi tiết
ở bảng phụ lục 2), cụ thể:
+ Đất mỏ bauxite trước khai thác: 03 phẫu diện (9 mẫu)
+ Đất mỏ sau khai thác đã được hoàn thổ bằng lớp đất mặt: 01 phẫu diện (03 mẫu) + Đất mỏ sau khai thác chưa hoàn thổ: 01 phẫu diện (3 mẫu)
- Tổng cộng: 15 mẫu đất
Tại mỗi địa điểm tiến hành khảo sát và trên mỗi loại đất, đào 3 phẫu diện điển hình và thu thập mẫu ở các tầng đất (0 - 30cm, 30 - 60cm và 60 -120cm), mỗi tầng thu 1 mẫu;
Phân tích thành phần cơ giới; các chỉ tiêu đa, trung và vi lượng trong phòng thí nghiệm, theo các phương pháp thử và tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành áp dụng cho phân tích đất
2.4.3 Phương pháp đánh giá sinh trưởng các loài cây trồng
a Đánh giá khả năng sinh trưởng một số loài cây lâm nghiệp trên đất thải sau khai thác bauxite
- Thu thập bổ sung các số liệu sinh trưởng cây trồng đến tháng 3 năm 2013, định kỳ 3 tháng 1 lần Mỗi loài tiến hành đo đếm 10 cây đại diện/loài;
Trang 23- Chỉ tiêu đo đếm, đánh giá bao gồm: Tỷ lệ sống, đường kính gốc (Doo), dùng thước palme để đo; chiều cao vút ngọn (Hvn) được đo bằng thước mét; tình hình sâu bệnh
b Đánh giá khả năng sinh trưởng một số loài cây lâm nghiệp trên bùn thải sau tuyển quặng bauxite
- Thu thập bổ sung số liệu sinh trưởng cây trồng đến tháng 3 năm 2013, định
kỳ 3 tháng 1 lần Mỗi loài tiến hành đo đếm 10 cây đại diện/loài;
- Chỉ tiêu đánh giá bao gồm: Tỷ lệ sống, đường kính gốc (Doo), dùng thước palme
để đo; chiều cao vút ngọn (Hvn) được đo bằng thước mét; tình hình sâu bệnh
c So sánh khả năng sinh trưởng của các loài cây trên các mô hình
Dùng phân tích phương sai để so sánh sinh trưởng của các loài cây trên các
mô hình khác nhau, xác định loài có sinh trưởng tốt nhất trên các mô hình thí nghiệm
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng
của cây lâm nghiệp trên đất thải sau khai thác bauxite
- Đề tài chỉ đánh giá trên hai mô hình hoàn thổ bằng lớp đất mặt và mô hình bùn thải có lớp đất mặt tại hiện trường Bảo Lộc
- Đối tượng nghiên cứu bao gồm: (Tràm úc, Keo lai, Thông 3 lá)
- Phân bón gồm: NPK, Lân nung chảy và Kali
Các công thức phân bón như sau
+ Công thức 1 (CT1): Urê và Lân nung chảy
+ Công thức 2 (CT2): Urê và Kali
+ Công thức 3 (CT3): Lân nung chảy và Kali
+ Công thức 4 (CT4): Urê, Lân và Kali
- Từ lần bón phân thứ 2, 3 và 4 áp dụng chung một công thức của lần 2
- Lượng phân bón được áp dụng cụ thể cho từng loài cây như sau:
Trang 24loại phân
- Đo đếm các chỉ tiêu (đo 4 cây/ lần lặp): Đường kính gốc (Doo) dùng thước palme để đo; chiều cao cây vút ngọn (Hvn) được đo bằng thước mét
2.4.5 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
- Tổng hợp, phân tích các số liệu thu thập, qua đó đề xuất kỹ thuật gây trồng cho ít nhất 03 loài cây phù hợp trên đất mỏ sau khai thác bauxite ở Lâm Đồng;
- Tổng hợp, xử lý phân tích số liệu bằng phần mềm Excel, thực hiện trên máy vi tính
Trang 25Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện lập địa vùng trồng thử nghiệm
3.1.1 Vị trí địa lý
