Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật và xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ năm 2011 - 2020, nhu cầu thực tiễn phát triển của các ngành, lĩnh vực trên
Trang 1ĐINH THỊ THỦY
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
GIAI ĐOẠN 2011 - 2020
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ: 8850103
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN BÁ LONG
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên
cứ nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học
Hà Nội, ngày 18 tháng 05 năm 2020
Người cam đoan
Đinh Thị Thủy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Bá Long đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập
và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức, đồng nghiệp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã cung cấp số liệu cho đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song do thời gian có hạn, kinh nghiệm còn hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2020
Tác giả
Đinh Thị Thủy
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.1 Khái niệm của quy hoạch sử dụng đất 4
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 6
1.2 Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất 9
1.3 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý 15
1.3.1 Đất đai và chức năng của đất đai 15
1.3.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất 18
1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 19
1.3.4 Các xu thế phát triển sử dụng đất 22
1.3.5 Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường 25
1.4 Tình hình quy hoạch, thực hiện quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới và của việt nam 27
1.4.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới 27 1.4.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam 28
1.4.3 Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch sử dụng đất TP Hà Nội 33
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đốı tượng và phạm vı nghıên cứu 36
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.1.2 phạm vi nghiên cứu 36
2.2 Địa điểm nghiên cứu 36
Trang 52.3 Nội dung nghiên cứu 38
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Mỹ Đức 38
2.3.2 Tình hình quản lý, sử dụng đất đai qua các nội dung 39
2.3.3 Tình hình lập, xét duyệt và thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của huyện Mỹ Đức 39
2.3.4 Đánh giá tình hình thực hiện phương án Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 39
2.3.5 Đề xuất, giải pháp nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất……….…38
2.4 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 37
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 37
2.4.3 Phương pháp thống kê xử lý số liệu, so sánh và phân tích 37
2.4.4 Phương pháp minh họa bằng bản đồ 37
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1 Đıều kıện tự nhıên, kınh tế, xã hộı, quản lý nhà nước về đất đaı của huyện Mỹ Đức, tp Hà Nộı 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 43
3.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Đức 48
3.2.1 Khái quát về công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Mỹ Đức 48
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội53 3.3 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2019 53
3.3.1 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất từ năm 2011-2015 53 3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch sử
Trang 6dụng đất năm 2016 60
3.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất năm 2017 66
3.3.4 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất năm 2018 71
3.3.5 Đánh giá tình hình thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất năm 2019 77
3.4 Đánh giá những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Đức 82
3.4.1 Những mặt đạt được trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất 82
3.4.2 Những tồn tại, hạn chế 83
3.4.3 Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sử dụng đất 85
3.5 Các giải pháp nâng cao tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất 85
3.5.1 Giải pháp bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường 85
3.5.2 Các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Mỹ Đức 2015 - 2018 43 Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất năm 2019 của huyện Mỹ Đức 51 Bảng 3.3 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 53 Bảng 3.4 Tình hình thực hiện các công trình, dự án theo quy hoạch 56 được duyệt kỳ đầu (2011-2015) huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 56 Bảng 3.5 Tình hình thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch kỳ đầu (2011-2015) huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 58 Bảng 3.6 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất năm 2016 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 60 Bảng 3.7 Tình hình thực hiện các công trình, dự án theo kế hoạch 63 được duyệt năm 2016 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 63 Bảng 3.8 Tình hình thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch năm 2016 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 64 Bảng 3.9 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất năm 2017 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 66 Bảng 3.10 Tình hình thực hiện các công trình, dự án theo quy hoạch 68 được duyệt năm 2017 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 68 Bảng 3.11 Kết quả thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch năm 2017 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 70 Bảng 3.12 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất năm 2018 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 72 Bảng 3.13 Tình hình thực hiện các công trình, dự án theo quy hoạch 74 được duyệt năm 2018 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 74 Bảng 3.14 Kết quả thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch năm 2018 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 75
Trang 9Bảng 3.15 Kết quả thực hiện chỉ tiêu sử dụng đất năm 2019 huyện Mỹ Đức,
thành phố Hà Nội 77
Bảng 3.16 Tình hình thực hiện các công trình, dự án theo quy hoạch 79
được duyệt năm 2019 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 79
Bảng 3.17 Tình hình thực hiện thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch 81
được duyệt năm 2019 huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội 81
Trang 10hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Thực hiện Luật Đất đai và các văn bản dưới Luật và xuất phát từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ năm 2011 - 2020, nhu cầu thực tiễn phát triển của các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện, tình hình sử dụng đất của cả tỉnh nói chung và huyện Mỹ Đức nói riêng, UBND huyện
