Bài viết trình bày lược khảo về các xu thế phát triển giáo dục đại học và sau đại học trên thế giới, gắn liền với bối cảnh mới do đại dịch Covid-19 tác động. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của xu hướng ứng dụng công nghệ trong dạy học - dạy học từ xa. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ SAU ĐẠI HỌC
Nguyễn Thị Minh Hồng* - Huỳnh Văn Sơn**
Tóm tắt
Bài viết trình bày lược khảo về các xu thế phát triển giáo dục đại học và sau đại học trên thế giới, gắn liền với bối cảnh mới do đại dịch Covid-19 tác động Trong
đó, đặc biệt nhấn mạnh sự bùng nổ và phát triển mạnh mẽ của xu hướng ứng dụng công nghệ trong dạy học - dạy học từ xa Từ những kinh nghiệm này, chúng tôi rút ra những kinh nghiệm Việt Nam có thể tiếp thu để đổi mới giáo dục và đào tạo, hướng đến sự phát triển bền vững của hệ thống giáo dục đại học và sau đại học, mà trọng điểm là sự đầu tư đổi mới về chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giảng viên chất lượng cao và hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học
Từ khóa: đổi mới, giáo dục và đào tạo, phát triển bền vững, giáo dục đại học,
giáo dục sau đại học
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, trong đó phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược Giáo dục đào tạo được xem là dịch vụ công, được nhà nước cung cấp nguồn lực tài chính để phục vụ lợi ích chung của tất cả mọi người, thực hiện chính sách công bằng xã hội Giáo dục đại học (GDĐH) và sau đại học (SĐH) giữ vai trò quan trọng trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Đầu tư cho GDĐH và SĐH mang lại hiệu quả về chất lượng nguồn nhân lực cho sự phát triển của quốc gia bởi đây là đầu tư cho con người, đầu tư cho nguồn nhân lực tương lai Ngày 4/11/2013 tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết này ra đời với mục đích về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo để đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện
* Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Uỷ viên Uỷ ban về Giáo dục và Phát triển nhân lực
** Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 2kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó nêu rõ
nhiệm vụ: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ,
thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào
tạo; coi trọng quản lý chất lượng” và “Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu
và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý” (Nguyễn và cộng sự, 2018)
Vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân được đặt ra như một đòi hỏi bức thiết, trong đó đổi mới cơ chế nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước và đảm bảo chất lượng là một trong những nội dung then chốt (Tuyết, 2013) Công việc này phải được tiến hành đồng bộ trên nhiều phương diện Từ đây cho thấy, đường lối, chiến lược, chính sách đổi mới và phát triển bền vững hệ thống GDĐH và SĐH là một trong những chiến lược cần được quan tâm và đầu tư phát triển lâu dài tại Việt Nam Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích và chứng minh những xu thế đổi mới và phát triển GDĐH và SĐH trên thế giới để từ
đó rút kinh nghiệm và đề xuất biện pháp phát triển, đổi mới hệ thống GDĐH và SĐH tại Việt Nam như một định hướng Đây là một trong những chia sẻ từ những so sánh
