1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả kinh tế môi trường của một số loại hình sử dụng đất dốc ở huyện cao phong tỉnh hòa bình

128 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình, tuy đã có một số nghiên cứu về mô hình canh tác nhưng cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về hiệu quả kinh tế - môi trường của một số loại hìn

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các tổ chức, cá nhân Tôi rất biết ơn thầy giáo PGS.TS Phạm Văn Điển đã bồi dưỡng, khuyến khích

và hướng dẫn tôi đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực hết sức thú vị và có ý nghĩa qua luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi nhiệt tình và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan trọng, giúp tôi nâng cao chất lượng luận văn Qua bản luận văn này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến toàn thể cán bộ và nhân dân xã Yên Lập - Cao Phong - Hòa Bình nơi triển khai đề tài, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập số liệu và điều tra hiện trường Tôi xin cảm ơn các tác giả của các tài liệu mà đề tài đã sử dụng Cảm ơn gia đình và những người thân đã giúp đỡ tôi về mặt tinh thần và vật chất trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn

là trung thực, khách quan Các hình ảnh minh họa trong luận văn là của tác giả

Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2012

Tác giả

Đỗ Duy Sâm

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I MỤC LỤC II DANH LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH ẢNH V

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Ở ngoài nước 3

1.1.1 Quan niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường 3

1.1.2 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội 5

1.1.3 Nghiên cứu về hiệu quả môi trường 6

1.1.4 Nghiên cứu về hiệu quả tổng hợp 7

1.1.5 Nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và những kinh nghiệm thực tiễn 9

1.2 Ở trong nước 12

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường 12

1.2.2 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội 13

1.2.3 Nghiên cứu về hiệu quả môi trường 14

1.2.4 Nghiên cứu về hiệu quả tổng hợp 15

1.2.5 Nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và những kinh nghiệm thực tiễn 18

1.3 Thảo luận 20

1.3.1 Thành quả nghiên cứu 20

1.3.2 Tồn tại nghiên cứu 22

Chương 2: MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 24

2.2 Đối tượng nghiên cứu 24

2.3 Phạm vi nghiên cứu 24

2.4 Nội dung nghiên cứu 24

2.5 Phương pháp nghiên cứu 25

2.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 25

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 25

2.5.3 Phương pháp phân tích số liệu 31

2.5.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá 32

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 35

Trang 3

3.1 Điều kiện tự nhiên 35

3.1.1 Vị trí địa lý 35

3.1.2 Địa hình 35

3.1.3 Khí hậu - Thủy văn 35

3.1.4 Tài nguyên 36

3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 36

3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế 36

3.2.2 Tình hình sản xuất NLN tại địa phương 37

3.3 Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố chính đến các LHSDĐ 41

3.3.1 Điều kiện tự nhiên 41

3.3.2 Kinh tế 42

3.3.3 Thị trường 45

3.3.4 Dân số, lao động và dân tộc 45

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46

4.1 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất ở xã Yên Lập huyện Cao Phong 46

4.1.1 Tình hình sử dụng đất 46

4.1.2 Kết quả điều tra theo tuyến lát cắt 51

4.1.3 Các loại hình sử dụng đất và đặc điểm cấu trúc của nó 59

4.1.4 Lịch mùa vụ của các loại hình sử dụng đất 66

4.2 Hiệu quả kinh tế - xã hội của các LHSDĐ 68

4.2.1 Hiệu quả kinh tế của các LHSDĐ 68

4.2.2 Hiệu quả xã hội của các LHSDĐ 74

4.3 Hiệu quả môi trường của các LHSDĐ 78

4.4 Hiệu quả tổng hợp của các LHSDĐ 82

4.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả canh tác trên đất dốc 84

4.5.1 Phân tích SWOT 84

4.5.2 Phân tích các thuận lợi - khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp ở địa phương 88

4.5.3 Các giải pháp đề xuất 89

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 97

1 Kết luận 97

2 Tồn tại 98

3 Khuyến nghị 99

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi xã Yên Lập 38 3.2 Hiện trạng dân số, lao động xã Yên Lập 39 3.3 Phân tích cơ cấu kinh tế các nhóm hộ trong xã Yên Lập 42 4.1 Cơ cấu các loại đất theo mục đích sử dụng ở huyện Cao Phong 46 4.2 Biến động diện tích đất nông nghiệp giai đoạn 2009-2011 47 4.3 Hiện trạng sử dụng đất của xã Yên Lập năm 2011 49

4.5 Một số chỉ tiêu bình quân của lớp phủ thực vật ở các LHSDĐ 62 4.6 Lịch mùa vụ sản xuất nông lâm nghiệp tại xã Yên Lập 66 4.7 Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của các MHSDĐ tại xã Yên Lập 71 4.8 Kết quả đánh giá hiệu quả xã hội của các LHSDĐ của xã Yên

Lập,huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

76

4.9 Kết quả đánh giá hiệu quả môi trường của các LHSDĐ của xã

Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

80

4.10 Chỉ số hiệu quả tổng hợp của các LHSDĐ 83 4.11 Phân tích SWOT của LHSDĐ Rừng trồng tại địa phương 84 4.12 Phân tích SWOT của các LHSDĐ nương rẫy tại địa phương 85 4.13 Phân tích SWOT của các LHSDĐ NLKH tại địa phương 86

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.4 Cơ cấu sử dụng đất của xã Yên Lập năm 2011 50

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây, việc nghiên cứu nhằm phát huy lợi thế của đất dốc và các loại hình sử dụng đất dốc đang là một hướng đi có triển vọng ở miền núi Việt Nam, nhằm giải quyết vấn đề cơ bản về tư liệu sản xuất của người dân sinh sống trên vùng địa bàn miền núi, trung du Đáp ứng đa dạng các nhu cầu về sản phẩm trong sản xuất Nông Lâm nghiệp; các loại hình sử dụng đất còn tỏ ra có hiệu quả hơn so với các loại hình canh tác truyền thống như độc canh, du canh bỏ hóa trước đây Vì vậy, việc phát triển các loại hình sử dụng đất dốc mang lại hiệu quả trên nhiều mặt ở địa bàn miền núi đã và đang là nhu cầu cấp thiết

Vấn đề hiệu quả về kinh tế - xã hội - môi trường và hiệu quả tổng hợp của các loại hình sử dụng đất dốc tại miền núi có sự khác nhau và phụ thuộc nhiều vào việc chọn lựa các loại hình sử dụng đất dốc thích hợp với điều kiện của vùng Nếu việc chọn lựa các loại hình sử dụng đất dốc chỉ tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội mà không tính đến hiệu quả môi trường thì dễ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên ở khu vực đó Ngược lại, nếu chỉ xét đến hiệu quả môi trường mà không chú ý đến hiệu quả kinh tế - xã hội thì việc nâng cao mức sống của người dân và phát triển kinh tế vùng là điều khó có thể thực hiện được Trên thực tế, ở các vùng sản xuất nông lâm nghiệp, hiện tượng xói mòn rửa trôi trên các vùng đất dốc diễn ra rất mạnh làm đất đai nghèo dinh dưỡng dẫn đến năng suất cây trồng cũng giảm dần, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của người dân

Việc phát triển các loại hình sử dụng đất dốc đang là một hướng đi có triển vọng ở miền núi Việt Nam, nhằm giải quyết vấn đề cơ bản về tư liệu sản xuất của người dân sinh sống trên vùng địa bàn miền núi, trung du Đáp ứng đa dạng các nhu cầu về sản phẩm trong sản xuất Nông Lâm nghiệp; các loại hình sử dụng đất dốc còn tỏ ra có hiệu quả hơn hẳn các lối canh tác truyền thống như độc canh, du canh

bỏ hóa…trước đây

Cao Phong là một huyện miền núi của tỉnh Hòa Bình, đại bộ phận dân chúng

là người Mường, do thiếu đất sản xuất nên nông dân vẫn phải canh tác trên đất có

Trang 7

độ dốc cao, dẫn đến đất bị xói mòn mạnh, thoái hoá và năng suất cây trồng giảm dần, cuộc sống của nông dân gặp nhiều khó khăn Mặc dù vậy, vùng đất dốc này còn rất nhiều tiềm năng để phát triển và có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của người dân, nhất là khi diện tích đất canh tác ngày một giảm do được

sử dụng và các mục đích khác Những năm gần đây, nhờ thay đổi tư duy trong sản xuất hàng hóa, sử dụng hợp lý các nguồn lực, đời sống của bà con dần ấm no, đầy

