1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả thực hiện và tác động của dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tỉnh bình định

91 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (10)
    • 1.1. Trên thế giơ ́ i (10)
    • 1.2. Ở trong nước (15)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về dự án 661 (21)
  • Chương 2. MỤC TIÊU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 2.1. Mu ̣c tiêu nghiên cứu (24)
    • 2.1.1. Mục tiêu chung (24)
    • 2.2. Đối tượng và pha ̣m nghiên cứu (24)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (24)
    • 2.4. Phương pha ́ p nghiên cứu (25)
      • 2.4.1. Quan điểm nghiên cứu (25)
      • 2.4.2. Phương pháp kế thừa tài liệu (26)
      • 2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá (29)
  • Chương 3. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Điều kiê ̣n tự nhiên (30)
      • 3.1.1. Vị trí địa lý (30)
      • 3.1.2. Diện tích và dân số (30)
      • 3.1.3. Địa hình (30)
      • 3.1.4. Khí hậu (34)
      • 3.1.5. Tài nguyên thiên nhiên (34)
    • 3.2. Điều kiê ̣n kinh tế – xã hô ̣i (35)
      • 3.2.1. Nguồn nhân lực (35)
      • 3.2.2. Cơ sở hạ tầng (35)
      • 3.2.3. Về phát triển kinh tế - xã hội (36)
  • Chương 4 (38)
    • 4.1. Một số chính sách để thực hiện dự án (38)
      • 4.1.1. Văn bản cấp chính phủ, thủ tướng chính phủ (38)
      • 4.1.2. Quyết dịnh cấp Bộ và thông tư hướng dẫn cấp bộ hoặc liên tịch làm cơ sở triển khai thực hiện dự án (38)
      • 4.1.3. Các văn bản do địa phương ban hành liên quan đến dự án trồng mới 5 triệu ha rừng (40)
    • 4.2. Đánh giá kết quả thực hiện Dự án tại tỉnh Bình Định (42)
      • 4.2.1. Kết quả chủ yếu của Dự án tại tỉnh Bình Định (42)
      • 4.2.2. Những hạn chế của Dự án (53)
    • 4.3. Đánh giá tác động của Dự án 661 tại tỉnh Bình Định (54)
      • 4.3.1. Tác động về kinh tế (54)
      • 4.3.2. Tác động của dự án về mặt xã hội (58)
      • 4.3.3. Tác động về môi trường (65)
    • 4.4. Đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả kết quả của Dự án (75)
      • 4.4.1. Giải pháp sử dụng có hiệu quả kết quả dự án và duy trì dự án . 68 4.4.2. Giải pháp cho thực hiện các dự án tiếp theo (75)
    • 1. Kết luận (84)
    • 2. Tồn tại (85)
    • 3. Kiến nghị (0)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (87)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Để sử dụng có hiệu quả những kết quả mà dự án đã đạt được đồng thời định hướng cho nhiều hoạt động liên quan đến phát triển rừng ở địa phương cần tiến hành nghiên cứu một cách đầy đủ tác

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giơ ́ i

Đánh giá là khâu then chốt trong một chu trình dự án và là hoạt động thường xuyên nhằm đưa ra những nhận xét về kết quả thực hiện các hoạt động dự án trên cơ sở so sánh kết quả thực hiện với các chỉ tiêu đã lập trước Nói cách khác, đánh giá là một quá trình xem xét một cách hệ thống, khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, hiệu quả và tác động của các hoạt động ứng với mục tiêu đã đặt ra

Trong giai đoạn trước thập kỷ 90 của thế kỷ trước, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness) Nhưng cho đến những năm 90 thì các hoạt động đánh giá còn thêm việc đánh giá tác động (impact), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John và cộng sự, 2000) Việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá hiện nay [29]

Vào đầu năm 1980, Cục Nông nghiệp Mỹ đã xây dựng được một chương trình máy tính tương đối hoàn chỉnh có tên là EVALUE nhằm đánh giá hiệu quả đầu tư cho các dự án rừng trồng (Peter J.Jnce và cộng sự; 1980) Chương trình máy tính này chỉ dừng lại ở mức đánh giá hiệu quả tài chính Theo kết luận của các chuyên gia vào thời điểm đó thì hiệu quả đầu tư vào trồng rừng là không cao, thể hiện ở các chỉ số như NPV thấp, IRR cao không đáng kể so với lãi suất ngân hàng, đó là chưa kể đến mức độ rủi ro cao thường xuyên xảy ra trong sản xuất lâm nghiệp Đến năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland do Micheal Luedeke và Jeff Martin (1996) cũng có kết luận tương tự Tuy nhiên, các tác giả cũng khuyến nghị thêm rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư lâm nghiệp mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc cả việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn và cộng sự , 2008)

Tuy nhiên, đánh giá dự án là một hoạt động rất quan trọng nhưng cũng rất nhạy cảm, đặc biệt trong lĩnh vực lâm nghiệp lại càng nhạy cảm và phức tạp vì nó không dừng lại ở mức độ hiệu quả tài chính mà còn bao hàm cả những khía cạnh về hiệu quả xã hội và môi trường Đồng quan điểm với các tác giả trên, Renard R (2004) đặc biệt phê phán việc sử dụng đánh giá hiệu quả tài chính trong các dự án lâm nghiệp vì theo ông nó hoàn toàn vô nghĩa Việc đánh giá hiệu quả tài chính luôn bỏ qua yếu tố lạm phát, chi phí cơ hội và rủi ro, trong khi những yếu tố này là rất lớn trong lâm nghiệp vì thời gian kinh doanh dài Vì vậy, theo ông thì nên “quên hoàn toàn” việc đánh giá hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp vì chắc chắn rằng hiệu quả tài chính trong lâm nghiệp là không cao Ông khuyến nghị việc đánh giá hiệu quả kinh tế nên kết hợp đồng thời với hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các dự án lâm nghiệp (trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn và cộng sự , 2008) [18]

FAO (1990, 1997) cũng nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng Cũng theo FAO, một dự án đầu tư trong lâm nghiệp dù có đạt hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C ) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm tạo thêm thu nhập cho cộng đồng ) và hiệu quả môi trường (không gây ô nhiễm, xói mòn đất ) thì không được coi là một dự án bền vững [27]

Tại hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước trên thế giới”

Tiếp theo đó sự ra đời của Nghị định thư Kyoto cũng như việc thành lập Quỹ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Theo khuyến nghị của rất nhiều chuyên gia thì cần phải có hoạt động đánh giá môi trường riêng rẽ bao gồm tất cả các chỉ tiêu phản ánh ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực của dự án đó đến môi trường như mức độ bào mòn đất, khả năng ngăn ngừa thiên tai, độ che phủ rừng, mức độ CO2 tăng giảm

Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác (trích dẫn từ Đoàn Hoài Nam, 1996) [13] Theo mô phỏng này, hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

Các lý thuyết và hướng dẫn đánh giá dự án đầu tư lâm nghiệp được đề cập trong các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới như: L Therse Barker (1995) [44] thực hiện nghiên cứu xã hội học, WHO, Jim Woodhill, Gittinger, Dixon & Hufschmidt, (trích dẫn từ Hoàng Liên Sơn, 2008 và cộng sự) [18] Nhìn chung kết quả của những nghiên cứu này đề cập việc đánh giá liên quan đến việc đo lường hay đưa ra nhận định Đây là một quá trình nhằm đánh giá mức độ đạt được những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đã đề ra, tương ứng với chúng là kết quả của các hoạt động, các nguồn lực đã được triển khai và sử dụng như thế nào Đối với một dự án, đánh giá là xem xét dự án một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của dự án, tác động xã hội cũng như các tác động kinh tế môi trường đối với cộng đồng thụ hưởng

Nhiều tác giả đề nghị rằng, điều quan trọng không phải là tiến hành đánh giá có sự tham gia của các bên liên quan mà quan trọng nhất là có sự tham gia của những người hưởng lợi từ dự án Mặt khác, khi triển khai dự án phải có hệ thống thường xuyên thu nhận các phản hồi để kiểm tra xem dự án có đi đúng hướng không Đánh giá quan trọng ở chỗ, nó giúp chúng ta có được những cơ sở quan trọng và cần thiết để đi đến những quyết định chính xác do trong quá trình thực hiện phải điều chỉnh để phù hợp với tình huống khách quan với những thay đổi đột ngột hoặc bất thường của điều kiện thực thi Hoạt động đánh giá phải trả lời hai câu hỏi “đã đạt được cái gì” nghĩa là xác định kết quả đạt được của dự án và “đã tiêu tốn bao nhiêu nhân lực, tài lực và vật lực để có được kết quả đó” nghĩa là nó phải được xem xét các chi phí về thời gian, nhân lực, tiền của cho các hoạt động của dự án

Nếu như việc đánh giá dự án là giai đoạn cuối cùng của dự án, được tiến hành sau khi thực hiện dự án, nhằm đưa ra những kết quả, làm rõ những thành công hay thất bại và rút ra những bài học kinh nghiệm để quản lý các dự án khác nhau hay chu kỳ tiếp theo của dự án trong tương lai thì đánh giá tác động dự án, đặc biệt là dự án đầu tư lâm nghiệp được hình thành từ yêu cầu khách quan về sự phát triển bền vững của rừng – môi trường – con người Ngoài hiệu quả về kinh tế - xã hội – môi trường của quá trình đầu tư, thông qua đánh giá tác động dự án giúp chúng ta định lượng được những tổn thất, những tái tạo về rừng và môi trường do tác động của dự án đem lại, từ đó làm cơ sở cho việc tính toán mức chi phí cần thiết cho bảo vệ rừng, điều chỉnh các hoạt động thực tiễn phù hợp đảm bảo có lợi cho môi trường từ bảo vệ và phát triển rừng mang lại

Trên thế giới việc đánh giá hiệu quả và tác động dự án đã có lịch sử hàng trăm năm Đánh giá tác động dự án không chỉ xem xét tác động của dự án về mặt kinh tế mà còn cả mặt xã hội và môi trường sinh thái Tùy theo tính chất và thể loại dự án việc đánh giá dự án đầu tư lâm nghiệp có những điểm khác nhau Một số dự án mang tính chất kinh doanh hay còn gọi là các dự án trồng rừng sản xuất thì đánh giá thường tập trung vào khía cạnh phân tích hiệu quả kinh tế Ngược lại, những dự án hỗ trợ phát triển lâm nghiệp lại đặt trọng tâm ở khía cạnh xã hội hoặc dự án bảo tồn lại chú ý nhiều đến khía cạnh môi trường Thời điểm và mục tiêu đánh giá khác nhau thì yêu cầu và nội dung đánh giá cũng khác nhau Đánh giá giữa kỳ hay đánh giá tiến độ thường chỉ tập trung xem xét về tiến độ thực hiện các hoạt động dự án nhằm xem xét mức độ hoàn thành, xác định những khó khăn trở ngại và đưa ra những biện pháp điều chỉnh kịp thời Trong khi đó việc đánh giá kết thúc lại phân tích một cách toàn diện về tất cả các mặt, đồng thời phải đưa ra một chiến lược tiếp theo Trong trường hợp đối với những dự án có quy mô lớn và triển khai đồng thời nhiều mảng hoạt động có tính chất tách biệt hay dự án với nhiều hợp phần khác nhau thì công tác đánh giá thường tách riêng theo từng mảng hoạt động hay còn gọi là đánh giá theo chuyên đề

Theo FAO (1987) [28], Hướng dẫn đánh giá kinh tế các dự án quản lý lưu vực sông, thì đánh giá về mặt kinh tế thường được dùng để phân tích các lợi ích và chi phí của xã hội, nên các lợi ích và chi phí đó phải được tính cho suốt thời gian mà chúng còn có tác dụng, nhất là đối với dự án trồng rừng, phải sau khoảng thời gian dài thì chúng mới tạo nên một đầu ra nhất định, đồng thời lại có những tác động về mặt môi trường có thể còn tiếp tục tới nhiều chục năm sau khi dự án kết thúc Vậy cần vận dụng khoảng thời gian nào để đánh giá thì thích hợp? Đối với việc phân tích tài chính thì chỉ cần 20 năm là được, còn đối với phân tích kinh tế thì thời gian phân tích phải khoảng

Theo Lyn Squire [30] trong tài liệu “Phân tích kinh tế dự án” đã chỉ ra rằng, trong trường hợp các chi phí hoặc lợi ích môi trường kéo dài trong tương lai thì các lợi ích và chi phí đó phải được đưa vào phân tích Không phải là do dự án kết thúc về mặt hành chính mà chúng ta bỏ qua các lợi ích và chi phí về môi trường Tuy nhiên trên thực tế, vấn đề tỷ suất chiết khấu và lý do muốn đơn giản việc tính toán đã làm cho nhiều người chọn các thời hạn phân tích và đánh giá ngắn hơn nhiều Đối với các dự án quản lý rừng đầu nguồn hoặc trồng rừng thì thời hạn đánh giá (tầm nhìn về mặt thời gian) phải đủ lớn chừng 15 – 20 năm để thấy đầy đủ và rõ ràng các lợi ích và chi phí kinh tế.