và đánh giá mang tính hệ thống có luận cứ
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Xu thế phát triển GDĐH và SĐH trên thế giới
1.1 Xu thế phát triển của GDĐH và SĐH khu vực ngoài châu Á
Bối cảnh giáo dục trên thế giới, đặc biệt ở các trường cao đẳng, đại học hiện nay chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ 4.0, cùng sự ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, do đó, xuất hiện một số nghiên cứu mới và phát triển trong lĩnh vực GDĐH và SĐH Có thể kể đến (Gleason, 2018):
- Trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục: AI được định nghĩa là “hệ thống máy tính tương tác với con người và với thế giới theo cách bắt chước các năng lực và hành vi của con người” AI ảnh hưởng liên tục dưới dạng đánh giá tự động, dạy kèm thông minh và tác nhân đàm thoại
- Quan điểm con người theo thuyết vị sinh: Là một bộ môn triết học, thuyết vị sinh xem xét ý nghĩa của việc trở thành con người và liệu việc trở thành con người
có vượt ra khỏi cơ thể chúng ta vào thế giới thực và kỹ thuật số hay không Không những thế, đây còn là một phương pháp sư phạm, mở ra khả năng học hỏi với động vật và máy móc như những người bạn đích thực, lâu dài
Trang 3- Học qua dữ liệu mở: Nhiều quốc gia, cũng như các tổ chức khu vực và quốc tế đang chia sẻ dữ liệu mà họ tạo và sử dụng trong công việc của họ với công chúng
Điều này tạo cơ hội cho việc đánh giá xác thực và học hỏi dịch vụ: “Dữ liệu thường
được sử dụng trong công việc chuyên môn có tác động thực sự đến cuộc sống của chúng ta và thế giới xung quanh chúng ta” “Chúng ta có gì? Trưởng thành hơn như thế nào từ những dữ liệu này?” là câu hỏi quan trọng và khẳng định về tầm quan
trọng của học qua dữ liệu mở
Phương pháp sư phạm công bằng xã hội: Giáo dục có thể giúp mọi người giải quyết những thành kiến vô thức của họ cũng như những bất công trong cuộc sống của họ và trong xã hội sao cho tốt hơn Phương pháp sư phạm công bằng xã hội nhằm mục đích giáo dục và tạo điều kiện cho sinh viên trở thành những công dân tích cực hiểu được sự bất bình đẳng trong xã hội và có thể góp phần làm cho xã hội trở nên dân chủ và bình đẳng hơn Đây cũng là định hướng nhân văn trong xã hội góp phần tạo ra tương lai tốt đẹp khi con người phát triển bền vững
- Học tập đa giác quan: Việc tham gia tất cả các giác quan, bao gồm xúc giác,
vị giác và khứu giác trong quá trình tiếp nhận, học tập được mô tả là phương pháp học tập đa giác quan, có thể nâng cao khả năng giao tiếp, tương tác, ghi nhớ và hiểu biết Đây được xem là xu hướng học tập thú vị và đem đến những kết quả bất ngờ
- Học tập qua mạng ngoại tuyến: Các trung tâm mạng chi phí thấp, công suất thấp như Raspberry Pis có thể cho phép học tập qua mạng được bản địa hoá mà không cần kết nối Internet Học tập qua mạng ngoại tuyến không còn phân biệt ngôn ngữ khi những khả năng dịch thuật tự động, chuyển ngữ nhanh chóng, tiện lợi trở thành các vấn đề mang tính thực tiễn hơn, gần gũi hơn
- Phòng thí nghiệm trực tuyến: Phòng thí nghiệm trực tuyến là một môi trường tương tác để tạo và tiến hành các thí nghiệm khoa học mô phỏng giúp cho người học trưởng thành và phát triển Phòng thí nghiệm có thể được truy cập thông qua trang điện tử hoặc dưới dạng một chương trình chạy trên máy tính, trong lớp học hoặc ở nhà Mục đích cuối cùng của Phòng thí nghiệm trực tuyến là để người học trải nghiệm các quy trình thực hiện một thí nghiệm khoa học, bao gồm cả hậu quả của việc phạm sai lầm