đủ, một phần nhờ vào hiệu quả từ quá trình sử dụng hợp lý các nguồn lực trên đất dốc của đồng bào

Ở huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình, tuy đã có một số nghiên cứu về mô hình canh tác nhưng cũng chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về hiệu quả kinh tế

- môi trường của một số loại hình canh tác trên đất dốc làm định hướng cho việc phát triển các loại hình canh tác mang lại hiệu quả tổng hợp Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể lựa chọn được một số loại hình sử dụng hợp lý và có tác động tích cực đến kinh tế, xã hội, môi trường, không những nâng cao hiệu quả sử dụng đất và còn phát huy được cả chức năng phòng hộ, đảm bảo tính bền vững lâu dài và nâng cao đời sống của người dân tại huyện Cao Phong nói riêng và vùng phòng hộ hồ

thủy điện Hòa Bình nói chung Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh

tế - môi trường của một số loại hình sử dụng đất dốc ở huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình ” là rất cần thiết và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho mục tiêu phát triển

kinh tế gắn với bảo vệ môi trường nói chung, phát triển nông lâm nghiệp miền núi trung du trên cơ sở phát huy tiềm năng đất dốc, lợi thế của vùng nói riêng

Trang 8

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Ở ngoài nước

1.1.1 Quan niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường

Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế [8]:

- Theo P.Samuellson và W.Nordhaus (1985) "hiệu quả sản xuất diễn ra khi

xã hội không thể tăng sản lượng một cách hàng loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó" [trích Giáo trình kinh tế học, trích từ bản dịch Tiếng Việt (1991)] Thực chất của quan niệm này là đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không có mức hiệu quả cao hơn nữa

- Hai tác giả Wohe và Doring [40] lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh

tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo tác giả này thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau: “Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg…) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị, nguyên vật liệu…) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật”, “Mối quan hệ tỷ lệ giữa chi phí kinh doanh phải chi ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị” và “để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân

tố đầu vào tính bằng tiền” Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả hoạt động quản trị chi phí

Trang 9

- Theo các tác giả khác:

Có một số tác giả cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ giữa

tỷ lệ tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế

Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả nhận được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn (1988) [40], theo ông: “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế

Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú ý

và sử dụng phổ biến đó là: Hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quá trình) kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định Đây là khái niệm tương đối đầy đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì ta có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp như sau: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra

Hiệu quả xã hội phản ánh mối quan hệ giữa kết quả hữu ích về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Nó đánh giá chủ yếu về mặt xã hội của hoạt động sản xuất Các loại hiệu quả có liên quan chặt chẽ với hiệu quả kinh tế và biểu hiện mục tiêu hoạt động của con người

Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật…Việc xác định hiệu quả môi trường là tương đối khó

Trang 10

Trong 3 loại hiệu quả trên thì hiệu quả kinh tế đóng vai trò quyết định và nó được đánh giá đầy đủ khi kết hợp với hiệu quả xã hội và môi trường

1.1.2 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội

Lợi ích kinh tế - xã hội của dự án là chênh lệch giữa lợi ích mà nền kinh tế -

xã hội thu được so với các chi phí đã bỏ ra để thực hiện dự án Như vậy, việc phân tích lợi ích kinh tế - xã hội chính là việc so sánh những gì mà xã hội thu được so với cái giá đã bỏ ra

Dưới góc độ của một nhà đầu tư khi thực hiện dự án thì người ta thường quan tâm đến lợi nhuận của dự án thì người ta sử dụng chi tiêu hiệu quả tài chính để đánh giá dự án Tuy nhiên, đối với những dự án công cộng thì không thể sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả tài chính để đánh giá được, người ta phải sử dụng các chi tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội để đánh giá

Việc đánh giá lợi ích kinh tế - xã hội được thực hiện thông qua các tiêu chí sau:

- Nâng cao mức sống của người dân: Điều này được thể hiện chủ yếu thông qua mức thu nhập bình quân đầu người

- Phân phối thu nhập và công bằng xã hội: Điều này được thể hiện chủ yếu thông qua việc đầu tư vào những vùng kém phát triển nhằm rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, giúp xã hội phát triển công bằng hơn

- Tăng việc làm: đây là một trong những mục tiêu chiếc lược phát triển kinh

tế - xã hội của nước ta

- Bảo vệ và tái tạo môi trường sinh thái,…

Phương pháp đánh giá lợi ích kinh tế xã hội: Tuy thuộc vào góc độ của nhà quản lý mà người ta đưa ra những phương pháp đánh giá nhất định Như ở góc độ của nhà quản lý thì người ta thường xem xét đến các yếu tố như: tăng việc làm, tăng thu ngân sách, tăng mức sống của người dân, mức độ tái tạo môi trường, tăng năng suất lao động,…

Trang 11

Như vậy từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy rằng, phân tích hiệu quả tài chính dự án và phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội là hoàn toàn khác nhau

- Việc phân tích hiệu quả tài chính của dự án được hiện trên góc độ dự án, còn việc phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội lại đứng trên gốc độ xã hội để xem xét

- Mục tiêu của phân tích hiệu quả tài chính là tối đa hóa lợi nhuận, còn mục tiêu của phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội là tối đa hóa các lợi ích kinh tế xã hội

1.1.3 Nghiên cứu về hiệu quả môi trường

Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển

là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường

Trong hệ thống kinh tế - xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế thải Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn

đó Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo

Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi

là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng

có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trong khu vực

Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển trên dẫn đến sự xuất hiện các quan niệm hoặc các lý thuyết khác nhau về phát triển:

Trang 12

 Lý thuyết đình chỉ phát triển là làm cho sự tăng trưởng kinh tế bằng (0) hoặc mang giá trị (-) để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái đất

 Một số nhà khoa học khác lại đề xuất lấy bảo vệ để ngăn chặn sự nghiên cứu, khai thác tài nguyên thiên nhiên

Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường do hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật…

Năm 1992, các nhà môi trường đã đưa ra quan niệm phát triển bền vững, đó

là phát triển trong mức độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng giữa môi trường và phát triển

1.1.4 Nghiên cứu về hiệu quả tổng hợp

Để đánh giá hiệu quả kinh tế toàn diện và đầy đủ, ta căn cứ vào mối quan hệ giữa lượng sản phẩm đầu ra tính bình quân trên mỗi đơn vị diện tích canh tác hoặc gieo trồng với các mức chi phí đầu vào khác nhau

Hiệu quả kinh tế của việc canh tác trên đất dốc phụ thuộc vào hiệu quả của từng loại cây trồng vật nuôi, công thức luân canh hay phương thức sản xuất trên phần diện tích đó

Mỗi loại đất có khả năng sản xuất khác nhau, do đó việc đánh giá hiệu quả

sử dụng đất phải được nghiên cứu riêng cho từng loại đất

Một số nhân tố chung nhất ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất dốc:

- Nhóm nhân tố chủ quan của bản thân người sản xuất:

+ Quyết định sử dụng đất để sản xuất cái gì ? (sản phẩm hàng hóa và dịch vụ

gì ?) số lượng bao nhiêu và khi nào sản xuất ?

+ Quyết định sản xuất như thế nào? Với những tài nguyên sẵn có (đất, nước)

áp dụng loại hình sử dụng đất dốc nào vừa để đảm bảo được tính bền vững của đất đai vừa áp dụng được những công nghệ tiên tiến trên cơ sở nguồn lực lao động và vốn có thể có được ?