Mỹ Đức đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011- 2020 Qua quá trình thực hiện cho thấy huyện Mỹ Đức việc sử dụng đất khai thác hiệu quả, phát huy triệt để tiềm năng thế mạnh, cũng như tranh thủ tối đa mọi nguồn lực đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhanh chóng hòa nhập với xu thế phát triển chung của tỉnh và của khu vực Đồng thời tạo căn cứ để phân bổ hợp lý, đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả cao quỹ đất, đồng thời thiết lập các hành lang pháp lý cho việc giao đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng, chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện trong thời gian tới
Trang 11Mỹ Đức là huyện nằm phía Tây Nam thành phố Hà Nội, gồm 22 xã
và thị trấn, trong đó có 12 xã đồng bằng dọc sông Đáy, 09 xã trung du và
01 xã miền núi Trung tâm huyện cách thành phố Hà Nội 54km về phía Tây; So với một số huyện ngoại thành khác Mỹ Đức không có nhiều ưu thế
về hệ giao thông: đường bộ chỉ có 3 tuyến tỉnh lộ đã được nâng cấp nhưng vẫn còn nhỏ, các tuyến liên huyện, xã còn nhiều hạn chế đặc biệt với các phương tiện có trọng tải lớn; đường thủy chủ yếu có sông Đáy Huyện có
ưu thế về du lịch tâm linh, du lịch sinh thái và năm trong vùng quy hoạch phát triển vành đai thực phẩm và vành đai xanh của thành phố Hà Nội
Để có căn cứ phân bổ đất đai cho các mực đích sử dụng đất, các chủ
sử dụng đất chuyển mục đích sử dụng đất và phát triển kinh tế - xã hội UBND Huyện Mỹ Đức đã tiến hành lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 Sau một thời gian thực hiện phương án quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất huyện Mỹ Đức đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế -xã hội của vùng nói riêng Tuy nhiên, một số nội dung của phương
án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được phát huy mạnh do nhiều nguyên nhân dẫn đến tính khả thi của phương án chưa cao
Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn trên, được sự nhất trí của Viện Quản lý đất đai - Đại học Lâm Nghiệp và sự hướng dẫn của TS Nguyễn Bá
Long, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá tình hình thực hiện Quy
hoạch, Kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội giai đoạn 2011-2020”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tıễn
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện tại Việt Nam, như căn cứ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phương án
Trang 12quy hoạch sử dụng đất, cơ chế giám sát thay đổi sử dụng đất của các cơ quan có thẩm quyền và người dân
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho các nhà quản lý đất đai, các nhà quy hoạch và các nhà quản lý môi trường tại địa phương xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phù hợp phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của huyện Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các học viên, sinh viên khi nghiên cứu về lĩnh vực này
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của phương
án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020
- Phân tích nguyên nhân ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện, hiệu quả, tính khả thi của phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất huyện
Mỹ Đức, thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2020
- Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Khái niệm của quy hoạch sử dụng đất
Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất, miếng đất ) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất
tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính ) tạo điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo mục đích khác nhau Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch - đây là quá trình nghiên cứu lao động sáng tạo nhằm định nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định (Lê Đình Thắng, Trần Tú Cường, 2007)
Về bản chất: Đất đai là đối tượng của mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là mối quan hệ đất đai) và tổ chức sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế - xã hội), (Viện điều tra quy hoạch, Tổng cục Địa chính,1998) Như vậy, Quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời ba tính chất: kinh tế, kỹ thuật và pháp chế, mà ở đó:
- Tính kinh tế: Thể hiện ở hiệu quả sử dụng đất
- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu
- Tính pháp chế: Xác định tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng đất đai đúng pháp luật
Từ đó, có thể đưa ra khái niệm: quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về quản lý và tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, hiệu quả, khoa học thông qua việc phân bổ đất đai cho các mục đích sử dụng
và định hướng tổ chức sử dụng đất cho các cấp lãnh thổ, các ngành, tổ chức
Trang 14và người sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thực hiện đường lối kinh tế của Nhà nước trên cơ sở dự báo theo quan điểm sinh thái bền vững (Võ Tử Can, 2001)
Theo FAO, (1993): “Quy hoạch sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế -
xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử dụng đất tốt nhất Mục tiêu của Quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và phương án đã lựa chọn vào thực tiễn dể đáp ứng nhu cầu của con người một cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai Yêu cầu cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng sử dụng đất”
Phương án quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đai được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt là căn cứ để bố trí sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất đặc biệt là chuyển diện tích đất trồng lúa có hiệu quả cao sang các mục đích phi nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc trồng cây lâu năm Như vậy, mục đích của quy hoạch sử dụng đất nhằm tạo ra những điều kiện về tổ chức lãnh thổ, thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là cơ sở để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả Nó được xây dựng trên định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị, yêu cầu bảo vệ môi trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; Hiện trang quỹ đất và nhu cầu sử dụng đất; Định mức
sử dụng đất, tiến bộ khoa học kỹ thuật; Kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước Những năm gần đây, quy hoạch đã góp phần không nhỏ tạo ra kết quả đáng khích lệ, giúp khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tiềm năng, nguồn lực về đất, mở
Trang 15rộng diện tích đất canh tác, nâng cao chất lượng, đảm bảo an toàn lương thực (Nguyễn Thị Tố Uyên, 2007)
Nhu vậy, về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp với bảo vệ đất và môi trường (Đoàn Công Qùy, 2001)
Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở tiến hành cấp đất
và đầu tư phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hóa - xã hội
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chống chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp (đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế -
xã hội và hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng
ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường (Võ Tư Can, 2001)
1.1.2 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn là bộ phận
Trang 16hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất (Võ Tử Can, 2001)
* Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất xã hội thể hiện thể hiện theo hai mặt: Lực lượng sản xuất (mối quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong sản xuất) Trong quy hoạch sử dụng đất luôn nảy sinh mối quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh định, thiết kế ) cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bằng văn bằng về sở hữu và quyền
sử dụng đất giữa người với chủ sử dụng đất - GCN QSD đất) Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất xã hội
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vi lợi nhuận tối đa và nặng về pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô ) Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất phục vụ nhu cầu sử dụng đất và quyền lợi của xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đã góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh
tế, xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau
* Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất thể hiện ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ tài nguyên đất đai cho nhu cầu toàn bộ nền kinh tế quốc dân Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi
Trang 17trường sinh thái Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; Điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố
sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định
* Tính dài hạn: Thể hiện ở việc xác định nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế - xã hội lâu dài
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh
tế quan trọng (sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ khoa học kỹ thuật, đô thị hóa công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ), từ đó xác định quy hoạch trung
và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm, 5 năm và lâu hơn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất đẻ phát triển lâu dài kinh
tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài (cùng với phát triển dài hạn kinh tế - xã hội) cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn (xác định phương hướng, chính sách và
sử dụng đất để phát triển kinh tế và hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn
* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô: Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bổ sử dụng đất (mang tính đại thể, không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi) Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như:
- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;
- Cân đối nhu cầu sử dụng đất của các ngành;
Trang 18- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bổ đất đai trong vùng;
- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng;
- Đề xuất các biện pháp, các chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Do khoảng thời gian dự báo là tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kính tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch sẽ càng ổn định
* Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và nhà nước, đảm bảo thể hiện trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; Tuân thủ các quy định, chỉ tiêu khống chế về dân số và môi trường sinh thái
* Tính khả biến: Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp cho việc phát triển kinh tế trong thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao
1.2 Những nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất
Với những áp lực và thực trạng sử dụng đất đai hiện nay cho thấy nguồn tài nguyên đất đai ngày càng khan hiếm và có giới hạn, dân số thế giới
Trang 19gia tăng Do đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất đai và loại đất đai để đạt được khả năng tối đa về sản xuất ổn định và an toàn lương thực, đồng thời cũng bảo vệ được hệ sinh thái cây trồng và môi trường sống Quy hoạch sử dụng đất đai là nền tảng cho quá trình này, thông qua Quy hoạch sử dụng đất, Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về sử dụng đất cho các ngành, các đơn vị,
cá nhân sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan hệ đất đai Như vậy quy hoạch sử dụng đất thực hiện đồng thời hai chức chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
Một là, Chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp liên quan tới quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch
sử dụng đất Nó không chỉ mang tính ý nghĩa kinh tế, mà còn là một vấn đề chính trị quan trọng, bởi vì tài nguyên đất đã được quốc hữu hóa là đối tượng
sở hữu Nhà nước, đồng thời là căn cứ quan trọng để phát triển sản xuất, để củng cố và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là nông nghiệp
Luật pháp Nhà nước tuyệt đối nghiêm cấm việc sử dụng đất không đúng mục đích, bảo vệ quyền bất khả xâm phạm quyền sử dụng đất và tính ổn dịnh của mỗi đơn vị sử dụng đất, đó là cơ sở quan trọng nhất để phát triển sản xuất Theo quy định tại Điều 4 Luật đất đai năm 2013: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định Quyền quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước được thể hiện theo luật pháp và thể hiện ở nhiều mặt như đại diện chủ quyền quốc gia về lãnh thổ; quyền giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân; quyền cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuê đất; quyền quyết định mục đích sử
Trang 20dụng đất; quyền quyết định khung giá đất; quyền giám sát, xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai Để thực hiện quyền tập trung, thống nhất của mình, Nhà nước phải nắm và sử dụng tốt các công cụ quản lý cơ bản về quy hoạch sử dụng đất, công cụ tài chính, pháp luật và chính sách kinh tế khác
Quy hoạch sử dụng đất còn có vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta đã thiết lập nên đường ranh giới giữa các đơn
vị sử dụng đất, giữa sản xuất nông nghiệp với khu dân cư, giữa các chủ sử dụng đất với nhau, tức là đã xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng đất Nhà nước cho phép các chủ sử dụng đất có các quyền về sử dụng đất, quyền sử dụng đất của các chủ sử dụng được xác nhận bằng các văn bản pháp luật và được luật pháp Nhà nước bảo hộ Mọi thay đổi trong cơ cấu đơn vị sử dụng đất phải được phản ánh kịp thời trong các tài liệu thích hợp
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và tài nguyên thiên nhiên Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt là điều kiện tồn tại cơ bản, gắn liền với hoạt động của con người, các tổ chức tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội của Nhà nước, có vai trò quan trọng với con người Đất đai có một đặc điểm rất quan trọng là nếu được sử dụng đúng mục đích và hợp pháp thì chất lượng ngày càng tốt lên Tính chất đặc biệt này của đất đòi hỏi chúng ta cần phải hết sức chú ý trong việc sử dụng đất Trong điều kiện diện tích đất đai dần bị thu hẹp và có hạn trong khi dân số càng ngày tăng lên gây áp lực đối với việc sử dụng đất Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả Sử dụng đất tiết kiệm nghĩa là phải bố trí hài hòa giữa nhu cầu sử dụng đất của ngành, hạn chế tối đa việc chuyển đất canh tác có hiệu quả cao sang sử dụng