Rõ ràng trong những phát triển này là một số yếu tố hoặc xu hướng phổ biến dẫn đến những cơ hội quan trọng Đây là:
Một động thái mở ra việc học, làm cho việc học tập dễ tiếp cận và linh hoạt hơn Lớp học với thông tin được truyền tải thông qua bài giảng không còn là trung tâm duy nhất của việc học tập
Trang 4Tăng cường chia sẻ và tác động trực tiếp đến mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên, học viên theo một phương thức mới Điều này diễn ra cụ thể là vai trò giảng viên trong hoạt động dạy học đang thay đổi, hướng tới hỗ trợ và trao đổi nhiều hơn
về nội dung và phương pháp, đồng thời tập trung vào việc phát triển và hỗ trợ tính tự chủ của sinh viên Về phía sinh viên, sự thay đổi này nhấn mạnh vào việc sinh viên
hỗ trợ lẫn nhau thông qua các phương tiện truyền thông xã hội mới, đánh giá đồng đẳng, các nhóm thảo luận, thậm chí là các nhóm học trực tuyến nhưng với sự hướng dẫn, hỗ trợ và phản hồi từ các chuyên gia về nội dung và học tập
1.2 Xu thế phát triển của GDĐH và SĐH trong khu vực châu Á
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực GDĐH và SĐH trong bốn thập kỷ qua, phản ánh sự thay đổi thái độ cũng như sự phát triển kinh tế Châu Á có lịch sử phong phú về giáo dục và sự phát triển
cá nhân, toàn cầu hoá và tự do kinh tế ngày càng gia tăng đã làm cho nền giáo dục kiểu phương Tây trở nên hấp dẫn hơn về mặt văn hoá đối với sinh viên ngày nay Từ đây, những sự phát triển vượt trội về giáo dục của khu vực châu Á bắt đầu làm cho
sự cân bằng về phát triển giáo dục của các khu vực đang diễn ra nhanh chóng hơn Trong khi đó, các Chính phủ đã công nhận rằng đầu tư vào một hệ thống giáo dục cạnh tranh và được quốc tế công nhận có thể là một chính sách sinh lợi Do đó, nhiều trường đại học trọng điểm trong khu vực tăng lên thông qua các bảng xếp hạng toàn cầu Với tỷ trọng của Châu Á Thái Bình Dương trong GDP thế giới gần như tăng gấp đôi từ 15% lên 27% từ năm 1970 đến 2012 và tầng lớp trung lưu của khu vực này
dự kiến sẽ tăng lên khoảng 3,2 tỷ người vào năm 2030, đây là thời điểm quan trọng
để các tổ chức trong khu vực đặt câu hỏi về vai trò của họ trong bức tranh toàn cầu hoá rộng lớn hơn (Perna, 2020) Rõ ràng, sự phát triển này cho thấy cơ hội phát triển giáo dục rộng mở và trở thành thách thức quan trọng Giờ đây, cơ hội để đóng một vai trò quan trọng trong cuộc thảo luận liên tục về những gì sẽ xác định một nền giáo dục thế kỷ 21 - và trải nghiệm của sinh viên, học viên rất dễ dàng được xác lập Đối với nhiều người trong khu vực, học tập và phát triển hiện có nghĩa là học trực tuyến hoặc từ xa để nâng cao sự hiểu biết và phát triển bản thân
Châu Á có hơn 70 trường đại học mở, trong khi ở một vài quốc gia trong khu vực này, 1/10 sinh viên được cấp bằng đang tham gia học trực tuyến Các chuyến đi thực
tế ảo, hội nghị truyền hình và chia sẻ tài liệu đều là những phương thức rất hiện đại
để kết nối với các sinh viên từ xa - đồng thời nâng cao vị thế của một tổ chức trong cộng đồng học thuật quốc tế Chính phủ của một số quốc gia khu vực châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản tài trợ cho các giáo sư tại các trường đại học hàng đầu để