Trang 13

+ Quyết định sản xuất cho ai ? Sản phẩm gì để tiêu dùng nội bộ, sản phẩm gì

để bán ra thị trường đều phải tính toán trong một mô hình sử dụng đất bền vững và

có hiệu quả

+ Tổ chức sản xuất ra sao? Ngành sản xuất phải tính đến khả năng và nguồn lực của mình để sản xuất sản phẩm hàng hóa mà xã hội cần, quyết định tự mình (lao động gia đình) đảm nhận, khi cần thuê mướn nhân công, hay là liên kết theo nhóm,

tổ để có quy mô sản xuất thích hợp, có khối lượng hàng hóa để tiêu thụ ở thị trường

có lợi nhất (Tủ sách gia đình, 2004)

+ Tổ chức sản xuất theo công nghệ sản xuất nào? Công nghệ sản xuất tiên tiến lẽ tất nhiên phải áp dụng đến đâu lại phụ thuộc vào nguồn lực (nội lực, ngoại lực) và khả năng tiếp nhận công nghệ mới

- Nhóm nhân tố khách quan

+ Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên :

> Đặc điểm lý hoá tính của

> Nguồn nước và chế độ nước

> Địa hình và thổ nhưỡng

> Vị trí địa lý

+ Nhân tố thuộc điều kiện kinh tế- xã hội

> Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm

> Thị trường tiêu thụ sản phẩm

> Các quan hệ về sở hữu và sử dụng đất nông lâm nghiệp

> Trình độ và tập quán sản xuất của chủ sở hữu đất

> Sự phát triển của các ngành kinh tế khác vì giữa các ngành kinh tế đó

có mối quan hệ hai chiều vừa tạo điều kiện vừa thúc đẩy nhau phát triển

> Môi trường chính sách khuyến khích nông lâm nghiệp phát triển

Trang 14

> Phân vùng quy hoạch và bố trí sản xuất nông lâm nghiệp giúp cho việc khai thác sản xuất một cách triệt để, hiệu quả tài nguyên đất theo hướng CNH - HĐH nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất

> Ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất nông lâm nghiệp Tóm lại, quá trình quản lý sử dụng đất bền vững và có hiệu quả chịu sự tác động bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan Vấn đề quan trọng là các bên liên quan có nhận thức đúng các yếu tố này, lợi dụng mặt tích cực, hạn chế tác động tiêu cực làm chủ thời cơ trong quản lý kinh doanh sản xuất để đạt được hiệu quả kinh tế cao về mặt kinh tế - môi trường

1.1.5 Nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và những kinh nghiệm thực tiễn

* Kinh nghiệm của thế giới: Hiện nay tài nguyên đất trên thế giới có khoảng

13.500 triệu ha, trong đó hơn 1000 triệu ha (chiếm 14,7%) đất đồi núi có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp Đó là nguồn tài nguyên lớn mang tính chiến lược quốc gia của nhiều nước vì giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp lớn, đồng thời đó còn là những vùng đất nuôi sống hàng trăm triệu người và bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân loại Đất đồi núi nói chung có độ màu mỡ cao nếu mới được khai phá hoặc được sử dụng hợp lý Tuy nhiên, độ màu mỡ của đất đồi núi phụ thuộc nhiềuvào thành phần đá mẹ, độ dốc, thảm thực vật hoặc rừng che phủ hoặc vào dòngchảy của nước mưa Đã từ lâu qua quá trình chặt phá rừng, khai thác đất trồng trọt, người ta

đã phát hiện đất đồi núi rất nhanh chóng bị suy thoái do hiện tượng đất bị xói mòn rửa trôi Vì vậy, từ thế kỷ 18 bắt đầu xúc tiến các công trình nghiên cứu các biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất dốc (Volni,1870; các giáo sư trường Đại học Pardin

Mỹ, từ 1951 đến 1958, các nghiên cứu quốc tế của nhiều nước 1980, chương trình IBSRAM, CIAT, thập kỷ 90) Để bảo vệ đất dốc, nhiều nước trên thế giới sử dụng cây cỏ 3 lá vào hệ thống cây trồng, hoặc đưa cây đậu tương vào trồng xen với ngô, hoặc trồng theo đường đồng mức Từ những năm thập kỷ 80-90, hệ thống nông lâm kết hợp và đa dạng hoá cây trồng trên đất đồi núi đã được thử nghiệm và lan rộng

Trang 15

khắp nơi bởi tính ưu việt về sử dụng đất bền vững và hiệu quả của hệ thống này Năm1983, ICRAF đã đưa ra định nghĩa khá hoàn hảo về hệ thống nông lâm kết hợp: Đó là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và các cây nông nghiệp hàng năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một mảnh đất đồng thời hay luân phiên với mục đích cho sản phẩm tối đa và duy trì sản xuất lâu bền do bảo vệ và tăng cường được độ màu mỡ đất Bên cạnh những nghiên cứu kỹ thuật về sử dụng hiệu quả và bảo vệ chống suy thoái đất dốc, ngày nay sử dụng đất đồi núi bền vững còn đặc biệt chú trọng đến khía cạnh phát triển kinh tế và xã hội vùng đồi núi nhằm đảm bảo một hệ thống sử dụng đất bền vững cho đất dốc nói riêng và đất vùng đồi núi nói chung Nhóm công tác về “Khung đánh giá đất dốc bền vững” (Nairobori, 1991) đã nêu lên quan điểm “Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và các hoạt động nhằm liên hợp các nguyên

lý kinh tế - xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời (a) duy trì hoặc nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất), (b) giảm rủi ro sản xuất (an toàn), (c) bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ), (d) có hiệu quả lâu dài (lâu bền) và (e) được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận).”

* Kinh nghiệm của các nước Đông Nam Á: Diện tích đất đồi núi ở khu vực

Đông Nam Á được phân bố ở tất cả các nước trong khu vực, trong đó nhiều nhất là

ở Việt Nam (chiếm 75% tổng diện tích toàn quốc) và ở Lào (chiếm 73% tổng diện tích toàn quốc) Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp ( bảo tồn rừng tự nhiên hoặc trồng rừng khai thác, rừng sinh thái) cũng như được khai thác trồng các loạicây công nghiệp, cây ăn quả dài ngày Một phần nhỏ diện tích đất đồi núi dạng thung lũng, dốc thấp, bình nguyên, cao nguyên (địa hình thấp, khá bằng phẳng hoặc lượn sóng, thuận lợi cho canh tác thì được sử dụng trồng hoa màu lương thực Đại bộ phận hệ thống canh tác vùng đồi núi là canh tác nước trời, trừ diện tích lúa nước hai vụ dạng ruộng bậc thang hoặc diện tích trồng rau ven bãi bồi các sông suối là sử dụng nước tưới Intosh J.L.Mc (1990) [44] cũng đã chỉ ra những nhân tố kiềm chế sự phát triển sản xuất hoa màu trên đất dốc Đất dốc Đông Nam Á khác nhau rất nhiều về địa hình, độ phì tự nhiên, tính chất lý hoá và sinh học Sự

Trang 16

mất độ phì nhanh chóng là biểu hiện rõ nhất, thường đất khai hoang đưa vào sản xuất sau 2 - 3 năm thì mất độ phì vốn có và khả năng sản xuất Nguyên nhân là sau khi thảm thực vật bị phá bỏ, đất được cày bừa xới xáo, chất hữu cơ bị oxy hoá nhanh và quá trình rửa trôi xảy ra mạnh Trên đất dốc, đất có thành phần sét cao giữ được độ phì tốt hơn đất cát Do đó trong quá trình canh tác, việc bảo vệ độ phì và cải thiện độ phì bằng cách dùng phân chuồng, phân xanh và đặc biệt là sử dụng cây

họ đậu để cải thiện tính chất đất là yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất cây trồng “Sử dụng, quản lý đất dốc Châu Á” là tên gọi một mạng lưới của Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất dốc (IBSRAM) (SajjapongseA.,1993) [47] Tổ chức này đã thực hiện nghiên cứu, quản lý đất dốc để phát triển nông nghiệp ở 7 nước Châu Á: Indonesia, Malaisia, Philippines, Thái Lan,Trung Quốc và Việt Nam Thực trạng chung của các nước này là canh tác trên đất dốc không hợp lý làm cho đất bị xói mòn rửa trôi dẫn đến thoái hoá Kết quả nghiên cứu bước đầu của IBSRAM cho thấy canh tác trên đất dốc phải có mô hình cây trồng và kỹ thuật phù hợp để vừa thu được năng suất cao vừa bảo vệ đất dốc, bảo vệ môi trường Một yếu

tố quan trọng mà các nghiên cứu trong hệ thống này đề cập là các biện pháp kỹ thuật muốn được nông dân áp dụng phải là biện pháp có hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên, với các hộ dân nghèo thì cần phải xem xét mức đầu tư tiền mặt cho phù hợp

