1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý giáo dục số hóa: Nghiên cứu trường hợp thư viện số của trường đại học

17 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 499,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu bởi phương pháp tổng quan tài liệu chuyên ngành và phân tích định tính. Các phương pháp nghiên cứu nêu trên được sử dụng trong nghiên cứu trường hợp thư viện số hóa của trường đại học nhằm làm rõ sự biến đổi của quản lý giáo dục theo xu thế tri thức số hóa và trở thành quản lý giáo dục số hóa. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

THƯ VIỆN SỐ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Lê Ngọc Hùng* Tóm tắt

Đổi mới căn bản, toàn diện quản lý giáo dục đại học và quản trị đại học phải tính đến các đổi mới trong tri thức nhất là tri thức số hóa Từ đó, bài viết tập trung làm rõ các vấn đề như tri thức số hóa, thư viện số, các hướng phát triển thư viện số và quản lý giáo dục đại học Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra giải pháp: đổi mới quản lý giáo dục

từ “không số” sang quản lý giáo dục số hóa Nghiên cứu được thực hiện chủ yếu bởi phương pháp tổng quan tài liệu chuyên ngành và phân tích định tính Các phương pháp nghiên cứu nêu trên được sử dụng trong nghiên cứu trường hợp thư viện số hóa của trường đại học nhằm làm rõ sự biến đổi của quản lý giáo dục theo xu thế tri thức số hóa và trở thành quản lý giáo dục số hóa

Từ khóa: Tri thức số hóa; Thư viện số; Giáo dục số hóa; Quản lý giáo dục số hóa.

1 Đặt vấn đề

Trong xã hội loài người, tri thức trở thành một loại sức mạnh và một loại quyền lực đặc biệt mà một số tác giả gọi là “nguồn lực vô hình”, “nguồn vốn vô hình”1 (Drucker, 1995),

“quyền lực mềm”, “quyền lực thông minh”2 (Nye, 2010) Trong giáo dục, tri thức dưới dạng sách là nhà giáo thứ hai, sau nhà giáo thứ nhất là thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy mặt đối mặt với người học là học sinh, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh Ngày nay, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tri thức được “số hóa” và loại “tri thức số hóa” tiếp tục phát huy sức mạnh của loại quyền lực không chỉ giải thích thế giới mà làm biến đổi thế giới một cách nhanh chóng và khó lường Quản lý giáo dục cũng không tránh khỏi

sự ảnh hưởng của Cách mạng 4.0, trong đó tri thức số hóa vừa là công cụ, phương tiện và vừa là đối tượng của quản lý giáo dục trong thế kỷ 21 Bài viết này tập trung làm rõ những biểu hiện của tri thức số hóa gắn với những biến đổi trong quản lý giáo dục trên thế giới và vận dụng vào thực tiễn đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung và quản lý giáo dục đại học nói riêng ở Việt Nam

Luận điểm cơ bản của bài viết này là tri thức được số hóa làm thay đổi căn bản cả mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp quản lý giáo dục nói chung và quản lý giáo dục đại học nói riêng Quản lý giáo dục “không số” trước đây trở thành quản lý giáo dục số hóa

* Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Điện thoại: 0904110197;

Email: hungxhh@gmail.com.

1 Peter Drucker (1995) Xã hội hậu tư bản, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Hà Nội, 1995.

2 Joseph S Nye, Jr (2010) Tương lai của quyền lực, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, 2016, Tr.37.

Trang 2

ngày nay Tuy nhiên, trong thực tế quản lý giáo dục vẫn được nghiên cứu và triển khai theo các cách tiếp cận lý thuyết quản lý dựa vào tri thức chưa số hóa, tri thức không số hóa của nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước Điều này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp thiết về tri thức số hóa

và ảnh hưởng, tác động của nó đến quản lý giáo dục, nhất là quản lý giáo dục đại học Giả thuyết khoa học định hướng thực tiễn của báo cáo này là đổi mới căn bản, toàn diện quản

lý giáo dục đại học và quản trị đại học1 đòi hỏi phải tính đến các đổi mới trong tri thức nhất

là tri thức số hóa Điều này có nghĩa là quản lý giáo dục phải đi đầu trong việc áp dụng có hiệu quả các thành tựu của số hóa tri thức, nhất là tri thức khoa học để đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo

2 Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo dựa vào phương pháp luận hệ thống tổng quát để làm phân tích mối tương tác giữa tri thức số hóa và những đổi mới trong quản lý giáo dục đại học trong bối cảnh hội nhập thế giới và Cách mạng 4.0 Cụ thể, để làm rõ vấn đề nghiên cứu và các giả thuyết đặt ra, báo cáo sử dụng phương pháp tổng quan tài liệunghiên cứu chuyên về thông tin - thư viện

số hóa2và các tài liệu liên quan làm rõ các khái niệm, các hình thức và cơ chế biểu hiện của tri thức số hóa Những biến đổi mới trong quản lý giáo dục cũng chủ yếu được phân tích từ góc