Trang 5phát triển tài liệu giảng dạy của họ và xuất bản trực tuyến, vì lợi ích của các cơ sở có thứ hạng thấp hơn (Eardley và cộng sự, 2017)
Mạng lưới Học tập Phát triển toàn cầu của Ngân hàng Thế giới và chi nhánh Châu Á - Thái Bình Dương của Cơ sở kiến thức Giáo dục Đại học Mở và Đào tạo từ
xa của UNESCO nằm trong số các tổ chức coi việc phát triển như vậy trở thành một điểm ưu tiên Vấn đề còn vượt ra ngoài yếu tố về “dây cáp” và kết nối với tiếng Anh như một thách thức về ngôn ngữ chiếm ưu thế trên trang điện tử và trong các gói phần mềm tiêu chuẩn bởi mọi thứ có thể học tập bằng ngôn ngữ mình mong muốn Chỉ riêng sinh viên của Đại học Mở Indira Gandhi đã chiếm 20% tổng số người học đại học ở Ấn Độ Và châu Á có hơn một phần ba số người dùng di động trên thế giới trong số đó tỉ lệ sử dụng điện thoại thông minh để học tập và bồi dưỡng hơn 40% Các nhà giáo dục trong khu vực có thể hướng tới việc thu hẹp khoảng cách bằng cách thừa nhận giá trị của việc học tập trên thiết bị di động (“M-learning”) -
sử dụng công nghệ điện thoại di động/thông minh tương đối phổ biến để chia sẻ tài liệu Các Chính phủ của khu vực hiện sẽ hướng đến khu vực sau đại học để tìm cách
mở rộng sự tiến bộ kinh tế và văn hoá trong vài thập kỷ qua và đầu tư cho phát triển nguồn lực từ nhóm đối tượng này Suy nghĩ ở đây có thể diễn ra theo hai hướng cụ thể Trong trường hợp đầu tiên, bối cảnh đại học đang phát triển rực rỡ của khu vực
sẽ phát triển nhanh chóng trên cơ sở hạ tầng của nó Nhưng cùng lúc bản thân các
cơ sở phải phát triển cơ sở hạ tầng để phát triển đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến Trong trường hợp thứ hai, sẽ có những cơ sở giáo dục đi tắt, đi nhanh, đi có trọng điểm để không nhất thiết cần phải có nhiều giảng viên hơn, thực hành học tập trực tiếp nghiêm ngặt hơn để giải quyết các vấn đề về năng lực và phẩm chất mà đầu tư ngay cho đào tạo trực tuyến Hiện tượng này được cảm nhận sâu sắc hơn ở các cơ sở
tư nhân, nơi mà đội ngũ giảng viên có bằng Thạc sĩ hoặc Tiến sĩ chỉ chiếm một nửa (Cương, 2017) nhưng khả năng đào tạo đang tiếp tục phát triển bởi sự đầu tư cho đội ngũ thỉnh giảng và chính những người giảng viên giảng trực tuyến với các khoá học trực tuyến là vấn đề cần nhìn thấy
Một số Chính phủ của các quốc gia khu vực châu Á đã đẩy mạnh cho việc đầu
tư giáo dục, bởi Nghiên cứu và phát triển là có tiềm năng sinh lợi và tiến bộ về mặt văn hoá Các ngành công nghiệp khoa học và công nghệ có xu hướng mang tính lãnh thổ: chúng phát triển mạnh mẽ trong các khu công nghệ đã được thiết lập, nơi cạnh tranh lành mạnh và hợp tác nhiều tầng là một phần của công việc kinh doanh hàng ngày Điều này cũng tạo ra những quan điểm và suy nghĩ mới về đầu tư giáo dục Song song với đầu tư cơ bản về trường lớp, giảng viên tuần tự để phát triển giáo dục
Trang 6cần có sự đầu tư có điểm rơi và ưu tiên nhất là đầu tư về công nghệ thông tin để ứng dụng trong giáo dục hay đầu tư giáo dục trực tuyến, giáo dục thông minh
Với chiến lược phát triển mới, các trường không có tên trong danh sách xếp hạng cũng đang có sự thay đổi theo hướng tích cực Các cơ sở giáo dục châu Á kết nối với sinh viên và nhà đầu tư tiềm năng ngày càng mạnh mẽ hơn Từ năm 2005 đến năm
2011, sinh viên quốc tế đến đã tăng gấp đôi lên 492.000 ở Đông và Nam Á, phần lớn