Ở trong nước

Năm 1985, trong quyết định về điều tra, sử dụng hợp lý TNTN và bảo vệ môi trường, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã nêu: "Trong xét duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của chương trình xây dựng lớn hoặc các chương trình phát triển kinh tế - xã hội quan trọng, cần tiến hành đánh giá tác động môi trường" Như vậy việc đánh giá tác động của dự án có ý nghĩa hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội

Sau thập kỷ 90, các nhà nghiên cứu đã quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả đầu tư của dự án lâm nghiệp dưới khía cạnh xã hội và môi trường mà mục tiêu là xem xét các tác động của dự án đến môi trường xung quanh Trên cơ sở những kết quả thực hiện của dự án, những thay đổi về kinh tế, xã hội, môi trường ở thời điểm trước và sau khi dự án triển khai nên các nghiên cứu tập trung xác định rõ nguyên nhân của sự thay đổi, mức độ của sự thay đổi đó Tuy nhiên các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở mức ứng dụng các phương pháp và xây dựng lý thuyết đánh giá, nổi bật là những nghiên cứu sau:

Lê Thạc Cán (1994) hoàn thành công trình nghiên cứu “Đánh giá tác động môi trường – Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” [3] đã tạo ra một hướng mới và một tiền đề về phương pháp luận, cơ sở khoa học cho các tác giả nghiên cứu về môi trường

Hoàng Xuân Tý (1994) với công trình “Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” [23] đã tiến hành những nghiên cứu về kinh tế, môi trường Song, trong các phân tích, đánh giá, tác giả thường thiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên

Cũng trong năm 1994, nhiều công trình của nhiều tác giả khác đã tiến hành những nghiên cứu về tác động môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội của các phương thức canh tác như: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình “Hiệu quả các biện pháp canh tác trên đất dốc” và “Sử dụng đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ rừng”; Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải và tập thể với công trình “Nghiên cứu và đề xuất mô hình phát triển kinh tế môi trường tại một số vùng sinh thái điển hình”

Trần Hữu Dào (1995) đã nghiên cứu, đánh giá hiệu quả trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình "trồng rừng Quế thâm canh thuần loài quy mô HGĐ tại Văn Yên - Yên Bái" [5] Trong đề tài tác giả đã sử dụng các phương pháp, kỹ thuật mới, tiến bộ trong phân tích kinh tế lâm nghiệp Tuy nhiên, đề tài vẫn thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế hơn hiệu quả xã hội và môi trường

Năm 1995, Lê Thạc Cán với công trình “Đánh giá tác động đến môi trường của một số công trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội tiêu biểu về xây dựng và công nghiệp” [4] đã vận dụng có chọn lọc các phương pháp và các hướng dẫn về đánh giá tác động đến môi trường của ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển Châu á, ESCAP vào hoàn cảnh nước ta (tại nhà máy giấy Bãi Bằng, Vĩnh Phú) Đoàn Hoài Nam (1996) với luận văn Thạc sỹ “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hương – Hàm Yên – Tuyên Quang” [13] đã đề cập đến đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một số mô hình rừng trồng, tuy nhiên chưa thấy tác giả đề cập đến vấn đề xã hội

Theo Đỗ Doãn Triệu (1997), trong tập bài giảng về “Đánh giá kinh tế các dự án đầu tư trồng rừng trong cơ chế thị trường” [22], tác giả đã đề cập đến phương pháp phân tích các dự án đầu tư trồng rừng và phân biệt được sự khác nhau giữa phân tích tài chính và kinh tế của dự án

Năm 1997, Đoàn Thị Mai với Luận văn Thạc sỹ “Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững cho một số phương án sử dụng đất trong canh tác Nông Lâm nghiệp ở vùng nguyên liệu giấy” [11] Ở đề tài này tác giả chủ yếu đi sâu đánh giá hiệu quả kinh tế, môi trường mà ít đề cập đến yếu tố xã hội

Năm 2000, trong cuốn “Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường chung các dự án phát triển - Đề án "Xây dựng năng lực quản lý môi trường ở Việt Nam" VNM/B7-6200/IB/96/05” [1], tác giả Lê Đức An đã giới thiệu những vấn đề chung về đánh giá tác động môi trường (những nội dung cơ bản của đánh giá tác động môi trường, vai trò trách nhiệm của các cơ quan và cá nhân tham gia vào quá trình đánh giá tác động môi trường) Xây dựng báo cáo đánh giá tác động môi trường Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường Phần phụ lục: Giới thiệu về một số thuật ngữ môi trường, các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Khoa ho ̣c Công nghê ̣ và Môi trường hướng dẫn thi hành Luật Bảo vê ̣ môi trường, hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Giới thiệu các mẫu về nội dung đánh giá tác động môi trường của Uỷ ban châu Âu và một số nước

Với luận văn Thạc sỹ “Đánh giá tác động của dự án KFW1 tại vùng dự án xã Tân Hoa - Lục Ngạn - Bắc Giang” (2002) [20], Phạm Xuân Thịnh đã đề cập đến một số tác động của dự án, so sánh các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường trước và sau thực hiện dự án Tác giả đã dùng một số chỉ tiêu để phân tích những tác động tích cực về kinh tế, xã hội và môi trường nhưng chưa đề cập xem xét những tác động tiêu cực của dự án sau đầu tư Mặt khác tại thời điểm nghiên cứu, dự án mới hoàn thành xây dựng cơ bản Do vậy tác động của dự án về kinh tế mới phụ thuộc vào kinh phí đầu tư mà chưa có được sản phẩm thu được từ rừng nên phần nào tính hiệu quả về lâu dài chưa chắc chắn Đàm Đình Hùng (2003), với luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu tác động của dự án Khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn (VN- ADB) tại tiểu dự án xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” [8] cũng đã đề cập đến một số tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên tác giả mới chỉ đánh giá trên một tiểu vùng của dự án, mà mỗi tiểu vùng sẽ có những đặc điểm riêng biệt, cho nên đề tài chưa thể phản ánh chung được cho toàn vùng dự án

Nguyễn Xuân Sơn (2005) nghiên cứu “Đánh giá tác động của dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An đến vùng đệm Vườn Quốc Gia Pù Mát” [19] đã đề cập chi tiết đến một số tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Kết quả nghiên cứu đã phân tích hiệu quả kinh tế của một số cây trồng dài ngày được trồng với chu kỳ 5 năm là chưa hợp lý Đinh Đức Thuận (2007) [21], đã chỉ ra rằng, khi xem xét tác động của các dự án lâm nghiệp đến đói nghèo và sinh kế thì phương thức lập kế hoạch hoạt động có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và tối ưu hóa hiệu quả đầu tư của nguồn vốn đầu tư

Bên cạnh những kết quả nghiên cứu nêu trên, các nhà nghiên cứu lâm nghiệp còn thực hiện một số đề tài liên quan đến chủ đề chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn liên quan đến đầu tư dự án phát triển lâm nghiệp và các nghiên cứu đánh giá về khả năng bảo vệ đất, giữ nước của rừng phòng hộ đầu nguồn

Có thể kể đến một số nghiên cứu liên quan đến vai trò bảo vệ đất và giữ nước của rừng đầu nguồn ở Việt Nam như nghiên cứu của Võ Minh Châu

(1993) về khả năng giữ nước của rừng đầu nguồn hồ Kẻ Gỗ ở Hà Tĩnh; nghiên cứu của Phạm Thị Hương Lan (2003) về ảnh hưởng của rừng đầu nguồn đến dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt của một số lưu vực sông; những nghiên cứu của Thái Phiên và Nguyễn Tử Siêm (1998), của Bùi Quang Toản

Một số nghiên cứu về dự án 661

Năm 2006, Trần Duy Rương, Trần Việt Trung tiến hành đánh giá

“Thực trạng và các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển trồng rừng phòng hộ đầu nguồn ở tỉnh Sơn La” [16] với mục tiêu phát triển rừng phòng hộ bền vững, phục vụ việc ổn định mực nước cho thuỷ điện Sơn La và Hoà Bình Trong nghiên cứu này tác giả mới chỉ nêu lên được tình hình thực hiện trồng rừng dự án 661 giai đoạn 1998-2004, trong đó đề cập đến các kết quả của dự án về mặt diện tích, cơ cấu loài cây trồng và chất lượng giống, các mô hình trồng rừng , chưa đề cập đến các yếu tố xã hội khác như sự tham gia, vấn đề giải quyết công ăn việc làm , sự thay đổi về môi trường sau một giai đoạn trồng rừng

Võ Đại Hải, (2007) đã tiến hành “Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn dự án 661 giai đoạn 1999 – 2005 tại tỉnh Hoà Bình” Trong đánh giá này tác giả mới chỉ dừng lại ở việc tổng kết các kết quả dự án đã làm được trong đó đi sâu tổng kết và đánh giá các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng, tổng kết đánh giá hệ thống chính sách và suất đầu tư đối với rừng phòng hộ, tìm hiểu các khoảng trống về kỹ thuật, cơ chế chính sách và suất đầu tư trồng rừng phòng hộ trong dự án 661 tỉnh Hoà Bình qua đó đề xuất một số khuyến nghị về biện pháp kỹ thuật, cơ chế chính sách và suất đầu tư cho đối tượng rừng này Sự tác động của các yếu tố về kinh tế, xã hội và môi trường chưa được tác giả để cập trong đánh giá này [6]

Năm 2010, Viện sinh thái rừng & Môi trường - Đại học Lâm nghiệp tiến hành “Đánh giá kết quả thực hiện dự án 661 vùng Tây Bắc” Kết quả của đánh giá cho thấy dự án cũng đã đạt được một số kết quả nhất định về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Có thể thấy rằng giá trị đóng góp của ngành lâm nghiệp là khá lớn vào sự phát triển kinh tế của các tỉnh trong vùng, riêng Điện Biên năm 2010 đạt 216,536 triệu đồng, về xã hội thì đã giảm tỷ lệ hộ nghèo của toàn khu vực xuống còn 32,92%, về môi trường được đánh giá chủ yếu thông qua chỉ tiêu độ che phủ của rừng qua đó cho thấy riêng Điện Biên độ che phủ tăng từ 28% năm 1998 lên 41,6% năm 2008 Nhìn chung đánh gía này chủ yếu thống kê các con số từ các bào cáo của địa phương, chỉ tiêu về kinh tế chủ yếu dựa vào sản lượng gỗ, về môi trường mới chỉ căn cứ vào độ che phủ do vậy chưa phản ánh được rõ nét tác động về các mặt của dự án ở cấp vi mô [24]

Năm 2010, Lê Thị Xuân với khoá luận tốt nghiệp "Đánh giá tác động của dự án 661 tại xã Xuân Phong, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình" [25], cũng đã đề cập đến một số tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội, môi trường, quá trình đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên tác giả mới dùng lại ở những tác động tích cực, chưa đi sâu phân tích những tác động tiêu cực của dự án

Năm 2010, Ngô Đình Long với đề tài Thạc sỹ “Đánh giá tác động của dự án 661 tại ban quản lý rừng phòng hộ Hồng Lĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh

Hà Tĩnh” [9] đã đi sâu đánh giá tác động của dự án trên ba mặt kinh tế, xã hội, môi trường Tuy nhiên tác gỉa cũng mới chỉ đi sâu phân tích các tác động tích cực, các tác động tiêu cực của dự án mới chỉ được đề cập đến mà chưa nghiên cứu kỹ.