độ lý thuyết Phương pháp tổng quan tài liệu và phân tích định tính này có thể giúp phát hiện những vấn đề mới đòi hỏi phải có những nghiên cứu định lượng để đo lường, đánh giá chính xác về những biến đổi trong quản lý giáo dục3 Một nghiên cứu lý luận như vậy là rất quan trọng và cần thiết để góp phần phát triển các khoa học giáo dục trong đó có khoa học quản lý giáo dục Thật nghịch lý là giáo dục Việt Nam thường bị phê phán là quá nặng lý thuyết và nhẹ thực hành kỹ năng, trong khi cả lý luận và thực tiễn khoa học giáo dục và khoa học quản

lý giáo dục lại cho thấy điều ngược lại Cả hai khoa học này dường như đang bị mắc kẹt trong các loại tri thức thường ngày và các đề tài thực tế hàng ngày mà thiếu ánh sáng soi rọi của lý thuyết khoa học dựa trên những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ hiện đại, như tri thức số hóa, thư viện số hóa Các phương pháp nghiên cứu nêu trên được sử dụng trong nghiên cứu trường hợp thư viện số hóa của trường đại học nhằm làm rõ sự biến đổi của quản

lý giáo dục theo xu thế tri thức số hóa và trở thành quản lý giáo dục số hóa

3 Tri thức số hóa và thư viện số

Tri thức số hóa (digitalized knowledge) là tri thức được số hóa thông qua các kỹ

thuật số, phương tiện số để có thể lưu giữ, chuyển hóa, truy cập, xử lý, phân tích, phân

1 Lê Ngọc Hùng “Đổi mới quản trị đại học ở Việt Nam: lý thuyết hệ thống và kiến tạo mô hình

hiện đại, chuyên nghiệp” Tạp chí Lý luận chính trị Số 3/2019

2 Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Thông tin – Thư viện Thư viện thông minh 4.0: Công nghệ -

Dữ liệu - Con người NXB ĐHQGHN 2018 Từ đây viết tắt là: ĐHQG, TTTT-TV (2018) Sđd

3 Lê Ngọc Hùng – Bùi Thị Phương “Vị trí, vai trò của thư viện số hóa trong đổi mới quản trị đại học theo hướng tập đoàn hóa ở Việt Nam” Trong Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Thư viện

Tối ưu hóa quản trị tri thức số: Chính phủ - Doanh nghiệp – Thư viện NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

2019 Tr 187-206.

Trang 3

phối, phổ biến và sử dụng thông tin, tri thức trên các phương tiện truyền thông hiện đại kết nối qua Internet

Tri thức số (digital knowledge) là năng lực hiểu biết, sử dụng và phát triển các phương

tiện số và các kỹ thuật số để tìm kiếm, xử lý, phân tích, sử dụng, chia sẻ, phát triển thông tin, tri thức

Trên thế giới, năm 2002 được coi là năm mở đầu cho thời đại tri thức số hóa với sự kiện trên một nửa lượng thông tin của thế giới được số hóa để có thể lưu giữ, xử lý, truy cập, phổ biến và sử dụng thông qua các phương tiện số kết nối Internet

Ở Việt Nam, năm 2007, Chính phủ chính thức triển khai Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa” nhằm bốn mục tiêu1 Đó là: (1) lưu giữ, phổ biến tri thức trong mọi lĩnh vực, trước hết là hỗ trợ cho giáo dục, đào tạo; (2) Tạo môi trường thuận lợi thu hút mọi người vừa khai thác vừa đóng góp để làm giàu các tài nguyên tri thức số hóa của Việt Nam, (3) Khơi dậy, lan tỏa niềm đam mê khoa học và công nghệ, khát vọng sáng tạo, cống hiến của mọi người trong việc tạo lập, làm giàu và phổ biến tri thức, (4) Từng bước góp phần phát triển công nghiệp nội dung số của Việt Nam, định hướng việc sử dụng tri thức của người dùng trên môi trường mạng Đề án này xác định rõ các nguồn tri thức cơ bản sẵn có chỉ cần được “số hóa” để đưa vào hệ thống Tri thức Việt số hóa” bao gồm “Pháp luật, chính sách nhà nước, thông tin công bố công khai của các cơ quan nhà nước; các tri thức trong lĩnh vực giáo dục như sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo, các khóa học khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), học liệu điện tử; các tri thức từ các đề tài, dự

án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, bài viết khoa học, kết quả nghiên cứu và sáng chế, thông tin sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; các kỹ thuật, công nghệ hữu ích, các bài học về ứng dụng thành công khoa học và công nghệ trong sản xuất và đời sống Nguồn tri thức cộng đồng được thu thập và liên tục cập nhật gồm: các tri thức khoa học thường thức trong đời sống xã hội như chăm sóc sức khỏe, y tế, phòng chống bệnh dịch, trồng trọt, chăn nuôi, thủy lợi, công nghệ bảo quản, chế biến, công nghệ sạch, vệ sinh an toàn thực phẩm, khoa học đời sống, ”

Tương tự, có thể nói nguồn tri thức cơ bản cần được số hóa cho quản lý giáo dục là pháp luật, chính sách của Nhà nước về giáo dục, các tài liệu phục vụ giáo dục và đào tạo, nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ trong nhà trường và phục vụ cộng đồng Các nguồn tri thức liên tục được bổ sung bởi các cá nhân người dạy, người học và các thành viên khác trong nhà trường

Các loại thư viện theo xu hướng số hóa

Thư viện công cộng và thư viện chuyên ngành, thư viện đa ngành Theo pháp luật hiện hành

ở Việt Nam, thư viện gồm hai loại là: (i) Thư viện công cộng do Nhà nước thành lập và phục

vụ công chúng, ví dụ Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện của địa phương do UBND các địa phương thành lập) và (ii) Thư viện chuyên ngành, đa ngành như các thư viện của các cơ

sở giáo dục, khoa học trong đó có thư viện đại học Trên thực tế, căn cứ vào đặc điểm, tính

1 Quyết định Số: 677/QĐ-TT ngày 18 tháng 05 năm 2017 về việc Phê duyệt Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa”.