Thành phố Bảo Lộc thuộc phía Nam tỉnh Lâm Đồng; có tọa độ địa lý từ
107041’39’’ đến 107053’33’’ kinh độ Đông và từ 11026’34’’ đến 11039’31’’
vĩ độ Bắc; phía Bắc, Đông và Tây giáp huyện Bảo Lâm; Tây Nam giáp huyện
Đạ Huoai Diện tích tự nhiên 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng Toàn thành phố có 11 đơn vị hành chính Vùng trồng thử nghiệm thuộc địa bàn phường Lộc Phát, thành phố Bảo Lộc
Bảo Lâm là một huyện thuộc cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc, nằm giữa thành phố Bảo Lộc và huyện Di Linh Bảo Lâm nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Lâm Đồng; có tọa độ địa lý 11021’35,1” đến 11055’21,2” vĩ độ Bắc và từ
107029’2,4” đến 107058’4,7” kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông; Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận; Phía Đông giáp huyện Di Linh; Phía Tây giáp thành phố Bảo Lộc các huyện Cát Tiên, Đạ Tẻh và Đạ Huoai Diện tích
tự nhiên 146.344 ha, chiếm 19% diện tích tự nhiên của tỉnh Lâm Đồng Toàn huyện có 14 đơn vị hành chính Vùng trồng thử nghiệm thuộc địa bàn xã Lộc Quảng, huyện Bảo Lâm
3.1.2 Khí hậu, đất đai, địa hình, địa chất
a Khí hậu
(i) Bảo Lộc
- Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ở độ cao trên 800m và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:
+ Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22°C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6°C
Trang 26+ Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2 – 3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6 – 7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau + Lượng mưa trung bình hàng năm 2.513 mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9
+ Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80 – 90%
+ Gió: Chủ yếu theo hai hướng chính:
Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4;
Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9
+ Nắng ít, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc
(ii) Bảo Lâm
- Bảo Lâm mang đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, là vùng khí hậu
chuyển tiếp của vùng cao nguyên Nam Bộ và vùng miền Ðông Nam Bộ, thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt
- Nhiệt độ, độ ẩm: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24oc Độ ẩm tương đối trung bình 85%
- Lượng mưa: Lượng mưa hàng năm rất lớn, bình quân 2.000 – 2.500mm
- Về chế độ gió: Có 2 loại gió chính là gió mùa Đông Nam từ tháng 5 đến tháng 9; Gió mùa Tây Nam từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
Trang 27cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả chủ lực của vùng, Ngoài ra nhóm đất này còn có quặng bauxite với trữ lượng lớn, đang được khai thác phục vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đất vùng trồng thử nghiệm thuộc nhóm đất này
- Nhóm đất thung lũng dốc tụ, diện tích 31,39 ha, chiếm 0,14% diện tích tự nhiên
- Nhóm đất mùn đỏ vàng, diện tích 308,91 ha, chiếm 1,33% diện tích tự nhiên Đất dành cho nông nghiệp ở thành phố Bảo Lộc chiếm tới 76%; trong