và các mục đích phi nông nghiệp, đảm bảo an toàn lương thực Quốc gia, hòa mãn nhu cầu khu nông sản cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích
Trang 21Một trong những vấn đề bảo vệ đất quan trọng nhất là ngăn ngừa và dập tắt các quá trình xói mòn do gió và nước gây nên Đặc biệt đối với nước
ta với đặc điểm địa hình đồi núi chiếm 3/4 lãnh thổ, lại nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến suy thoái; quan trọng hơn nữa trong thời gian qua do nạn chặt phá, đốt rừng diễn ra bừa bãi, sử dụng đất không bền vững làm cho nhiều vùng đất bị thoái hóa ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hóa ngày càng tăng Những điều này có tác hại rất lớn đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp, nếu chúng ta không có biện pháp chống xói mòn sẽ làm mất đi đi lớp đất mặt màu mỡ nhất Khi tổ chức các biện pháp chống xói mòn cần tính đến các đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng, thủy văn của từng vùng Tổ hợp các biện pháp chống xói mòn sẽ được giải quyết trong một một đồ án quy hoạch có luận chứng khoa học
Nhưng trong lĩnh vực bảo vệ đất, quy hoạch sử dụng đất không chỉ làm nhiệm vụ chống xói mòn, mà còn phải chống các quá trình ô nhiễm đất, bảo
vệ các yếu tố của môi trường thiên nhiên
Ô nhiễm môi trường là vấn đề đáng quan tâm của toàn xã hội Đất có thể bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt, nước thải ra từ các nhà máy và nước thải sinh hoạt từ các đô thị lớn, ô nhiễm với bởi các chất phóng xạ, bởi việc sử dụng quá mức các hóa chất bảo vệ thực vật độc hại và lạm dụng phân hóa học học Trong các phương án quy hoạch sử dụng đất cần
dự kiến các biện pháp chống ô nhiễm một cách có hiệu quả
Để tránh lãng phí, khi cấp đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, trong các phương án quy hoạch sử dụng đất phải bố trí hợp lý các công trình nhà ở
và phục vụ sản xuất theo tinh thần tiết kiệm đất
Ba là, Tổ chức phân bổ ích đất cho các ngành đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
Trang 22Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành cần bảo đảm nguyên tắc tổ chức sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên các ngành nông nghiệp
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thủy điện, dầu khí… đều đòi hỏi phải có đất Việc bố trí các xí nghiệp công nghiệp, các tuyến giao thông vận tải, các khu khai thác khoáng sản và công trình xây dựng lớn thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân dài hạn, với tiêu chí: những khoanh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất chưa sử dụng hoặc đất sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp
Khi giao đất cho các nhu cầu phi nông nghiệp, hầu như bao giờ cũng làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của đơn vị bị mất đất Do đó, xây dựng dự án giao đất cần lưu ý để hoạt động sản xuất của các cơ sở đó không bị hoặc bị ít
bị ảnh hưởng nhất Trong trường hợp, nếu việc giao đất cho nhu cầu cho nhu cầu phi nông nghiệp làm cho cơ cấu sử dụng đất bị thay đổi nhiều, tổ chức lãnh thổ bên trong bị đảo lộn thì phải Quy hoạch lại toàn bộ hoặc một phần hoặc từng bộ phận cho đơn vị sử dụng đất đó
Khi đánh giá về mặt kinh tế những hậu quả do việc giao đất gây ra Chủ
sử dụng đất bị mất đất có quyền vào chủ đòi hỏi chủ được giao đất phải bồi thường toàn bộ những khoản thiệt hại do việc thu hồi đất và giao đất gây ra và
cả những chi phí để quy hoạch lại Việc bồi thường những khoản chi phí trên cho chủ bị mất đất là nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ được giao đất
Bốn là, quy hoạch sử dụng đất phải tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể Trên cơ sở đó có thể
áp dụng các hình thức quản lý kinh tế tiên tiến, ứng dụng các công nghệ mới,
Trang 23các tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng đất và sử dụng lao động
Quy hoạch sử dụng đất phải nhằm mục đích tạo ra những điều kiện về
tổ chức lãnh thổ thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch Nhà nước giao Khi quy hoạch sử dụng đất, người ta dự kiến phương hướng sử dụng đất trong một thời gian dài
Quy hoạch sử dụng đất phải có sự kết hợp hài hòa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, tổ chức lãnh thổ hợp lý mới giúp cho việc phát triển các ngành cân đối theo chỉ tiêu và nhu cầu sử dụng đất đã định
Năm là, phải phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của vùng lãnh thổ
Mỗi vùng, mỗi đơn vị sử dụng đất đều có những điểm khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nên phương án quy hoạch xây dựng phù hợp cho từng vùng cũng khác nhau Nếu không thì không thể tổ chức sử dụng đất đai
Điều kiện tự nhiên là các yếu tố về khí hậu, điều kiện đất đai (địa hình, thổ nhưỡng), khí hậu, ánh sáng, nguồn nước và các điều kiện khác đây là các yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp, cụ thể và sâu sắc nhất đối với hoạt động sản xuất nông nghiệp Vì vậy, trong thực tiễn việc sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế nhằm đạt hiệu ích cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
Trong số các điều kiện kinh tế - xã hội phải kể đến các yếu tố như chế
độ xã hội, dân số, lao động, chính sách đất đai, sức sản xuất và trình độ phát triển của kinh tế hàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bổ sản xuất, các điều kiện
về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải… căn cứ vào các yêu cầu của thị trường và xã hội, xác định mục đích sử dụng đất, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng đất với ưu thế tài nguyên thiên nhiên đất đai để đạt tới cơ cấu tổng thể hợp lý nhất, với diện tích đất đai có hạn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội ngày càng cao và sử dụng đất đai được bền vững
Trang 241.3 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
1.3.1 Đất đai và chức năng của đất đai
Theo Brinkman và Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói về đất đai “là một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính
ổn định, hay có chu kỳ dự toán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai”
Đến năm 1993, trong hội nghị quốc tế về môi trường ở Rio de janerio, Brazinl (1993), đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa rộng được xác định đất đai là: “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa ) (UN, 1994)
Như vậy, đất đai có thể gồm: Khí hậu, đất, nước, địa hình/địa chất, thực vật, động vật, vị trí, diện tích, kết quả hoạt động của con người (Trần Hữu Viên, 2018)
Theo định nghĩa về đất đai tại điều 3 Luật Đất đai 2013: “Quy hoạch sử dụng đất” là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng
cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu
sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn
vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định
Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời
gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất”