* Kinh nghiệm của Indonesia: Theo nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống

canh tác trên đất dốc của Intosh J.L.Mc (1990) [44] ở Indonesia và nhiều nơi khác những vùng đất nông nghiệp rộng lớn chỉ thích hợp cho hoa màu cạn, tài nguyên đất dốc chưa được sử đúng mức và trong nhiều trường hợp còn bị lãng phí Ở Indonesia

có khoảng 15 - 20 triệu ha đất dốc địa hình lượn sóng nhẹ có thể trồng hoa màu nhưng chưa được khai thác sử dụng có hiệu quả Samfujika (1996) [38] nghiên cứu biện pháp chống xói mòn ở Indonesia cho thấy phương pháp làm ruộng bậc thang rất hiệu quả trong việc hạn chế xói mòn, rửa trôi nhưng rất tốn công Vì vậy, họ đã nghiên cứu các biện pháp khác Một trong những biện pháp đó là làm đất tối thiểu, lên luống và ủ đất Tuy nhiên, mỗi phương pháp đều có những mặt hạn chế Nghiên cứu của Bell L.C (1986) [41] sử dụng phân xanh, phân chuồng và các loại phân

Trang 17

hữu cơ hoặc chế, phụ phẩm nông nghiệp đã làm tăng lân dễ tiêu cho cây dễ hấp thụ, đồng thời làm giảm độ độc nhôm và sắt Trong dung dịch đất, các axit hữu cơ tạo phức với kim loại Al, Fe Chúng tồn tại ở dạng phức hữu cơ - nhôm, hữu cơ - sắt trong dung dịch đất không độc đối với cây trồng

1.2 Ở trong nước

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường

Từ lâu những người làm nông nghiệp đã hiểu rằng môi trường sống lâu dài của con người tuỳ thuộc rất nhiều vào việc giữ gìn, quản lý đất, nước và dinh dưỡng địa quyển vì nó rất có hạn Thật vậy, đất bị xói mòn, diện tích canh tác ngày càng thu hẹp do qúa trình công nghiệp hoá, chất lượng đất (độ phì nhiêu) giảm dần không chỉ tước mất cơ hội kiếm sống của người nông dân mà còn đe doạ cuộc sống của toàn xã hội về lương thực và thực phẩm

Tác động phụ thuộc qua lại của môi trường tự nhiên và xã hội chi phối quản

lý sử dụng đất bền vững Khái niệm tính bền vững của một hệ thống quản lý sử dụng đất rộng lớn hơn là bền vững về độ phì nhiêu, nó bao gồm 3 phương diện: bền vững về kinh tế, sự chấp nhận của xã hội và bền vững về môi trường Trong lịch sử canh tác đất đã từng có 3 hệ thống được công nhận có sức sản xuất ổn định tuy mức hiệu quả có khác nhau, đó là:

- Hệ luân phiên cây trồng bỏ hóa một vụ

- Hệ chăn thả gia súc luân phiên

- Hệ canh tác lúa nước

Các hệ thống này tồn tại khá lâu và được xem như là một mô hình sản xuất trong điều kiện đòi hỏi mức đầu tư thấp, hưởng lợi thấp và điều kiện tự nhiên (đất, nước…) còn dồi dào Nhưng ngày nay với những biến đổi lớn lao trên toàn cầu, khu vực, mỗi quốc gia thậm chí từng địa phương thì các hệ canh tác đó không thể tồn tại bền vững ở khắp nơi như xưa nữa Ở các vùng núi cao, nếu chỉ xét đơn thuần về mặt kinh tế trên đơn vị diện tích thì không có hệ thống cây trồng nào sinh lợi bằng

Trang 18

trồng cây thuốc phiện Tuy nhiên hiệu quả kinh tế cao không thôi rõ ràng không thể tồn tại được trước áp lực xã hội đòi hỏi loại khử căn nguyên làm huỷ hoại sức khỏe con người Từ đó ta có thể thấy rằng tính bền vững của sử dụng đất phải được xem xét đồng bộ các mặt kinh tế - xã hội và môi trường Ở cấp thực địa đồng ruộng thì

“một hệ thống canh tác được coi là bền vững” khi nó không ngừng thoả mãn các nhu cầu của người dân mà không làm thoái hoá nền dự trữ cơ bản của họ [8] [24] [33]

1.2.2 Nghiên cứu về hiệu quả kinh tế - xã hội

Hiệu quả kinh tế là một tiêu chí trong đánh giá tính bền vững quản lý sử dụng đất Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh về mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực sản xuất có hạn, nhu cầu

về hàng hóa và dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và đa dạng thì nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan và bức xúc của sản xuất xã hội [8]

Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, đó là thỏa mãn ngày càng cao (tăng số lượng và chất lượng) về nhu cầu vật chất xã hội Đánh giá kết quả sản xuất là đánh giá về mặt số lượng còn đánh giá hiệu quả của sản xuất là xem xét tới mặt chất lượng của quá trình sản xuất đó

Như vậy, hiệu quả là một phạm trù kinh tế - xã hội phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế và là đặc trưng của mọi hình thái kinh tế xã hội Bởi thế, để

có một quan điểm hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế, chúng tôi xuất phát từ luận điểm kinh tế học của Các Mác “Quy luật tiết kiệm thời gian trong khi sử dụng các nguồn lực xã hội” và những luận điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội

là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người và con người trong quá trình sản xuất

- Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế- xã hội phản ánh mặt chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là đặc trưng cho mọi hình thái xã hội Bản chất

Trang 19

của hiệu quả kinh tế có thể được hiểu như sau :

+ Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nhưng nó không phải

là mục đích cuối cùng của sản xuất

+ Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, tiến bộ quản lý…) để tạo

ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn

+ Hiệu quả kinh tế phải được gắn liền với kết quả của những hoạt động sản xuất cụ thể trong các doanh nghiệp, nông hộ và nền sản xuất xã hội ở những điều kiện xác định về thời gian và hoàn cảnh kinh tế xã hội

+ Hiệu quả kinh tế phải lượng hóa được cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (kết quả) trong quá trình sản xuất ở từng đơn vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất định các doanh nghiệp với mục đích là tiết kiệm lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng hóa nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Do đó hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất

Như vậy, việc đánh giá hiệu quả phải được xem xét một cách toàn diện, cả

về mặt thời gian và không gian trong mối liên hệ giữa hiệu quả chung của nền kinh

tế quốc dân với hiệu quả của từng bộ phận của các đơn vị, xí nghiệp; hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và có quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau Đứng trên góc độ nền kinh tế quốc dân thì hiệu quả của xã hội phải gắn liền với hiệu quả của toàn xã hội, trên cả mặt kinh tế

và xã hội Gắn chặt hiệu quả của các đơn vị kinh tế với hiệu quả toàn xã hội là đặc trưng riêng thể hiện tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.2.3 Nghiên cứu về hiệu quả môi trường

“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi

Trang 20

trường của Việt Nam) Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại:

* Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho

ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

* Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

* Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống,

như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo

Hiệu quả môi trường là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường theo hướng tích cực hơn do hoạt động sản xuất gây ra như: xói mòn, ô nhiễm đất, không khí, bệnh tật…Việc xác định hiệu quả môi trường là tương đối khó

1.2.4 Nghiên cứu về hiệu quả tổng hợp

Để đánh giá sử dụng đất dốc, một khung đánh giá quản lý đất dốc bền vững

đã được các nhà khoa học đề xuất từ năm 1991 trong đó 5 thuộc tính của khái niệm bền vững được xem xét là:

- Tính sản xuất hiệu quả

Trang 21

* Những tiêu chí và chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tính bền vững đối với sử dụng đất dốc ở Việt Nam

- Bền vững về kinh tế : Năng suất trên mức bình quân vùng, năng suất tăng dần, đạt tiêu chuẩn sản phẩm tiêu thụ tại địa phương và xuất khẩu; giá trị sản xuất trên chi phí đạt trên 1,5 lần; ít mất trắng do hạn và sâu bệnh, có thị trường ổn định,

dễ bảo quản và vận chuyển

- Chấp nhận xã hội với 6 tiêu chí:

+ Đáp ứng nhu cầu của hộ về lương thực, thực phẩm, về tiền mặt và nhucầu khác

+ Phù hợp với năng lực nông hộ về đất đai, lao động, vốn và kỹ năng sản xuất

Trang 22

+ Người lao động tự quyết công việc đồng áng, không áp đặt và được hưởng lợi ích thoả đáng

+ Giảm nặng nhọc cho phụ nữ, không làm trẻ em mất cơ hội học hành

+ Phù hợp luật pháp hiện hành ( Luật Đất đai và Luật Bảo vệ rừng, mặt nước)

+ Được cộng đồng nông thôn công nhận phù hợp tập quán, văn hoá dân tộc

- Bền vững về sinh thái có 4 tiêu chí:

+ Giảm thiểu xói mòn, thoái hoá đất dưới mức cho phép, tăng độ phì nhiêu cho đất hoặc ít ra cũng duy trì, bảo toàn độ phì nhiêu

+ Tăng độ che phủ (che phủ trên 35% quanh năm)

+ Bảo vệ nguồn nước: Duy trì và tăng nguồn sinh thuỷ, không gây ô nhiễm nguồn nước

+ Nâng cao, đa dạng hoá sinh học của hệ sinh thái, tỷ lệ cây dài ngày cao nhất có thể được, khai thác tối đa các loài bản địa, bảo toàn và làm phong phú quỹ gien

* Những nguyên tắc đánh giá tính bền vững

Bền vững là một khái niệm động, bền vững ở nơi này có thể không bền vững

ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này, có thể không bền vững ở thời điểm khác Đo lường trực tiếp tính bền vững là một khó khăn nhưng sự đánh giá đó có thể thực hiện được dựa vào những biểu hiện và chiều hướng của các quá trình chi phối đến chức năng một hệ canh tác nhất định, ở một địa phương cụ thể Những nguyên tắc chung là:

+ Tính bền vững được đánh giá cho một kiểu sử dụng đất nhất định, một mô hình sản xuất nhất định, cho một đơn vị lập địa cụ thể, cho một hoạt động điều hành, cho một thời hạn xác định

Trang 23

+ Dựa trên quy trình và dữ liệu khoa học, những chỉ số và tiêu chuẩn phản ánh nguyên nhân và kết quả, các tiêu chí và chỉ tiêu phải phản ánh hết được các mặt bền vững và không bền vững của một hệ thống sử dụng đất

Nếu thoả mãn hết các chỉ tiêu thì tính bền vững của một hệ thống đạt mức tối

đa Song trong thực tế không có được một hệ thống lý tưởng như vậy, mỗi một hệ thống chỉ đạt được một số mặt nào đó ở một mức độ nhất định tuỳ theo từng mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau và nhận được sự đánh giá khác nhau khi xem xét cho từng trường hợp [23]

1.2.5 Nghiên cứu về giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất và những kinh nghiệm thực tiễn

Dựa vào quan niệm lâu đời của nông dân vùng cao và quan điểm đổi mới trong sử dụng và quản lý đất dốc Những tiến bộ mới trong canh tác và bảo vệ đất dốc đã tự khẳng định tính ưu việt của nó và được đông đảo nông dân các dân tộc vùng cao chấp nhận, nhân rộng với tốc độ nhanh

* Dùng tàn dư thực vật che phủ bề mặt: Từ thực nghiệm quy mô nhỏ, kỹ

thuật che phủ đất dốc bằng tàn dư thực vật đã và đang được phổ biến rộng rãi, được

bà con các dân tộc miền núi phía Bắc áp dụng có hiệu quả Tạo lớp che phủ đất bằng lớp thực vật sống

* Kiến thiết tiểu bậc thang kết hợp che phủ đất và làm đất tối thiểu: Kinh

nghiệm làm ruộng bậc thang ở miền núi đã có từ lâu, nhưng chỉ áp dụng được ở nơi

có tầng đất dày và độ dốc thấp cộng với đầu tư công lao động lớn Đối với những sườn núi có độ dốc cao, tầng đất mỏng thì tạo tiểu bậc thang kết hợp che phủ đất và chọc lỗ gieo thẳng mà không làm đất là một kỹ thuật rất có hiệu quả, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ và tăng độ phì cho đất Tiểu bậc thang được kiến tạo bề mặt

từ 30-40cm và nên trồng các loại cây thích hợp để bảo vệ bờ bậc thang, có thể kết hợp trồng cỏ để làm thức ăn gia súc, trồng cây họ đậu qua đông để bảo vệ và cải tạo đất Trồng xen cây họ đậu vào nương sắn [33]

Trang 24

Để cải thiện hiệu quả canh tác trên đất dốc, biện pháp đơn giản, ít tốn kém được các cơ quan chuyên môn đưa ra là hướng dẫn người dân áp dụng các biện pháp luân canh, xen canh, gối vụ, đa dạng hóa các loại cây trồng, trong đó chủ yếu

sử dụng cây họ đậu vừa giúp cải tạo đất, vừa tạo ra các sản phẩm phục vụ chăn nuôi, giúp tăng vụ, tăng thu nhập cho người dân Cùng với việc tăng cường sử dụng cây họ đậu vào canh tác, cũng có thể lựa chọn các loại cây trồng có bộ rễ khỏe, có khả năng phá vỡ lớp đất rắn trên bề mặt, giữ đất và tận dụng được nguồn dinh dưỡng trong các tầng đất để phát triển Hiện nay mô hình trồng luân canh các cây

họ đậu với cây trồng khác như ngô, lúa nương, sắn cao sản, cây dứa… đang được người dân một số xã của huyện Mường Chà, tỉnh Điện Biên triển khai khá hiệu quả Tiêu biểu là mô hình luân canh lạc, đậu tương và cây sắn cao sản ở xã Na Sang Đây được đánh giá là biện pháp canh tác trên đất dốc cho hiệu quả kinh tế cao

Tỉnh Đắk Nông vừa nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp khoa học và công nghệ nhằm phát triển nông nghiệp bền vững trên đất dốc tại Đắk Nông” Đề tài được triển khai trong 3 năm, do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) thực hiện Mục đích của đề tài nghiên cứu là xác định hệ thống canh tác phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững vùng đất dốc ở địa phương Thành công của đề tài nghiên cứu khoa học, đang mở ra triển vọng phát triển sản xuất nông nghiệp của địa phương, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên

Tại mỗi xã đã triển khai các mô hình sản xuất tổng hợp và cơ cấu cây trồng hợp lý trên đất dốc, trong đó có “Mô hình canh tác tổng hợp trên vùng đất dốc chuyên canh cây màu,” “Mô hình canh tác tổng hợp bền vững trên vùng đất đang trồng cây lâu năm” và “Mô hình canh tác tổng hợp trồng trọt kết hợp chăn nuôi."

Viện đã đi sâu nghiên cứu sản xuất luân canh cho một số loại cây ngắn ngày trên đất dốc; nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng xen trong vườn các vườn cây keo, cà phê và cao su thời kỳ kiến thiết cơ bản Một số mô hình sản xuất đối với

Trang 25

mỗi loại cây được thực hiện với nhiều công thức (mật độ cây trên đơn vị diện tích, lượng phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh và trồng cây che phủ đất) và các biện pháp chăm bón khác nhau để chọn giống cây có năng suất cao chất lượng tốt và tìm ra biện pháp canh tác hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao

Căn cứ vào nhu cầu và điều kiện đất đai, tiểu khí hậu đối với từng địa bàn, trong các trang trại, vườn cây công nghiệp, nương rẫy sản xuất cây hoa màu ở Đắk Nông, các chủ trang trại, hộ nông dân cần được khuyến khích trồng phát triển sản xuất sinh thái Trong các vườn cây, nương rẫy, người dân phải hàng rào cây xanh thân gỗ, cây ăn quả như mít bơ, chôm chôm, sầu riêng, xoài tạo vành đai chăn gió, giữ độ phì, hạn chế xói mòn và tạo thêm nguồn thu nhập [37]