đó cây lâu năm chiếm 97,47% diện tích đất nông nghiệp;
Diện tích đất lâm nghiệp chỉ có 1.591 ha (6,84%) chủ yếu là rừng đặc dụng cây lá rộng, rừng tre nứa, rừng thông với trữ lượng gốc khoảng 200.000m3
(ii) Bảo Lâm:
Bảo Lâm có 5 nhóm đất chính như sau: Đất đỏ (Fd), đất xám (Xcn), đất phù sa (P), đất glây (Gl), đất mới biến đổi (Cm)
Đất vùng trồng thử nghiệm thuộc nhóm đất đỏ (Fd)
Bảo Lâm có nguồn tài nguyên khoáng sản giàu nhất tỉnh, chiếm 10% tổng giá trị tài nguyên khoáng sản của vùng Đông Nam Bộ, trong đó thì nguồn tài nguyên bauxite chiếm tỷ lệ lớn nhất Hiện tại tập đoàn công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam đã đầu tư xây dựng nhà máy Alumin phục vụ công nghiệp khai thác bauxite với trữ lượng 0.65 triệu tấn/năm
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Bảo Lâm là 146.344 ha Bao gồm: Diện tích đất nông nghiệp là 43.978 ha chiếm 30,05%; đất nuôi trồng thủy sản là 197 ha, chiếm 0,13%;
Đất lâm nghiệp là 91.825ha chiếm 62,75% tổng diện tích tự nhiên của huyện Trong đó: Rừng tự nhiên 84.714 ha chiếm 57,89%; rừng trồng 7.111
ha, chiếm 4,86%; tổng diện tích tự nhiên của huyện Tài nguyên rừng đã góp phần giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan môi trường và cung cấp các loại gỗ nguyên liệu cho công nghiệp và chất đốt cho nhân dân
Trang 28có 3 dạng địa hình chính: núi cao, đồi thấp đến trung bình và thung lũng
Dạng địa hình núi cao phân bố ở phía Tây xã Đại Lào, chiếm khoảng 10% diện tích đất tự nhiên thành phố, có độ cao trung bình từ 1.100 – 1.200m với độ dốc > 250
Dạng địa hình đồi thấp đến trung bình, độ dốc < 200, độ cao trung bình 820m, chiếm 84% diện tích đất tự nhiên, là vùng sản xuất nông nghiệp chính của thành phố Vùng trồng thử nghiệm thuộc dạng địa hình này
Dạng địa hình thung lũng chiếm khoảng 6% diện tích tự nhiên, phân bố dọc theo các sông, suối, độ dốc < 80, độ cao khoảng 750m
(ii) Bảo Lâm:
Địa hình của huyện Bảo Lâm thuộc vùng sơn nguyên tương đối bằng phẳng Độ cao trung bình 900m so với mặt biển Mặc dù không có nhiều núi cao (Tiou Hoan 1.444m, BNom Quanh 1.131m, BNom RLa 1.271m), nhưng nơi đây lại là vùng phát sinh của nhiều dòng suối lớn và là đầu nguồn sông La Ngà Các dòng suối chính như: Đa Tong Kriong, Đa Dung Krian, Đạ Riam,
Đạ Bình, tập hợp nhiều nguồn suối nhỏ để đổ vào sông La Ngà Ở phía bắc huyện Bảo Lâm cũng có nhiều dòng suối lớn như: Đạ Pou, Đạ Siat, Đạ Kôi,
Đạ Sou với rất nhiều nhánh suối nhỏ tập trung đổ vào sông Đồng Nai là ranh
Trang 29giới tự nhiên của huyện với tỉnh Đắc Nông Địa hình vùng trồng thử nghiệm ở khu vực này là dạng đồi thấp
d Địa chất
(i) Bảo Lộc:
Khu vực mỏ nằm trong vùng cao nguyên Di Linh - Bảo Lộc Đá gốc chính là bazan, quặng bauxite nằm trong lớp vỏ phong hóa laterit của lớp phủ bazan Đới phong hóa có dạng lớp gần như nằm ngang và có tính phân đới đứng từ trên xuống dưới, bao gồm các lớp sau:
- Lớp thổ nhưỡng bên trên: đất có màu nâu đỏ tới nâu vàng Đây là tầng đất canh tác với thành phần cơ giới chủ yếu là cát và sét, chiều dày khoảng 0,2m – 3m