MỤC TIÊU,NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17 2.1 Mu ̣c tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần sử dụng có hiệu quả kết quả của Dự án 661 sau khi kết thúc nhằm quản lý rừng bền vững ở địa phương

- Đánh giá được kết quả thực hiện các chương trình và hoạt động của dự án

- Đánh giá được các tác đô ̣ng của dự án trên các mă ̣t kinh tế, xã hô ̣i và môi trường của dự án.

Đối tượng và pha ̣m nghiên cứu

Đố i tươ ̣ng: Kết quả thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tại tỉnh Bình Định giai đoạn 1998 – 2010

- Địa điểm: Tỉnh Bình Định

- Thời gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ tháng 01/201 2 đến tháng 4/2012.

Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá một số tác động của Dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái

- Phân tích và đánh giá kết quả chủ yếu của Dự án 661 trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả kết quả của

Dự án góp phần quản lý rừng bền vững đồng thời phát triển các dự án lâm nghiệp khác tại địa phương.

Phương pha ́ p nghiên cứu

Dự án 661 là một trong những dự án đầu tư nhằm khôi phục, bảo vệ tài nguyên rừng, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học; Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói, giảm nghèo, định canh, đình cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, nhất là ở vùng biên giới; Cung cấp gỗ làm nguyên liệu để sản xuất giấy, ván nhân tạo, đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Bất kỳ dự án nào đi vào hoạt động, tác động của nó đều liên quan đến kinh tế, xã hội và môi trường Về nguyên tắc, khi đánh giá tác động của một dự án nào đó phải đứng trên tổng thể các mối quan hệ của nó và quá trình đánh giá phải được thể hiện trong một thời gian dài thì hiệu quả của tác động mới khách quan và chính xác Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn trong một số yếu tố, những yếu tố này được coi là căn bản theo nghĩa chung có liên quan mật thiết đến các hoạt động của dự án và công tác khôi phục, quản lí bảo vệ tài nguyên rừng Biểu hiện bằng định lượng, đó là những chỉ tiêu được tính bằng các đơn vị đo lường cụ thể Biểu hịên bằng định tính đó là những chỉ tiêu khó lượng hoá hoặc không thể lượng hoá được Dự án 661 vừa mang tính quản lí môi trường, vừa tác động đến kinh tế, xã hội Do vậy khi đánh giá các tác động của nó đến sự phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường cần phải áp dụng tổng hợp các mặt biểu hiện cả về định tính và định lượng thông qua các phương pháp tiếp cận và các phương pháp phân tích vấn đề có sự tham gia của người dân trong khu vực nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp kế thừa tài liệu a Nghiên cứu tài liệu thứ cấp

Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu; Các tài liệu về kế hoạch, triển khai, báo cáo kết quả dự án 661, bản đồ hiện trạng rừng… các Quyết định, nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện và quản lý dự án được tác giả thu thập, kế thừa b Phỏng vấn thu thập số liệu Đề tài sử dụng các công cụ PRA sau đây để thu thập các thông tin và số liệu ngoài hiện trường:

- Phỏng vấn hộ gia đình:Được thực hiện thông qua bảng phỏng vấnbán định hướng được chuẩn bị và kiểm tra trước (phụ biểu 01)

- Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống

- Phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn cán bộBQL Dự án, cán bộ huyện, xã để thu thập số liệu về tình hình về triển khai dự án, kết quả của dự án…, phỏng vấn người dân tham gia dự án

2.4.3 Phương pháp điều tra ngoa ̣i nghiê ̣p

* Rừng trồng: Đo đếm chiều cao bình quân (Hbq) của cây trồng rừng, đo đường kính gốc bình quân D0 (đối với rừng mới trồng), đo D1,3m (với rừng trồng có đường kính bình quân tại 1,3m ≥ 5 cm), xác định diện tích các đám trống trong lô

BIỂU ĐIỀU TRA CHẤT LƯỢNG RỪNG TRỒNG

I Thông tin chung Địa điểm điều tra: Lô Khoảnh Tiểu khu

Lâm trường/ Xã Huyện Tỉnh

Hướng phơi: Loài cây Năm trồng

Mật độ ban đầu: ……Cây/ha Mật độ hiện tại: ……Cây/ha

Nguồn gốc trồng Diện tích ô đo đếm:

Tình hình thực bì: Tình hình sâu bệnh:

Ngày điều tra: Người điều tra:

* Rừng khoanh nuôi: rừng cây gỗ (xác định đo đếm cây gỗ mục đích/ha, độ che phủ của cây bụi, thảm tươi và cây gỗ, tổng diện tích các đám trống/ha, chiều cao trung bình của cây gỗ).Rừng tre nứa (xác định đo đếm độ che phủ, diện tích các đám trống /ha, số cây đạt tiêu chuẩn khai thác)

BIỂU ĐIỀU TRA CHẤT LƯỢNG RỪNG KHOANH NUÔI

I Thông tin chung Địa điểm điều tra: Lô Khoảnh Tiểu khu

Lâm trường/ Xã Huyện Tỉnh

Hướng phơi: Loài cây Năm trồng

Mật độ ban đầu: ……Cây/ha Mật độ hiện tại: ……Cây/ha

Nguồn gôc trồng Diện tích ô đo đếm:

Tình hình thực bì: Tình hình sâu bệnh: Ngày điều tra: Người điều tra:

* Rừng bảo vệ: rừng cây gỗ (xác định đo đếm N/ha, M/ha, D1.3, Hvn, Hdc, chất lượng cây) Rừng tre nứa (xác định đo đếm N/ha, D1.3, Hvn)

BIỂU ĐIỀU TRA CHẤT LƯỢNG RỪNG BẢO VỆ

I Thông tin chung Địa điểm điều tra: Lô Khoảnh Tiểu khu

Lâm trường/ Xã Huyện Tỉnh

Hướng phơi: Loài cây Năm trồng

Mật độ ban đầu: ……Cây/ha Mật độ hiện tại: …… Cây/ha

Nguồn gôc trồng Diện tích ô đo đếm:

Tình hình thực bì: Tình hình sâu bệnh: Ngày điều tra: Người điều tra:

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá

Số liệu được tổng hợp cho từng năm, từng loại dự án, từng chủ thể (Các ban quản lý dự án 661 gồm ban quản lý dự án, tổng đội thanh niên xung phong, công ty Lâm nghiệp, khu bảo tồn, vườn quốc gia, các đơn vị bộ đội công an, các tổ chức cá nhân hộ gia đình khác

Số liệu được tổng hợp phân theo rừng mới trồng, rừng khoanh nuôi, rừng bảo vệ của ba loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, sản xuất)

Kết quả kiểm chứng về diện tích và chất lượng rừng của mẫu được chọn sẽ là kết quả đánh giá chung

Sử dụng phương pháp so sánh, đối chứng: đem kết quả đạt được so sánh đối chiếu với số liệu ban đầu trong hồ sơ thiết kế xác định được tỷ lệ % hoàn thành, hoặc so sánh kết quả đạt được với các chỉ tiêu chất lượng rừng theo quy định

Sau khi phân tích đánh giá các hoạt động của dự án cần rút ra được những ưu điểm, nhược điểm cho từng hoạt động của dự án trên địa bàn tỉnh và xác định những nguyên nhân của tồn tại.

ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiê ̣n tự nhiên

Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc - Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55 km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km) Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới chung 63 km (điểm cực Bắc có tọa độ: 14°42'10 Bắc, 108°55'4 Đông) Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên với đường ranh giới chung 50 km (điểm cực Nam có tọa độ: 13°39'10 Bắc, 108o54'00 Đông) Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai có đường ranh giới chung 130 km (điểm cực Tây có tọa độ: 14°27' Bắc, 108°27' Đông) Phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu (Cù Lao Xanh) thuộc thành phố Qui Nhơn (có tọa độ: 13°36'33 Bắc, 109°21' Đông) Bình Định được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và vùng nam Lào 3.1.2 Diện tích và dân số

Bình Định có diện tích tự nhiên 6.039,56 km2, dân số 1.489.900 người, mật độ dân số 247 người/km2 (số liệu năm 2009) Bình Định có 11 đơn vị hành chính: thành phố Quy Nhơn là tỉnh lỵ, đô thị loại 1 và 10 huyện gồm An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh (miền núi), Tây Sơn, Hoài Ân (trung du), Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước (đồng bằng) Toàn tỉnh có 159 xã, phường, thị trấn (Trong đó: có 129 xã, 14 Thị trấn; 16 phường)

3.1.3 Địa hình Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp, thấp dần từ tây sang đông Phía tây của tỉnh là vùng núi rìa phía đông của dãy Trường Sơn Nam, kế tiếp là vùng trung du và tiếp theo là vùng ven biển Các dạng địa hình phổ biến là các dãy núi cao, đồi thấp xen lẫn thung lũng hẹp độ cao trên dưới 100 mét, hướng vuông góc với dãy Trường Sơn, các đồng bằng lòng chảo, các đồng bằng duyên hải bị chia nhỏ do các nhánh núi đâm ra biển Ngoài cùng là cồn vát ven biển có độ dốc không đối xứng giữa 2 hướng sườn đông và tây Các dạng địa hình chủ yếu của tỉnh là:

Vùng núi: Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh Đại bộ phận sườn dốc hơn 20° Có diện tích khoảng 249.866 ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367 ha), Vĩnh Thạnh (78.249 ha), Vân Canh (75.932 ha), Tây Sơn và

Hoài Ân (31.000 ha) Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh Chiếm 70% diện tích toàn tỉnh thường có độ cao trung bình 500-1.000 m, trong đó có 11 đỉnh cao trên 1.000 m, đỉnh cao nhất là 1.202 m ở xã An Toàn (huyện An Lão) Còn lại có

13 đỉnh cao 700-1000m Các dãy núi chạy theo hướng Bắc - Nam, có sườn dốc đứng Nhiều khu vực núi ăn ra sát biển tạo thành các mỏm núi đá dọc theo bờ, vách núi dốc đứng và dưới chân là các dải cát hẹp Đặc tính này đã làm cho địa hình ven biển trở thành một hệ thống các dãy núi thấp xen lẫn với các cồn cát và đầm phá

Vùng đồi: tiếp giáp giữa miền núi phía tây và đồng bằng phía đông, có diện tích khoảng 159.276 ha (chiếm khoảng 10% diện tích), có độ cao dưới

100 m, độ dốc tương đối lớn từ 10° đến 15° Phân bố ở các huyện Hoài Nhơn (15.089 ha), An Lão (5.058 ha) và Vân Canh (7.924 ha)

