1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ emtrên địa bàn tỉnh an giang

80 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang
Tác giả Võ Thùy Trang
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Hữu Minh
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 623,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt xã hội, các loại hình dịch vụ chăm sóc, vui chơi giải trí dành cho trẻ hiện nay còn rất thiếu thốn, làm cho trẻ em dễ bị dụ dỗ với các hoạt động giải trí do những kẻ xâm hại tạo r

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÙY TRANG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THÙY TRANG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xâm hại tình dục trẻ em đã và đang xảy ra ở mọi quốc gia trên thế giới, đang

là vấn đề nổi cộm và gây nhiều bức xúc trong dư luận xã hội hiện nay Xâm hại tình dục (XHTD) trẻ em gây ra những tổn thương nghiêm trọng, lâu dài đối với trẻ em trên nhiều phương diện, gây nhiều hậu quả nặng nề tới sự phát triển của xã hội Hậu quả của trẻ bị XHTD từ nhỏ về thể chất phải mang thương tật suốt đời; về tâm lý như trẻ luôn cảm thấy căng thẳng lo lắng, cô đơn, không tự tin, nghi ngờ mọi người xung quanh; có biểu hiện lệch lạc về nhân cách, hành vi tiêu cực như hung hăng, phá phách, ngỗ ngược, luôn tìm cách gây hấn với những đứa trẻ khác; những trẻ này lớn lên sẽ khó hòa nhập với môi trường sống

Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên thế giới tham gia

ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em từ năm 1990, ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em từ năm 2004 Đặc biệt, Luật trẻ em (được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 05/4/2016 tại kỳ họp thứ 11) và có hiệu lực thi hành vào 01/6/2017 đã quy định cụ thể các quyền và bổn phận của trẻ em; các nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em Cụ thể, Điều 25 trong Luật Trẻ em

có quy định quyền được bảo vệ để không bị XHTD

Tuy nhiên, tình trạng xâm hại trẻ em hiện nay đang đưa ra con số báo động Giai đoạn 2011 – 2015 xảy ra 5.300 vụ việc xâm hại tình dục trẻ em chủ yếu là với trẻ em gái Theo báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em giai đoạn 2016 - 2019 của Ủy ban Văn hóa, giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng – Quốc hội khóa XIV, có 6.432 trẻ em bị XHTD, chiếm 73,85% tổng số trẻ em bị xâm hại [57] Trẻ em có thể gặp nguy cơ bị xâm hại ở bất cứ nơi đâu, có thể là trên sân chơi, ở trường học, nhà người thân quen, thậm chí trong chính ngôi nhà của mình Đối tượng XHTD trẻ em hầu hết là những người có cuộc sống bình thường ít ai ngờ tới, có quan hệ gần gũi với nạn nhân và gia đình nạn nhân như người thân, ruột thịt, thầy giáo…[25]

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến gia tăng trẻ bị XHTD như do vai trò bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCS&GD) trẻ em của gia đình, cộng đồng chưa được coi

Trang 4

trọng; kiến thức và kỹ năng BVCS&GD trẻ em của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em chưa đầy đủ dẫn đến năng lực bảo vệ trẻ em của gia đình, cộng đồng còn hạn chế; trẻ em dễ trở thành nạn nhân của XHTD; sự thiếu hiểu biết về pháp luật, lối sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm của một số gia đình đã tạo ra sự mất an toàn cho trẻ ngay trong chính gia đình của mình Bản thân các em cũng chưa được nhà trường và cha

mẹ trang bị những kiến thức cần thiết để tự bảo vệ mình [30] Về mặt xã hội, các loại hình dịch vụ chăm sóc, vui chơi giải trí dành cho trẻ hiện nay còn rất thiếu thốn, làm cho trẻ em dễ bị dụ dỗ với các hoạt động giải trí do những kẻ xâm hại tạo ra; việc quản lý về văn hóa thông tin còn bất cập trước sự xuất hiện của hàng loạt các loại hình văn hóa phẩm không lành mạnh, phim ảnh ngoài luồng có tính chất bạo lực, khiêu dâm dễ đánh thức sự tò mò của các em…

Đối với tỉnh An Giang, những năm gần đây, cùng với việc triển khai thực hiện Luật Trẻ em 2016 và các quy định của Nhà nước, công tác phòng, chống XHTD trẻ em đã được quan tâm Tuy nhiên, nguy cơ xâm hại trẻ em nói chung, XHTD trẻ em nói riêng, nhất là trẻ em nữ vẫn còn rất nghiêm trọng Cụ thể từ năm

2016 đến năm 2019, có 198 trẻ em bị xâm hại (191 trẻ bị xâm hại là nữ, 07 trẻ bị xâm hại là nam), trong đó có 147 trẻ bị XHTD, 01 trẻ bị xâm hại bằng hành vi bạo lực, 01 trẻ bị mua bán và 49 trẻ bị xâm hại bằng các h́nh thức khác; các vụ việc xâm hại đã khiến 01 trẻ em có thai, 04 trẻ em phải bỏ học [18] Trong khi đó, các nghiên cứu về việc thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em từ cách tiếp cận chính

sách công còn ít được thực hiện, đặc biệt là ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Để góp phần cùng với Đảng, Nhà nước và toàn xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi trẻ em, đồng thời nhằm bổ sung thêm kiến thức cho bản thân, tôi lựa chọn

đề tài: Thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ emtrên địa bàn

tỉnh An Giang, nghiên cứu để làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Xâm hại tình dục trẻ em; phòng, chống XHTD trẻ em và nâng cao kiến thức,

kỹ năng phòng, chống XHTD trẻ em là vấn đề đang được các nhà lãnh đạo, quản lý

và nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học

đề cập đến vấn đề XHTD trẻ em; phòng, chống XHTD trẻ em và nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng, chống XHTD trẻ em ở nhiều mức độ và phạm vi khác nhau

Trang 5

2.1 Công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Một số nghiên cứu đã cung cấp bức tranh thực trạng đáng quan tâm về xâm hại trẻ em nói chung và XHTDtrẻ em nói riêng Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát – Bộ Công an, mặc dù chỉ là phần nhỏ so với thực tế nhưng mỗi năm trung bình

có 1.600 – 1.800 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, trong số 1.000 vụ XHTD, số vụ

mà trẻ em là nạn nhân chiếm 65%, đa số nạn nhân là nữ ở độ tuổi 12 – 15 (chiếm 57,46%), tuy nhiên số trẻ em dưới 6 tuổi bị xâm hại là vấn đề đáng báo động, chiếm tới 13,2% [31]

Năm 2017, toàn quốc xảy ra 1.592 vụ xâm hại trẻ em, so với năm 2016 giảm 49 vụ; 1.642 trẻ em bị xâm hại trong đó trẻ em bị bạo lực là 245 em, giảm 171

em so với năm 2016; nhưng trẻ em bị XHTD: 1.397 em, so với năm 2016 tăng 186 trẻ Hiện nhiều tỉnh, thành phố chưa quan tâm, đầu tư nguồn lực cho trẻ em [27]