là nhờ vào sức mạnh của những cải tiến về chất lượng và hồ sơ của các cơ sở giáo dục trong khu vực trong đó có giáo dục mở, giáo dục từ xa
Hồng Kông, Singapore và Malaysia là ba trong những quốc gia đi đầu trong nhiệm vụ thu hút sinh viên quốc tế Tương tự, Úc với nền tảng tiếng Anh là điểm thu hút có giá trị đối với sinh viên từ châu Á đến học tập và nghiên cứu Các quốc gia như Malaysia, nơi vừa xuất khẩu và nhập khẩu một số lượng lớn sinh viên có thể được xem là minh hoạ cho một hình thức phức tạp của giao thông nội vùng có thể bị ảnh hưởng nhiều bởi các tôn giáo và di sản thuộc địa cũng như ngôn ngữ Diễn tiến phát triển giáo dục sẽ diễn ra nhiều chiều kích khác nhau nhưng rõ ràng sự ưu tiên đầu tư giáo dục đặt trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang là bài toán rất đặc biệt
Các thể chế thông minh sẽ cân bằng sự hấp dẫn tức thời của nhu cầu ngày càng tăng so với các yếu tố văn hoá, giáo dục và kinh tế đang diễn ra phức tạp hơn Trong thời gian chờ đợi được cung cấp các khoá học trực tuyến, các chương trình “không phân chia khuôn viên trường” và các thoả thuận chia sẻ dữ liệu hoạt động như một
cơ sở thử nghiệm và là cơ hội mới để tiếp tục hợp tác quốc tế thì nhiều trường đại học đã trực tiếp hay gián tiếp thay đổi suy nghĩ bằng những chiến lược đầu tư các hệ môi trường học tập ảo (VLE), các nguồn học tập mở, các trung tâm lưu trữ dữ liệu đào tạo, bồi dưỡng Sau nhiều thập kỷ phát triển, khu vực châu Á - Thái Bình Dương
đã sẵn sàng để gây ấn tượng trong lĩnh vực GDĐH, SĐH khi một số quốc gia đã phát triển vượt bậc về những thành tựu liên quan đến đào tạo từ xa, đào tạo gián tiếp, đào tạo kết hợp trực tiếp và gián tiếp
Có thể nhận thấy, xu hướng chung của GDĐH và SĐH trên thế giới hiện nay đang tận dụng tối đa hoá các thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 vào môi trường giáo dục, mà nổi bật là dạy học trực tuyến Đỉnh điểm là trong giai đoạn bùng phát đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới khiến cho toàn thể nhân loại phải cân nhắc xem xét và đầu tư nhiều hơn cho lĩnh vực ứng dụng công nghệ số trong giáo dục, trong dạy học Việc tăng cường sử dụng công nghệ, không chỉ để giảng dạy mà còn
hỗ trợ và giúp đỡ sinh viên, học viên và cung cấp các hình thức đánh giá mới Dựa
Trang 7trên bối cảnh này, cần có thêm kinh nghiệm, đánh giá và nghiên cứu để xác định những yếu tố sẽ có giá trị lâu dài và ảnh hưởng lâu dài đến hệ thống Khi dịch Covid không chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian mà kéo dài vài tháng liên tiếp, các quy trình học tập đều bị thay đổi Dù là phương thức học tập theo niên chế hay tín chỉ, tất cả đều bị đảo lộn khi ngày đến trường khó xác định, vì thế việc tổ chức đào tạo từ
xa có thể khả dĩ Ở một số quốc gia châu Á, việc liên tiếp bị ảnh hưởng bởi đợt dịch Covid lần 1 khoảng 2 tháng - 3 tháng vào đầu năm 2020, rồi đợt 2 khoảng 1 tháng và đang có diễn tiến đợt 3 vào cuối năm 2020 này cho thấy việc tăng cường khai thác, chủ động khai thác đào tạo trực tuyến sẽ là giải pháp cần xem xét bền vững Sự bền vững này ở góc độ đầu tư, sử dụng cũng như sáng tạo Song song với việc đầu tư hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống VLE, sự đầu tư về con người mà cụ thể