- Đới quặng bauxite: màu nâu đỏ đến xám trắng, có lẫn sét và oxít sắt dạng mạch và xâm nhiễm Thành phần khoáng vật chủ yếu là gipxit, thứ yếu là kaolinit, gơtit, hematit, inmenit ., chiều dày dao động khoảng 0,2m – 3,9m
- Đới sét (đới lithomaz): màu sắc sặc sỡ gồm tím hoa cà, nâu sẫm và điểm đốm trắng Thành phần khoáng vật chủ yếu là kaolinit, thứ yếu là haloixit, gipxit, hematit, gơtit chiều dày có thể đến 20m – 30m Bên dưới là lớp bazan bán phong hóa và dưới cùng là tầng đá bazan gốc
(ii) Bảo Lâm
Theo tài liệu địa chất miền Nam Việt Nam và kết quả điều tra những năm gần đây, đất đai ở huyện Bảo Lâm được hình thành từ sản phẩm phong hóa của nhóm đá mẹ Bazan
Thổ nhưỡng: đất Feralit, đất màu nâu vàng, nâu sẫm
Thành phần cơ giới thuộc loại trung bình, thịt nhẹ, thịt pha cát hoặc sét
Độ dày tầng đất từ 30cm – 40cm, đá nổi xuất hiện ít, tỷ lệ đá lẫn < 25%, đá nổi < 25%, độ nét chặt
Trang 303.1.3 Đặc điểm đất mỏ trước và sau khai thác bauxite
3.1.3.1 Tính chất lý hóa tính đất mỏ trước khai thác bauxite
Để so sánh sự khác biệt tính chất đất mỏ trước khai thác ở 2 địa điểm, chọn 2 phẫu diện điển hình đại diện cho 2 khu vực để tổng hợp các chỉ tiêu phân tích liên quan theo bảng 3.1;
Các chỉ tiêu liên quan của 2 phẫu diện đại diện được tập hợp từ số liệu phân tích của 03 tầng đất/phẫu diện ở độ sâu từ 0 – 30cm, 30 – 60 cm và 60 – 120cm Các kết quả phân tích thành phần cơ giới đất chi tiết được thể hiện ở bảng phụ lục 3
Bảng 3.1: Kết quả phân tích đất mỏ trước khai thác bauxite
Nhận xét: Kết quả phân tích ở bảng 3.1 cho thấy tại Tân Rai pH đạt 5,28 –
5,84 trong khi đó tại Bảo Lộc có biến động lớn hơn, đạt 4,54 – 5,87 Hàm lượng hữu cơ trong đất trước khai thác bauxit tại Bảo Lộc đạt 1,56 – 2,44%;
Trang 31cao hơn thuộc về Tân Rai 7,1 – 8,2% Fe203 có hàm lượng cao nhất là ở Bảo Lộc với tỉ lệ từ 25,9 – 34,2% Hàm lượng Si02 từ 8,2 – 21,0%, cao nhất thuộc
về địa điểm Tân Rai với tỉ lệ từ 18,0 – 21%
* Thành phần cơ giới đất trước khai thác
Các số liệu thể hiện ở bảng 3.2 từ 2 phẫu diện điển hình đại diện cho 2 khu vực liên quan
Bảng 3.2: Thành phần cơ giới đất trước khai thác bauxite
TT Kí hiệu mẫu/Chỉ tiêu Đường
kính (mm) BL TR Phương pháp thử
1 Hạt sạn sổi
>10 7,98-9,43 0 TCVN 4198:1995 10-5 10,23-11,26 0 TCVN 4198:1995
5-2 6,32-8,12 0 TCVN 4198:1995
2 Hạt cát (%)
Cát thô 2-1 4,58-6,07 5,88-6,57 TCVN 4198:1995 Cát thô 1-0,5 4,79- 5,32 8,43-9,23 TCVN 4198:1995
Cát trung 0,5-0,25 3,00- 4,15 5,09- 7,01 TCVN 4198:1995
Cát nhỏ 0,25-0,10 2,04- 3,08 4,11-7,31 TCVN 4198:1995 Cát bụi 0,10-0,05 18,79-20,01 10,22- 12,0 TCVN 4198:1995
3 Hạt bụi (%)
Bụi to 0,05-0,01 11,72-14,22 13,30- 14,46 TCVN 4198:1995
Bụi nhỏ 0,01-0,005 4,69- 6,90 18,47-19,41 TCVN 4198:1995
4 Hạt sét (%) / <0,005 17,45- 21,02 26,54- 27,85 TCVN 4198:1995
Nhận xét: Qua phân tích thấy rằng thành phần cơ giới trung bình – nặng, tại