Trang 4

chất công nghệ thông tin và giao tiếp, thư viện được phân chia thành các loại như thư viện truyền thống và thư viện hiện đại; thư viện số, thư viện thông minh, thư viện trí tuệ và các loại thư viện khác

Thư viện đại học là thư viện hàn lâm (Academic Library) đặc trưng bởi tài nguyên thông

tin khoa học chuyên ngành và công nghệ dựa vào tri thức khoa học chuyên ngành phục vụ nghiên cứu khoa học và học tập, giảng dạy của đại học Thư viện đại học không chỉ là trung tâm thông tin – thư viện, mà còn là trung tâm quản trị tri thức (Knoledge Management Centre, KMC), không chỉ phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học của đại học mà còn mở rộng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của doanh nghiệp và cộng đồng1 Tương

tự, thư viện đại học là nơi lưu giữ, cung cấp tri thức của nhân loại và là trung tâm của môi trường giáo dục và nghiên cứu, là cầu nối trung gian giữa người tạo ra tri thức và những người sử dụng tri thức phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu và sáng tạo2 Một thư viện đại học đúng nghĩa là “đại học” cần có chính sách phục vụ ưu tiên đối với nhóm đối tượng mục tiêu là sinh viên, giảng viên trong các dịch vụ, tiện ích ví dụ nhóm đối tượng này được

ưu tiên sử dụng tất cả các tiện ích truy cập thư viện số3

Cần nhận xét ngay là cách tiếp cận lý thuyết quản lý giáo dục của thời đại “không số” hầu như không để ý gì đến thư viện Nhưng quản lý giáo dục thời đại số hóa tất yếu phải quan tâm và “thân thiện” với thư viện nhất là thư viện số bởi đó là nơi tập trung các tài nguyên số cần cho cả người dạy, người học và người quản lý giáo dục

Thư viện số

Các thuật ngữ như thư viện điện tử (electronic library), thư viện ảo (virtual library) và thư viện số (digital library) có thể sử dụng tương đương và thay thế nhau do đều áp dụng công nghệ số để đảm bảo nội dung thông tin được sẵn sàng sử dụng bởi người dùng từ xa Tuy nhiên, nhiều định nghĩa nhấn mạnh những đặc điểm khác nhau của thư viện số Một định nghĩa nhấn mạnh yếu tố cộng đồng sử dụng thư viện xác định: thư viện số là tổ chức cung cấp các nguồn gồm cả nhân viên chuyên môn, để thu thập, kết cấu, cung cấp, lý giải, phân phối, bảo tồn tập hợp các nội dung số sao cho chúng được sẵn sàng và có hiệu quả để

sử dụng bởi một hoặc các cộng đồng xác định (Liên đoàn thư viện số, The Digital Library Federation, 1995) Một định nghĩa nhấn mạnh yếu tố điện tử và kết nối khi xác định: thư viện số là thư viện điện tử có khả năng tạo sự kết nối giữa những người sử dụng tin được phân bố khắp nơi với các nguồn thông tin, dữ liệu được thu thập, lưu giữ, xử lý, truy cập

và sử dụng với sự trợ giúp của các kỹ thuật, công nghệ, phương tiện, đa phương tiện, siêu phương tiện điện tử4 (Yerkey và Jorgensin, 1996) Gần tương tự, thư viện số được Christine

1 Đoàn Phan Tân Quản trị tri thức với thư viện các trường đại học Trong ĐHQGHN, TTTT-TV

(2018) Sđd.

2 Trương Thị Hồng Quyên - Phạm Thị Thu Tác động của Big Data tới hoạt động thư viện tại trung

tâm thông tin – thư viện ĐHQGHN Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

3 Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Bá Lâm và Hoàng Văn Dưỡng Xây dựng thư viện số đại học dùng chung thông qua công cụ tìm kiếm thông minh Primo và phần mềm quản trị tài liệu nội sinh Trong

ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

4 Yerkey, A.N and Jorgensin, C (1996), “A course in digital libraries’’, DESIDOC Bulletin of Information Technology, Vol 16 No 1, pp 31-9.