Theo Báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về

phòng, chống xâm hại trẻ em” của Đoàn giám sát Quốc hội khóa XIV từ ngày

01/01/2015 - 30/6/2019, cả nước có tới 8.442 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện, xử

lý với 8.709 trẻ em bị xâm hại; trong đó, có 6.432 trẻ bị XHTD; 857 trẻ bị bạo lực;

106 trẻ bị mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt; 1.314 trẻ bị xâm hại bằng các hình thức khác Đáng chú ý, chỉ riêng 6 tháng đầu năm 2019, số trẻ em bị xâm hại tăng đột biến, với 1.400 em, tính trung bình cứ mỗi ngày cả nước có 7 trẻ em bị xâm hại Con số này khiến chúng ta không khỏi giật mình lo ngại trước vấn nạn xâm hại trẻ

em đang diễn ra trong thời gian gần đây Và trên thực tế, con số này còn cao hơn rất nhiều bởi có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại nhưng chưa được phát hiện, xử lý kịp thời, nhất là các hành vi bạo lực gây tổn hại về thể chất và tinh thần cho trẻ em Đối tượng XHTD trẻ em hầu hết là những người có cuộc sống bình thường ít ai ngờ tới, có quan hệ gần gũi với nạn nhân và gia đình nạn nhân như người thân, ruột thịt, thầy giáo, hàng xóm…[25]

Từ việc phân tích thực trạng các nghiên cứu cho thấy, bảo vệ trẻ em trước vấn nạn xâm hại là việc làm bức thiết, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành, gia đình và toàn xã hội; cần tạo hành lang pháp lý đủ mạnh, cơ chế chặt chẽ

để phòng ngừa hiệu quả, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm đối với những hành vi

Trang 6

xâm hại trẻ em để đảm bảo tính răn đe, nghiêm minh của pháp luật Đồng thời, các cấp, các ngành cần tập trung giáo dục, nâng cao ý thức và kỹ năng phòng, XHTD trẻ em không chỉ với chính các em mà còn phải với người lớn để xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em thông qua các hoạt động truyền thông trong phòng, chống XHTD trẻ em, hoạt động giáo dục trong phòng, chống XHTD trẻ em, hoạt động phát triển kỹ năng trong phòng, chống XHTD trẻ em và hoạt động

tư vấn trong phòng, chống XHTD trẻ em

2.2 Các nghiên cứu, sách viết về kỹ năng, kiến thức phòng ngừa xâm hại tình dục trẻ em

Sách “Phòng ngừa XHTD trẻ em” do Dự án tuổi thơ – Chương trình phòng

ngừa do AusAID và Tổ chức tầm nhìn thế giới thực hiện với nội dung xoay quanh các vấn đề nhận thức và hiểu biết về XHTD trẻ em để từ đó cha mẹ có cách phòng ngừa phù hợp cũng như chuẩn bị cho bé cách tự bảo vệ bản thân trước những tình huống xấu xảy ra

Sách “Cẩm nang phòng tránh xâm hại cho con – Cha mẹ cần biết trước khi

quá muộn” do tác giả Phạm Thị Thúy biên soạn năm 2017 cung cấp những hiểu

biết cơ bản về vấn đề XHTD trẻ em, cách dạy trẻ phòng, chống XHTD, những điều cần làm khi thấy trẻ có dấu hiệu bị XHTD, tâm sự của những người từng bị XHTD

… Các công trình khoa học trên đã góp phần quan trọng trang bị những kiến thức

cơ bản về XHTD trẻ em, phòng, chống XHTD trẻ em và nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng, chống XHTD trẻ em Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ đề cập tới XHTD trẻ em, phòng, chống XHTD trẻ em và nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng, chống XHTD trẻ em trên phạm vi rộng, chưa có đề tài nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện lý luận và thực tiễn về XHTD trẻ em, phòng, chống XHTD trẻ em và nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng, chống XHTD trẻ em ở phạm vi địa phương An Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em, phân tích thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang Trên

cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị chính sách phù hợp với tình hình thực

tế nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ

Trang 7

em trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để đạt được mục tiêu nêu trên, cần xác định các nhiệm vụ thực hiện của luận văn như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu Hiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam (2013); Luật BVCS&GD trẻ em (2004); Luật Trẻ em (2016); Luật Hôn nhân - Gia đình (2014); các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và các văn bản có liên quan…

Thứ hai, làm rõ những vấn đề lý luận về phòng, chống XHTD trẻ em và lý

luận về thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Thứ ba, phân tích thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ

em trên địa bàn tỉnh An Giang

Thứ tư, đề xuất biện pháp thúc đẩy hiệu quả thực hiện chính sách phòng,

chống XHTD trẻ em

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc triển khai, thực hiện chính sách phòng, chống XHTDtrẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang và đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống XHTD trẻ em

4.2 Khách thể nghiên cứu

- Đối với trẻ em (người dưới 16 tuổi)

- Các cơ quan lãnh đạo, quản lý tham gia thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại trẻ em nói chung, thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em nói riêng trên địa bàn tỉnh

- Cán bộ làm công tác BVCS&GD trẻ em tại địa phương

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Tỉnh An Giang

- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2016 – 2019

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Trang 8

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách phòng, chống xâm hại trẻ em nói chung, và chính sách phòng, chống XHTD trẻ em nói riêng

5.2 Phương pháp cụ thể

Luận văn sử dụng các phương pháp như thống kê, tổng hợp, phân tích,… số liệu và dữ liệu có sẵn liên quan đến chủ đề nghiên cứu: các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ ngành ở trung ương và địa phương; thu thập thông tin trên mạng internet, một số sách, báo, tạp chí và công trình nghiên cứu khác như các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, kết hợp với trao đổi, thảo luận với 09 cán bộ đại diện cơ quan lãnh đạo, quản lý tham gia thực hiện chính sách

về phòng, chống XHTD trẻ em trên địa bàn tỉnh: Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh, Công an tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) tỉnh, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Viện Kiểm sát Nhân dân (KSND) tỉnh, Tòa án Nhân dân (TAND) tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (TNCS) tỉnh; 04 cán bộ phụ trách công tác bảo vệ trẻ em, điều tra viên, kiểm sát viên cấp cơ sở

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phòng, chống XHTD trẻ em và thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em ở cấp độ địa phương Nghiên cứu gợi ra những cách tiếp cận mới trong việc đánh giá tầm quan trọng trong thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em trước vấn đề bức xúc hiện nay, từ đó nâng cao chất lượng công tác đối với các cơ quan quản lý, thực hiện chính sách tại địa phương cũng như hỗ trợ, giúp đỡ những kỹ năng phòng ngừa, ứng phó được các tình huống có thể xảy ra

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua việc tìm hiểu và phân tích thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang, nhằm đề ra những biện pháp thúc

Trang 9

đẩy việc thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập và hoạt động thực tiễn trong công tác phòng, chống XHTD trẻ em