1.3 Thảo luận

1.3.1 Thành quả nghiên cứu

Kể từ khi loài người bắt đầu chuyển đổi cuộc sống từ hái lượm sang trồng trọt và chăn nuôi, những tác động sản xuất nông nghiệp rồi sau đó là lâm nghiệp đã

là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển của các loại đất của mỗi quốc gia Dưới các hoạt động khai phá, đất, trồng tỉa, tưới nước, bón phân, thu hoạch bằng các biện pháp thô sơ đến kỹ thuật máy móc hiện đại, các chất hoá học, nhằm thu được những sản phẩm nông nghiệp nhiều và tốt nhất cho mình, con người đã tạo ra những loại đất khác với bản chất thiên nhiên của chúng theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực Bao quát chung các loại đất của Việt Nam cũng cho thấy hầu hết các loại đất vùng đồng bằng, vùng duyên hải và vùng đồi núi thấp đã được con người khai phá sử dụng lâu đời và triệt để Đặc biệt trong những thập kỷ qua, con người đã tấn công mạnh mẽ và ồ ạt lên những vùng đồi núi cao và dốc ở khắp các tỉnh vùng đồi núi nước ta do sức ép tăng dân số và nhu cầu đời sống ngày một gia tăng

Như chúng ta đã biết, diện tích đất đồi núi nước ta chiếm gần 3/4 diện tích toàn quốc, khoảng 23,9 triệu ha, cuộc sống của đa phần dân cư gắn liền với đất đai,

do vậy, sử dụng đất đồi núi sản xuất nông lâm nghiệp chiếm một vị trí rất quan

Trang 26

trọng trong nền kinh tế Canh tác trên đất dốc với hình thức canh tác nương rẫy là một hình thức sản xuất nông nghiệp nguyên thuỷ của vùng nhiệt đới, giữ vị trí quan trọng trong đời sống vật chất và tâm linh của con người, là biểu hiện của mối quan

hệ gắn bó giữa con người và thiên nhiên Ở nước ta, phần lớn diện tích đất canh tác nương rẫy được tiến hành trên đất có độ dốc > 250

với cây trồng chủ yếu là cây lương thực như lúa nương, ngô, sắn Do đó canh tác nương rẫy vẫn còn là hình thức canh tác phổ biến và quan trọng của nhiều nhóm dân tộc sinh sống ở vùng cao, nơi

mà cuộc sống ở đó còn nhiều khó khăn, an toàn lương thực vẫn còn là vấn đề khó giải quyết; sản xuất nông nghiệp ít được đầu tư, chưa được quan tâm và còn phụ thuộc nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên sẵn có

Tình hình quản lý và sử dụng đất dốc có nhiều biến động theo các thời kỳ phát triển của đất nước Giai đoạn 1943 đên 1960 rừng Việt Nam vẫn còn nhiều (tỷ

lệ che phủ đạt 43,8%), rừng chưa được quản lý Đây là giai đoạn hưng thịnh nhất của nền nông nghiệp du canh thế kỷ XX Người dân tự do phát rừng làm rẫy nên đời sống đồng bào no đủ Giai đoạn sau 1960, dân số tăng nhanh nên đời sống của người dân miền núi trở lên khó khăn, thiếu đói hơn giai đoạn trước Thiếu lương thực, đồng bào bắt đầu gia tăng việc phát rừng, đốt nương làm rẫy và nạn phá rừng trở nên trầm trọng Đến năm 1990 thì diện tích đất trống đồi núi trọc của nước ta lên đến đỉnh điểm là 11,768 triệu ha (35,7% đất tự nhiên), do thiếu đất canh tác nên thời gian bỏ hóa bị rút ngắn và hiện tượng du canh vẫn tiếp tục xảy ra Giai đoạn sau

1990, nhờ có sự đầu tư tái trồng rừng của Chính phủ và việc áp dụng rộng rãi các kỹ thuật tiến bộ trong thâm canh đất thung lũng và đất ruộng bậc thang nên sức ép khai thác đất dốc đã giảm, độ che phủ rừng dần được phục hồi Năm 2003, theo số liệu của tổng cục thống kê thì diện tích đất có rừng đã đạt 12,05 triệu ha (36,5% đất tự nhiên) Tuy nhiên, ở nhiều nơi, do không có đất bằng nên nông dân miền núi vẫn phải dựa vào đất dốc để sản xuất lương thực và vẫn mang đậm phương thức canh tác nương rẫy truyền thống

Từ những năm của thập kỷ 80 và 90 đến nay, các chương trình nghiên cứu và

sử dụng đất đồi núi tập trung vào các dự án đánh giá đất và xây dựng các mô hình

Trang 27

sản xuất như hệ thống nông lâm kết hợp, hệ thống vườn ao chuồng rừng (VACR) và trang trại sản xuất rừng đồi, vườn đồi

Các chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ vùng đầu nguồn, xây dựng thôn bản mới, quy hoạch sử dụng đất có người dân cùng tham gia, xây dựng và cải thiện thị trường nông thôn, ngân hàng và tín dụng nông thôn là những hoạt động hữu hiệu và vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ đất và

sử dụng đất đồi núi hợp lý nhất

Canh tác trên đất dốc có nhiều hạn chế, mà hầu hết những hạn chế này là kết quả của quá trình canh tác bất hợp lý Bùi Quang Toản (1991) đã chỉ ra hạn chế lớn là: xói mòn rửa trôi, cỏ dại và khô hạn đất Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm (1992) [24] cũng

đã chỉ ra 9 hạn chế của vùng đất dốc là: xói mòn rửa trôi, thiếu nước, khô hạn, địa hình không đồng đều, phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế - xã hội bên ngoài, tập quán canh tác thô sơ, đầu tư thấp, thiếu vốn để kinh doanh các loại cây có hiệu quả cao nhưng dài ngày, tiếp cận tiến bộ khoa học khó khăn, có những quan điểm sai lệch về canh tác trên đất dốc, cơ sở hạ tầng yếu kém

Như vậy, đất dốc Việt Nam rất đa dạng, giàu tiềm năng, là nơi sinh sống của nhiều triệu người nhưng vẫn đang chứa đựng những khó khăn và bất cập; đất đai bị thoái hoá, đời sống nông thôn còn gặp nhiều khó khăn, kinh tế chậm phát triển, trình độ dân trí thấp Muốn giải quyết những vấn đề miền núi cần phải có những giải pháp đồng bộ và mang tính hệ thống cao; đưa tiến bộ khoa học áp dụng vào đời sống nhưng vẫn phải ứng dụng kiến thức bản địa

Hầu hết các nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc đều hướng vào đánh giá lợi ích kinh tế của mô hình cây trồng mang lại, kết hợp với đánh giá lợi ích

về môi trường do hệ thống cây trồng đó tác động như: chống xói mòn, bảo vệ và cải thiện độ phì đất; bảo vệ và duy trì nguồn nước; lợi dụng tối đa điều kiện tự nhiên như ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa…

1.3.2 Tồn tại nghiên cứu

Những nghiên cứu về đất dốc và biện pháp canh tác trên đất dốc của các tác

Trang 28

giả trong và ngoài nước tuy đã được quan tâm, nhưng vẫn còn một số tồn tại sau:

- Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất phần lớn dựa trên những giả thiết về tỷ lệ lãi suất; giá cả đầu ra, sản lượng thu hoạch Những nhân tố này thường biến động, thay đổi theo thời gian, biên độ lớn và khó dự báo

- Còn thiếu những phương pháp định lượng trong việc xã định các chỉ tiêu xã hội trong việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình canh tác

- Còn ít những giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng đất có thể được nhân rộng hoặc khuyến cáo cho những đụa bàn có tính tương đồng đối với các khu vực khác nhau

- Hầu hết các nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp trên đất dốc đều hướng vào đánh giá một mặt nào đó của cây trồng, mà chưa có kết hợp với đánh giá lợi ích

về môi trường do hệ thống cây trồng đó tác động như: chống xói mòn, bảo vệ và cải thiện độ phì đất; bảo vệ và duy trì nguồn nước; lợi dụng tối đa điều kiện tự nhiên như ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa…

- Địa bàn nghiên cứu đa số là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số ít người, trình

độ dân trí chưa cao dẫn đến kết quả thu được còn chưa chính xác

- Đề tài nghiên cứu trên địa bàn điểm, lẫy mẫu ngẫu nhiên nên đôi khi kết quả chỉ mang tính tương đối, chưa thể hiện hết được các loại hình canh tác hiện có trên địa bàn nghiên cứu

Trang 29

Chương 2MỤC TIÊU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Về lý luận: Định lượng được một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - môi trường của một số loại hình sử dụng đất dốc ở xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