Trang 5

Borgaman (1996) định nghĩa là hệ thống các nguồn thông tin điện tử và các khả năng công nghệ kết nối để tìm kiếm và sử dụng thông tin1 Đặc trưng cơ bản của thư viện số là tất cả các nguồn thông tin đều được số hóa Hai định nghĩa nhấn mạnh hình thức số khi xác định: thư viện số là tập hợp có tổ chức các thông tin dưới dạng số2 (Lesk, 1997) Thư viện số là tập hợp có quản lý các thông tin gắn với các dịch vụ trong đó thông tin được lưu giữ dưới các hình thức số và được tiếp cận trên mạng3 (Arms, 2000) Trong rất nhiều định nghĩa về thư viện số, định nghĩa của Borgman (1999, 2000) có thể là định nghĩa phù hợp nhất để phát triển thư viện trong quá trình đổi mới quản trị đại học theo hướng tập đoàn hóa Borgman coi thư viện số là tập hợp các nguồn thông tin điện tử kết hợp với các năng lực kỹ thuật để tạo dựng, tìm kiếm và sử dụng thông tin Thư viện số được kiến tạo, tập hợp và tổ chức bởi

và vì cộng đồng những người sử dụng và các năng lực chức năng của thư viện số là hỗ trợ đáp ứng nhu cầu thông tin và nhu cầu sử dụng của cộng đồng những người sử dụng4 Đây

có lẽ là một cách định nghĩa đặc biệt vì các định nghĩa khác về thư viện số thường tập trung vào việc áp dụng công nghệ, kỹ thuật số hóa thông tin và các dịch vụ, mà xem nhẹ hoặc thậm chí quên mục tiêu sống còn của thư viện là phục vụ nhu cầu liên quan đến thông tin của con người và cộng đồng xã hội Thư viện số có vị trí, vai trò tổ chức và quản lý thông tin tri thức bao gồm cả dữ liệu lớn (big data) và siêu dữ liệu (metadata) phục vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, sinh viên để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, cũng như phát triển môi trường học tập tốt hơn5

Sự xuất hiện của thư viện số đánh dấu bước chuyển dịch có tính bước ngoặt về mặt lý luận và thực tiễn từ thư viện với trọng tâm là thông tin sang thư viện với trọng tâm là dữ liệu được số hóa Điều này gắn liền với sự thay đổi trong công nghệ truyền thông theo đó các phẩm chất, năng lực và kỹ năng liên quan được đặc biệt coi trọng phát triển từ góc độ thư viện và quản trị đại học bao gồm sự đổi mới, sáng tạo và hợp tác đa chiều, cạnh giữa các các nhân, nhóm, cộng đồng xã hội

Số hóa, các ứng dụng công nghệ truyền thông, hệ thống mạng và trí tuệ là nền tảng kỹ thuật của thư viện thông minh6 Thư viện số cũng phải là thư viện thông minh với nhân vật trung tâm phải là người dùng tin chứ không phải cơ sở vật chất, nhân sự, tài chính như trước đây hay các tài nguyên và công nghệ số hóa như hiện nay Thư viện thông mình không chỉ phục vụ người dạy, người học mà phục vụ cả người quản lý giáo dục

1 Borgman (Christine L) What are digital libraries? Computer Vision Information Processing Vol 35; 1996; p227-43; Mohd Nazim Managing digital libraray content: issues and challenges SRELS Journal of Information Management Vol 46, No 1, March 2009 file:///C:/Users/Admin/ Downloads/2019%20Digital%20Library/11Managingdigitallibrarycontent.pdf

2 Lesk, M.E (1997) Practical digital libraries: Books, bytes, and bucks San Francisco: Morgan Kaufman.

3 Arms, W Y (2000) Digital Libraries Cambridge MA: The MIT Press.

4 Borgman, C.L (1999) What are digital libraries? Competing visions Information Processing & Management, 35 (3) 227-243; Borgman, C (2000) From Gutenberg to the Global Information Infrastructure: Access to information in the networked world Cambridge, MA: MIT Press.

5 Nguyễn Thị Hà Thực trạng công tác xây dựng siêu dữ liệu mô tả tại trung tâm thông tin – thư

viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

6 Đinh Thúy Quỳnh Mô hình thư viện thông minh tập trung Trong ĐHQGHN, TTTT-TV

(2018) Sđd.

Trang 6

Thư viện số đại học, theo quan niệm của Borgman, được kiến tạo và được quản lý bởi

và vì cộng đồng những người thuộc trường đại học nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin và các nhu cầu khác trong đó cơ bản và quan trọng nhất là nhu cầu giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học của trường đại học Như vậy, đối với một thư viện của trường đại học, thư viện

số là việc áp dụng công nghệ số trong thông tin, truyền thông nhằm mục tiêu phục vụ nhu cầu thông tin và nhu cầu giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học ở trình độ đại học và trên đại học Việc xây dựng, phát triển một thư viện số đại học như vậy đòi hỏi nhiều điều kiện

từ nhiều phía, ít nhất là từ ba phía là từ phía thư viện, từ phía học thuật và từ phía quản trị đại học