7 Kết cấu của Luận văn

Luận văn này ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu, có ba chương cụ thể như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em tại An Giang

Chương 3 Một số giải pháp thúc đẩy hiệu quả thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM

1.1 Lý luận về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1.Trẻ em

Việc tìm hiểu khái niệm trẻ em có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc vận dụng vào thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em Trẻ em là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời mỗi con người Tâm lý học cho rằng trẻ em là giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý – nghiên cứu con người Ở giai đoạn này, cùng với sự phát triển về mặt thể chất thì phẩm chất tâm lý của trẻ em cũng dần hình thành và chịu sự ảnh hưởng khách quan của môi trường sống, xã hội và những người xung quanh Ở lứa tuổi này các em chưa nhận thức đầy đủ được những nguy cơ trong cuộc sống trong đó có việc bị XHTD

Theo Điều 1 Công ước Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc thông qua ngày

20/11/1989 quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp

luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Ở Việt Nam, quy

định về độ tuổi của trẻ em là thấp hơn so với Công ước Luật Trẻ em 2016 quy định:

“Trẻ em là người dưới 16 tuổi”

Mặc dù hệ thống pháp luật nước ta và quốc tế không có quy định thống nhất

về ranh giới giữa độ tuổi trẻ em và người lớn nhưng các văn bản pháp luật nước ta cũng như quốc tế đều xác định trẻ em là đối tượng cần được bảo vệ và chăm sóc cũng như cần được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và toàn thể xã hội, cộng đồng nhằm tạo điều kiện cho trẻ em được phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần Để trẻ em được phát triển toàn diện, đúng hướng thì người lớn cũng như xã hội phải tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần thuận lợi cho sự phát triển tâm, sinh

lý của trẻ em

Trong nghiên cứu này khái niệm về trẻ em được xác định như sau: trẻ em là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ, ở độ tuổi dưới 16

Trang 11

1.1.1.2 Xâm hại tình dục trẻ em

Khái niệm XHTD trẻ em, được hiểu một cách chung nhất là sự xâm phạm, động chạm đến quyền tự do, đến nhu cầu phát triển tự nhiên của trẻ em về quan hệ tính giao, xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của trẻ em

Trước đây, chúng ta hay dùng từ “lạm dụng tình dục” Tuy nhiên, ở Việt Nam nghĩa của từ “lạm dụng” không sát nghĩa với thuật ngữ quốc tế sử dụng nên

có thay đổi thành “xâm phạm tình dục” Trong quá trình sử dụng, cụm từ này tiếp tục không phù hợp nên sau khi Quốc hội quyết định thay đổi thì cụm từ “xâm hại

tình dục” được sử dụng từ năm 2010

Luật trẻ em 2016 đã nêu rõ tại Điều 4 “Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng

vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em

và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức” [38]

Cụ thể hóa nội dung XHTD trẻ em trong Luật Trẻ em, Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của

Luật trẻ em, trong đó nêu rõ tại:“Điều 13 Trẻ em bị XHTD bao gồm các hành vi:

1.Trẻ em bị hiếp dâm 2.Trẻ em bị cưỡng dâm 3.Trẻ em bị giao cấu 4.Trẻ em bị dâm ô 5.Trẻ em bị sử dụng vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”

Xâm hại tình dục trẻ em bao gồm tất cả các hành vi tình dục không mong muốn có thể bao gồm cả hành vi xâm hại có tiếp xúc hay hành vi xâm hại không tiếp xúc XHTDtrẻ em có thể xảy ra ở bất kì nền văn hóa, chủng tộc, tôn giáo, thể chế chính trị nào

1.1.1.3 Phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Khi xã hội đang bức xúc và lên án hàng loạt những vụ ấu dâm, quấy rối tình dục trẻ em thì cha mẹ và những người chăm sóc trẻ đang loay hoay không biết làm cách nào để bảo vệ con mình, làm thế nào để có thể phòng, chống XHTD xảy ra Phòng, chống XHTD chính là tổng thể các biện pháp về luật pháp, chính sách, thể chế, tổ chức, truyền thông nhằm giảm thiểu các trường hợp XHTD trẻ em và tác hại của nó Các biện pháp phòng, chống XHTD trẻ em được thể hiện cả ở 3 cấp độ bảo

vệ trẻ em như đã quy định ở Luật Trẻ em 2016, đó là cấp độ phòng ngừa (Điều 48), cấp độ hỗ trợ (Điều 49) và cấp độ can thiệp (Điều 50) Cụ thể, cấp độ phòng ngừa

Trang 12

gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt Cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ

em Cấp độ can thiệp bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Có thể thấy rằng, hậu quả của tội phạm XHTD trẻ em là hết sức nghiêm trọng đối với bản thân nạn nhân và gia đình, xã hội Vì vậy, để phòng, chống loại tội phạm này một cách hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất tác hại có thể xảy ra cho xã hội, cần triển khai đồng bộ các giải pháp sau:

Về chính sách nhà nước: Cần sự phối hợp và hỗ trợ đồng bộ cả các ban ngành tổ chức xã hội và cộng đồng; cần quan tâm công tác tổ chức bộ máy, bố trí nhân lực; Kiện toàn ban chỉ đạo, Ban điều hành và nhóm công tác liên ngành bảo vệ trẻ em cấp huyện, cấp xã; xây dựng và thực hiện Đề án bố trí, nâng cao năng lực, ổn định đội ngũ người làm công tác bảo vệ trẻ em ở ngoài địa phương; xác lập cơ chế phối hợp phòng, chống, xử lý vụ việc xâm hại trẻ em tại địa phương; xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảo vệ trẻ em bằng biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức cảnh giác, phát hiện sớm, tự phòng, chống XHTD và hỗ trợ tư vấn pháp lý khi cần thiết

Xử lý nghiêm các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, cá nhân che giấu, không thông báo, không tố cáo vụ việc, hành vi xâm hại trẻ em

Từ phía nhà trường: Nhà trường cần cung cấp cho trẻ em những kiến thức cơ

bản nhất về giới tính Có thể dạy cho trẻ em biêt rằng không ai được chạm vào “chỗ

riêng tư” của trẻ Dạy cho trẻ biết những hành vi lạm dụng tình dục là phạm pháp và

quyền mình được bảo vệ và tự bảo vệ Dạy cho trẻ hiểu thân thể là “tài sản riêng” của

chúng Trẻ có quyền từ chối những cái ôm hoặc những tiếp xúc gây khó chịu

Từ phía gia đình và cộng đồng: Cha mẹ không nên né tránh mà cần thường xuyên trò chuyện với con về vấn đề tế nhị Khuyến khích con đặt câu hỏi về các vấn

đề khác nhau trong cuộc sống cũng như câu hỏi về những vấn đề sâu kín Bên cạnh

Trang 13

đó, bố mẹ cần cố gắng tìm hiểu và hòa đồng với bạn bè của con, vì qua đó bố mẹ có thể có được những thông tin cần thiết Cần dạy trẻ không bao giờ được đi vào chỗ kín, nơi vắng vẻ với một ai nếu không có sự đồng ý của bố mẹ Trang bị cho con biết cách phòng vệ, không mặc hở hang vì dễ gây kích thích sự ham muốn đối với những kẻ có ý xấu