- Về thực tiễn: Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh

tế - môi trường của một số loại hình sử dụng đất dốc ở xã Yên Lập, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kinh tế - môi trường của một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình, phổ biến trong sản xuất nông, lâm nghiệp, được canh tác hoặc quản lý bởi hộ gia đình người dân trên địa bàn nghiên cứu

2.4 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình trên địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình trên địa bàn nghiên cứu

Trang 30

- Đánh giá hiệu quả môi trường của một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình trên địa bàn nghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại hình sử dụng đất dốc

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - môi trường của một

số loại hình sử dụng đất dốc ở huyện Cao Phong - tỉnh Hòa Bình

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

* Chọn xã điểm:

+ Xã có vị trí địa lý, địa hình mang tính đại diện cho huyện

+ Diện tích của xã phải đủ tỷ lệ khoảng 10% so với diện tích của huyện + Loại hình canh tác với thành phần loài cây phong phú, đa dạng

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Sử dụng các phương pháp điều tra kết hợp giữa kế thừa số liệu, điều tra xã hội học với điều tra chuyên ngành như:

* Phương pháp thu thập thông tin

a) Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các thông tin công bố chính thức của các cơ

Trang 31

quan nhà nước, các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình hình sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ nông dân, canh tác trên đất dốc…

Đề tài đã tham khảo các tài liệu, báo cáo về tình hình biến động đất đai và sử dụng đất của huyện Cao Phong và xã Yên Lập từ năm 2009 đến năm 2011 phục vụ cho công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất tại địa điểm nghiên cứu

Các báo cáo về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội của địa phương b) Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

* Phương pháp khảo sát, điều tra kinh tế - xã hội

Những thông tin, tài liệu này được thu thập dựa trên phương pháp đánh giá nhanh nông thôn ( RRA- Rural Rapid Appraisal ) và sử dụng phiếu điều tra kinh tế

hộ trong đó có sử dụng một số công cụ như:

* Điều tra theo tuyến và xây dựng sơ đồ mặt cắt: Tiến hành đi và khảo sát

từ nơi vị trí thấp đến nơi có vị trí cao Lựa chọn hướng đi qua tất cả các loại hình

sử dụng đất chính trong địa bàn xã Đến mỗi khu vực đặc trưng tiến hành 02 cuộc thảo luận cùng nông dân và khảo sát hiện trường về các nội dung: hiện trạng, khó khăn, thuận lợi và giải pháp Vẽ và tổng hợp lại thành một bản sơ đồ mặt cắt hoàn chỉnh đặc trưng cho thôn Đề tài đã điều tra trên 3 tuyến thuộc các Bản Bạ, Chầm, Quà của xã Yên Lập và xây dựng được 3 sơ đồ mặt cắt điển hình cho các loại hình

Trang 32

* Phân loại hộ gia đình: Phân loại hộ gia đình dựa trên các tiêu chí do đề tài đưa ra Việc xác định được các tiêu chí cho từng loại nhóm hộ gia đình thông qua kết quả phỏng vấn và phân loại của một nhóm hộ nông dân trong thôn Phương pháp tiến hành qua 2 bước sau:

+ Dùng các tờ phiếu đã được ghi tên của các chủ hộ trong thôn bản để một số nông dân phân loại theo các nhóm bằng phương pháp so sánh

+ Xây dựng bảng tiêu chuẩn phân loại theo mẫu biểu sau:

Tiêu chí Nhóm hộ 1 Nhóm hộ 2 Nhóm hộ 3 TC1

+ Tình hình chung về kinh tế - xã hội của các thôn trong xã

+ Tình hình phát triển và hiện trạng sản xuất NLN của xã

+ Các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất của người dân

+ Giải pháp chung của xã để phát triển sản xuất NLN

* Phỏng vấn 3 trưởng bản của các bản Bạ, Chầm, Quà của xã Yên Lập về một số vấn đề sau:

+ Tình hình chung về kinh tế - xã hội của thôn

+ Tình hình phát triển NLN của thôn

+ Các yếu tố tác động đến hoạt động sản xuất của người dân trong thôn

Trang 33

* Phỏng vấn hộ gia đình: Công cụ này dùng để thu thập thông tin chi tiết của các hộ gia đình trong sản xuất NLN tại các thôn điểm Để đảm bảo các thông tin thu thập mang tính đại diện và có độ tin cậy cao, chúng tôi tiến hành phỏng vấn

60 hộ gia đình được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên từ các nhóm hộ, trong

đó nhóm hộ nghèo có 19 hộ, nhóm hộ trung bình 30 hộ, nhóm hộ khá 11 hộ Thông tin thu thập được cần ghi chép lại theo các nội dung của bảng phỏng vấn để thuận tiện cho việc tổng hợp thông tin số liệu

* Phân tích SWOT của các mô hình điểm có sự tham gia của người dân:

Trong đó:

S (Strength): Điểm mạnh

W (Weakness): Điểm yếu

O (Opportunities): Cơ hội

T (Threats): Thách thức

* Phân tích kinh tế 60 hộ gia đình: Tiến hành tổng hợp các nguồn thu, chi và cân đối kinh tế hộ gia đình theo nhóm hộ, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá và

đề xuất giải pháp

* Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Phương pháp này được sử dụng để tham khảo, tổng hợp, thu thập chọn lọc các ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ nghiên cứu hoặc công tác trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là trong phạm vi canh tác trên đất dốc Đề tài đã tham khảo ý kiến đánh giá, nhận xét của các cán bộ làm công tác nông lâm nghiệp ở huyện Cao Phong, các cán bộ Sở Nông nghiệp tỉnh Hòa Bình, các thầy cô giáo bộ môn Lâm sinh và bộ môn Đất của trường Đại học Lâm nghiệp

Trang 34

* Phương pháp điều tra

Việc thu thập tài liệu mới chủ yếu dựa trên cơ sở điều tra các hộ nông dân đang canh tác trên đất dốc

Xác định mẫu điều tra: Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa bàn, tiến hành điều tra ngẫu nhiên 60 hộ, bằng phiếu điều tra xây dựng trước Mỗi thôn điểm trong xã chọn điều tra 15-20 hộ, các hộ được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên

* Lựa chọn các LHSDĐ điển hình

- Điều tra qua người dân và cán bộ địa phương

- Khảo sát sơ bộ hiện trường

- Lựa chọn cụ thể đối tượng được lựa chọn trên cơ sở các tiêu chí sau:

+ Tương đối phổ biến

+ Tiêu biểu có tính đại diện

* Phương pháp lập ô tiêu chuẩn và đo đếm các chỉ tiêu cần đánh giá

Từ kết quả lựa chọn 6 LHSDĐ như trên, đề tài đã lập ô tiêu chuẩn để đo đếm các chỉ tiêu cần đánh giá Trên mỗi lô canh tác với mỗi đối tượng lựa chọn lập các ô điều tra mẫu

Từng lô rừng nêu trên đã được điều tra để biết rõ hộ gia đình đang quản lý canh tác, vị trí ranh giới trên thực địa, quyền sử dụng đất, lịch sử và quá trình quản

Trang 35

lý, loại hình canh tác vì những vấn đề này liên quan đến độ chính xác của vấn đề điều tra kinh tế - xã hội

Đề tài đã điều tra trên 20 ÔTC Các ÔTC được phân bố trên các tuyến điều tra và phân đều theo các LHSDĐ điển hình mà tuyến điều tra đi qua Mỗi ô mẫu diện tích 500 m2 (20x25m) hoặc diện tích 1000 m2 Số lượng các ô tiêu chuẩn thoả mãn ≥ 10% diện tích lô canh tác Trên các ô tiêu chuẩn tiến hành điều tra tầng cây cao, độ tàn che, điều tra về cây bụi thảm tươi, điều tra dạng sống của thực vật Cụ thể các cách thức từng nội dung điều tra trong ô tiêu chuẩn tiến hành như sau:

- Điều tra tầng cây cao

Tiến hành mô tả các chỉ tiêu cơ bản phục vụ cho nội dung nghiên cứu gồm:

Độ dốc mặt đất, độ cao, hướng phơi, loại đất,… Sau đó xác định tên loài thực vật và các chỉ tiêu sinh trưởng của tầng cây cao gồm chỉ tiêu Đường kính thân cây (D1.3, cm); Chiều cao vút ngọn (Hvn, m); Đường kính tán (Dt, m)