Việc xuất hiện tri thức số hóa mà cụ thể ở đây là thư viện số làm thay đổi căn bản mục tiêu của quản lý giáo dục trong đó có quản lý thư viện của nhà trường Ví dụ, theo cách tiếp cận quản lý kiểu truyền thống, mối quan tâm chủ yếu của thư viện là thư viện có bao nhiêu sách, báo, tạp chí, các tài liệu và bao nhiêu người đọc Vấn đề không chỉ là số lượt truy cập thư viện số tăng từ 17,430 lượt năm 2016 lên 816,494 lượt năm 2017, tương ứng số lượt truy cập trung bình một ngày tăng từ 48 lượt /ngày lên 2,237 lượt/ngày (Cẩm nang Trung tâm thông tin – thư viện ĐHQGHN) mà vấn đề của quản lý thư viện nói riêng và quản lý giáo dục nói chung là mở rộng mạng tương tác dựa trên tri thức số hóa giữa các bên liên quan Cách tiếp cận quản lý hiện đại thời số hóa đòi hỏi thư viện phải thu hút khách hàng

là người học, người dạy và cả người quản lý Vấn đề của quản lý giáo dục dựa trên tri thức

số hóa là vấn đề làm thế nào thiết lập, củng cố và phát triển các mạng lưới tương tác nhiều chiều dựa trên tri thức số hóa cụ thể là thư viện số thông minh giữa người học với nhau và với người dạy trong trường và ngoài trường

4 Vị trí, vai trò của thư viện số từ các góc độ khoa học

Từ góc độ lý thuyết khoa học tổ chức, bất kỳ một thư viện nào cũng đều là một tổ chức

bao gồm ba yếu tố cấu thành là quản trị, kỹ thuật và dịch vụ xã hội1 Sự dịch chuyển của quản trị đại học theo hướng tập đoàn hóa đòi hỏi việc số hóa cả ba yếu tố kỹ thuật, quản trị

và dịch vụ nhưng đều nhằm đáp ứng một nhu cầu hàng đầu của trường đại học là nhu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đại học Một lý thuyết khác về tổ chức cho biết thư viện được tạo bởi bốn thành phần với cấu trúc nhất định là2: (i) Con người gồm cả nhân lực thư viện

và người được thư viện phục vụ mà các chuyên gia thư viện Việt Nam thường gọi chung là bạn đọc, người sử dụng tin, người dùng tin (ii) Nội dung gồm những gì được tổ chức, số hóa và sẵn sàng cho việc tiếp cận, truy cập và sử dụng; (iii) Các hệ thống quản lý các nguồn thông tin số hóa và (iv) Tổ chức thư viện Lý thuyết tổ chức cho biết vị trí và vai trò của thư viện số do mô hình tổ chức của nó quy định Cần chú ý đến hai mô hình thư viện: mô hình

1 John McGinty (2009) Digital Libraries Need Digital Organization: Identifying, Defining, and Creating New Academic Library Management Structures file:///C:/Users/Admin/ Downloads/2019%20Digital%20 Library/298%20good.pdf

2 Elena Macevičiūt Education for digital libraries: library management perspective 2011 file:///C:/ Users/Admin/Downloads/2019%20Digital%20Library/10.1.1.471.6718%20(1).pdf

Trang 7

7A của các tác giả là1: Brangier, Dinet và Eilrich (2009) và mô hình 5S của tác giả là2: Shen, Goncalves và Fox (2013) Mô hình thư viện 7A cho biết thư viện số có bảy vị trí, vai trò là: (i) lưu trữ các tài nguyên (Archive), (ii) chứng thực thông tin (Accredit), (iii) hiện thực hóa tri thức (Actualise), (iv) phân tích dữ liệu (Analyse), (v) xác nhận bản sắc (Afirm), (vi) kết nối xã hội (Associate) và (vii) kích hoạt sống động (Animate) Mô hình 5S cho biết thư viện có năm

vị trí, vai trò: (i) đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội (Society), (ii) tạo bối cảnh (Scenorios), (iii) tạo các không gian (Spaces), (iv) tạo cấu trúc (Structure) và (v) tạo các luồng thông tin (Streams) Tóm lại, thư viện số thông minh có vị trí, vai trò tạo dựng thế giới phẳng đảm bảo người dùng tin có cơ hội bình đẳng tiếp nhận, kết nối lẫn nhau trong sử dụng thông tin phục vụ cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển trí tuệ nhân loại3 Tuy nhiên, cả hai mô hình này đều chưa xác định rõ một vị trí, vai trò nào đặc trưng của thư viện

số trong trường đại học

Từ góc độ kinh tế học, thư viện số có năm vai trò cơ bản vừa sản xuất, vừa lưu thông vừa

tiêu dùng là: (i) Thúc đẩy phát triển các quy trình thu thập, lưu giữ, tổ chức thông tin dưới hình thức số; (ii) Khuyến khích cung cấp có hiệu quả thông tin một cách tiết kiệm cho tất

cả người dùng tin; (iii) Khuyến khích các nỗ lực hợp tác trong các mạng lưới truyền thông, giao tiếp, tính toán, nghiên cứu; (iv) Dẫn đầu tạo dựng và phổ biến tri thức; (v) Đặc biệt là thúc đẩy giao tiếp và hợp tác giữa các cơ sở giáo dục4 Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 khiến cho thư viện số có vị trí, vai trò chọn lọc, tinh chế, bao gói thông tin; phát hiện, xác định và kiến tạo nhu cầu thông tin của sinh viên, từ đó trình bày, giới thiệu và cung ứng thông tin mang tính định hướng cá nhân5 Tuy nhiên, điều lưu ý ở đây là việc cá nhân hóa các dịch vụ như vậy vẫn phải nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, triển khai