1.1.2 Đặc điểm xâm hại tình dục trẻ em

1.1.2.1 Các hành vi xâm hại tình dục trẻ em

Mọi trẻ em cộng đồng đều có nguy cơ bị XHTD kể cả những trẻ sống trong gia đình nghèo hay gia đình khá giả Không những trẻ em gái mà trẻ em trai cũng có thể trở thành nạn nhân bị XHTD Điều đáng nói là sau khi bị xâm hại, nạn nhân thường không hoặc không dám kể về những cái gì đã diễn ra với chúng Hầu hết, những người XHTD là nam giới và hầu hết trẻ em bị xâm hại bởi người quen biết như họ hàng, bạn của người lớn trong gia đình hoặc hàng xóm… Đôi khi việc xâm hại này diễn ra trong một thời gian dài, thậm chí kéo dài nhiều năm Hành vi XHTD trẻ em được thực hiện dưới nhiều dạng khác nhau, để thỏa mãn nhu cầu của người lớn hơn, không nhằm mục đích kiếm tiền như: cưỡng hiếp, sờ mó, vuốt ve vào chỗ kín của trẻ em, hôn trẻ em có tính chất gợi dục; cố ý phơi bày bộ phận kín của mình cho trẻ em nhìn thấy; để cho trẻ em nhìn thấy người lớn có cử chỉ yêu đương hoặc cho trẻ em nghe, xem các nội dung phim ảnh khiêu dâm, đồi trụy; nhìn trộm trẻ em tắm, để trẻ em làm mẫu hoặc trình diễn thời trang không mặc quần áo, ăn mặc hở hang Ngoài ra, các hành vi sau cũng đều bị coi là hành vi XHTD trẻ em như: dùng tiền, vật chất, uy tín hoặc lợi ích khác để dụ dỗ, lôi kéo trẻ em hoạt động mại dâm; dùng thủ đoạn nói dối, gian lận để trẻ em hoạt động mại dâm; dẫn, chỉ dẫn, môi giới, tổ chức xúi giục trẻ em hoạt động mại dâm; che giấu, cho thuê, mượn hoặc bố trí nơi để trẻ em hoạt động mại dâm; dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng uy quyền để ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm… [38]

1.1.2.2 Biểu hiện của trẻ bị xâm hại tình dục

Khi trẻ em bị xâm hại, các em thường sợ hãi, rất sợ nói với người lớn vì những

kẻ xâm hại thường đe dọa không cho trẻ nói hoặc trẻ cảm thấy chúng đã làm điều đó sai hoặc các em chưa biết cách thể hiện những gì đã xảy ra Do đó, để nhận biết trẻ có

bị xâm hại hay không, chúng ta cần phải quan sát các dấu hiệu có thể [17]

Trang 14

- Về thể chất: trẻ có những vết thương ở bộ phận sinh dục hoặc xung quanh hậu môn, sưng tấy, phồng rộp, chảy máu ở miệng; quần áo lót có dính máu hoặc bị rách; trẻ khó đi tiểu hoặc đại tiện, trong nước tiểu có máu hoặc phân; có mủ bất thường ở âm đạo, dương vật, hậu môn, trẻ bị mang các bệnh truyền nhiễm qua đường sinh dục; trên cơ thể trẻ có các vết thương thâm tím, đau đầu hoặc đau bụng

- Trẻ bị XHTD có thể: ít tắm hoặc tắm rửa nhiều hơn thường lệ, hay thay quần áo; chơi với những trẻ khác hoặc chơi đồ chơi theo kiểu tình dục một cách hiểu biết hơn hoặc thường xuyên hơn so với lứa tuổi của chúng; biết nhiều về tình dục hơn các bạn cùng lứa

- Các biểu hiện về tâm lý: trẻ bị XHTD thường rất cảnh giác, sợ hãi, nhạy cảm hoặc đột ngột sợ một ai đó, một nơi nào đó hoặc chỉ muốn đi cùng với bố mẹ; trẻ có biểu hiện thu mình, kín đáo hoặc hầu như muốn ở một mình; có những biểu hiện, hành động theo cách giống như trẻ nhỏ hoặc lứa tuổi nhỏ hơn; trở nên hung hãng và bạo lực; cố gắng chạy ra khỏi nhà; luôn cảm thấy buồn hoặc không bày tỏ bất kỳ một cảm xúc nào; trẻ trở nên khó ngủ, khóc hét, thức giấc đêm vì bị các cơn

ác mộng, sợ bóng tối hay đái dầm; trẻ tỏ ra sợ hãi khi bị sờ vào người hoặc sợ thực hiện các hoạt động thể chất Các dấu hiệu nêu trên có thể hiện một cách rõ ràng hoặc không rõ ràng Và ở mỗi trường hợp trẻ em bị XHTD, các biểu hiện lại khác nhau Cả trẻ em trai và trẻ em gái, cả trẻ em sống trên đường phố hay những trẻ em sống cùng gia đình

1.1.2.3 Các vấn đề gặp phải của trẻ bị xâm hại tình dục trẻ em

Cho dù sử dụng bạo lực, sự đe dọa hay lòng tốt để bắt trẻ thực hành hành vi XHTD thì hậu quả của việc xâm hại này đều gây tổn thương cho trẻ ở các mức độ khác nhau Sự XHTD làm tổn thương trẻ vào thời điểm khi hành vi xâm hại diễn ra

và có thể tiếp tục gây tổn thương nạn nhân trong suốt quãng đời còn lại của trẻ đặc biệt đối với những trẻ không thể kể về sự xâm hại này hoặc không nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ hay trị liệu từ phía gia đình và xã hội

Về mặt thể chất, trẻ em bị XHTD có thể chịu tổn thương thể xác kéo dài do các bệnh như HIV/AIDS, viêm gang, lậu, giang mai và những bệnh lây lan qua đường tình dục khác… Nếu không được chữa trị có thể gây nên những vấn đề trong tương lai như có thai ngoài ý muốn, ung thư và tử vong do nhiễm trùng nặng Ngoài

Trang 15

ra, trẻ còn có thể chịu những tổn thương thể chất trong quá trình phản kháng lại hành vi XHTD: các tổn thương của bộ phận sinh dục Với trẻ lớn hơn, nguy có thai được phát hiện muộn không phải là hiếm gặp Với những trường hợp này, sức khỏe và tương lai của bà mẹ lẫn trẻ em thường ở trong tình trạng rất mong manh, khó khăn