- Xác định độ tàn che: Theo phương pháp cho điểm (80 điểm) Trên mỗi ô tiêu chuẩn xác định 80 điểm phân bố đều Từ mỗi điểm dùng thước ngắm thẳng đứng lên tán lá rừng, nếu gặp tán rừng thì ghi giá trị 1, nếu không gặp thì ghi giá trị

0, giữa tán lá và khoảng trống thì ghi giá trị 0,5

- Phương pháp điều tra cây bụi, thảm tươi: Trên mỗi ÔTC, lập 5 ÔDB có diện tích 25 m2 (5x5), 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa ÔTC, sau đó đo đếm trong ÔDB theo các chỉ tiêu về tên loài chủ yếu, số lượng, độ che phủ (%), chiều cao, phẩm chất cây

* Phương pháp đề xuất các giải pháp

Thực chất của giải pháp là các tác động vào những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới cấu trúc và hiệu quả của cả loại hình canh tác Vì vậy, các giải pháp

sẽ được đề xuất trên cơ sở toàn bộ các kết quả phân tích về cấu trúc và hiệu quả nêu trên

Trang 36

2.5.3 Phương pháp phân tích số liệu

- Đánh giá hiện trạng một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình tại xã Yên Lập, huyện Cao Phong dựa trên việc thống kê diện tích sử dụng đất dốc theo:

Độ cao; độ dốc; chủ sở hữu…; thống kê các loại hình sử dụng đất dốc (Rừng; Nông nghiệp; đất dốc; nương rẫy; hoa màu…) theo độ cao; loài, thảm thực vật… Phân tích lịch mùa vụ của một số loại cây trồng trong LHSDĐ

- Đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình trên địa bàn nghiên cứu qua phương pháp thống kê mô tả năng suất, hiệu quả hiện có, mùa vụ, năng lực quản lý, bảo vệ của chủ đất, mức độ đầu tư… Dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế- xã hội, mô tả chi phí, lợi ích, các tác nhân sử dụng phầm mềm EXCEL

- Đánh giá hiệu quả môi trường một số loại hình sử dụng đất dốc điển hình trên địa bàn nghiên cứu dựa trên việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả

xã hội và môi trường trong sử dụng đất dốc của các hộ nông dân

- Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại hình sử dụng đất dốc

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - môi trường của một

số loại hình sử dụng đất dốc ở huyện Cao Phong- tỉnh Hòa Bình bằng phương pháp

so sánh Đây là phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong công tác nghiên cứu, thông qua phương pháp này ta có thể rút ra các kết luận về hiệu quả của việc canh tác trên đất dốc so với những hộ, những vùng cùng điều kiện nhưng chưa áp dụng phương thức canh tác này Thông qua phương pháp này chúng ta sẽ đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu, mặt được và chưa được của phương thức canh tác trên đất dốc để từ đó có những đánh giá chung nhất, những kiến nghị và giải pháp hiệu quả nhất nhằm phát triển kinh tế, xã hội- môi trường cho các loại hình sử dụng đất dốc trên địa bàn nói riêng và trên địa hình dất dốc nói chung

Trang 37

2.5.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá

* Các chỉ tiêu cấu trúc rừng

- Thành phần loài cây

Xác định thông qua thành phần loài và số lượng cá thể loài trong hệ thống

- Cấu trúc nằm ngang - Cấu trúc mật độ

Xác định thông qua kết quả điều tra và tính mật độ của tầng cây cao trong hệ thống

Với tầng cây cao (N, cây/ha) theo công thức sau:

Notc N/ha = x 10000 (cây/ha) [2.1]

Sotc Trong đó:

Notc: số cây trên ô tiêu chuẩn

Sotc: Diện tích ô tiêu chuẩn

- Độ tàn che (TC,%)

∑điểm gặp tán

TC = (%) [2.2]

∑điểm điều tra

* Một số chỉ số đánh giá hiệu quả kinh tế

+ Giá trị hiện tại của lợi nhuận dòng (NPV - Net present value)

t

Trong đó: Bi: giá trị thu nhập ở năm thứ i (đồng)

Ci: giá trị chi phí ở năm thứ i (đồng)

Trang 38

r: Tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%) i: Thời gian của một chu kỳ sản xuất một mô hình (năm) NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của loại hình cây trồng Loại hình nào có NPV càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao

+ Tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ IRR

Là khả năng thu hồi vốn đầu tư có thể kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiết khấu mà khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0 thì i = IRR

+ Giá trị hiện tại của chi phí (đồng) (CPV- Cost present value)

+ Tỷ lệ thu nhập so với chi phí (BCR - Benefit to cost ratio)

Là tỷ số lãi xuất thực tế cho biết mức độ đầu tư và thu nhập, qua đó cho biết chất lượng đầu tư và mức thu nhập trên một đơn vị sản phẩm

* Một số chỉ tiêu về hiệu quả xã hội

- Thu nhập bình quân/ người

- Trình độ dân trí

- Tỷ lệ đất dốc được đưa vào sản xuất…

Trang 39

Các tiêu chí của hiệu quả xã hội được đánh giá dựa trên các kết quả điều tra

xã hội học về sử dụng đất Đối tượng điều tra gồm: Chủ sử dụng đất, nhà quản lý đất đai và nông lâm nghiệp ở địa phương, cán bộ kỹ thuật, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm Sử dụng các phiếu điều tra để thu thập thông tin Thống kê tính điểm theo loại hình sử dụng đất để xếp hạng về hiệu quả (Phụ lục 12)

* Hiệu quả môi trường

Các tiêu chí của hiệu quả xã hội được người dân đưa ra và được đánh giá dựa trên các kết quả cho điểm của người dân (thang điểm từ 1 đến 10) Hệ thống nào có tổng điểm cao nhấp thì được xếp hạng trước tiên và là hệ thống có hiệu quả môi trường cao nhất (Phụ lục 13)

* Hiệu quả tổng hợp Ect của W.Rola 1994

Đánh giá hiệu quả tổng hợp của các loại hình sử dụng đất tới sinh kế của người dân có nghĩa là đánh giá hiệu quả loại hình trên các mặt: kinh tế, xã hội và môi trường Để đánh giá hiệu quả tổng hợp chúng tôi áp dụng công thức tính chỉ số hiệu quả canh tác Ect (Effective Indicator of Farming system) của W.Rola 1994

fn f

f or f

f

n

minmax

1

minmax

11

Việc so sánh hiệu quả của các loại hình sử dụng đất sẽ được thực hiện trên

cơ sở so sánh với sự tham gia của các nhân tố có liên quan đến điều kiện canh tác của lô đất ngoài thực tế (độ dốc, độ màu mỡ của đất)

Trang 40

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ-XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Yên Lập là một xã nằm ở phía Tây Nam của huyện Cao Phong với tổng diện tích tự nhiên 2.235,94 ha, cách trung tâm huyện lỵ khoảng 11km và nằm trên trục đường nối từ ngã ba Nam Phong đi Yên Thượng

- Phía Bắc giáp với xã Xuân Phong và Dũng Phong

- Phía Nam giáp xã Yên Thượng

- Phía Đông giáp với xã Yên Thượng và xã Thượng Tiến huyện Kim Bôi

- Phía Tây giáp với xã Nam Phong

3.1.2 Địa hình

Với địa hình miền núi khá phức tạp chủ yếu là đồi núi cao, đất đai của xã bị chia cắt nhiều bởi hệ thống khe suối và đồi núi cao làm cho khu vực sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã không tập trung Địa hình có cấu trúc thoai thoải sườn dốc trung bình từ (10-15) độ, hình thành nhiều đồi dạng bát úp hướng trải dài

từ Đông sang Tây Bắc về phía hạ lưu Sông Đà

3.1.3 Khí hậu - Thủy văn

Yên Lập nằm trong vùng khi hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có 2 mùa rõ rệt, mùa khô và mùa mưa Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa bình quân năm 1800mm Chiếm 90% lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 10% lượng mưa cả năm Nhiệt độ trung bình cao nhất là 37 độ, thấp nhất là 8 độ

Nhìn chung, khí hậu của khu vực này khá mát mẻ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi với nhiều mô hình canh tác, chăn nuôi khác

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w