Từ góc độ lý thuyết khoa học giáo dục hiện đại, thư viện đại học có vai trò mới là khuyến

khích truyền thông, giao tiếp học thuật (academic/ scholarly communication) thể hiện ở việc trực tiếp hỗ trợ giảng viên giới thiệu, chia sẻ, công bố và thảo luận công trình khoa học trong cộng đồng học thuật trong nước và quốc tế6 Vai trò truyền thông học thuật đòi hỏi tương tác hai chiều từ hai phía: cán bộ thư viện tiếp cận các hoạt động học thuật và giảng viên, nhà khoa học tiếp cận hoạt động thư viện Thư viện số thông minh với ba trụ cột chung là “Công nghệ - Dữ liệu - Con người” được cho là thư viện của tương lai đại học Việt Nam Tuy nhiên,

lý thuyết khoa học giáo dục hiện đại đòi hỏi phải xác định rõ “con người” là ai trong mối

1 Brangier E., Dinet J., Eilrich L., (2009).The 7 Basic Functions of a Digital Library - Analysis of Focus Groups about the Usefulness of a Thematic Digital Library on the History of European Integration, Berlin, NXB Springer-Verlag Berlin Heidelberg.

2 Shen, R., Goncalves, M.A., Fox, E.A (Eds.) (2013) Key Issues Regarding Digital Libraries: Evaluation and Integration Carolina, NXB Morgan and Claypool Publishers.

3 Vũ Duy Hiệp Phát triển thư viện số thông minh trong kỷ nguyên cách mạng công nghiệp 4.0

Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

4 Brundaban Nahak - Partha Sarathi Patra Planning, Designing and Developing of Digital Libraries and Digital Preservation file:///C:/Users/Admin/Downloads/2019%20Digital%20Library/41.pdf

5 Huỳnh Mẫn Đạt Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến các thư viện đại học Trong

ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

6 Bùi Hà Phương Truyền thông học thuật: vai trò của cán bộ thư viện hỗ trợ hành vi chia sẻ thông

tin của giảng viên Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

Trang 8

quan hệ với thư viện số Nếu như thư viện số đại học được xác định là phục vụ “bạn đọc, người sử dụng thông tin” chung chung1 thì rõ ràng là chưa ngang tầm yêu cầu đổi mới quản trị đại học theo hướng tập đoàn hóa Một số tác giả nêu gần trúng vấn đề là các thư viện đại học phải xác định rõ vai trò không chỉ là tổ chức cung cấp thông tin và tri thức, mà còn là

tổ chức kiến tạo và thúc đẩy việc sử dụng thông tin tạo ra tri thức Phải đẩy vấn đề này lên ngang tầm của thư viện số của trường đại học hiện đại Thư viện số có vai trò tổ chức kiến tạo và thúc đẩy việc sử dụng thông tin tạo ra tri thức mới, kỹ năng mới, năng lực mới và phẩm chất mới cần thiết ở sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh tức là người học của trường đại học2 Bạn đọc được xác định theo cách tiếp cận kinh tế thị trường là “khách hàng” tiếp cận, sử dụng các dịch vụ của thư viện số Tuy nhiên, cần đẩy tới quan điểm này lên ngang tầm với quản trị đại học đang dịch chuyển theo hướng tập đoàn hóa theo đó khách hàng đặc biệt với ưu tiên hàng đầu của thư viện số trong trường đại học phải là người học

và người dạy, phải là sinh viên và giảng viên Đây là loại khách hàng đặc biệt bởi vì đối với khách hàng đặc biệt này thư viện không đơn giản là cung cấp thông tin và tri thức Thư viện

số có vị trí, vai trò của “giảng viên ảo” và thậm chí là “đại học ảo” để cùng với “giảng viên thật”, “đại học thật”giảng dạy, hướng dẫn, hỗ trợ phát triển các tri thức khoa học chuyên môn nghề nghiệp, các phẩm chất, các năng lực cần thiết ở sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh của nhà trường Trong quá trình đổi mới quản trị đại học theo hướng tập đoàn hóa, thư viện còn có vị trí, vai trò khuyến khích phát triển tinh thần sáng kiến và đổi mới, tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo ở cả sinh viên, giảng viên và nghiên cứu viên của trường đại học

Từ góc độ lý thuyết hệ thống tổng quát 3, thư viện số của trường đại học chỉ là một trong các bộ phận, các đơn vị cấu thành nên cả hệ thống cơ sở giáo dục đại học liên tục tương tác với môi trường xung quanh Là một tiểu hệ thống, thư viện số tương tác trực tiếp và gián tiếp thông qua nhà trường với môi trường xung quanh bao gồm các thư viện khác ở ngoài trường và các thiết chế, tổ chức kinh tế, chính trị, văn hóa, pháp luật và nhất là các cơ sở giáo dục đại học khác Đồng thời, là một tiểu hệ thống, thư viện số phải tương tác, hợp tác với các bộ phận, các đơn vị, các tiểu hệ thống khác của nhà trường để thực hiện chức năng, vai trò thông tin, truyền thông và giáo dục, đào tạo góp phần đảm bảo cả hệ thống nhà trường hoạt động có chất lượng và hiệu quả trong môi trường cạnh tranh Các nguyên lý của thuyết