Về mặt tâm lý, trẻ em bị XHTD thường sẽ cảm thấy tội lỗi, sợ hãi, xấu xa, thất bại, cộc tính… Trẻ thường cho rằng mình là kẻ thất bại và nguy cơ trở thành tội phạm khi trưởng thành Đặc biệt, nếu trẻ không được điều trị tâm lý kịp thời sau khi

bi xâm hại thì rất dễ bị ám ảnh lâu dài và khi lớn lên có thể trở thành người đi XHTD trẻ em khác Ngoài ra, trẻ bị XHTD khi còn nhỏ lớn lên có thể gặp vấn đề về giới tính của mình, nhiều đứa trẻ bị trầm cảm, rối loạn nhân cách…

Điều đáng ngại là không phải lúc nào trẻ bị XHTD cũng thể hiện ra bên ngoài những tổn thương về tâm lý mà đôi khi, cơn sang chấn tâm lý phải sau nhiều năm mới thể hiện ra Vì thế, phụ huynh thường khó phát hiện ra những bất thường của con em mình… Trẻ em bị XHTD có thể tiếp tục bị người khác xâm hại trong suốt quãng đời còn lại Vì những trải nghiệm bị xâm hại khi còn là một đứa trẻ, chúng lớn lên và tin rằng tình dục là cách duy nhất để thể hiện cảm xúc và an toàn Nghiêm trọng hơn, bị đối xử tồi tệ và XHTD có thể trở thành hình mẫu trong cuộc sống của chúng Nếu không được hỗ trợ và giúp đỡ để có thể hàn gắn từ sự xâm hại, những đứa trẻ bị xâm hại có thể trở thành những người đi xâm hại khi chúng lớn lên

1.1.3 Trẻ có nguy cơ bị xâm hại tình dục

1.1.3.1 Những trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục

Tất cả các trẻ em đều có nguy cơ trở thành nạn nhân của XHTD không có sự phân biệt dân tộc, học vấn, điều kiện kinh tế, lứa tuổi, giới tính, đặc điểm cá nhân Tuy nhiên, một số trẻ em thuộc các nhóm như: trẻ em sống trong các gia đình khó khăn, trẻ em sống trong các gia đình khuyết thiếu chỉ có cha hoặc mẹ hoặc thiếu cả cha mẹ; trẻ

em khuyết tật, chậm phát triển; trẻ em sinh sống ở các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số; trẻ em sống trong hoàn cảnh có nhiều cám dỗ… có nguy cơ bị XHTD cao hơn các trẻ em khác và trẻ em gái có nguy cơ bị XHTD cao hơn trẻ em trai

- Nhóm trẻ em sống trong gia đình khó khăn, trẻ em sống trong các gia đình khuyết thiếu chỉ có cha hoặc mẹ hoặc thiếu cả cha mẹ: là các trẻ em sống trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nghèo đói; trẻ có cha mẹ ly thân, ly dị, chỉ sống

Trang 16

với cha hoặc mẹ hoặc sống với người thân, không sống cùng cả cha hoặc mẹ trẻ em

mồ côi cha hoặc mẹ hoặc mồ côi cả cha mẹ Những trẻ này thường không được hoặc nhận được ít sự quan tâm chăm sóc từ gia đình, người thân Chính vì thế, các

em rất dễ trở thành đối tượng mà những kẻ đi xâm hại để ý, nhắm đến

- Nhóm trẻ em khuyết tật, chậm phát triển: là các trẻ em gặp vấn đề về sức khỏe ngoại hình như khuyết tật vận động, câm điếc, bại liệt hay các em mắc các chứng bệnh thần kinh, chậm phát triển trí tuệ… Các trẻ em này thường không có đủ nhận thức, sức khỏe cũng như khả năng tự bảo vệ, chăm sóc bản thân, phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác

- Nhóm trẻ em sinh sống ở các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số: là các trẻ em sống trong các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn nghèo đói, giao thông, văn hóa, thông tin liên lạc kém phát triển, vùng dân tộc, miền núi, hải đảo… Trẻ sống trong các vùng này thường ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin, ít được quan tâm chăm sóc, giáo dục nên các em thường bị hạn chế về nhận thức, thiếu các kiến thức

để có thể tự chăm sóc bản thân và bảo vệ mình, dễ trở thành nạn nhân của XHTD

- Nhóm trẻ em sống trong hoàn cảnh có nhiều cám dỗ như trẻ em lang thang đường phố, trẻ em mồ côi, trẻ sống trong các khu có nhiều tệ nạn xã hội như nghiện hút ma túy, mại dâm… Các em dễ chịu tác động xấu từ môi trường sống và những người xung quanh, thiếu sự quan tâm của người lớn, dễ bị cám dỗ, sa ngã vào các tệ nạn xã hội, phát triển lệch lạc và rất dễ trợ thành trẻ em có nguy cơ bị XHTD

Như vậy, tất cả trẻ em đều có nguy cơ bị XHTD Tuy nhiên, trẻ em gái và các trẻ em có nguy cơ bị XHTD cao hơn các trẻ em sống trong các gia đình khó khăn, trẻ em sống trong các gia đình khuyết thiếu chỉ có cha hoặc mẹ hoặc thiếu cả cha mẹ; trẻ em khuyết tật, chậm phát triển; trẻ em sinh sống ở các vùng khó khăn, dân tộc thiểu số; trẻ em sống trong hoàn cảnh có nhiều cám dỗ, các trẻ em này còn hạn chế thể chất, trí tuệ và nhận thức

1.1.3.2 Các đặc điểm của trẻ em có nguy cơ bị xâm hại tình dục

Thiếu hiểu biết về vấn đề XHTD trẻ em

- Trẻ em có nguy cơ bị xâm hại và gia đình trẻ thường gặp khó khăn khi tiếp cận các nguồn thông tin, kiến thức Các trẻ em này sinh sống trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, éo le, phức tạp như bị khuyết tật, mồ côi cha mẹ, sống cùng

Trang 17

với ông bà / người thân hoặc thuộc hộ nghèo, hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, cha mẹ

đi làm ăn xa, sinh sống trong các khu vực có nhiều tệ nạn xã hội, nghèo đói… Do hoàn cảnh khó khăn nên các em và gia đình thường khó khăn hoặc ít cơ hội tiếp cận với các kênh thông tin như tivi, báo chí, internet hoặc tham gia các câu lạc bộ, lớp giáo dục kỹ năng hoặc cha mẹ, người thân do bận làm ăn kinh tế mà thiếu sự quan tâm đến con trẻ… mà đây là một trong những nguồn chính cung cấp các thông tin, kiến thức về quyền trẻ em, các thông tin về XHTD trẻ em, kỹ năng phòng, chống XHTD trẻ em… Chính vì ít cơ hội được tiếp xúc với các thông tin nên nhận thức của trẻ em và gia đình các em về vấn đề XHTD trẻ em rất hạn chế, trẻ em và gia đình thường không nhận biết được các mối nguy cơ để tự bảo vệ bản thân, bảo vệ con / em mình Hoặc đối với các em là trẻ khuyết tật, nhiều em không đủ khả năng nhận thức để tiếp thu thông tin… Do vậy, các em rất dễ trở thành nạn nhân của kẻ