Trang 25Theo FAO (1993), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và tồn tại của xã hội loài người được thể hiện qua các mặt sau: sản xuất, môi trường sống, điều chỉnh khí hậu, cân bằng sinh thái, tồn trữ và cung cấp nguồn nước, dự trữ (nguyên liệu, khoáng sản trong lòng đất); không gian sự sống, bảo tồn, lịch sử; vật mang sự sống; phân vị lãnh thổ Như vậy, có thể khái quát Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất ), vừa là phương tiện lao động Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá thể mà chúng ta đang
sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp theo của loài người Vì vậy trong sử dụng đất cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau (Tổng cục Địa chính 1996)
Nhu cầu tăng trưởng kinh tế xã hội phát triển mạnh, cùng với sự bùng
nổ dân số đã làm cho mối quan hệ giữa con người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất dẫn đến hủy hoại môi trường đất, một số chức năng nào đó bị yếu đi Với sự phát triển không ngừng của sản xuất, chức năng của đất đai cần được nâng cao theo hướng đa dạng nhiều tầng nấc, để truyền lại cho các thế hệ mai sau (Trần Hữu Viên, 2018)
Theo Trần Hữu Viên (2018), các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và tinh thần của xã hội loài người được thể hiện các mặt sau:
- Chức năng sản xuất: Cách cài làm nền tảng cho hệ thống hỗ trợ sự sống, thông qua việc sản xuất sinh khối để cung cấp lương thực, thực phẩm chăn nuôi, sợi, dầu gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng, một cách trực tiếp không thông qua các vật nuôi như nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản vùng ven biển
Trang 26- Chức năng về môi trường sống: Đất đai là nền tảng của đa dạng hóa sinh vật trong đất thông qua việc cung cấp môi trường sống cho sinh vật và nơi dự trữ nguồn gen cho thực vật, động vật, vi sinh vật ở trên và bên dưới bề mặt đất
- Chức năng hòa khí hậu: Đất đai và sử dụng đất đai là nguồn và nơi chứa khí ra từ nhà kính hai hình thành một sự cân bằng năng lượng toàn cầu giữa phản chiếu, hấp thu hay chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và của chu kỳ thủy văn của toàn cầu điều
- Chức năng trữ nước đất đai điều hòa sự tồn trữ và lưu thông của nguồn tài nguyên nước mặt, nước ngầm và những ảnh hưởng của chất lượng nước
- Chức năng tồn chữ đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho việc sử dụng của con người
- Chức năng kiểm soát chất thải và ô nhiễm: đất đai có khả năng hấp, thụ, lọc, đệm và chuyển đổi những thành phần nguy hại
- Chức năng không gian sống: đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên cho việc xây dựng khu dân cư, nhà máy và các hoạt động xã hội như thể thao nghỉ ngơi
- Chức năng bảo tồn di tích lịch sử: đất đai là nơi chứa đựng và bảo vệ các chứng tích lịch sử văn hóa của con người và nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu và những sử dụng đất đai trong quá khứ
- Chức năng nối liền không gian: đất đai cung cấp không gian cho sự vận chuyển của con người, đầu tư, sản xuất và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa những vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên
Sự tích hợp của đất cho nhiều chức năng trên thể hiện khác nhau ở mọi nơi trên thế giới Các khu vực cảnh quan là khu vực tài nguyên thiên nhiên, có động thái riêng của chúng Nhưng con người lại có nhiều tác động ảnh hưởng đến động thái này (kể cả không gian và thời gian) Có thể cải thiện chất lượng
Trang 27của đất cho một hoặc nhiều chức năng, nói chung đất đã và đang bị các hoạt động của con người gây thoái hóa
Mức độ suy thoái đất đai có thể tiếp tục xảy ra hay cũng có thể gia tăng thêm dưới điều kiện ảnh hưởng của con người trong việc thay đổi khí hậu toàn cầu Sự suy thoái đất có thể được kiểm soát, cải thiện tốt lên hay ngay cả
dự trữ cho các loại hình sử dụng khác nhau một cách rộng rãi, nếu như các chức năng phải được chú ý, các mong ước đều lợi trước mắt ngắn hạn được thay thế bằng các mong ước lợi nhuận lâu dài và bền vững ở các cấp từ toàn cầu cho đến quốc gia và địa phương
Sự suy thoái đã và đang trầm trọng hơn ở những nơi sử dụng đất đai không có quy hoạch, hay những lý do khác về pháp chế và tài chính làm cho các quyết định sử dụng đất đai sai hai chỉ có quy hoạch một chiều từ Trung Ương xuống mà không có tham khảo ý kiến thực tế của địa phương đưa đến việc khai thác quá độ nguồn tài nguyên Hậu quả của các hoạt động này là làm cho một số lớn người địa phương ngày càng gặp khó khăn trong cuộc sống và đồng thời cũng phá hủy dần hệ sinh thái có giá trị Như thế, những phương pháp hạn hẹp cần phải được thay thế bằng một kỹ thuật mới trong quy hoạch và quản lý nguồn tài nguyên đất đai, Đó là tổng hợp hay tổng thể
để và đặt người sử dụng đất đai là trung tâm Điều này sẽ bảo đảm chất lượng lâu dài của đất đai cho con người sử dụng, hạn thế hay có những giải pháp cho các mẫu chuẩn về mặt xã hội liên quan đến sử dụng đất đai và đảm bảo
hệ sinh thái có các giá trị đa dạng sinh học cao (Trần Hữu Viên, 2018)
1.3.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất (khoảng không gian lãnh thổ cần thiết) đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Điều này có nghĩa là thiếu khoảng đất (vị trí, hình thể, quy mô, diện tích và yêu cầu về chất lượng nhất định) thì không một ngành nào, một xí nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động
Trang 28được Nói khác đi - không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có
sự tồn tại của chính con người
- Lợi ích của việc sử dụng đất trong các ngành phi nông nghiệp:
Trong các ngành phi nông nghiệp đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (Các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm độ phì nhiêu của đất chất lượng thảm thực vật và tính chất tự nhiên sẵn có trong đất
- Lợi ích của việc sử dụng đất trong ngành nông nghiệp lâm nghiệp Đất giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất,
cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động trong quá trình sản xuất) và là công cụ hay phương tiện hoạt động (sử dụng đất để trồng trọt chăn nuôi…) Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên trong đất
Lợi ích của việc sử dụng đất đa dạng xong có thể chia thành 3 nhóm lợi ích cơ bản sau:
+ Sử dụng Đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thỏa mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người;
+ Dùng đất làm cơ sở sản xuất và Môi trường sinh hoạt;
+ Cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ quan học cho việc hưởng thụ tinh thần
1.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
Mục tiêu của việc sử dụng hợp lí tài nguyên đất là phát huy tối đa tiềm năng đất đai nhằm đạt hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường và sự phát triển bền vững Vì vậy, phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của
Trang 29Viện điều tra quy hoạch đất đai (Viện điều tra quy hoạch, Tổng cục Địa chính, 1998) Có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất:
- Nhân tố điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với các điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như nhiệt độ ánh sáng, bức xạ, độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng xói mòn Để xác định các yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất Trong điều kiện tự nhiên khí hậu là yếu tố hàng đầu tác động đến việc sử dụng đất, sau đó là điều kiện đất đai và các yếu tố khác