hệ thống thế hệ thứ tư, hệ thống siêu trí tuệ đặc trưng cho hệ thống xã hội cho biết, nếu như thư viện số không có khả năng thực hiện chức năng, vai trò của nó đối với cả hệ thống thì nhất định sẽ có tiểu hệ thống khác, bộ phận khác trong nhà trường thực hiện thay nó Nói một cách đơn giản, nếu như thư viện số không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của sinh viên, giáo viên và nghiên cứu viên thì thư viện số sẽ trở nên vô dụng và sớm muộn sẽ bị thoái hóa, phá sản, tiêu vong trong nhà trường Đồng thời, trong tình huống đó, hoặc nhà trường

sẽ phải có một thư viện số kiểu mới khác hoặc sinh viên, giảng viên, nghiên cứu viên của nhà trường sẽ phải tìm đến một thư viện khác để thay thế Nói cách khác, trong điều kiện

1 Nguyễn Hữu Giới Thử bàn về “Thư viện thông minh trong cuộc cách mạng công nghiêp 4.0: Công nghệ-Dữ liệu-Con người” trong tương lai ở trường đại học Việt Nam Trong ĐHQGHN,

TTTT-TV (2018) Sđd.

2 Bùi Thị Thanh Diệu Phát triển các dịch vụ thư viện thông minh dưới tác động của xã hội hiện

đại, trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

3 Lê Ngọc Hùng Hệ thống, cấu trúc & phân hóa xã hội NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015

Trang 9

cạnh tranh đang tăng lên, thư viện số có vị trí, vai trò quyết định đến chất lượng, hiệu quả giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học của toàn bộ nhà trường Việc nâng cao vị trí và vai trò của thư viện số trong trường đại học luôn gắn với yêu cầu của đổi mới quản trị đại học

và phụ thuộc rất nhiều vào việc tìm hiểu, áp dụng tổng tích hợp các cách tiếp cận khoa học

5 Nhiều hướng phát triển thư viện số và quản lý giáo dục đại học

Thư viện số được cho là phát triển theo năm xu hướng là1: nhu cầu tin ngày càng đa dạng và phức tạp, đồng bộ thư viện với tổ chức thông tin và dịch vụ thư viện, các trang thiết bị mạnh để lưu trữ dữ liệu lớn, phần mềm hiện đại để xử lý và khai thác thông tin, tài nguyên thông tin số đặc biệt Tuy nhiên, đây là các xu hướng phát triển “tự nó, vì nó, cho nó” mà chưa rõ có thể đem lại những ích lợi gì trực tiếp cho giáo dục đại học

Thư viện số được xem là phát triển năm loại dịch vụ như2: cung cấp tài liệu, phổ biến thông tin, trao đổi thông tin, đào tạo người dùng (thông tin thư viện) và các dịch vụ tiện ích khác như dịch vụ truy cập, dịch vụ hỗ trợ học tập và nghiên cứu Tên các loại dịch vụ này tương tự như các dịch vụ của thư viện truyền thống, nhưng cần đánh giá cao loại dịch vụ

hỗ trợ học tập và nghiên cứu khoa học của trường đại học Nhưng trong thư viện hiện đại thông tin được số hóa và các loại dịch vụ đều được thực hiện thông qua các máy móc, thiết

bị với sự hỗ trợ trực tiếp của các công nghệ mới Có lẽ bị ảnh hưởng bởi cách tiếp cận kinh tế thị trường nên thư viện số có thể quá coi trọng chất lượng của kết quả mà dịch vụ thư viện đem lại và chất lượng được đo bằng sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ thư viện Tuy nhiên, vấn đề của quản lý chất lượng dịch vụ thư viện trong trường đại học là vấn đề thực hiện được mục tiêu giáo dục và nghiên cứu khoa học của trường đại học Sự hài lòng đối với dịch vụ thư viện và kết quả của dịch vụ thư viện có thể chỉ là tiêu chí trung gian trong đánh giá và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học

Một loạt công nghệ thông tin và truyền thông được áp dụng như các công nghệ với các thiết bị truyền thông và giao tiếp di động như các thiết bị kết nối Internet với thư viện Công nghệ phát hiện tài nguyên số để tìm kiếm, truy cập, xử lý, chuyển giao thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Công nghệ kết nối và tạo dựng mạng lưới thư viện3

Công nghệ RFID (Radio Frequency Identiication) được ứng dụng ngày càng phổ biến trong hoạt động lưu thông, kiểm kê, kiểm soát tài liệu in trong các thư viện số từ năm 2000 đến nay4 Công nghệ RFID (nhận dạng bằng sóng radio) cho phép máy tính nhận biết các tài liệu được gắn thẻ/chíp thông qua hệ thống thu nhận sóng radio, từ đó có thể giám sát, quản

1 Lê Mạnh Hà - Trần Thị Hồng Nhiên Xu hướng phát triển của thư viện trong xã hội hiện đại

Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

2 Lê Thị Thành Huế Dịch vụ thư viện hiện đại và vấn đề quản lý chất lượng dịch vụ trong các thư

viện hiện đại Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

3 Nguyễn Thị Ngọc Lan - Nguyễn Thị Lan Hương Ứng dụng kết nối vạn vật – Internet of things trong dịch vụ thư viện hiện đại Nguyễn Thị Minh Phượng Thư viện số thông minh với Internet

vạn vật Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

4 Vũ Thị Kim Anh - Phạm Thành Quang Công nghệ RFID trong thư viện - tiền đề cho dịch vụ tự phục vụ Trong Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Thông tin – Thư viện Thư viện thông minh 4.0: Công nghệ - Dữ liệu - Con người NXB ĐHQGHN 2018.