đi xâm hại

Gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội

- Dịch vụ xã hội ở đây là các dịch vụ cơ bản như chăm sóc sức khỏe, tư vấn tâm lý, giáo dục cung cấp kiến thức kỹ năng tự bảo vệ bản thân, hỗ trợ pháp lý… Đối với các trẻ em có nguy cơ cao bị XHTD, cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ

xã hội thường khó hơn so với các trẻ em khác Các em ít có cơ hội được chăm sóc y

tế, cung cấp các kiến thức về sức khỏe sinh sản, được hỗ trợ tham vấn, tư vấn khi gặp khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống Đặc biệt, với các trẻ em ở độ tuổi mới lớn, trẻ thường thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản, cách tự bảo vệ và chăm sóc bản thân hay còn đang tò mò về tình cảm tuổi mới lớn, các em rất cần được sự hướng dẫn, giúp đỡ của người lớn Tuy nhiên, các em gặp khó khăn rất nhiều khi tiếp cận các dịch vụ xã hội này do khó khăn về kinh tế, do cha mẹ hoặc người thân thiếu hiểu biết, do gia đình không có điều kiện đưa các em đến gặp các chuyên gia tâm lý, thăm khám sức khỏe hay đến gặp các nhà tư vấn pháp lý để xin trợ giúp

Bản thân trẻ em và gia đình thiếu kỹ năng bảo vệ, chăm sóc

- Phần nhiều trẻ em có nguy cơ cao bị XHTD thường có hoàn cảnh gia đình

éo le, phức tạp: nhà nghèo, cha mẹ không hạnh phúc, ly thân, ly hôn, trẻ sống cùng

bố hoặc mẹ hoặc sống với ông bà, người thân khác Cũng có trường hợp cha mẹ vì mưu sinh gửi trẻ cho ông bà, người thân trông nom… Chính vì thế, gia đình không

Trang 18

có điều kiện quan tâm sát đối với trẻ Do hoàn cảnh gia đình như vậy nên cha mẹ hoặc người lớn đều không có các kỹ năng bảo vệ, chăm sóc trẻ, không thường xuyên quan tâm, chú ý tới trẻ Người lớn khi nhắc tới vấn đề xâm hại thường có tâm

lý e ngại, nhạy cảm, né tránh sự việc, thiếu cởi mở, ngại tiếp cận với các thông tin, kiến thức, pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em dẫn tới thiếu các kỹ năng về bảo vệ cũng như chăm sóc trẻ Một phần do không được quan tâm từ phía gia đình, một phần do không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ xã hội, tiếp cận với các nguồn thông tin… nên trẻ có nguy cơ bị XHTD thiếu các kỹ năng: từ các kỹ năng cơ bản như cách chăm sóc bản thân đến các kỹ năng để bảo vệ bản thân như tự nhận biết tình huống nguy hiểm, phản kháng, xử lý tình huống hay việc chia sẻ với người khác khi bản thân bị rơi vào các tình huống nguy hiểm… [30]

1.2 Lý luận về thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

1.2.1.2 Thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em [38]

1.2.1.3 Cán bộ làm công tác phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Cán bộ làm công tác phòng, chống XHTD trẻ em có thể gọi là người làm công tác xã hội, là người có trình độ chuyên môn, được trang bị kiến thức kỹ năng về công tác xã hội chuyên nghiệp và sử dụng, kiến thức, kỹ năng đó trong quá trình tác nghiệp trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng) có vấn đề xã hội giải quyết vấn đề gặp phải, vươn lên trong cuộc sống

Trang 19

Người làm công tác xã hội là những người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội để sử dụng những kiến thức và kỹ năng của mình để: giúp cho xã hội thấy rõ trách nhiệm của mình đối với sự phát triển chung của xã hội Giúp thân chủ: cung cấp các dịch vụ xã hội; tăng cường khả năng giải quyết và đối phó với các vấn đề của mình; tiếp cận các nguồn lực; thiết lập những mối quan hệ thuận lợi giữa họ và môi trường của họ

1.2.2 Lý thuyết ứng dụng trong thực hiện phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

1.2.2.1 Thuyết nhu cầu

Nhà tâm lý học Abraham Maslow Harold, một nhà tâm lý học người Mỹ, được xem là người tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn Năm 1943, ông đã phát triển một trong những lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó đến nhiều lĩnh vực khác nhau Maslow đã thiết lập một lý thuyết có thứ bậc của nhu cầu Tất

cả các nhu cầu cơ bản theo ông là bản năng, giống với bản năng của động vật Nhu cầu của con người thành 5 bậc

Biểu đồ Tháp nhu cầu Maslow [29]

Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow được tóm lại bằng những ý chính như sau:

- Nhu cầu sinh lý: đây là những nhu cầu sinh học, chúng bao gồm nhu cầu khí thở, thực phẩm, nước và cơ thể có nhiệt độ tương đối ổn định

- Nhu cầu an toàn: khi tất cả các nhu cầu sinh học được thỏa mãn và không còn làm cho con người lo lắng, bận tâm, thì cái nhu cầu cho sự an toàn có thể phát sinh

- Nhu cầu xã hội: khi nhu cầu về an toàn và sinh học được đáp ứng, nhu cầu

kế tiếp là nhu cầu xã hội như tình cảm, tình yêu và được nhìn nhận xuất hiện

Trang 20

- Nhu cầu cần được tôn trọng: khi ba loại nhu cầu đầu tiên được thỏa mãn, nhu cầu lòng tự trọng có thể phát sinh

- Nhu cầu tự chứng tỏ mình: khi tất cả các nhu cầu nói trên được thỏa mãn, thì nhu cầu muốn hiện thực hóa, tự chứng tỏ bản thân xuất hiện

Việc vận dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu nhằm mục đắch giải thắch rằng con người có rất nhiều nhu cầu cần đáp ứng Ngoài các nhu cầu cơ bản như ăn, uống, mặc, đi lại thì nhu cầu được học tập, phát triển kỹ năng cho trẻ, cán bộ giáo dục và gia đình trẻ là nhu cầu cần thiết và cần đáp ứng ngay Chắnh vì vậy, muốn làm tốt công tác thực hiện chắnh sách phòng, chống XHTD trẻ em thì cần phân tắch được nhu cầu của các trẻ em và gia đình nuôi dưỡng các em để có các giải pháp đáp ứng nhu cầu một cách phù hợp

1.2.2.2 Thuyết hệ thống

Lý thuyết hệ thống được sáng lập bởi L.V.Bertalanffy (1901-1972) người

Áo, thuộc trường Đại học Tổng hợp Chicago, tiếp cận vấn đề hệ thống từ góc độ

sinh học bởi theo ông: ỘMọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ

các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơnỢ

Lý thuyết hệ thống cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là hệ thống, được tạo từ các hệ thống và ngược lại cũng là phần cứng của hệ thống lớn Do đó, con người là một bộ phận của xã hội, đồng thời cũng được tạo nên từ các phần tử nhỏ hơn Các

hệ thống có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Khi một hệ thống thay đổi, kéo theo sự thay đổi của một hệ thống khác và ngược lại khi muốn thay đổi một

hệ thống thì phải thay đổi hệ thống nhỏ tạo nên nó và thay đổi cả hệ thống bao trùm

nó [24]