là người dạy và người học đều rất quan trọng và cần thiết Không dừng lại ở đó, cần phải đào tạo và chuẩn bị cả đội ngũ hỗ trợ, tổ chức học tập trực tuyến và hàng loạt những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra, đánh giá trong hoạt động đào tạo cũng phải đổi thay Việc tiếp cận theo những xu hướng này đòi hỏi công tác GDĐH
và SĐH tại Việt Nam cần có những bước tiến mới, tiếp thu thành tựu của thế giới và thử nghiệm áp dụng một cách hiệu quả nhất
2 Bài học kinh nghiệm để đổi mới giáo dục và đào tạo, hướng đến sự phát triển bền vững cho hệ thống GDĐH và SĐH của Việt Nam
Từ kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam có thể tiếp thu và thực hiện những biện pháp sau để từng bước đổi mới giáo dục và đào tạo hướng đến sự phát triển bền vững cho
hệ thống GDĐH và SĐH:
Một là, đổi mới chương trình (Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương thức đào tạo và kiểm tra đánh giá) và đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập.
Đổi mới chương trình: Đổi mới cấu trúc và yêu cầu, chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo, hội nhập với quốc tế và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam: ngoài kiến thức chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ thông tin và các kỹ năng mềm như hiện nay; các trường đại học phải trang bị được cho người học kỹ năng thu thập,
xử lý và kiểm soát thông tin, trải nghiệm học tập đồng hành với thực tế, thực tập và các công nghệ mới Chương trình đào tạo phải chuyển đổi phù hợp với xu thế liên ngành, xuyên ngành của cách mạng công nghệ 4.0 nhất là những ngành khoa học tự nhiên, công nghệ - kỹ thuật, kinh tế ; chương trình đào tạo cần hội nhập sâu rộng với chương trình đào tạo của khu vực và thế giới Sinh viên ra trường không chỉ có công việc, mà còn phải có tầm nhìn, có khát vọng đổi mới sáng tạo và tinh thần khởi nghiệp Hiện nay, ở Việt Nam đang nhắc nhiều đến giáo dục khai phóng, tuy nhiên,
Trang 8không thể nắm bắt và làm chủ được các công nghệ nếu nguồn nhân lực của chúng
ta không được đào tạo và trang bị kiến thức STEM Vì vậy, với triết lý giáo dục như trên, trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0, giáo dục khai phóng với STEM và phát triển bền vững chính là những nội dung đổi mới cốt lõi và cần có của chương trình đào tạo Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018 cũng đã đề ra nhiệm vụ các trường đại học phải tham gia vào bảng xếp hạng đại học trên thế giới Đây là những sức ép và đòn bẩy quan trọng để các trường đại học phải đổi mới mạnh mẽ và nâng cao chất lượng theo các tiêu chí và chuẩn mực của giáo dục đại học trên thế giới trong thời gian tới
Đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập: Sự ra đời của các công nghệ mới và
công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã mở ra những khả năng có thể giảng dạy và học tập ở mọi nơi mọi lúc, học xuyên biên giới, đồng thời tạo ra các cơ hội để tranh thủ và tối ưu hoá các nguồn lực (về con người, học liệu, cơ sở vật chất ) kiểu
như “uber hoá trong giáo dục” và đương nhiên sẽ kéo theo những thay đổi tiêu chí
đánh giá về kiểm định chất lượng và xếp hạng các trường đại học
Hai là, phát triển đội ngũ giảng viên chất lượng cao Bổ sung và nâng cao trình