Bảo Lộc với tỷ lệ các hạt sạn đạt 6,32 – 11,26%, trong khi đó tại Tân Rai thành phần hạt sạn bằng 0 Tỷ lệ hạt cát thô trong đất tại Bảo Lộc đạt 4,58 – 6,07%, cao nhất thuộc về Tân Rai 5,88 – 9,23% Hàm lượng sét từ 17,45 – 27,85% (chi tiết ở bảng 3.2)
Trang 323.1.3.2 Tính chất lý hóa tính đất mỏ bauxite sau khi hoàn thổ
Trên các đối tượng đất mỏ sau khai thác đã được hoàn thổ với thời gian
từ 01 tháng đến 03 năm
Các kết quả phân tích chi tiết đính kèm ở bảng phụ lục 3
Trong bảng 3.3 gồm kết quả phân tích mẫu đất đại diện cho 02 địa điểm Bảo Lộc và Tân Rai – Bảo Lâm
Bảng 3.3: Kết quả phân tích đất mỏ sau khi hoàn thổ
TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị BL TR Phương pháp thử
Nhận xét: Từ kết quả phân tích ở bảng 3.3 nhận thấy đất sau hoàn thổ tại Bảo
Lộc vẫn có tính chua với pH từ 4,69 – 4,99, nhưng ở địa điểm Tân Rai đất ít chua hơn pH 5,64 – 5,87 Hàm lượng hữu cơ tại Bảo Lộc đạt 2,81 – 3,62%, trong khi ở Tân Rai chỉ số này từ 3,4 – 4,2% Fe203 có hàm lượng cao nhất là
ở Bảo Lộc với tỉ lệ từ 31,2 – 32,4%
Trang 33* Thành phần cơ giới đất sau khi hoàn thổ
Các số liệu thể hiện ở bảng 3.4 từ 2 phẫu diện điển hình đại diện cho 2 khu vực liên quan
Bảng 3.4: Thành phần cơ giới đất mỏ sau khi hoàn thổ
TT Kí hiệu mẫu/Chỉ tiêu Đường
Nhận xét: các số liệu từ bảng 3.4 cho thấy đất sau khi hoàn thổ tại Bảo Lộc
thành phần có tỷ lệ hạt sạn thấp đạt 0 – 8,19%, trong khi đó tại Tân Rai thành phần hạt sạn từ 3,22 – 14,69% Tỷ lệ hạt cát thô trong đất tại Tân Rai đạt 2,63 – 5,07%, cao nhất thuộc về Bảo Lộc 5,15 – 9,95% Hàm lượng sét từ 21,56 –
27,66%
3.1.3.3 Tính chất lý hóa tính đất mỏ sau khai thác quặng bauxite
Các chỉ tiêu liên quan của 2 phẫu diện đại diện được tập hợp từ số liệu phân tích của 03 tầng đất/phẫu diện ở độ sâu từ 0 – 30cm, 30 – 60cm và 60 – 120cm (thể hiện ở bảng 3.5)
Trang 34Bảng 3.5: Kết quả phân tích đất mỏ sau khai thác quặng
Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.5 cho thấy pH đất sau khai thác mỏ ở Tân Rai pH
5,28 – 5,61, trong khi ở mỏ Bảo Lộc chỉ số này từ 4,92- 5,01 Hàm lượng hữu
cơ tại Bảo Lộc đạt 3,7 – 4,3%, ở mỏ Tân Rai cao hơn với tỷ lệ từ 5,5 – 6,1% SiO2 tại Tân Rai có hàm lượng cao nhất 31,8 – 35,0% Fe203 có hàm lượng cao nhất là ở Tân Rai với tỉ lệ từ 22,05 – 24,38%
* Thành phần cơ giới đất sau khai thác quặng bauxite
Thành phần cơ giới của loại đất sau khai thác mỏ bauxite chưa hoàn thổ của 2 địa điểm được phân tích từ mẫu đất của 2 phẫu diện điển hình tương ứng là: BL4 và TR3;
Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích tương tự như đối với các loại đất khác Các kết quả phân tích thành phần cơ giới đất chi tiết được thể hiện ở bảng 3.6
Trang 35Bảng 3.6: Thành phần cơ giới đất mỏ sau khai thác quặng
Nhận xét: Kết quả phân tích ở bảng 3.6 cho thấy đất mỏ sau khai thác quặng
bauxit tại Bảo Lộc có thành phần hạt sạn đạt chỉ trong khoảng từ 0 – 9,98%, nhưng Tân Rai tỷ lệ này lên đến 2,51 – 11,21% Tỷ lệ hạt cát thô trong đất cao nhất thuộc về Tân Rai đạt 3,07 – 6,71%, trong khi đó tại Bảo Lộc đạt 3,21