Ứng dụng thuyết hệ thống vào đề tài nghiên cứu nhằm mục đắch giải thắch rằng tình trạng XHTD trẻ em có thể bị ảnh hưởng của các yếu tố nằm trong một hệ thống lớn gồm một số tiểu hệ thống như xã hội, nhà trường, gia đình và cá nhân Trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em, lý thuyết hệ thống chỉ ra sự tác động mà các tổ chức, các chắnh sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên trẻ em Mỗi trẻ

em đều có một môi trường sống và một hoàn cảnh sống, chịu tác động của các yếu

tố trong môi trường sống và cũng tác động, ảnh hưởng ngược lại môi trường xung

Trang 21

quanh Để làm tốt công tác phòng, chống XHTD trẻ em không chỉ cần sự quan tâm của riêng ngành giáo dục, lĩnh vực nào mà là sự tham gia của toàn xã hội

Khi làm việc với trẻ em, cán bộ làm công tác trẻ em cần xem xét bản thân trẻ

là một hệ thống, hệ thống này nằm trong hệ thống lớn hơn là hệ thống gia đình, hệ thống gia đình lại là một phần tử trong hệ thống một cộng đồng nhất định chứa gia đình đó Các hệ thống này đều có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau Khi xác định vấn đề của trẻ hoặc gia đình trẻ thì cần đặt trong mối quan hệ tương tác giữa các hệ thống này để phân tích sâu hơn về các nguyên nhân dẫn đến vấn đề

Vì vậy, nhiệm vụ cán bộ làm công tác trẻ em là tìm ra những mâu thuẫn trong việc kết nối giữa các nhu cầu của trẻ và hệ thống trợ giúp bên ngoài để có thể

hỗ trợ trẻ và gia đình trẻ nhiều hơn Ngoài ra, áp dụng lý thuyết hệ thống sẽ giúp cán bộ làm công tác trẻ em: sử dụng và phát huy tối đa khả năng của trẻ trong sự tương tác với các hệ thống khác để giải quyết vấn đề; xây dựng mối quan hệ mới giữa trẻ, gia đình trẻ với các hệ thống trợ giúp trong xã hội; giúp tăng cường khả năng tương tác giữa trẻ, gia đình trẻ và các hệ thống; cải tạo mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong cùng hệ thống; giúp phát triển và thay đổi hệ thống chính sách xã hội một cách phù hợp; cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết

Áp dụng lý thuyết hệ thống có thể thấy vấn đề phòng, chống xâm hại tình dục là một hệ thống trong đó bao gồm các tiểu hệ thống: cán bộ làm công tác chăm sóc trẻ em các cấp, cha mẹ và cán bộ giáo dục, hàng xóm, họ hàng, các hội đoàn thể, chính sách chăm sóc trẻ em, cơ sở vật chất… Mặt khác, hệ thống phòng, chống XHTD trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang cũng là một tiểu hệ thống nằm trong một

hệ thống bảo vệ, chăm sóc trẻ em rộng lớn của cả nước

1.2.3 Những nguyên tắc trong tổ chức thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Thực hiện chính sách phải đảm bảo đúng mục tiêu: là đảm bảo cho mọi trẻ

em đều được bảo vệ, để giảm nguy cơ bạo lực, bị XHTD; trẻ có nguy cơ bị XHTD

và trẻ em bị XHTD được phát hiện, can thiệp, hỗ trợ phục hồi, kịp thời để hòa nhập cộng đồng và có cơ hội phát triển; chủ động phòng ngừa, loại bỏ các nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em; xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh và thân thiện cho trẻ em, thực hiện ngày còn tốt hơn các quyền cơ bản của trẻ em Việc thực hiện

Trang 22

chính sách này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình và toàn xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (BVCS&GD) và phòng, chống XHTD trẻ em

Thực hiện chính sách phải đảm bảo tính hệ thống: được quy định trong chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, bắt buộc đối tượng triển khai thực hiện chính sách phải tuân thủ theo các quy định hiện hành, điều này được thể hiện rõ nhất ở sự phân cấp thực hiện giữa các cơ quan đơn vị với nhau, giữa cơ quan cấp trên và cơ quan cấp dưới, ở sự phối hợp trong công tác Thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em cần phải bảo đảm tính hệ thống, nghĩa là phải thực hiện đồng bộ và thống nhất các nhiệm vụ đề ra

Thực hiện chính sách phải đảm bảo tính pháp lý, khoa học và hợp lý: chính sách được thực hiện đúng pháp luật, đúng nội dung hướng dẫn quy định tại các văn bản hướng dẫn của Nhà nước, đồng thời phải thực hiện một cách khoa học, hợp lý

để chính sách phát huy hiệu quả Nếu chính sách được đảm bảo yêu cầu về tính pháp lý, khoa học và hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức, thực hiện chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của các đối tượng được thụ hưởng chính sách đối với Nhà nước

- Thực hiện chính sách phải đảm bảo lợi ích thực sự cho đối tượng thụ hưởng chính sách: quá trình thực thi chính sách thường tồn tại nhiều nhóm lợi ích trong xã hội, cơ quan quản lý nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ lợi ích hợp pháp cho cá nhân và tổ chức Khi cơ quan quản lý nhà nước sử dụng chính sách công để đảm bảo về lợi ích cho các đối tượng được thụ hưởng chính sách trong xã hội, sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân vào các chính sách công của Nhà nước đã thông qua Nội dung quan trọng trong quá trình thực thi chính sách công là để cho các đối tượng thụ hưởng chính sách có được những lợi ích thật sự

1.2.4 Quy trình thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Luận văn vận dụng hướng tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội và vận dụng các phương pháp nghiên cứu từ lý thuyết chính sách công: tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng chính sách, thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia của các bên chủ thể chính sách, cụ thể việc thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em trải qua 07 bước sau:

Trang 23

Bước 1: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

- Tổ chức thực thi chính sách phòng, chống XHTD trẻ em là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, chương trình để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện chính sách một cách chủ động

Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống

- Các cơ quan triển khai thực thi chính sách từ trung ương đến địa phương đều phải xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực thi chính sách phòng, chống XHTD trẻembao gồm những nội dung cơ bản: lập kế hoạch tổ chức, điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống các cơ quan chủ trì và phối hợp triển khai thực hiện chính sách; số lượng và chất lượng nhân sự tham gia tổchức thực thi; những dự kiến về cơ chế trách nhiệm của cán bộ quản lý và công chức thực thi; cơ chế tác động giữa các cấp thực thi chính sách; xác định kế hoạch cung cấp các nguồn vật lực gồm dự kiến vềcác cơ sở kiến trúc, trang thiết bị

kĩ thuật phục vụcho tổchức thực thi chính sách phòng, chống XHTD trẻ em; các nguồn lực tài chính