Vùng đồng bằng: Tỉnh Bình Định không có dạng đồng bằng châu thổ mà phần lớn là các đồng bằng nhỏ được tạo thành do các yếu tố địa hình và khí hậu, các đồng bằng này thường nằm trên lưu vực của các con sông hoặc ven biển và được ngăn cách với biển bởi các đầm phá, các đồi cát hay các dãy núi Độ cao trung bình của dạng địa hình đồng bằng lòng chảo này khoảng

25-50 m và chiếm diện tích khoảng 1.000 km² Đồng bằng lớn nhất của tỉnh là đồng bằng thuộc hạ lưu sông Kôn, còn lại là các đồng bằng nhỏ thường phân bố dọc theo các nhánh sông hay dọc theo các chân núi và ven biển

Vùng ven biển: Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Trong tỉnh có các dãi cát lớn là: dải cát từ Hà Ra đến Tân Phụng, dãi cát từ Tân Phụng đến vĩnh Lợi, dãi cát từ Đề Gi đến Tân Thắng, dãi cát từ Trung Lương đến Lý Hưng Ven biển còn có nhiều đầm như đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại; các vịnh như vịnh Làng Mai, vịnh Quy Nhơn, vịnh Vũng Mới ; các cửa biển như Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Quy Nhơn Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động

Ven bờ biển tỉnh Bình Định gồm có 33 đảo lớn nhỏ được chia thành 10 cụm đảo hoặc đảo đơn lẻ

Tại khu vực biển thuộc thành phố Quy Nhơn gồm cụm đảo Cù Lao Xanh là cụm đảo lớn gồm 3 đảo nhỏ; cụm Đảo Hòn Đất gồm các đảo nhỏ như Hòn Ngang, Hòn Đất, Hòn Rớ; cụm Đảo Hòn Khô còn gọi là cù lao Hòn Khô gồm 2 đảo nhỏ; cụm Đảo Nghiêm Kinh Chiểu gồm 10 đảo nhỏ (lớn nhất là Hòn Sẹo); cụm Đảo Hòn Cân gồm 5 đảo nhỏ trong đó có Hòn ông Căn là điểm A9 trong 12 điểm để xác định đường cơ sở của Việt Nam; Đảo đơn Hòn Ông Cơ

Tại khu vực biển thuộc huyện Phù Mỹ gồm cụm Đảo Hòn Trâu hay Hòn Trâu Nằm gồm 4 đảo nhỏ; Đảo Hòn Khô còn gọi là Hòn Rùa Ven biển xã Mỹ Thọ có 3 đảo nhỏ gồm: Đảo Hòn Đụn còn gọi là Hòn Nước hay Đảo Đồn; Đảo Hòn Tranh còn gọi là Đảo Quy vì có hình dáng giống như con rùa, đảo này nằm rất gần bờ có thể đi bộ ra đảo khi thủy triều xuống; Đảo Hòn Nhàn nằm cạnh Hòn Đụn

Trong các đảo nói trên thì chỉ đảo Cù Lao Xanh là có dân cư sinh sống, các đảo còn lại là những đảo nhỏ một số đảo còn không có thực vật sinh sống chỉ toàn đá và cát Dọc bờ biển của tỉnh, ngoài các đèn hiệu hướng dẫn tàu thuyền ra vào cảng Quy Nhơn, thì Bình Định còn có 2 ngọn hải đăng: một ngọn được xây dựng trên mạng bắc của núi Gò Dưa thuộc thôn Tân Phụng xã Mỹ Thọ huyện Phù Mỹ, ngọn này có tên gọi là Hải Đăng Vũng Mới hay Hải Đăng Hòn Nước; ngọn thứ hai được xây dựng trên đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Nhơn Châu thành phố Quy Nhơn

Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ những vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn, hàm lượng phù sa thấp, tổng trữ lượng nước 5,2 tỷ m³, tiềm năng thuỷ điện 182,4 triệu kw Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luồng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém Trong tỉnh có bốn con sông lớn là Côn, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh cùng các sông nhỏ như Châu Trúc hay Tam Quan Ngoài các sông đáng kể nói trên còn lại là hệ thống các suối nhỏ chằng chịt thường chỉ có nước chảy về mùa lũ và mạng lưới các sông suối ở miền núi tạo điều kiện cho phát triển thuỷ lợi và thuỷ điện Độ che phủ của rừng đến nay chỉ còn khoảng trên 40% nên hàng năm các sông này gây lũ lụt, sa bồi, thuỷ phá nghiêm trọng Ngược lại, mùa khô nước các sông cạn kiệt, thiếu nước tưới

Khí hậu Bình Định có tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa Do sự phức tạp của địa hình nên gió mùa khi vào đất liền đã thay đổi hướng và cường độ khá nhiều

Nhiệt độ không khí trung bình năm: ở khu vực miền núi biến đổi 20,1 - 26,1°C, cao nhất là 31,7°C và thấp nhất là 16,5°C Tại vùng duyên hải, nhiệt độ không khí trung bình năm là 27,0°C, cao nhất 39,9°C và thấp nhất 15,8°C Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5 - 27,9% và độ ẩm tương đối 79-92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối trung bình là 79%

Điều kiê ̣n kinh tế – xã hô ̣i

Bình Định có nhiều dân tộc chung sống, đoàn kết trong đấu tranh và xây dựng đất nước Dân tộc Kinh chiếm 98% so tổng dân số, 3 dân tộc thiểu số chiếm 2% chủ yếu là Ba Na, H're, Chăm ở 113 làng/22 xã các huyện miền núi, trung du Với tổng dân số 1.488.900 người (năm 2009) phân bố không đều, trong đó thành phố Quy Nhơn cao nhất là 982 người/km2, thấp nhất là huyện Vân Canh 31 người/ km2 Dân số nam chiếm 48,9%, nữ chiếm 51,1%; dân số thành thị chiếm 27,8% dân số, nông thôn chiếm 72,2% Cơ cấu dân số trẻ, dưới 30 tuổi chiếm 62,8% là nguồn cung cấp lao động dồi dào cho các ngành kinh tế Hiện có 849.300 lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân

Hệ thống giao thông khá đồng bộ Quốc lộ 1A (qua tỉnh 118 km) và đường sắt quốc gia (qua tỉnh 150 km) chạy xuyên suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh; cùng với Quốc lộ 1D (dài 34 km), Quốc lộ 19 (qua tỉnh 70 km) nối Cảng Quy Nhơn với bên ngoài thuận lợi Cảng Quy Nhơn là một trong 10 cảng biển lớn của cả nước có thể đón tàu 3 vạn tấn ra vào cảng an toàn Cảng Thị Nại là cảng địa phương đang được nâng cấp đón tàu 1 vạn tấn Sân bay Phù Cát cách thành phố Quy Nhơn 30km về phía Bắc đã và đang mở thêm nhiều chuyến bay đón hành khách đi và đến Bình Định Toàn tỉnh có 386 km đường tỉnh lộ, đáng chú ý có tuyến đường ven biển nối từ Nhơn Hội đến Tam Quan tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, khai thác tiềm năng ven biển; tuyến đường phía Tây tỉnh đang được xây dựng nối từ An Nhơn đến Hoài Nhơn tạo điều kiện phát triển Kinh tế - Xã hội và khai thác tiềm năng vùng đồi núi của tỉnh; hầu hết các xã đều có đường ô tô đến trung tâm Đã có 100% số thôn, bản trong tỉnh có điện, 98,2% số hộ được dùng điện

3.2.3 Về phát triển kinh tế - xã hội

Trong những năm qua, kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định không ngừng phát triển Các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội được nâng cao, các công trình hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi xã hội được đầu tư phát triển

Mặc dù chịu ảnh hưởng của tình hình suy thoái kinh tế thế giới nhưng kinh tế thời kỳ 2006 - 2010 của tỉnh liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước Tổng sản phẩm địa phương (GDP) tăng bình quân 10,7%/năm Trong đó các ngành thuộc khu vực công nghiệp - xây dựng 15,2%, nông - lâm - ngư nghiệp tăng 7,1% và dịch vụ tăng 11,2% Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,7%/năm GDP bình quân/người tăng từ 219,7 USD năm 2000 lên 401 USD năm 2005 và 901 USD vào năm 2010 Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, năm 2000 có cơ cấu nông, lâm, ngư nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 42,2% - 22,8% - 35%, đến năm 2005 có tỷ trọng tương ứng là 38,4% - 26,7% - 34,9% và năm 2010 là: 35% - 27,4% - 37,6% Nhìn chung, công nghiệp có bước phát triển khá, nhiều khu, cụm công nghiệp được hình thành, khu kinh tế Nhơn Hội đang được xây dựng hạ tầng và xúc tiến thu hút đầu tư Sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa

Các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch và liên kết, hợp tác kinh tế tiếp tục phát triển Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10,2%/năm Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tiếp tục được đầu tư.Trong năm 2006 - 2010 đã huy động vốn đầu tư khoảng 37,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 40,2% GDP Cơ cấu lao động có bước chuyển dịch theo hướng giảm dần trong lĩnh vực nông - lâm

- ngư nghiệp và tăng trong lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ

Giáo dục - đào tạo - dạy nghề phát triển mạnh về cơ sở vật chất, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, các loại đào tạo, đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập và phát triển nguồn nhân lực Đến năm học 2006

- 2010 số học sinh hệ mẫu giáo đạt 46.000 em, học sinh phổ thông 307.300 em, kết quả phổ cập tiểu học và xoá mù chữ được duy trì, phổ cập trung học cơ sở hoàn thành năm 2004 Công tác đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động được tăng cường, trong 5 năm đã đào tạo, bồi dưỡng tập huấn nghề trên

10 vạn lượt người, giải quyết việc làm cho trên 12 vạn lao động Đã huy động được nhiều nguồn vốn trong xã hội để thực hiện công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo còn 8,3% công tác hỗ trợ xây dựng nhà ở cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số có nhà ở đơn sơ đạt kết quả tốt

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ Đã mở rộng bảo hiểm y tế cho người nghèo, tăng cường hoạt động khám bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi Công tác y tế dự phòng được đầu tư thường xuyên Đến cuối năm 2009 có 136/159 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm 3,15%

Hoạt động khoa học và công nghệ tập trung vào việc nghiên cứu, ứng dụng nhằm sử dụng có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhiều tiến bộ khoa học công nghệ được ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực như giống mới, kỹ thuật canh tác phòng trừ dịch, hại tổng hợp, thay đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng.