+ Yếu tố khí hậu: khí hậu là một thành phần quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng suất cho cây trồng Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ bình quân cao thấp, sự sai khác nhiệt độ về thời gian và không gian, sự sai khác giữa nhiệt độ tối cao và tối thấp, sai khác về độ ẩm trong ngày, giữa mùa trong năm hay các khu vực khác nhau Trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, rừng tự nhiên và thực vật thủy sinh Cường độ ánh sáng mạnh yếu, thời gian chiếu sáng dài hay ngắn có tác dụng nhất định tới sinh trưởng, phát triển và quang hợp của cây trồng Chế độ nước, lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng cho việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, thảm thực vật gia súc và thủy sản
+ Điều kiện đất đai sự khác nhau giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mặt nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng tới sản xuất
và phân bổ các ngành nông, lâm nghiệp
Địa hình là yếu tố phức tạp ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác nhau ở vùng đồi núi, địa hình và độ dốc ảnh hưởng đến phương thức sử dụng đất nông nghiệp, đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống đồng ruộng để thủy lợi hóa và
Trang 30cơ giới hóa Đối với ngành phi nông nghiệp, địa hình quyết định Những thuận lợi hay khó khăn của việc thi công công trình hay khả năng lưu thông hàng hóa gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng và quy mô sản xuất
Đặc thù của điều kiện tự nhiên mang tính khu vực, vị trí địa lý của vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước và các điều kiện tự nhiên khác sẽ quyết định đến khả năng, công dụng và hiệu quả
sử dụng đất đai Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ các quy luật tự nhiên tận dụng các lợi thế nhằm đạt lợi ích cao nhất về kinh tế - xã hội - môi trường
- Nhân tố kinh tế xã hội: Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm cấc yếu tố: Điều kiện dân số, lao động, điều kiện vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất xã hội, trình độ quản lý và tổ chức sản xuất, sự phát triển của khoa học
và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chế độ kinh tế, xã hội
Các điều kiện tự nhiên của đất đai là cơ sở cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất; còn phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Việc sử dụng đất như thế nào quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả khi về kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng ; quyết định bởi nhu cầu thị trường
Trên thực tế điều kiện tự nhiên của mỗi vùng thì ít có sự khác biệt nhưng hiệu quả sử dụng đất thì có sự khác biệt lớn, nguyên nhân chủ yếu là
do các điều kiện kinh tế, xã hội: vốn, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng quyết định; với điều kiện tự nhiên đồng nhất nhưng vùng nào có kinh tế phát triển, vốn đầu tư lớn, nhận thức và trình độ của người lao động cao thì sử dụng có hiệu quả
Trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Khi khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì hiệu qủa sử dụng đất cũng được nâng lên Nhờ có thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến
Trang 31mà chúng ta có những nghiên cứu về lai tạo giống cây trồng cho năng suất cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, chế tạo ra máy móc, công
cụ sản xuất theo công nghệ tiên tiến tạo điều kiện nâng cao tối đa hiệu quả sản xuất, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
Từ những lý luận trên cho thấy, các điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới sử dụng đất đai thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người Vì vậy, Khi lựa chọn phương án sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự nhiên thì các yếu tố kinh tế - xã hội cũng không kém phần quan trọng
- Nhân tố không gian: trong thực tế, đất đai là điều kiện không gian đảm bảo hoạt động của bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) Tính không gian của đất đai bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai phải khai thác tại chỗ nên sự thừa thãi của nơi này không thể sử dụng để đáp ứng sự thiếu đất
ở địa phương khác Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất
Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng đất, mà còn chi phối giới hạn thay đổi của cơ cấu đất đai Điều này quyết định việc điều chỉnh cơ cấu đất đai theo loại, số lượng được sử dụng căn cứ sức sản xuất của đất và yêu cầu sản xuất của xã hội nhằm nâng cao năng lực của đất đai
Đối với đất xây dựng đô thị, đất dùng cho công nghiệp, xây dựng, nhà xưởng, giao thông mặt bằng không gian và vị trí của đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và giá trị kinh tế cao
Như vậy nhân tố không gian ảnh hưởng tới quá trình sử dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định hiệu quả sử dụng đất
1.3.4 Các xu thế phát triển sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người - đất trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi
Trang 32trường Căn cứ nhu cầu thị trường sẽ phát hiện, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế và xã hội cao nhất Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất thể hiện ở các mặt sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành cơ cấu kinh tế sử dụng đất;
- Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất;
- giữ mật độ sử dụng đất thích hợp, hình thành việc sử dụng đất một cách kinh tế, tập trung, thâm canh
Hiện nay, các xu thế sử dụng đất được phát triển theo các hướng sau:
* Sử dụng đất theo hướng chiều rộng và tập trung:
Lịch sử phát triển của xã hội loài người chính là lịch sử biến đổi của quá trình sử dụng đất Thời kỳ du mục, con người sống trong lều cỏ, những vùng đất có nước và cỏ bắt đầu được sử dụng Khi xuất hiện ngành trồng trọt với những công cụ sản xuất thô sơ, diện tích đất đai được sử dụng tăng lên nhanh chóng, năng lực sử dụng đất cũng như ý nghĩa kinh tế của đất đai cũng gia tăng Tuy nhiên, trình độ sử dụng đất còn thấp Với sự tăng trưởng của dân số và phát triển kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, khoa học, quy mô, phạm vi và chiều sâu của việc sử dụng đất ngày một nâng cao Yêu cầu sinh hoạt vật chất
và tinh thần của người dân ngày càng tăng cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng, phạm vi sử dụng đất được mở rộng
Trang 33Cùng với việc phát triển đất theo không gian, trong điều kiện gia tăng nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các lĩnh vực thì đất canh tác cũng như đất
sử dụng cho các mục đích khác được sử dụng theo hướng kinh doanh tập trung, với diện tích ít nhưng hiệu quả sử dụng cao
Tuy nhiên, trong thời kỳ quá độ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh, để nâng cao sức sản xuất của một đơn vị diện tích, đòi hỏi phải liên tục nâng cao mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến
kỹ thuật và công tác quản lý
* Sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp và chuyên môn hóa
