Chỉ số P/E quá cao so với các thị trường khác, những rủi ro tiềm ẫn trong khả năng thanh khoản của các NHTM, mức thâm hut can can vãng lai hợp lý khó duy trì nêu dong von chảy vào dừng đ
Trang 1LMF khuyến cáo gì cho thị trường chứng khoán Việt Nam?
Chỉ số P/E quá cao so với các thị trường khác, những rủi ro tiềm ẫn trong khả năng thanh khoản của các NHTM, mức thâm hut can can vãng lai hợp lý khó duy trì nêu dong von chảy vào dừng đột ngột là những nguy cơ tiêm ân của TTCK Việt Nam mà ban khuyên nghị cúa IMF néu ra
Hién trang va nhitne dau hiéu riii ro
Ban báo cáo của IMF danh gia, thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển chưa từng có trong năm 2006 và tiếp tục cho đến nay cơ bản bắt nguồn từ tình hình kinh tế vĩ mô khả quan của Việt Nam, cộng với việc trở thành thành viên của WTO đã thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đặc biệt từ tháng 11/2006 Dòng vốn này được IMF đánh giá còn có thê tiếp tục tăng lên
Đáng chú ý là IME đánh giá rằng tình trạng bùng nỗ của TTCK hiện tại rất có thể có động lực lớn từ các nhà đầu tư trong nước, kể cả các ngân hàng trong nước và các công ty tài chính phi niêm vêt hơn là từ các công ty nước ngoài
Cau chứng khoán tăng mạnh đã dẫn đến tình trạng hiện nay cô phiếu bị định giá quá cao IME cũng chỉ ra một sô yêu tô cơ bản khác có tác động đến tình trang nay như tôc độ hội nhập của Việt Nam vào nên kinh tê toàn câu, tính minh bạch được cải thiện, các cải cách hiệu quả
Mot van đề đã được các chuyên gia nói đến nhiều lần, nhưng nay được IMEF đưa ra chính thức, có sự so sánh với các thị trường khác có thể làm nhiều người giật mình Theo ước tính của IME, hệ số giá/lợi nhuận (P/E) trung bình của 20 công ty lớn nhất của Việt Nam là khoảng 73.3%, vượt quá xa so với các thị trường khác Chắc chắn sẽ phải giật mình nếu ta biết rằng, chỉ số P/E bình quân của thị trường đứng thứ 2 sau Việt Nam trong bảng thống kê của IMF là Ấn Độ chỉ có 20.4 và mức trung bình của thế giới là 16,2
Nguy cơ tiềm ấn và những phản hôi chính sách
Ban khuyén nghị chỉ ra những nguy cơ tiềm ân trong hoạt động hiện tại của thị trường chứng khoán:
Nguy cơ thứ nhất là khả năng thanh khoản của các Ngân hàng Thuong mại thiếu vốn trong trường hợp có sự điều chỉnh lớn của TTCK trong thời gian tới do việc cho vay mua chứng khoán của ngân hàng không được kiêm tra Trong khi đó luông vôn đâu tư gián tiêp ngày càng tăng đây cao thêm khả năng bùng nô TTCK dân đên khả năng xuât hiện sự điêu chỉnh lớn rât cao
Một nguy cơ nữa với tài chính đối ngoại là khó duy trì được mức thâm hụt cán cân vãng lai hợp lý trong trường hợp dòng vốn chảy vào dừng đột ngột hoặc chuyên hướng ra ngoài Hiện tại, luông vôn đâu tư gián tiêp đô vào làm cán cân thanh toán thặng dư lớn nhưng cán cân vãng lai có thê thâm hụt lớn trở lại trong thời gian tới khi nhu câu nhập khâu tăng do giảm thuế nhập khẩu sau khi vào WTO