Một số chính sách để thực hiện dự án

4.1.1 Văn bản cấp chính phủ, thủ tướng chính phủ

- Quyết định số 661/QĐ–TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

- Nghị định số 163/1999/ NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Quyết định số 08/2001/ QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng

Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên

- Quyết định số 178 /2001/QĐ-TTg ngày 12/11/ 2001 của Thủ tướng

Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Ngoài các văn bản của chính phủ, thì còn có văn bản số 95/CP ngày

23/1/2003 của Thủ Tướng Chính phủ về cơ chế trồng rừng (điều chỉnh suất đầu tư từ 2,5 lên 4 triệu đồng bằng vốn ngân sách ) cho dự án 661

- Quyết định số 164/2008/QĐ-TTg, ngày 11 tháng 12 năm 2008 điều chỉnh nâng mức đầu tư trồng rừng phòng hộ, đặc dụng bình quân từ 6 triệu lên 10 triệu đồng/ha

4.1.2 Quyết dịnh cấp Bộ và thông tư hướng dẫn cấp bộ hoặc liên tịch làm cơ sở triển khai thực hiện dự án

- Quyết định số 199 QĐ-BNN/PTLN ngày 22/1/2002 của Bộ trưởng Bộ

Nông nghiệp và PTNT phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn

- Quyết định 516/QĐ-BNN-KHCN ngày 18/2/2002 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành qui trình thiết kế trồng rừng

- Quyết định số 5246/QĐ/BNN-LN ngày 26/11/2003 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành định mức chi phí trồng rừng, chăm sóc rừng phòng hộ, đặc dụng theo suất đầu tư trồng rừng 4 triệu đồng/ha thuộc Dự án 661

Thông tư cấp bộ và liên tịch

- Thông tư liên tịch số 28 TT/LT ngày 3/2/1999 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 661-QĐ/TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ;

- Thông tư số 28/1999/TT-BTC ngày 13/3/1999 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn NSNN cho dự án trồng mới 5 triệu ha rừng theo quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ;

- Thông tư số 43/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002, hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho dự án trồng mới 5 triệu ha rừng;

- Thông tư số 24/2003/TT-BTC ngày 27/3/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý, cấp phát vốn NSNN cho Dự án 661;

- Thông tư liên tịch số 58/2008/TTLT-BNN-BKH-BTC ngày 02/5/2008 của liên Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Kế hoạch và Đầu tư - Tài Chính Công tác quản lý sử dụng, cấp phát vốn đầu tư thực hiện theo đúng Thông tư số 28/1999/TT-BTC ngày 13/3/1999

- Thông tư số 89/2008/TT-BTC ngày 15/10/2008 hướng dẫn việc quản lý, cấp phát, thanh toán vốn ngân sách nhà nước cho dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng

4.1.3 Các văn bản do địa phương ban hành liên quan đến dự án trồng mới 5 triệu ha rừng

Bả ng 4.1: Các văn bản do đi ̣a phương ban hành

Số hiệu Ngày ban hành

Phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng;

Phê duyệt phương án tổ chức của Công ty LN Sông Kôn, Hà Thanh; Quy Nhơn; BQL rừng

PH Vĩnh Thạnh; Vân Canh; An Lão, BQLR đặc dụng An Toàn

Phê duyệt phương án phát triển rừng đặc dụng; phòng hộ thuộc

Dự án 661 của BQLR đặc dụng

An Toàn An Lão; Hoài Nhơn; Hoài Ân; Phù Mỹ; Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, TP Quy

Chính sách khuyến khích phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy và gỗ phục vụ sản xuất bột giấy và chế biến hàng lâm sản xuất khẩu tại Bình Định

Phê duyệt suất đầu tư xây dựng rừng phòng hộ

Phê duyệt suất đầu tư xây dựng rừng phòng hộ

Phê duyệt suất đầu tư xây dựng rừng phòng hộ

Phê duyệt suất đầu tư xây dựng rừng phòng hộ

Cấp Sở Quyết định 310/QĐ-SNN 11/3/2002

Sở Nông nghiệp và PTNT

Quy trình kỹ thuật thiết kế trồng rừng

Sở Nông nghiệp và PTNT

Quy trình kỹ thuật thiết kế khai thác gỗ rừng tự nhiên

Sở Nông nghiệp và PTNT

Quy trình kỹ thuật Khai thác gỗ rừng tự nhiên

Sở Nông nghiệp và PTNT

Quy trình kỹ thuật Khai thác gỗ rừng trồng

Sở Nông nghiệp và PTNT

Quy trình kỹ thuật thiết kế khoanh nuôi XTTS kết hợp trồng bổ sung.

Đánh giá kết quả thực hiện Dự án tại tỉnh Bình Định

4.2.1 Kết quả chủ yếu của Dự án tại tỉnh Bình Định

4.2.1.1 Độ che phủ rừng Độ che phủ được xem là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ thành công của các hoạt động lâm nghiệp Sự tăng lên nhanh chóng về độ che phủ của rừng trong những năm qua là dấu hiệu tích cực trong hoạt động phát triển rừng tại tỉnh Bình Định Đặc biệt, giai đoạn 2001 – 2002 độ che phủ rừng tăng lên nhanh chóng sau 1 năm độ che phủ giảm đi là do hoạt động trồng rừng và khoanh nuôi bảo vệ rừng được triển khai tốt, giai đoạn 2004 –

2005 diện tích đất có rừng cũng tăng lên nhanh chóng góp phần đưa độ che phủ rừng được cải thiện đáng kể

Bảng 4.2: Độ che phủ của rừng qua các năm

Diện tích có rừng Độ che phủ (%)

Mức tăng độ che phủ của rừng (%)

Diện tích rừng đặc dụng (ha)

Diện tích rừng phòng hộ (ha)

Diện tích rừng sản xuất (ha)

Hình 4.1 : Mức tăng độ che phủ của rừng qua các năm

Từ năm 1999 đến năm 2005, độ che phủ của rừng tuy có lúc sụt giảm do diện tích rừng phòng hộ giảm đi nhưng đã được tăng lên một cách nhanh chóng Trong giai đoạn này, dự án mới bắt đầu được triển khai, phần lớn diện tích đất trồng rừng phòng hộ và sản xuất đều ở gần khu dân cư, việc lựa chọn đất cho trồng rừng khá dễ dàng, hoạt động bảo vệ rừng cũng được thực hiện tốt, rừng ít bị tác động nhất là đối với cây gỗ, do vậy khả năng phục hồi rừng nhanh Cũng sau 5 năm thực hiện, rừng trồng của dự án đã bắt đầu khép tán do vậy vào năm 2002 mức tăng độ che phủ của rừng đạt cao Tuy nhiên những năm về sau việc huy động người dân tham gia trồng rừng ngày càng khó, cùng với việc không lựa chọn được đất trồng rừng phù hợp tốc độ tăng độ che phủ cũng có phần chậm lại

4.2.1.2 Hoạt động bảo vệ rừng

Dự án 661 đã góp phần làm cho nhận thức của người dân được nâng lên rõ rệt trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách của Nhà nước về công tác trồng rừng, bảo vệ rừng Cấp uỷ, chính quyền đã tăng cường, quan tâm nhiều đến công tác xã hội hoá lâm nghiệp, góp phần tích cực trong việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng

Các diện tích rừng được khoán bảo vệ chủ yếu là rừng phòng hộ ở những nơi rất xung yếu, bảo vệ đầu nguồn nước sinh hoạt, các công trình thuỷ lợi Nhìn chung các khu rừng đã được bảo vệ tốt, hạn chế được tình trạng khai thác rừng trái phép Bên cạnh đó, việc khoán bảo vệ rừng đã thu hút hàng nghìn lao động tham gia vào nghề rừng thông qua các hợp đồng kinh tế, phần nào đã tăng được thu nhập cho người dân trong vùng dự án, góp phần xoá đói giảm nghèo Kết quả thực hiện dự án được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 4.3: Diê ̣n tích bảo vê ̣ rừng qua các năm

Năm Kế hoạch bảo vệ rừng (ha)

Thực hiện bảo vệ rừng (ha) Tỷ lệ thực hiện (%)

Hình 4.2 : Diện tích bảo vê ̣ rừng qua các năm

Công tác bảo vệ rừng được người dân địa phương thực hiện rất tốt, từ khâu tổ chức đội tuần tra bảo vệ đến việc phân chia quyền lợi cũng như xử lý các vi phạm đều được thực hiện khá bài bản và được sự ủng hộ của cộng đồng Tìm hiểu sâu về vấn đề này chúng tôi được biết: Thực tế, việc sử dụng lâm sản của người dân địa phương chủ yếu chỉ để phục vụ cho đời sống của họ (gỗ làm nhà, chuồng trại, rau rừng cho chăn nuôi gia súc, thuốc nam chữa bệnh, củi đun), mà các sản phẩm này đều có thể lấy được từ rừng tự nhiên Nếu các hộ tham gia bảo vệ rừng tốt thì việc xin cấp phép khi khai thác các sản phẩm từ rừng sẽ thuận lợi hơn rất nhiều (chủ yếu là khai thác gỗ làm nhà, chuồng trại) Ngoài những lợi ích kể trên, họ cũng được nhận tiền công từ việc tham gia bảo vệ rừng và không phải bỏ ra bất kỳ khoản chi phí nào khác cho đối tượng rừng này

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác khoán bảo vệ rừng còn gặp một số hạn chế sau: Một số diện tích rừng nghèo kiệt đưa vào bảo vệ nhưng diễn thế không thay đổi, diện tích rừng trồng chuyển sang bảo vệ do điều kiện đất đai khô cằn, khí hậu khắc nghiệt, cây trồng sinh trưởng phát triển kém tỉ lệ thành rừng thấp

Phát triển trồng rừng là nhiệm vụ trọng tâm của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, đây cũng chính là giải pháp được đưa ra để góp phần phát triển kinh tế xã hội cho các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi mà điều kiện tự nhiên khó khăn, trình độ dân trí thấp và tập quán canh tác còn lạc hậu Kết quả của giai đoạn 1998 – 2010 được thống kê ở bảng 4.4:

Bảng 4.4: Diê ̣n tích trồng rừng các năm

Năm Kế hoạch trồng rừng (ha)

Thực hiện trồng rừng (ha)

Hình 4.3: Diện tích trồng rừng qua các năm

Kết quả trên cho thấy kết quả trồng rừng so với kế hoạch đạt tỷ lệ rất cao, hầu hết đạt tỷ lê ̣ xấp xỉ 100% Để đạt được kết quả đó chủ yếu là do cơ chế hỗ trợ đã khuyến khích được người dân tham gia, Chính phủ đã nhiều lần điều chỉnh mức hỗ trợ kinh phí cho người trồng rừng cho phù hợp với thực tế

Tuy nhiên vẫn cò n một số tồn ta ̣i như:

* Tính theo định mức chung, 1ha rừng phòng hộ cần được đầu tư từ 13 – 15 triệu đồng, song cho đến thời điểm hiện nay Nhà nước mới chỉ hỗ trợ cho người dân là 10 triệu/ha (trọn gói từ công thiết kế, cây giống, công trồng, chăm sóc) Đối với rừng sản xuất, trồng mới 1 hécta cần đầu tư từ 15 – 16 triệu đồng, nhưng người dân chỉ được hỗ trợ 2 – 5 triệu đồng (tùy theo khu vực người dân sinh sống) Như vậy, ngày công lao động của người trồng rừng chỉ đạt 12.000-15.000 đồng/người Trong khi đó, ngày công lao động phổ thông ở tỉnh hiện nay khoảng từ 70.000 – 100.000 đồng/người/ngày Đơn giá hỗ trợ thấp hơn so với thị trường cộng với việc sau khi đã nghiệm thu tỷ lệ cây sống mới được thanh toán, làm cho người dân càng không mặn mà trồng rừng Mặt khác, đời sống của người dân thuộc khu vực cần phát triển rừng đều là dân nghèo, chưa có kinh tế để đáp ứng trồng rừng, mà phải trông đợi vào vốn đầu tư của Nhà nước Khi Chính phủ mới triển khai dự án trồng rừng, những năm đầu, bà con nhiệt tình hưởng ứng, vì phần lớn diện tích đất quy hoạch trồng rừng gần bản, cụm dân cư, các quy định thanh toán kinh phí trồng rừng cũng dễ dàng hơn bây giờ