Khoa học kỹ thuật và kinh tế - xã hội phát triển, sử dụng đất từ hình thức quảng canh chuyển sang thâm canh, kéo theo xu thế từng bước phức tạp hóa và chuyên môn hóa cơ cấu sử dụng đất
Khi kinh tế phát triển, nhu cầu của con người về vật chất, văn hóa, tinh thần và môi trường ngày một cao sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp đòi hỏi yêu cầu cao hơn đối với đất đai Khi mức sống còn thấp, việc sử dụng đất chủ yếu tập trung vào sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết vấn đề thường nhật của cuộc sống là đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở Khi đời sống nâng cao, chuyển sang giai đoạn hưởng thụ, vấn đề sử dụng đất ngoài việc sản xuất vật chất còn phải thỏa mãn nhu cầu vui chơi, giải trí, văn hóa, thể thao và môi trường đã làm cho
cơ cấu sử dụng đất trở nên phức tạp hơn
Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các biện pháp thâm canh, cải tạo và nâng cao sức sản xuất của đất đai, thỏa mãn các loại nhu cầu của xã hội Khi nền kinh
tế khoa học kỹ thuật còn ở trình độ thấp, chủ yếu sử dụng bề mặt đất đai, nông nghiệp độc canh, trồng cỏ, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây dựng chủ yếu chọn đất bằng Khi khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, ngay cả đất xấu cũng được khai thác triệt để, hình thức sử dụng đa dạng, ruộng nước phát triển đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng sử
Trang 34dụng toàn diện, triệt để các dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để phục vụ cho lợi ích con người
Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt sản lượng và hiệu quả kinh tế cao rất cần
có sự phân công và chuyên môn hoá theo khu vực Cùng với việc đầu tư trang thiết bị và ứng dụng công nghệ kỹ thuật, công cụ quản lý hiện đại sẽ nảy sinh yêu cầu phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hóa sử dụng đất khác nhau về hình thức và quy mô
* Sử dụng đất phát triển theo hướng xã hội hóa và công hữu hóa
Mỗi vùng đất thực hiện sản xuất tập trung một sản phẩm và hỗ trợ bổ sung lẫn nhau đã hình thành nên sự phân công hợp tác mang tính xã hội hóa sản xuất, cũng như xã hội hóa việc sử dụng đất đai
Đất đai là cơ sở vật chất và là công cụ để con người sinh sống và xã hội tồn tại Vì vậy, việc chuyên môn hóa theo yêu cầu xã hội hóa sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội Ngay cả ở xã hội mà mục tiêu sử dụng đất chủ yếu vì lợi ích của tư nhân, những vùng đất đai hướng dụng cộng đồng như: Nguồn nước, núi rừng, khoáng sản, sông ngòi, mặt hồ, biển cả, danh lam thắng cảnh, động thực vật quý hiếm vẫn có những quy định về chính sách thực thi hoặc tiến hành công quản, kinh doanh của Nhà nước nhằm ngăn chặn, phòng ngừa việc tư hữu tạo nên những mâu thuẫn gay gắt của xã hội
Xã hội hóa sử dụng đất đai là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội hóa sản xuất Vì vậy, xã hội hóa sử dụng đất và công hữu hóa là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát triển và thúc đẩy xã hội hóa sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hóa và công hữu hóa sử dụng đất
1.3.5 Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường
Những năm gần đây, sự bùng nổ dân số cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ đã kéo theo nhu cầu của con người ngày càng
Trang 35cao Để đáp ứng nhu cầu trên, con người đã áp dụng những thành tựu, tiến bộ khoa học và sử dụng đất nhằm khai thác triệt để, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm và các điều kiện tồn tại và phát triển của loài người Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải đảm bảo như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hòa các mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường
Trong quá trình sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau
Trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất của các hộ dân là nhằm làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, họ luôn cố gắng tìm ra phương thức canh tác, chăm sóc để nâng cao tối đa hiệu quả sản xuất: năng suất, sản lượng và chất lượng sản phẩm cây trồng; đồng thời áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào các khâu chăm sóc, canh tác, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật… nên hệ số sử dụng đất và năng suất cây trồng không ngừng tăng lên
Bên cạnh những tín hiệu đáng mừng về chỉ số kinh tế, nền nông nghiệp nước ta đang phải đối mặt với những thử thách về xã hội và môi trường Do diện tích rừng bị chặt phá, đốt nương làm rãy nhưng thiếu các biện pháp kiểm soát xói mòn dẫn đến suy thoái độ phì Đồng thời, do đầu tư phân bón, kỹ thuật không hợp lý và khai thác nước ngầm quá mức… gây ra những hậu quả xấu về môi trường, ô nhiễm đất, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất bền vững và gặp khó khăn trong vấn đề kiểm soát sâu bệnh, mất các nguồn gen quý, một
số động vật, thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng
Quá trình đô thị hóa, công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi một quỹ đất rất lớn để đáp ứng cho các nhu cầu này Rất nhiều diện tích đất chuyên trồng lúa, đất có ưu thế sản xuất nông nghiệp đã được sử dụng để xây
Trang 36dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất đã làm mất đi ngày càng nhiều đất mầu mỡ trồng cây lương thực Một bộ phận không nhỏ nông dân đã không còn đất để canh tác, gây thất nghiệp và các tệ nạn xã hội gia tăng, môi trường
bị ô nhiễm do các chất thải đô thị, công nghiệp Do vậy, quá trình sử dụng đất luôn phải đảm bảo hài hòa ba mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Có như vậy sử dụng đất mới đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, bền vững
1.4 Tình hình quy hoạch, thực hiện quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới và của việt nam
1.4.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất của một số nước trên thế giới
Quy hoạch sử dụng đất luôn có vị trí quan trọng trong thực hiện công tác quản lý đất đai của mỗi quốc gia và được tiến hành từ nhiều năm trước đây Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà phương pháp và quan điểm quy hoạch sử dụng đất có đặc thù khác nhau và quá trình thực hiện cũng vậy
Ở các quốc gia phát triển như Đức, Mỹ quy hoạch sử dụng đất luôn gắn với việc giải quyết các yêu cầu về môi trường, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả bền vững Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất tại các nước này có tính khả thi cao Những nguyên tắc về sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork từ năm 1916 đến những năm 30 và hầu hết các Bang của nước Mỹ tuân thủ theo nguyên tắc này Đến những năm 70, các Bang ngày gặp phải một số vấn đề về môi trường và sự bảo tồn các di tích lịch sử nên đòi hỏi phải có những nguyên tắc và tầm nhìn xa hơn Từ đòi hỏi trên, Luật đất đai mới của Mỹ đã hình thành hệ thống quy hoạch sử dụng đất mới (FAO, 1993)
Ở Đức, điển hình là thành phố Berlin, hệ thống quy hoạch sử dụng đất