– 6,01% Hàm lượng sét từ 23,81 – 25,89%
3.1.3.4 Tính chất lý hóa tính bùn thải sau tuyển quặng bauxite
Mẫu bùn thải sau tuyển quặng được thu thập từ 02 địa điểm là tại hồ chứa bùn thải sau tuyển quặng bauxite (ký hiệu B-BL1) và trên khu vực hoàn
thổ bằng bùn thải hoàn toàn (ký hiệu B-BL2) của Mỏ Bauxite Bảo Lộc
Do nhà máy bauxite ở Bảo Lâm chưa triển khai hoạt động tuyển quặng
nên chưa thu thập mẫu bùn thải ở địa điểm liên quan để so sánh được
Kết quả phân tích của 02 mẫu bùn thải được thể hiện ở bảng 3.7
TT Kí hiệu mẫu/Chỉ tiêu Đường
kính (mm) BL TR Phương pháp thử
1 Hạt sạn sổi
>10 0 2,51- 6,16 TCVN 4198:1995 10-5 2,12- 6,75 4,95- 5,21 TCVN 4198:1995 5-2 7,46- 9,98 8,31- 11,21 TCVN 4198:1995
2 Hạt cát (%)
Cát thô 2-1 3,21 - 5,87 4,44 - 6,71 TCVN 4198:1995 Cát thô 1-0,5 4,00 - 6,01 3,07 - 3,87 TCVN 4198:1995 Cát trung 0,5-0,25 2,45- 3,00 2,97- 5,00 TCVN 4198:1995 Cát nhỏ 0,25-0,10 4,03- 5,13 2,84- 4,73 TCVN 4198:1995 Cát bụi 0,10-0,05 10,41- 11,11 7,79- 9,55 TCVN 4198:1995
3 Hạt bụi (%) Bụi to 0,05-0,01 19,29- 20,88 15,11- 16,84 TCVN 4198:1995
Bụi nhỏ 0,01-0,005 13,39- 15,71 12,25- 13,59 TCVN 4198:1995
4 Hạt sét (%) / <0,005 23,81- 25,89 24,20- 26,57 TCVN 4198:1995
Trang 36Bảng 3.7: Kết quả phân tích bùn thải sau tuyển quặng bauxite ở Bảo Lộc
TT Chỉ tiêu phân tích Đơn vị B-BL1 B-BL2 Phương pháp thử
Nhận xét: Kết quả ở bảng 3.7 cho thấy bùn thải trong hồ chứa có pH 6,13 cao
hơn trên đất hoàn thổ bằng bùn thải hoàn toàn pH 4,92 Hàm lượng hữu cơ trên hồ bùn thải đạt cao nhất 0,62% Si02 trên đất hoàn thổ bằng bùn thải hoàn toàn đạt cao nhất 12,2% Hàm lượng Al2O3 trong bùn thải chứa trong hồ vẫn còn có tỷ lệ cao đến 32,2% và tỷ lệ Fe203 của bùn thải cúng lên đến 34,9% Điều này cho thấy vẫn có thể sử dụng được bùn thải chứa trong hồ để tận thu các kim loại nặng
* Thành phần cơ giới của bùn thải sau tuyển quặng bauxite
Thành phần cơ giới của bùn thải được phân tích từ mẫu bùn B-BL1 và
B-BL2 tương ứng đã sử dụng để phân tích tính chất lý hóa tính ở trên;
Trang 37Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích tương tự như đối với các loại đất khác Các kết quả phân tích thành phần cơ giới của bùn thải sau tuyển quặng
bauxite được thể hiện ở bảng 3.8
Bảng 3.8: Thành phần cơ giới bùn thải sau tuyển quặng bauxite ở Bảo Lộc
Nhận xét: Từ kết quả phân tích ở bảng 3.8 cho thấy các dạng bùn thải có
thành phần hạt sạn thấp chỉ khoảng 0 – 4,36% Tỷ lệ hạt cát thô cao nhất cũng chỉ đến 16,15%; nhưng tỷ lệ các hạt sét cao đến 20,62% Từ các số liệu này cho thấy bùn thải có nhiều thành phần cơ giới nặng và tính chất sét cao hơn
các loại đất thải sau khai thác bauxit khác
3.2 Khả năng sinh trưởng của một số loài cây lâm nghiệp trên đất thải
sau khai thác bauxite
Từ năm 2011 đề tài “Nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cây trồng phù hợp và biện pháp kỹ thuật gây trồng góp phần phục hoàn môi trường sau khai thác Bauxite ở Tây Nguyên” đã tiến hành trồng thí nghiệm thăm dò tại 02 địa