* Từ năm 2006 đến nay, Nhà nước quy định: Sau khi trồng, tỷ lệ cây rừng phải sống từ 85% trở lên mới được thanh toán toàn bộ kinh phí Nếu số lượng cây sống thấp dưới con số trên, bà con phải trồng dặm và đợi đến năm sau mới được thanh toán Trong khi đó việc thông tin về chính sách của Nhà nước đến cộng đồng thường không rõ ràng do đó đã dẫn đến rất nhiều hiểu lầm thậm chí là mâu thuẫn của người dân đối với chính sách của Nhà nước và trực tiếp là đối với các cán bộ triển khai dự án tại hiện trường Do đó việc vận động người dân tiếp tục tham gia trồng rừng rất khó khăn khi mà vấn đề hưởng lợi của người dân đối với dự án chưa được giải quyết triệt để Chúng ta đều biết, để cây rừng đạt tỷ lệ sống cao, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: Kỹ thuật đào hố, biện pháp trồng, chăm sóc, chất lượng cây giống và nhất là điều kiện thời tiết Tỉnh Bình Đi ̣nh có hai mùa rõ rệt, la ̣i thường xuyên có nhiều bão lũ, nếu trồng rừng muộn, gặp thời tiết bất lợi kéo dài cây khó sống, nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ cây sống để áp đạt việc thanh toán như hiện nay sẽ rất thiệt thòi cho người trồng rừng Bên cạnh đó, từ khi trồng rừng đến lúc thu hoạch mất 7 – 8 năm, phần lớn các hộ ở địa phương đều có điều kiện kinh tế khó khăn, vì vậy họ đang tính trồng cây gì, nuôi con gì trong thời gian ngắn nhất cho thu hoạch để giải quyết cái ăn trước mắt, sau đó mới tính đến chuyện lâu dài

* Theo phương châm: “Gần và dễ làm trước, xa và khó làm sau”, nhưng vài năm gần đây diện tích thiết kế rừng trồng mới trên địa bàn xã chủ yếu là ở xa nơi dân ở, giao thông đi lại khó khăn Cán bộ lâm nghiệp phải đi bộ cả buổi, thậm chí quá nửa ngày đường mới mang cây đến trồng được, trong khi tiền thù lao quá thấp, do đó không đảm bảo về các điều kiện phục vụ công tác (xăng xe đi lại…) cũng như các điều kiện sinh hoạt khác của họ tại địa phương

Một nguyên nhân khác cũng không kém phần quan trọng, là do diện tích thiết kế đất trồng rừng đa số nằm trên diện tích đất nương rẫy của người dân đã được giao khoán từ những năm 1999 theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp… Vì vậy, khi người dân đã không hào hứng với việc trồng rừng, thì đương nhiên diện tích đất nương rẫy này cũng không được chuyển cho các đơn vị chức năng để thực hiện trồng rừng Các hộ cho biết, việc hỗ trợ quá thấp, nếu lấy diện tích nương rẫy để trồng rừng, người dân nơi đây sẽ càng gặp khó khăn hơn trong cuộc sống Cho đến thời điểm này, một số diện tích rừng trồng phòng hộ đã được khai thác tỉa thưa, tuy nhiên việc xin cấp phép khai thác rất phức tạp nên người dân không muốn và không dành đất cho loại hình rừng này

Bả ng 4.5: Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước Đợn vi ̣: Triê ̣u đồng

Vốn ngân sách TƯ cấp (kể cả nguồn cân đối Trung ương cấp cho địa phương)

(Không cân đối từ TƯ về) Nguồn vốn ODA

Vốn vay nước ngoài (ODA)

Vốn viện trợ không hoàn lại

Như vậy, từ năm 1999 đến 2009 dự án đã đầu tư 183.937,8 triê ̣u đồng, trong đó vốn từ ngân sách trung ương và đi ̣a phương là 141.346,7 triê ̣u đồng, vố n vay nướ c ngoài là 42.591 triê ̣u đồng Kết quả đó đã góp phần vào nâng cao thu nhập của hộ gia đình, tạo sự tin tưởng cho người dân qua việc tiếp nối các hoạt động của dự án, đồng thời đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung trên địa bàn

Việc sử dụng nguồn NSNN cấp thực hiện dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đều sử dụng đúng mục đích và đầu tư vào các công trình đã được giao chỉ tiêu kế hoạch

Về các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư và tín dụng ưu đãi để phát triển rừng sản xuất: Đối với các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư trồng rừng sản xuất đã được Nhà nước ban hành nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát triển trồng rừng sản xuất nhưng do sản xuất lâm nghiệp thường có chu kỳ dài từ 7, 8 năm trở lên, thời gian cho vay ưu đãi là ngắn và trung hạn trong khi chưa có sản phẩm thu hoạch thì đã phải trả vốn và lãi nên vẫn cò n nhiều khó khăn cho người sản xuất

4.2.2 Những hạn chế của Dự án

Đánh giá tác động của Dự án 661 tại tỉnh Bình Định

4.3.1 Tác động về kinh tế

Một trong những mục tiêu quan trọng đã đặt ra của dự án 661 là tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn miền núi, ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng an ninh Xuất phát từ mục tiêu đó các giải pháp của dự án đều nhằm vào việc sử dụng hợp lý và ổn định tiềm năng đất đai, nâng cao năng lực sản xuất của người dân và năng suất cây trồng

4.3.1.1.Tổng hợp kết quả phỏng vấn

Bảng 4.6: Tỷ lệ % nhận biết về tác đông dự án 661 đến kinh tế

TT Hạng mục % nhận thức

1 Tình hình KT địa phương

2 Cơ cấu KT địa phương

3 Thu nhập bình quân đầu người

4 Đánh giá nguồn thu nhập HGĐ

5 Thu nhập chính của HGĐ

Từ kết quả phỏng vấn các hộ gia đình về các chỉ tiêu thu nhập của gia đình/tháng, thu nhập từ dự án 661 ta thấy:

Thu nhập các hộ gia đình đạt từ 900.000 đ/tháng - 3.000 0000 đ/tháng Điển hình có 10% số hộ gia đình có thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng và đạt thu nhập từ 50 triệu đến 180 triệu đồng trên năm Phần lớn các hộ gia đình đều có tương đối đầy đủ các phương tiện nghe nhìn, nhà cửa kiên cố và phương tiện sản xuất Có 12-18 % số hộ gia định có đủ điều kiện vốn để hoạt động kinh doanh như buôn bán, vận chuyển, chế biến đồ mộc gia dụng Dự án góp phần quan trọng trong việc tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản của tỉnh, từng bước thúc đẩy sản xuất hàng hoá, tạo đà cho các nhà máy chế biến lâm sản đi vào hoạt động ổn định, có hiệu quả Tính đến thời điểm 2010, trữ lượng rừng trồng của tỉnh có thể cung cấp cho các cơ sở chế biến như sau: 2.738.300 m 3

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đã góp phần tích cực trong phát triển kinh tế của tỉnh một cách bền vững, tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống, từng bước nâng cao đời sống vật chất cho người dân trong vùng dự án, góp phần xoá đói giảm nghèo, bảo đảm an ninh, quốc phòng, bên ca ̣nh đó nó cũng góp phần quan trọng tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến lâm sản để phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, phát triển kinh tế-xã hội ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa của tỉnh

4.3.1.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số loài cây chính của DA

Bên cạnh mục tiêu tăng nhanh độ che phủ thực vật để bảo vệ môi trường, Dự án trồng rừng 661 cũng hướng tới thực hiện mục tiêu kinh tế thông qua việc tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo cho người dân Qua điều tra lập địa và nguyện vọng của người dân tại ba bản của đi ̣a phương cho thấy địa phương thực hiện các mô hình trồng rừng với các loài cây như: Thông xen Keo; Keo xen Sao đen, Keo thuần loài Để thấy hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trồng, đề tài đã tiến hành đánh giá hiệu của kinh tế cho mô hình rừng trồng sản xuất đó là mô hình Keo thuần loài trồng năm 2004, với chu kì kinh doanh 9 năm Các mô hình còn lại là rừng trồ ng vớ i mu ̣c đích phòng hô ̣ nên đề tài không tính hiê ̣u quả kinh tế

Bảng 4.7: Tổng hợp các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của 1ha rừng trồng Keo

Lợi nhuận NPV (Đ/ha/năm)

Tỷ suất lợi nhuận BCR

Tỷ suất thu hồi vốn IRR(%)

Về hiệu quả kinh tế cho thấy: Lợi nhuận bình quân của 1 ha rừng trồng Keo tai tượng là 1.918.777; tỷ suất lợi nhuận (BCR) là 2,201; tỷ lệ thu hồi vốn nội bộ (IRR) là 12% Như vậy, mặc dù thời gian thu hồi vốn chậm nhưng kinh doanh rừng trồng thực sự mang lại hiệu quả kinh tế

Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện tại mô hình này chưa cho hiệu quả cao vì gỗ rừng chưa đến tuổi khai thác Việc mô hình có thực sự đem lại hiệu quả cao như trên hay không còn phụ thuộc khả năng duy trì và phát triển mô hình cho đến hết chu kỳ của các hộ gia đình Bên cạnh đó, thị trường gỗ rừng trồng tại địa phương chưa phát triển, xu hướng chuyển đất rừng trồng sang trồng cây cao su đang hình thành và phát triển trong định hướng sản xuất của nhiều hộ gia đình

Kết quả phỏng vấn người dân cho rằng, gỗ chỉ phục vụ cho sử dụng gia đình và thị trường địa phương nên việc xây dựng rừng chưa được người dân quan tâm nhiều, mà chỉ thực hiện theo chương trình dự án và định hướng của nhà nước và các cơ quan ban ngành của địa phương

Từ kết quả trên cho thấy, nếu dự toán cho cả chu kì kinh doanh thì mô hình dự án sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân địa phương Tuy nhiên bên cạnh mục tiêu kinh tế thì rừng dự án còn có mục tiêu quan trọng hơn là bảo vệ môi trường nên hiệu quả kinh tế giai đoạn đầu là thấp, đặc biệt rừng lại được trồng ở những nơi đất trống đồi núi trọc tại địa phương Song có thể khẳng định: Dự án với mục tiêu phát triển rừng bền vững thì chắc chắn những chu kì kinh doanh sau sẽ cho hiệu quả tổng hợp cao hơn nhiều (cả về kinh tế và môi trường) so với chu kì kinh doanh đầu tiên này bởi chúng được phát triển trên tiểu hoàn cảnh rừng ổn định và thuận lợi từ cơ sở rừng dự án hiện nay

4.3.2 Tác động của dự án về mặt xã hội

Các vấn đề về xã hội như công ăn việc làm, trật tự xã hội, ý thức người dân đã được nâng cao rõ rệt từ khi thực hiện dự án

Bảng 4.8: Tỷ lệ % nhận biết của HGĐ và CB về tác động DA đến xã hội

TT Hạng mục Bình Định

1 Tình hình an ninh Xã hội

2 Tình hình tệ nạn XH

3 Số LĐ địa phương đi làm ăn xa

4 Xu hướng lập nghiệp tại địa phương

5 Số lao động thất nghiệp tại ĐP

6 Tình hình gia tăng dân số

7 Tỷ lệ học sinh đến trường

9 Tỷ lệ hộ đói nghèo

10 Các công trình XD tại ĐP

11 Hưởng lợi của người dân

12 Tình hình tệ nạn XH

14 Tỷ lệ hhộ đói nghèo

15 Vấn đề quan tâm nữ giới

4.3.2.1 Tác động của dự án đến việc thu hút lao động, nâng cao thu nhập và tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương

Kết quả phỏng vấn các hộ gia đình và cán bộ địa phương ta ̣i bảng 4.8cho biết:

Nhờ có dự án các hộ gia đình được tham gia các lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thật của dự án 661 về trồng rừng, chăm sóc rừng Hiệu quả từ các cuộc tập huấn để chuyển giao khoa học kỹ thuật của dự án tổ chức rất thiết thực đối với nhân dân địa phương.Bên ca ̣nh đó, các hộ gia đình được giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm.Tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn khi có DA đã được kiểm soát tốt hơn, tình hình tệ nạn xã hội của địa phương đã giảm xuống

Thực hiện dự án 661 đã ta ̣o ra hang trăm viê ̣c làm cho người dân, số lao động địa phương hằng năm đi làm ăn xa đã giảm xuống, giúp bà con xóa đói giảm nghèo.Cụ thể như sau:

Bả ng 4.9: Kết quả ta ̣o việc làm, xóa đói giảm nghèocủa viê ̣c thực hiê ̣n dự án

TẠO VIỆC LÀM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Số người có thu nhập từ rừng / tổng thu nhập

(người) Dân số của tỉnh

Số hộ làm LN trong khu vựcDA thuộc diện đói nghèo (7)

Số hộ làm LN trong khu vực DA

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng được triển khai thực hiện đã góp phần làm thay đổi đời sống của một bộ phận cư dân trên địa bàn tỉnh Mặc dù thu nhập từ rừng của người dân là chưa nhiều, chiếm tỷ lệ còn thấp trong tổng số thu nhập, nhưng nó cũng đã thúc đẩy họ tham gia bảo vệ và phát triển rừng Quá trình thực hiện Dự án đã tạo việc làm cho hàng trăm lao động/năm góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn

Mặt khác, trong quá trình triển khai dự án đã chuyển giao những tiến bộ kỹ thuật mới, kỹ thuật canh tác sản xuất Nông - Lâm nghiệp cho các hộ nông dân trong xã, đặc biệt là kỹ thuật trồng, chăm sóc và khai thác chế biến những cây trồng lâm nghiệp có giá trị kinh tế như: Keo lai, Ba ̣ch đàn Thông qua dự án người dân các dân tộc trong xã đã hiểu rõ và tin tưởng hơn vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đối với chương trình phát triển lâm nghiệp Nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với công tác trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Thay đổi truyền thống canh tác phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, sống du canh du cư chủ yếu đốt nương làm rẫy là chính, chuyển sang bảo vệ và hưởng lợi từ rừng, canh tác lúa nước ổn định có năng suất cao; người dân định cư và sinh sống thành bản làng, điều kiện dân sinh đã thay đổi, văn hóa giáo dục từng bước phát triển

Những năm đầu dự án được triển khai đã thu hút rất đông sự tham gia của người dân địa phương bởi những lợi ích mà nó mang lại Trong hầu hết các hoạt động đều thu hút được khá đông người dân tham gia Tuy nhiên trong những năm tiếp theo việc triển khai dự án gặp nhiều khó khăn hơn Thậm chí có những diện tích trồng rừng sản xuất nay đang được các hộ chuyển sang trồng Sắn, Ngô…Vấn đề này được xác định bởi những nguyên nhân chính sau đây:

- Người dân không quen với khái niệm coi trồng rừng là một việc kinh doanh có hiệu quả Việc thiếu kiến thức về thị trường cho gỗ và các sản phẩm rừng trong khi không được định hướng khi tham gia dự án đã làm cho người tham gia trồng rừng chịu tổn thất Trên thực tế có một số hộ đang phá bỏ các diện tích rừng trồng phòng hộ và sản xuất sang trồng cây khác như Sắn, Ngô

Đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả kết quả của Dự án

4.4.1 Giải pháp sử dụng có hiệu quả kết quả dự án và duy trì dự án

Dự án 661 được triển khai tại địa phương thực sự đã góp phần vào việc nâng cao độ che phủ rừng cũng như sự phát triển kinh tế xã hội địa phương, giúp người dân tiếp cận với một ngành nghề mới, đó là nghề rừng Giai đoạn này, dự án đã phục hồi được một diện tích lớn rừng tự nhiên, nâng cao chất lượng rừng, đã đầu tư một khoản kinh phí không nhỏ cho tất cả các hoạt động Đến nay dự án đã kết thúc, Nhà nước cũng không còn hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động trồng và bảo vệ rừng của địa phương nữa Để duy trì và phát huy những thành quả đã đạt được từ dự án 661, một vấn đề hết sức có ý nghĩa là phải bảo vệ được vốn rừng mà nhà nước và địa phương phải đổ rất nhiều tâm sức mới xây dựng được Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài đề xuất một số giải pháp chính cho việc bảo vệ, phát triển rừng bền vững cho giai đoạn hậu dự án như sau:

1 Hoạt động phổ cập kiến thức cần được thực hiện sớm Để các mô hình được duy trì và sinh trưởng phát triển tốt cần phải tập huấn cho các hộ trong việc phòng trừ sâu bệnh hại Tránh để tình trạng sâu bệnh lây lan ra các mô hình khác

2 Tìm kiếm thị trường cho gỗ rừng trồng

Thị trường là một trong những vấn đề mà người dân quan tâm nhất trong giai đoạn rừng chuẩn bị cho khai thác gỗ như hiện nay (rừng Keo) Vì vậy, cần triển khai ngay công tác tổ chức thực hiện quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích ký hợp đồng tiêu thụ hàng hoá nông lâm sản

- Với thị trường sản phẩm đầu ra, việc giải quyết cần phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và các hộ Có thể việc tìm kiếm thị trường cũng như đàm phán về giá cả là cái gì đó còn rất xa vời với người nông dân Do đó lãnh đạo địa phương cần quan tâm giúp đỡ người dân trong việc tìm kiếm thị trường ổn định để họ yên tâm sản xuất

- Về phía người dân: Thói quen chờ đợi sự quan tâm giúp đỡ hỗ trợ của nhà nước cũng nên thay đổi trong cách suy nghĩ của đại bộ phận dân cư Trên thực tế để những mong muốn của người dân được cụ thể hóa bằng chính sách của Nhà nước thì cần phải có thời gian nghiên cứu, áp dụng thử rồi mới đi vào cuộc sống do đó sẽ phải mất một quá trình Vì vậy, để cải thiện cuộc sống một cách nhanh nhất thì người dân cần tự mình nỗ lực, tận dụng những cơ hội và điều kiện mà Nhà nước hỗ trợ để phát triển kinh tế Muốn trồng loài cây nào đó người dân nên có sự tìm hiểu trước khi đưa vào sản xuất tránh gây ra tổn thất về kinh tế và thời gian

3 Cần thiết phải xây dựng quỹ cho quản lý rừng cộng đồng: Để duy trì tốt diện tích rừng tự nhiên hiện có thì cần phải duy trì hình thức quản lý mà cộng đồng đã áp dụng trong những năm qua Tuy nhiên do nguồn kinh phí của nhà nước không còn, do đó cần phải xây dựng càng sớm càng tốt quỹ quản lý rừng cộng đồng Theo như ý kiến của các hộ được phỏng vấn thì nguồn quỹ này cũng không phải quá lớn, nó chỉ dùng để hỗ trợ cho một tổ bảo vệ nên quỹ này có thể huy động cộng đồng đóng góp Mặt khác chính quyền xã cũng sẽ trích một khoản nhỏ cho các thôn nếu họ thực hiện được mô hình quản lý này đồng thời lãnh đạo xã cũng sẽ kêu gọi sự đóng góp của các thành phần kinh tế khác trên địa bàn Đối với nhà nước, nếu có thể thì nên tiếp tục hỗ trợ người dân trong việc duy trì hình thức quản lý này Bởi vì để giữ được 1 ha rừng tự nhiên hiện có hoặc khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên trong 15 năm có thể chỉ cần 3,000,000 đồng trong khi đó để trồng và bảo vệ 1 ha rừng trồng trong vòng 15 năm cần ít nhất 15,000,000 đồng Có thể khẳng định rằng, chi phí đầu tư để giữ 1 ha rừng tự nhiên hoặc rừng trồng hiện có thấp hơn nhiều lần so với trồng mới Và hoạt động khoanh nuôi bảo vệ rừng có vẻ như có tính khả thi cao hơn hoặc dễ thực hiện hơn so với hoạt động trồng mới

4 Thông thoáng trong cơ chế khai thác, vận chuyển, tiêu thụ lâm sản: Các đơn vị có chức năng quản lý, cấp phép trong vấn đề khai thác và tiêu thụ lâm sản trên địa bàn cũng nên có những cách xử lý linh hoạt và thông thoáng cho người dân trong khâu khai thác và tiêu thụ sản phẩm Có thể người dân sẽ không nắm bắt hết về luật nên các cơ quan quản lý cũng cần hỗ trợ họ, hướng dẫn họ trong việc chuẩn bị các loại giấy tờ thủ tục cần thiết cho việc khai thác, vận chuyển lâm sản, đảm bảo đúng quy định của Nhà nước, tránh gây hiểu lầm, bức xúc trong một số bộ phận người dân

5 Huy động sự tham gia của Doanh nghiệp : Kêu gọi sự tham gia của Doanh nghiệp vào việc phát triển rừng sẽ có nhiều lợi ích Ngoài việc tiếp tục phủ xanh những diện tích đất trống thì họ còn tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người dân địa phương Họ chủ động về nguồn vốn, có thể hỗ trợ việc mở đường lâm nghiệp nên sẽ rất thuận lợi cho người dân trong quá trình khai thác và vận chuyển lâm sản Người dân có thêm nguồn thu nhập nên cũng sẽ hạn chế việc tác động vào tài nguyên rừng, họ cũng có cơ hội học hỏi các tiến bộ kỹ thuật qua sản xuất lâm nghiệp Tuy nhiên để đảm bảo hài hòa lợi ích cho cả doanh nghiệp và người tham gia thì chính quyền địa phương cần theo dõi sát sao quá trình hoạt động của doanh nghiệp tại địa phương Cần phải tìm hiểu rất kỹ về doanh nghiệp, xem xét cách thức hoạt động của họ, loài cây họ định trồng, cơ chế hưởng lợi mà người dân được hưởng như thế nào, đối tượng đất họ mong muốn sử dụng có phù hợp hay không… Với người dân khi đã góp đất trồng rừng cũng có nghĩa bà con không còn đất sản xuất lương thực Nếu dự án trồng rừng kém hoặc không hiệu quả, doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì ai sẽ đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường, trả lại số tiền theo thời gian góp đất của bà con?

4.4.2 Giải pháp cho thực hiện các dự án tiếp theo

1.Đổi mới phương pháp tiếp cận trong việc xây dựng và triển khai dự án ở địa phương

Có một thực tế là đã từ lâu, chúng ta chỉ để ý đến những khiếm khuyết của cộng đồng, chỉ quan tâm đến cái cộng đồng không có để tìm kiếm nhu cầu cộng đồng, giải quyết nó cho mục tiêu phát triển Đây là phương pháp tiếp cận truyền thống Cách nhìn này tạo ra một hình ảnh tiêu cực và ảnh hưởng đến nhận thức tinh thần đối với cộng đồng, trong khi điều này chỉ là một phần của sự thật trong thực tế Cách nhìn nhận này về phát triển cộng đồng đã dẫn tới việc xây dựng “bản đồ nhu cầu” Và hoạt động mà chúng ta vẫn thường thực hiện giai đoạn tiền dự án đó là “Khảo sát nhu cầu của cộng đồng” Giới hạn của cách tiếp cận này là nó khó mà xây dựng được cộng đồng, vì người dân thường tự xem mình là “đố i tượng thụ hưởng” hơn là một thành viên, một bộ phận sản xuất trong quá trình phát triển Cây vấn đề thường diễn giải những vấn đề trong cộng đồng cần được giải quyết như thế nào, và những thành viên của cộng đồng có thể làm gì đối với vấn đế này Như vậy đương nhiên người dân sẽ không hoạt động như là một công dân của cộng đồng, một chủ thể; mà là một khách hàng, một đối tượng hay là một người tiêu thụ các dịch vụ của quá trình phát triển Việc xây dựng cây vấn đề có thể tạo ra một “bức tường nhu cầu”, do không phải được xây dựng trên sự quyết tâm để phát triển cộng đồng, mà là nhu cầu được giúp đỡ