Ngay cả khi giá chứng khoán tiếp tục tăng trong thời gian dài nữa thì luồng vốn chảy vào lớn cũng đặt ra bài toán khó với việc thực thi chính sách tiền tệ và tỷ giá
Trang 2Báo cáo của IMF cũng thê hiện sự đông tình với những chính sách mà chính phủ đưa ra cho đến nay bao gồm những biện pháp thắt chặt quy định về TTCK và thanh tra giám sát, hạn chế những tác động xấu tới hệ thông ngân hàng từ TTCK (QÐ số 03/2007 NHNN quy định về tỷ lệ an toàn đối với các tổ chức tín dụng và hạn chế quy mô các khoản cho vay mới của ngân hàng để mua chứng khoán, các chỉ thị của UBCK NN và Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường kiểm tra giám sát và thăt chặt quy định về tính minh bạch của thị trường) Trong lĩnh vực chính sách tiền tệ và ty giá đang phôi hợp chính sách tăng tích lũy dự trữ mạnh đi kèm với dung hòa vốn khả dụng, tiễn tới một cơ chê tỷ giá linh hoạt hơn
Những lưa chọn chính sách trong thoi _gian tới
IMF khuyến nghị cơ quan chức năng cần thắt chặt hơn nữa những biện pháp duy trì an toàn, đặc biệt nhân mạnh vào việc quản lý rủi ro đối với các ngân hàng thương mại từ TTCK Vê nguyên tắc, chỉ những ngân hàng có cơ chê quản lý rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng tôt, có cán bộ được đào tạo tôt mới được câp phép tín dụng đê mua chứng khoán hoặc châp nhận những rủi ro liên quan đên TTCK
Bên cạnh đó, bản khuyên nghị cũng khuyến cáo chính phủ nên tiếp tục chính sách tích lũy đủ dự trữ để đảm bảo cán cân thanh toán trong trường hợp luồng vốn dau tu gián tiêp hiện tại đảo chiêu trong tương lai khi thâm hụt cán cân vãng lại vân còn kiêm soát được và dòng vôn chảy vào vẫn mạnh Tuy nhiên cùng với chính sách đó, NHNN cũng cân thắt chặt tiên tệ và kiêm chê sự tăng trưởng cho vay của ngân hàng NHNN có thê linh hoạt hơn trong việc quản lý VND, cho phép
tỷ giá giảm giá hơi nhanh hơn nêu dòng vôn đôi chiêu đê giảm áp lực đôi với dự trữ
Về chính sách quản lý nợ và ngân sách, bản khuyến nghị cho biết chính sách quản lý nợ và ngân sách cân thận trọng đề giữ vai trò hỗ trợ quan trọng trong việc kiềm chế thâm hụt cán cân vãng lai đôi ngoại và bảo vệ tính bền vững của nợ trung hạn
Chính phủ cũng can nỗ lực hơn nữa cải thiện tính minh bạch và cũng cô việc thực thi những quy định liên quan đến các giao dịch chứng khoán, cần đặc biệt duy trì tiêu chuân niêm yết nghiêm ngặt, đảm bảo răng các công ty niêm yết đạt yêu câu công bồ thông tin phù hợp với những chuẩn mực quốc tế, tăng cường tính an toàn
và xử phạt các giao dịch nội gián
Quan điểm của bản khuyên nghị cũng cho rang su tang gia bất thường của thị trường chứng khoán Việt Nam phản ánh cầu của nhà đầu tư tăng lên, tạo ra một môi trường thuận lợi đê Chính phủ thúc đây quá trình cô phân hóa các Doanh nghiệp Nhà nước và Ngân hàng Thương mại Nhà nước trong gia1 đoạn 2007-2008 Các biện pháp kiểm soát vốn cũng được bản khuyến nghị khuyến cáo răng rất nên dè đặt và cân nhắc những chi phí có thể phải trả, từ kinh nghiệm của những nước đã từng trải qua như Chilê, Malaysia, Nga và Thái Lan
Nguyễn Xuân Quang