Trang 10

lý và lưu vết từng tài liệu riêng rẽ khi chúng được di chuyển giữa các vị trí vật lý khác nhau Một trong ích lợi của việc áp dụng RFID là giúp xây dựng được hệ thống trả sách 24h có thể đáp ứng nhu cầu của bạn đọc trả sách bất kể thời gian nào trong ngày Tuy nhiên, việc áp dụng RFID không giúp trả lời được câu hỏi ví dụ RFID sẽ giúp tăng được bao nhiêu người mượn sách và tăng được bao nhiêu sách được mượn, tăng được bao nhiêu nhu cầu trả sách 24h trong ngày Từ góc độ vị trí, vai trò của thư viện số đối với quản trị đại học có thể đặt câu hỏi tương tự với các ích lợi khác của việc áp dụng RFID trong phục vụ người học, người dạy và người nghiên cứu khoa học Một thống kê của thư viện cho biết1: sau 5 năm, kho sách tham khảo gồm 37.000 cuốn được gắn chip RFID (chiếm trên 8% tổng số 450.000 sách của Trung tâm Thông tin – Thư viện) tại Phòng Dịch vụ Thông tin Tổng hợp có 366.575 lượt lưu thông, trung bình 1 cuốn có 10 lượt mượn trả Trung bình mỗi ngày có 200 lượt mượn trả sách gắn chíp RFID Kết quả ứng dụng công nghệ RFID này có lẽ chưa nói được gì nhiều về hiệu quả của nó đối với giáo dục đại học nói chung và kết quả học tập hay nghiên cứu khoa học nói riêng Một số công nghệ định vị thông minh được nghiên cứu và áp dụng để nắm bắt thị hiếu người đọc2, nhưng rất có thể đặt ra vấn đề bảo vệ quyền riêng tư trong tiếp cận thông tin

Thuật ngữ “Semantic Web” (SW, Web ngữ nghĩa học) do Berners-Lee (2001) đưa ra

để nói về Web dữ liệu được xử lý trực tiếp và gián tiếp bởi các máy móc3 Web ngữ nghĩa học là một hướng phát triển của Web hiện tại nhằm đảm bảo cho máy tính có thể đọc, hiểu

và sử dụng dữ liệu trên Web4 Một số nhà nghiên cứu chỉ sáu lĩnh vực áp dụng Web ngữ nghĩa (Semantic Web) là5: quản lý tri thức, tìm kiếm thông tin, quảng cáo, thương mại điện

tử, mạng xã hội và đặc biệt là thư viện số Nhưng không thấy nhắc đến một lĩnh vực quan trọng bậc nhất là lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng Ngay cả mô hình ứng dụng dịch vụ Web ngữ nghĩa tìm kiếm tài liệu điện tử cũng không nói gì đến lĩnh vực giáo dục

Việc nghiên cứu và áp dụng các công nghệ hỗ trợ sách giáo dục, ví dụ6, đối với sách mềm tiếng Anh, mỗi ngày có khoảng 16 nghìn người sử dụng với 32 nghìn phiên sử dụng,

350 nghìn lượt xem trang; trung bình mỗi ngày một người có hai phiên sử dụng 22 trang sách mềm tiếng Anh

Phần mềm mượn tài liệu số (Book worm) là một trong dịch vụ tiện ích mà thư viện áp dụng để giúp người đọc truy cập, khai thác kho tài nguyên số một cách thuận tiện mọi lúc,

1 Vũ Thị Kim Anh - Phạm Thành Quang Công nghệ RFID trong thư viện - tiền đề cho dịch vụ tự

phục vụ Tr 45 Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

2 Nguyễn Thị Hiền, Trần Thị Thúy Quỳnh và Trần Đức Tân Định vị thông minh giúp nắm bắt thị

hiếu người đọc Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

3 Berners-Lee cũng là người đã đưa ra những thuật ngữ như như Hyper Text Markup Language (HTML), Hyper Text Transfer Protocol (HTTP), Uniform Resource Identifiers (URI) and World Wide Web (WWW) Berners-Lee, T., Hendler, J., and Lassila, O (2001) The Semantic Web Scientific American, 284 (5).

4 Tào Ngọc Biên Tổng quan về semantich web và ứng dụng Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

5 Hoàng Anh Công Mô hình ứng dụng dịch vụ Web ngữ nghĩa tìm kiếm tài liệu điện tử trong thư

viện điện tử Trong ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

6 Trương Anh Hoàng - Nguyễn Văn Vinh Nâng cao hiệu quả sách giáo dục với công nghệ Trong

ĐHQGHN, TTTT-TV (2018) Sđd.

Ngày đăng: 24/06/2021, 11:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w