Tuy nhiên trên thực tế ngoài những khiếm khuyết, thiếu thốn, mỗi cá nhân nói riêng và mỗi cộng đồng nói chung đều có những mặt mạnh riêng, và để giải quyết mục tiêu phát triển thì cần phải nhìn thấy những thế mạnh và ưu điểm đó, phát huy sức sáng tạo cộng đồng, theo một cách tiếp cận Phát triển cộng đồng dựa vào gây dựng tài sản (Asset Based Community Development) Nguyên lý cơ bản của phương pháp này là cách tiếp cận nhắm vào năng lực, có khả năng hay chắc chắn tăng năng lực cho cộng đồng, thúc đẩy người dân tạo ra sự thay đổi đầy ý nghĩa và tích cực từ bên trong cộng đồng Thay vì nhắm vào nhu cầu của cộng đồng, mặt thiếu sót, khiếm khuyết và vấn đề, cách tiếp cận “Phát triển cộng đồng dựa vào gây dựng tài sản” giúp họ (cộng đồng) trở nên mạnh mẽ hơn và tự lực tự cường hơn qua khám phá, liệt kê, nhận dạng (sắp đặt) và huy động tất cả các nguồn lực tại chỗ của họ Những nguồn lực cộng đồng bao gồm: Kỹ năng của người dân địa phương; Quyền lực của các cơ quan đoàn thể, các hội tại địa phương; Những nguồn tài nguyên của các tổ chức công, cá nhân; Những nguồn tài nguyên vật chất và kinh tế tại địa phương…

Cách tiếp cận dựa trên những tài sản sẵn có tại chỗ, không cho rằng việc đưa những nguồn lực từ bên ngoài vào là không cần thiết Vấn đề là nguồn lực bên ngoài đó sẽ chỉ được sử dụng hiệu quả hơn nếu các nguồn lực tại chỗ được huy động, sử dụng triệt để và nếu cộng đồng xác định được một kế hoạch hành động rõ ràng

2 Việc giao đất, giao rừng tiếp tục được đẩy mạnh, bảo đảm ổn định lâu dài quyền sử dụng đất cho các tổ chức hộ gia đình và cá nhân, xác định rõ quyền làm chủ và lợi ích thực sự của người sử dụng đất, của các chủ rừng

3 Định hướng hoặc xác định thị trường cho các loại hình sản phẩm của dự án

Một điểm yếu mà phần lớn các dự án phát triển cũng như các dự án trồng rừng khác ở các tỉnh miền núi phía bắc đã không làm được hoặc có làm thì cũng không đến nơi đó là vấn đề định hướng hoặc xác định thị trường cho các loại sản phẩm đầu ra trong đó có lâm sản Do đó sản phẩm sau khi sản xuất ra không có chỗ đứng trên thị trường, người dân không biết bán ở đâu, bán cho ai… do đó bị thương lái ép giá, được mùa thì rẻ, mất mùa lại không có để bán Tình trạng đua nhau trồng một loài cây nào đó khi nó được giá và lại thi nhau phá để trồng cây khác khi nó mất giá là một thực tế diễn ra ở rất nhiều địa phương trên cả nước Sẽ là không ảnh hưởng quá lớn nếu đó là các sản phẩm của các cây trồng ngắn ngày nhưng đối với các hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì là một vấn đề lớn cần phải trăn trở do chu kỳ kinh doanh thường kéo dài Do đó sẽ thực sự là mạo hiểm nếu người nông dân đầu tư lớn vào sản xuất lâm nghiệp mà không xác định được đầu ra như thế nào Bởi trên thực tế, vốn đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp cũng không nhỏ, người dân sống gần rừng, có đời sống và sản xuất gắn liền với đất rừng, cộng với nhiều điều kiện khó khăn khác sẽ không có đủ vốn

4 Lựa chọn loài cây trồng phù hợp, đáp ứng được nhiều tiêu chí: Áp lực của việc tăng độ che phủ rừng đôi khi mâu thuẫn với mục tiêu phát triển kinh tế Một số loài cây lựa chọn thường là mọc nhanh nhưng ít có giá trị kinh tế, không đáp ứng được mong đợi của người dân, hoặc không phù hợp điều kiện địa phương, không phải là những thứ thị trường đang cần hoặc không ổn định

Do đó để phát triển rừng một cách bền vững cần hài hòa về mục tiêu của các bên tham gia

5 Cụ thể hóa chính sách trồng rừng

Tiếp tục đổi mới bổ sung và hoàn thiện các chính sách nhằm khuyến khích được nhiều người ở nhiều thành phần kinh tế khác nhau vào đầu tư trồng rừng, hình thành nhiều loại chủ rừng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau

Kết luận

Qua nghiên cứu và đánh giá, đề tài đã đi đến một số kết luận sau:

Về kinh tế: Dự án đã góp phần chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất của hộ gia đình như việc làm tăng lên diện tích đất lâm nghiệp có rừng (hoạt động trồng rừng), tăng lên diện tích đất sản xuất nông nghiệp (đất sản xuất nương rẫy) từ diện tích đất lâm nghiệp không có rừng (vốn lâu nay bị nhiều hộ bỏ không) Phương thức sản xuất cũng có những đổi mới theo hướng ổn định Trong cơ cấu nguồn thu của hộ đã có sự đóng góp của sản xuất lâm nghiệp, cho dù nhỏ nhưng đã phần nào cải thiện điều kiện sống cho các hộ

Về xã hội: Dự án đã mở ra phương thức sản xuất, phương thức sử dụng đất gắn liền với bảo tồn và phát triển rừng Từ các hoạt động của dự án, cộng đồng đã có cơ hội tiếp cận với khoa học kỹ thuật trong công tác xây dựng, chăm sóc và bảo vệ rừng Họ có quyền chủ động trong các hoạt động của dự án Họ được tuyên truyên vận động, được khẳng định vai trò của mình trong cộng đồng Do đó, ý thức của người dân trong công tác quản lí, bảo vệ rừng được tăng lên rõ rệt

Chất lượng cuộc sống của người dân đã có những cải thiện đáng ghi nhận, khi dự án đã thu hút được rất đông lực lượng lao động của địa phương vào các hoạt động phát triển rừng

Về môi trường: Dự án đã có những đóng góp đáng kể trong việc nâng cao độ che phủ rừng, tăng độ phì đất, tăng khả năng bảo vệ đất, chống xói mòn, tăng khả năng giữ nước của rừng, cải thiện chất lượng nguồn nước sản xuất cũng như sinh hoạt cho cộng đồng…theo hướng tích cực và ngày càng bền vững

- Đề xuất giải pháp để sử dụng có hiệu quả các kết quả của dự án góp phần quản lý rừng bền vững tại địa phương Đề tài đã nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy điểm mạnh được xem là lợi thế trong quản lý rừng ở địa phương đó là: Đối với loại hình rừng khoán bảo vệ nên sớm xây dựng quỹ quản lý rừng cộng đồng để duy trì hình thức bảo vệ hiện nay đang được người dân ủng hộ và thực hiện khá tốt Đối với loại hình rừng trồng để duy trì tốt diện tích rừng hiện có cho đến khi được khai thác các sản phẩm cần chủ động tập huấn cho các hộ trong việc phòng trừ các loại sâu bệnh hại, tìm kiếm thị trường cho các loại sản phẩm, tạo hành lanh pháp lý thuận lợi cho quá trình khai thác và vận chuyển lâm sản nhất là loại hình rừng trồng phòng hộ, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, tận dụng thế mạnh của họ về nguồn vốn đầu tư trong đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất lâm nghiệp nói chung của địa phương

- Đối với các dự án lâm nghiệp tương tự khác nếu trong tương lai thực hiện tại địa phương cần lưu ý một số vấn đề như: Định hướng, xác định ngay thị trường cho các loại sản phẩm của dự án sớm hơn; Lựa chọn loài cây trồng phù hợp, cây trồng đa mục đích là một lợi thế; Cụ thể hóa chính sách trồng rừng, trong đó vấn đề hưởng lợi của người nông dân cần được đặc biệt quan tâm; Điều quan trọng để dự án có thể thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm, thái độ của những người quản lý và thực hiện các dự án tại địa phương; Cần tăng phí quản lý dự án cơ sở để khuyến khích người thực hiện; Và cần có cơ chế giám sát hợp lý để đảm bảo những kết quả đạt được của dự án là con số phản ảnh thực tế, qua đó có những điều chỉnh hợp lý trong quá trình triển khai thực hiện.

Tồn tại

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng do thời gian nghiên cứu và trình độ bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót, tồn tại

- Tác động về kinh tế, xã hội và môi trường không chỉ là kết quả của riêng dự án 661 mà còn là kết quả tổng hợp của nhiều hoạt động kinh tế - xã hội khác được triển khai trên địa bàn Tuy nhiên, đề tài chưa có điều kiện bóc tách một cách rạch ròi ở một số chỉ tiêu tác động của riêng dự án Điều đó không thể tránh khỏi sự giao nhập khi phân tích các tác động dự án ở một số chỉ tiêu khó tách biệt

- Đề tài mới tập trung đánh giá các tác động dự án thông qua sự biến đổi của một số chỉ tiêu tại các thời điểm trước và sau dự án, trên cùng một địa bàn và đối tượng tham gia dự án Việc so sánh với các đối tượng không tham gia dự án để thấy rõ được sự tác động của dự án đến đối tượng mà nó tác động có sự thay đổi đáng kể nào chưa được tác giả thực hiện

- Là một dự án trồng rừng với đặc điểm cơ bản là chu kỳ kinh doanh dài nên đề tài mới chỉ đánh giá được những tác động ban đầu mà chưa có điều kiện phân tích sâu những tác động dài hạn, tiêu cực và gián tiếp

- Cần có những cơ sở lý luận và thực hiện việc đánh giá tác động của riêng dự án đem lại mang tính rõ ràng, cụ thể và thuyết phục hơn

- Tiếp tục đầu tư thời gian và kinh phí theo dõi tiếp các kết quả dự án để đánh giá tác động dự án trên nhiều mặt (cả tác động tích cực và tiêu cực, trực tiếp và gián tiếp, ngắn hạn và dài hạn…) trong cả chu kì kinh doanh, với việc sử dụng nhiều hơn các phương pháp nghiên cứu phù hợp hơn.

Kiến nghị

1 Lê Đức An (2000), Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường chung các dự án phát triển, Đề án Xây dựng năng lực quản lý môi trường ở

Việt Nam VNM/B7-6200/IB/96/05, Hà Nội

2 Đỗ Đức Bảo (2001), Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở vùng hồ huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, Chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan, Bộ khoa học công nghệ và Môi trường, Hà Nội

3.Lê Thạc Cán (1994), Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn đánh giá tác động môi trường, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội

4 Lê Thạc Cán (1995), Đánh giá tác động đến môi trường của một số công trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội tiêu biểu về xây dựng và công nghiệp, Hà Nội

5 Trần Hữu Dào (1995), Đánh giá hiệu quả kinh doanh rừng Quế của các hộ gia đình tại Văn Yên – Yên Bái, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây

6 Võ Đại Hải (2007), Đánh giá kết quả trồng rừng phòng hộ đầu nguồn dự án

661 giai đoạn 1999 – 2005 tại tỉnh Hoà Bình, Tạp chí NN&PTNT, kỳ 1 tháng 5 năm 2007

7 Võ Đại Hải (2009), Đánh giá một số mô hình rừng trồng phòng hộ đầu nguồn trong dự án Renfoda tại Hoà Bình, Tạp chí NN&PTNT, số 3 tháng 3 năm 2010, Hà Nội

8 Đàm Đình Hùng (2003), Nghiên cứu tác động của dự án Khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn (VN-ADB) tại tiểu dự án xã Tân Thành, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Luận Văn Thạc sỹ, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Tây.

Ngày đăng: 24/06/2021, 14:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w