độ giảng viên, giảm tỷ lệ sinh viên trên giảng viên: từ 30 xuống 20 sinh viên trên một giảng viên Tỉ lệ tiến sĩ tăng lên 25% trong tổng số giảng viên đại học và 4% trong tổng số giảng viên cao đẳng năm 2020, cải cách hành chính trong ngành, tăng cường quy hoạch dự báo kế hoạch Tạo điều kiện cho giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục tiếp cận với các thành tựu khoa học thế giới Tiếp tục đào tạo giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục GDĐH và SĐH trong và ngoài nước Tăng cường liên kết đào tạo cán bộ khoa học bậc cao với các trường quốc tế có uy tín Hoàn thiện định mức lao động ưu đãi lương đối với nhà giáo Tăng cường đầu tư nâng cao năng lực các trường và khoa sư phạm sao cho phù hợp với bối cảnh và nhất là bối cảnh đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến
Ba là, đảm bảo chất lượng phát triển GDĐH và SĐH: Hệ thống đảm bảo chất
GDĐH và SĐH của Việt Nam còn khá mới nhưng trong 10 năm qua đã đạt được khá nhiều thành tựu Cụ thể:
- Thành lập cơ quan đảm bảo chất lượng cấp quốc gia (Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo);
- Xây dựng các quy định về kiểm định chất lượng trường đại học;
- Bước đầu thiết lập và tiếp tục hoàn thiện hệ thống dọc cho hoạt động đảm bảo chất lượng quốc gia (Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục, các trung tâm
Trang 9đảm bảo chất lượng của hai đại học quốc gia và các đại học vùng, cùng với bộ phận đảm bảo chất lượng của các trường);
- Xây dựng và bước đầu triển khai kế hoạch kiểm định chất lượng trường đại học cho toàn hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam;
- Phát triển năng lực (capacity development) cho đội ngũ chuyên gia và các nhân
sự chủ chốt của hệ thống đảm bảo chất lượng quốc gia;
- Tham gia vào các mạng lưới đảm bảo chất lượng khu vực và quốc tế (chủ yếu
là hai đại học quốc gia): AUN (Mạng đại học Đông Nam Á), APQN (Mạng đảm bảo chất lượng châu Á - Thái Bình Dương), và INQAAHE (Hiệp hội các cơ quan đảm bảo chất lượng quốc tế)
Tất cả những thành tựu này cần duy trì, nhưng cũng cần vận động và hướng đến bối cảnh mới phù hợp hơn, nhất là việc thay đổi các phương thức đào tạo như đã đề cập, phân tích
Bốn là, đổi mới cơ chế tài chính phát triển GDĐH và SĐH, đầu tư cơ sở vật chất
Đảm bảo ngân sách đầu tư cho giáo dục là 20%, tranh thủ các nguồn vay cho các
dự án Giáo dục và Đào tạo bảo đảm đầu tư quỹ đất đảm bảo diện tích khuôn viên tối thiểu theo tiêu chuẩn Việt Nam Hàng năm Nhà nước dành ngân sách đưa cán bộ khoa học đi đào tạo ở các nước tiên tiến Hiện đại hoá trang thiết bị, xây dựng thư viện điện tử kết nối giữa các trường đại học trong phạm vi quốc gia và quốc tế, đầu
tư nâng cấp cơ sở hạ tầng Công nghệ Thông tin và Truyền thông cho các cơ sở Giáo dục và Đào tạo Xây dựng một số phòng thí nghiệm quốc gia ở các trường đại học đầu ngành Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục tăng cường lý luận và cơ chế các chính sách cho xã hội hoá và hợp tác công tư về phát triển giáo dục và đào tạo Hỗ trợ các trường ngoài công lập, tạo điều kiện bình đẳng để các cơ sở giáo dục Đại học ngoài công lập phát triển Thực hiện chính sách học phí và chia sẻ chi phí đào tạo, mở rộng các quỹ hỗ trợ học tập, đổi mới chế độ học phí cho tương xứng, miễn giảm cho đối tượng chính sách Tăng cường quan hệ nhà trường với các ngành địa phương, thu hút các đoàn thể làm giáo dục