đã được xây dựng từ rất sớm Chỉ vài năm sau khi có sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ đất nước, năm 1994, hệ thống quy hoạch sử dụng đất được xây dựng với bản đồ tỉ lệ 1:50.000 Sau đó, việc điều chỉnh và cập nhật những biến động đất đai cho phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế, xã hội và mục tiêu
Trang 37của Chính phủ được tiến hành thường xuyên Do đó, hệ thống quy hoạch sử dụng đất ở thành phố Berlin nói riêng, của Đức nói chung có hiệu quả cao, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, tiết kiệm và bền vững, tạo cho sự phát triển kinh tế (FAO, 1993)
Ở Pháp, quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hóa nhằm đạt hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng tài nguyên, môi trường và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc sản xuất hợp lý, thúc đẩy nền kinh tế phát triển (Kao, Madilen, 2001)
Ở Campuchia, do nền kinh tế kém phát triển, có xuất phát điểm thấp, tình hình chính trị rối loạn, nhiều nhà khoa học đã bị giết, nên trước những năm
2000, công tác quản lý đất đai chưa được quan tâm, chưa hình thành được hệ thống Luật đất đai và quy hoạch sử dụng đất Đến năm 2000, Bộ quy hoạch sử dụng đất đai và xây dựng đã hoàn thiện Luật đất đai, nhưng công tác quy hoạch
sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương không rõ ràng nên sử dụng đất kém hiệu quả và làm suy thoái đất Mặc dù vậy, nhừ có sự cố gắng tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu công tác quản lý, sử dụng đất đai của các nhà khoa học nên Campuchia đã xây dựng được hệ thống Luật đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đồng bộ (Kao, Madilen, 2001)
Nhìn chung, hệ thống pháp luật đất đai ở các nước phát triển tương đối hoàn thiện nên công tác xây dựng và thực hiện quy hoạch sử dụng đất được triển khai tốt, sử dụng đảm bảo hiệu quả ba mặt: kinh tế - xã hội - môi trường
Ở các nước kém phát triển, do thiếu kinh phí, thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn, nên hệ thống Luật đất đai không đồng bộ, hệ thống quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế
1.4.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam
Thực hiện Luật đất đai đến nay, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong những năm qua đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo thực hiện Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-
Trang 382020 được triển khai ở 3 cấp: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) cấp quốc gia đã được Quốc hội thông qua; đối với địa phương, tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; hầu hết các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2019
Việc lập quy hoạch sử dụng đất đã góp phần xác định cơ cấu sử dụng đất hợp lý và tiến hành thực hiện theo căn cứ, trình tự mà các văn bản hiện hành có liên quan đến Luật đất đai quy định Điều này đã làm tăng hiệu lực và ngày càng hiệu quả cao trong quản lý, sử dụng đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng trong quá trình phát triển của đất nước, góp phần làm thay đổi cuộc sống nhân dân
Đồng thời chủ trương giao đất nông nghiệp ổn định cùng các chính sách đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, làm cho nông dân năng động hơn, bố trí hợp lý cây trồng, vật nuôi, khô phục và phát triển vườn cây ăn trái, cây công nghiệp có giá trị cao, phát triển nuôi trồng thủy sản tạo hiệu quả cao trong sản xuất nông nghiệp, hạn chế được chuyển đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật
và pháp chế của nhà nước về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học
và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất coi đất như đối tượng của các mối quan hệ xã hội
và sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất
và bảo vệ môi trường (Đoàn Công Quỳ, 2006)
Theo Điều 3, Luật Đất đai 2013 thì quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích
Trang 39ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành
chính trong một khoảng thời gian xác định Còn kế hoạch sử dụng đất là
việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất
Khi nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất có rất nhiều cách nhận thức khác nhau Có ý kiến cho rằng quy hoạch sử dụng đất chỉ đơn thuần là biện pháp kỹ thuật nhằm thực hiện việc đo đạc, vẽ bản đồ đất đai, phân chia diện tích đất, giao đất cho các ngành và thiết kế xây dựng đồng ruộng Bên cạnh
đó, có ý kiến lại cho rằng quy hoạch sử dụng đất được xây dựng trên các quy phạm của Nhà nước nhằm nhấn mạnh tính pháp chế của quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, đối với cả hai cách nhận thức trên bản chất của quy hoạch
sử dụng đất không được thể hiện đúng và đầy đủ vì bản thân của quy hoạch
sử dụng đất không nằm trong kỹ thuật đo đạc và cũng không thuộc về hình thức pháp lý mà nó nằm bên trong việc tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt, coi đất như đối tượng của các mối quan hệ xã hội trong sản xuất Như vậy, quy hoạch sử dụng đất sẽ là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, tính kinh tế và tính pháp lý (Đoàn Công Quỳ, 2006) Cụ thể:
- Tính kỹ thuật: quy hoạch sử dụng đất sẽ sử dụng các công tác chuyên môn như điều tra, khảo sát, đo đạc, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu để tính toán và thống kê diện tích đất đai, thiết kế, phân chia khoảnh thửa, đánh giá chất lượng đất đai, ứng dụng toán tuyến tính trong quy hoạch
sử dụng đất Từ đó, tạo điều kiện tổ chức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả trên cơ
sở tiến bộ của khoa học kỹ thuật
- Tính pháp chế: tính pháp chế thể hiện ở chỗ đất đai được nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào các mục đích cụ thể đã được xác định theo phương án quy hoạch sử dụng đất
Trang 40- Tính kinh tế: Khi giao đất, thông qua phương án quy hoạch sử dụng đất nhà nước đã xác định rõ mục đích sử dụng của diện tích được giao Đây chính là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và có hiệu quả cao tiềm năng đất đai Ngoài ra, thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất, triển khai dự án đầu tư sẽ làm tăng trị đất đai ở khu vực quy hoạch và vùng lân cận Điều này thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất Song, điều này chỉ đạt được khi tiến hành đồng bộ cùng với biện pháp kỹ thuật và pháp chế
Quy hoạch sử dụng đất được phân loại theo các căn cứ:
+ Đất đai là cơ sở không gian và điều kiện vật chất của mọi quá trình sản xuất xã hội Quy hoạch sử dụng đất bản chất là sự tổ chức sử dụng đất (bao gồm cả 2 mặt: phân bố và tổ chức sử dụng đất đai) trong lãnh thỗ không gian cho các ngành, lĩnh vực hoạt động, đơn vị sản xuất
+ Quy hoạch sử dụng đất là một biện pháp quản lý Nhà nước về đất đai
mà cơ sở của quản lý Nhà nước là đơn vị hành chính
+ Quy hoạch sử dụng đất là biện pháp tổ chức sử dụng đất đầy đủ hợp
lý, hiệu quả nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
Luật Đất đai năm 2013 quy định hệ thống quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm:
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích
tự nhiên trong lãnh thổ Tuỳ thuộc vào từng cấp lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và