điểm Lộc Phát - Bảo Lộc và Tân Rai – Bảo Lâm Trên các dạng đất sau khai
TT Kí hiệu mẫu/Chỉ tiêu Đường
kính (mm) B-BL1 B-BL2
Phương pháp thử
1 Hạt sạn sổi
>10 0 0 TCVN 4198:1995 10-5 0,62 0,50 TCVN 4198:1995 5-2 3,10 2,78 TCVN 4198:1995
2 Hạt cát (%)
Cát thô 2-1 2,40 4,36 TCVN 4198:1995 Cát thô 1-0,5 15,05 16,15 TCVN 4198:1995 Cát trung 0,5-0,25 9,43 10,88 TCVN 4198:1995 Cát nhỏ 0,25-0,10 11,04 9,47 TCVN 4198:1995 Cát bụi 0,10-0,05 18,46 17,70 TCVN 4198:1995
3 Hạt bụi (%) Bụi to 0,05-0,01 12,76 10,55 TCVN 4198:1995
Bụi nhỏ 0,01-0,005 7,20 6,99 TCVN 4198:1995
4 Hạt sét (%) / <0,005 19,95 20,62 TCVN 4198:1995
Trang 38thác mỏ bauxite đã được hoàn thổ bằng lớp đất mặt hoặc bằng bùn thải sau tuyển quặng và đất mỏ sau khai thác quặng chưa hoàn thổ
Được sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, tác giả đã tiến hành thực hiện luận văn trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các số liệu đã thu thập về tình hình sinh trưởng của các loài cây lâm nghiệp từ tháng 8/2011 đến tháng 8/2012 và
tiếp tục thu thập số liệu đến tháng 3/2013
Tại khu vực mỏ bauxite Bảo Lộc, bố trí 6 mô hình trồng thử nghiệm:
- (ĐC): Mô hình đối chứng (trên đất nguyên thổ);
- MH1: Mô hình hoàn thổ bằng lớp đất mặt;
- MH2: Mô hình hoàn thổ bằng bùn thải có lớp đất mặt;
- MH3: Mô hình chưa hoàn thổ;
- MH4: Mô hình hoàn thổ bằng bùn thải hoàn toàn;
- MH5: Mô hình trên hồ bùn thải
Tại khu vực mỏ bauxite Tân Rai – Bảo Lâm, bố trí 2 mô hình trồng thử nghiệm:
- (ĐC_TR): Mô hình đối chứng (trên đất nguyên thổ);
- MH1_TR: Mô hình hoàn thổ bằng lớp đất mặt
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của các loài cây lâm nghiệp trồng trên các loại đất mỏ, đề tài đã tiến hành thu thập số liệu về chỉ tiêu sinh trưởng (gồm đường kính gốc Doo, chiều cao cây và tỉ lệ sống) theo định kỳ 3tháng/lần và thu liên tục trong thời gian theo dõi là 15 tháng tại Tân Rai và
18 tháng tại Bảo Lộc Thông qua kết quả tính toán các chỉ tiêu này để đánh giá khả năng sinh trưởng của các loại cây trồng lâm nghiệp trên từng loại đất
mỏ sau khai thác bauxite
3.2.1 Khả năng sinh trưởng các loài cây trồng trên đất hoàn thổ bằng lớp
đất mặt sau khai thác bauxite tại Bảo Lộc (MH1)
Trang 39Bảng 3.9: Tình hình sinh trưởng của các loài cây lâm nghiệp ở MH1
TT
Tháng
Loài cây
Ngày 30/8/2011
Ngày 30/11/2011
Ngày 27/02/2012
Ngày 27/8/2012
Ngày 26/02/2013 Tỷ lệ
H vn
(Cm)
Doo (Cm)
H vn
(Cm)
Doo (Cm)
H vn
(Cm)
Doo (Cm)
H vn
(Cm)
Doo (Cm)
Qua theo dõi tình hình sâu bệnh nhận thấy các loài cây như Dó bầu và Đậu chàm thường bị sâu ăn lá Còn lại các loài cây khác không bị sâu bệnh
Từ kết quả có được thể hiện tại bảng 3.9, dựa trên các chỉ tiêu về tỷ lệ sống, đường kính gốc và chiều cao của cây, cho thấy các loài cây trồng có sinh trưởng tốt nhất trên đất hoàn thổ bằng lớp đất mặt tại Bảo Lộc gồm: Thông 3 lá và Keo lai
Trang 40
Biểu đồ 1: Sinh trưởng Keo lai, Thông 3 lá trên đất ĐC và MH1tại Bảo Lộc
Biểu đồ 2: Tỷ lệ sống Keo lai, Thông 3 lá trên đất ĐC và MH1 tại Bảo Lộc