Năm là, đổi mới công tác quản lý phát triển GDĐH và SĐH Với vai trò là công
cụ thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả, chiến lược và các chính sách phát triển GDĐH và SĐH được hiểu như nội dung cơ bản và trọng tâm của quản lý nhà nước về kinh tế đối với GDĐH, SĐH Đầu tiên, cần hoàn thiện chiến lược phát triển giáo dục; Xây dựng chiến lược chủ động ứng phó với các hiệp định quốc tế song phương và đa phương có liên quan đến dịch vụ
Trang 10GDĐH và SĐH xuyên biên giới; Đào tạo và bồi dưỡng các loại nhân lực trực tiếp phục vụ hội nhập; Nâng cao chất lượng các chương trình nghiên cứu và đào tạo đặc thù cho quốc gia và dân tộc để thu hút các nhà nghiên cứu và học viên quốc tế Tiếp
đó, hoàn thiện chính sách tài chính để phát triển GDĐH và SĐH bằng cách đa dạng hoá thu nhập từ các nguồn thu, các chương trình chia sẻ chi phí khác như thu học phí, cho sinh viên vay, quyên góp và tặng cho doanh nghiệp, Cần khuyến khích
sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục ngoài nhà nước Cần phân biệt
rõ giữa loại trường vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận trong ban hành và thực thi chính sách liên quan đến tài chính thay vì chỉ phân biệt theo hình thức sở hữu như hiện nay Đồng thời hoàn thiện chính sách đầu tư trong GDĐH và SĐH Thực hiện phân cấp cơ quan ra quyết định đầu tư cho ngành giáo dục là Bộ Giáo dục và Đào tạo Chỉ quyết định đầu tư khi có đủ các căn cứ theo quy định của pháp luật và đã xác định rõ nguồn vốn, trong phạm vi được phân cấp, tránh việc phê duyệt vốn đầu
tư dự án vượt quá khả năng cân đối Cần thành lập ban quản lý dự án (cơ cấu tổ chức như: Cục, Vụ, Viện) thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, giúp Bộ trưởng thực hiện quản
lý các dự án trong GDĐH và SĐH, nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp trong tất cả các khâu của quá trình thực hiện dự án Quy định rõ trách nhiệm cá nhân, đơn vị liên quan đến chất lượng dự án, hiệu quả đầu tư Cần xây dựng lộ trình xã hội hoá từng phần hoặc 100% các cơ sở đào tạo do nhà nước đầu tư, trừ những cơ sở đào tạo thuộc trọng điểm quốc gia
Sáu là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ Nâng cấp xây
dựng mới một số cơ sở nghiên cứu, mạng lưới các trường đại học; thành lập các Viện Khoa học và công nghệ trong các trường đại học khuyến khích các tổ chức doanh nghiệp bên ngoài thành lập cơ sở nghiên cứu trong trường đại học Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học giáo dục, thực thi pháp luật sở hữu trí tuệ Quy định nhiệm vụ nghiên cứu của giáo viên gắn nghiên cứu với đào tạo và phục vụ cộng đồng Tập dượt và phát huy khả năng nghiên cứu của sinh viên, học viên Đổi mới cơ chế phân bố ngân sách và thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu chuyển giao khoa học và công nghệ cấp tối thiểu 1% ngân sách nhà nước cho nghiên cứu ở các trường đại học Khuyến khích
và đẩy mạnh việc thực hiện các hợp đồng khoa học công nghệ với các cơ sở sản xuất kinh doanh và các địa phương Đây là những hành động có luận cứ cả về mặt pháp
lý lẫn những kinh nghiệm thực tiễn thành công
Bảy là, tăng cường hợp tác quốc tế Hợp tác xây dựng một số trung tâm công
nghệ cao trong các trường đại học, khuyến khích các ngành có điều kiện liên kết hợp tác đồng hướng dẫn đào tạo cán bộ khoa học có trình độ cao Khuyến khích đầu tư