-Dự kiến vềthời gian duy trì chính sách, các bước tổchức, triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm Mỗi bước đều có mục tiêu cần đạt được và thời gian dự kiến cho việc thực hiện mục tiêu

- Kế hoạch kiểm tra thực thi chính sách là những dự kiến vềtiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra, giám sát tổchức thực thi chính sách

- Dự kiến những nội quy, quy chế trong thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em bao gồm nội quy, quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm, nghĩa vụvà quyền hạn của cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Bước 2: tuyên truyền chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Sau khi kế hoạch thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em được thông qua, các cơ quan trong bộ máy nhà nước tiến hành tổ chức triển khai thực hiện theo kế hoạch

Trang 24

-Trong quá trình thực hiện chính sách phải truyên truyền, vận động nhân dân tham gia thực hiện chính sách pḥòng, chống XHTD Tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các đối tượng chính sách và mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu của chính sách; hiểu rõ vềtính đúng đắn của chính sách trong điều kiện hoàn cảnh nhất định và về tính khả thi của chính sách để họ có thể tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của nhà nước Đồng thời, phổ biến, tuyên truyền chính sách còn giúp cho mỗi cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm tổ chức thực thi nhận thức được đầy đủ tính chất, trình độ, quy mô của chính sách với đời sống xã hội để chủ động tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực thi có hiệu quả kế hoạch tổ chức thực hiện chính sách được giao

- Chủ thể phổ biến, tuyên truyền chính sách phòng, chống XHTD trẻ em bao gồm đội ngũ cán bộ trong bộ máy cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ Đội ngũ này phải được đào tạo đủ trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng trong việc tuyên truyền, phổ biến chính sách phòng, chống XHTD trẻ em đảm bảo chính sách khi được phổ biến, tuyên truyền phải đảm bảo tính trung thực, khách quan

- Đối tượng phổ biến, tuyên truyền chính sách phòng, chống XHTD trẻ em bao gồm: những công dân được tác động trực tiếp và là đối tượng thụ hưởng chính sách phòng, chống XHTD trẻ em; những công dân bị tác động gián tiếp bởi chính sách phòng, chống XHTD trẻ em, đây là những nhân tố góp phần làm cho chính sách hiệu quả; những đối tượng tham gia thực thi, triển khai chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

- Phương tiện và cách thức tuyên truyền: tuyên truyền là một trong những hoạt động hiệu quả nhất nhằm nâng cao nhận thức của người dân và toàn xã hội trong thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻem Nội dung phải đa dạng về cách thức và phong phú về hình thức đáp ứng được nhu cầu của từng đối tượng tuyên truyền

Bước 3: phân công, phối hợp thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Hoạt động phân công, phối hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em một cách chủđộng, sáng tạo để luôn duy trì chính sách được ổn định, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quảchính sách, đảm bảo phát huy được tính năng động, sáng tạo của các yếu tố cấu thành và tác động đến chính sách

Trang 25

Bước 4: duy trì chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Việc duy trì chính sách phòng, chống XHTD trẻ em là toàn bộ hoạt động đảm bảo cho chính sách phát huy tác dụng trong đời sống chính trị và xã hội Đồng thời, phải có sự quyết tâm và thống nhất cao của các tổ chức, người thực thi và môi trường thực hiện chính sách Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về chính sách phòng, chống XHTD trẻ em phải chủ động tổ chức thực thi chính sách, tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các đối tượng chính sách và toàn xã hội tích cực tham gia thực thi chính sách Nếu việc thực thi chính sách gặp phải những khó khăn

do môi trường thực tế biến động thì các cơ quan nhà nước sử dụng hệ thống công cụ quản lý tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách, đồng thời chủ động điều chỉnh chính sách cho phù hợp với hoàn cảnh mới

Bước 5: điều chỉnh chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Trong quá trình thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em, do tác động của nhiều yếu tố, chính sách sẽ bộc lộ sự bất cập Từ đó, việc điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách Việc điều chỉnh chính sách được thực hiện bởi cơ quan nhà nước

có thẩm quyền để cho chính sách ngày càng phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách, nhưng trên thực tế, việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chếchính sách diễn ra rất linh hoạt, vì thế cơ quan quản lý nhà nước các ngành, các cấp chủ động điều chỉnh biện pháp, cơ chế chính sách đểthực hiện sao cho có hiệu quả, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách

Bước 6: theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Việc đôn đốc thực hiện chính sách phòng, chống XHTD là hoạt động của cơ quan, cán bộ, công chức có thẩm quyền thực hiện, thông qua các công cụ hữu ích nhằm làm cho các chủ thể thực thi nêu cao ý thức trách nhiệm trong thực hiện các biện pháp theo định hướng chính sách; vừa thúc đẩy các chủ thể nỗ lực nhiều hơn

để hoàn thành nhiệm vụ, vừa phòng, chống những hành vi vi phạm quy định trong quá trình thực thi chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Trang 26

Bước 7: tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em

Tổng kết, đánh giá quá trình tổchức thực thi chính sách, xem xét, kết luận về chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính sách của các đối tượng thực thi chính sách Đối tượng được xem xét, đánh giá, tổng kết về chỉ đạo điều hành thực thi chính sách là các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở Ngoài ra, còn xem xét cả vai trò, chức năng của các tổchức chính trị, chính trị-xã hội và xã hội trong việc tham gia thực thi chính sách phòng, chống XHTD trẻ em Trên cơ sở để tổng kết, đánh giá công tác chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách phòng, chống XHTD trẻ em trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch được giao và những nội quy, quy chế được xây dựng ở bước một của phần này; đồng thời còn kết hợp sử dụng các văn bản liên tịch giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức chính trị và xã hội và các văn bản quy phạm khác để xem xét tình hình phối hợp chỉ đạo, điều hành thực thi chính sách công của các tổ chức chính trị và xã hội với Nhà nước

1.3 Hệthống chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

1.3.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước

Các chủtrương của Đảng, về chính sách bảo vệ trẻ em được quy định trong các văn kiện, đáng chú ý là Chỉ thị số 55-CT/TW ngày 28/6/2000 Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở cơ sở đối với công tác chăm sóc, giáo dục trẻ em, trong đó yêu cầu hạn chế đến mức thấp nhất sự xâm hại đối với trẻ em

Có biện pháp giải quyết tốt một số mục tiêu quan trọng như: tích cực phòng chống tình trạng dụ dỗ trẻ em tham gia buôn bán và nghiện hút ma túy, trẻ em bị xâm hại, trẻ em làm trái pháp luật, trẻ em lang thang kiếm sống [2] Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 20/CT-TW, ngày 5/11/2012 về việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới Qua đó, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổquốc Việt Nam và các đoàn thể phải quan tâm giáo dục pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; phê phán, lên án các hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại, bạo lực, lôi kéo trẻ em vào hoạt động tội phạm và cản trở việc thực hiện các quyền của trẻ em Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về chăm sóc, giáo dục và

bảo vệ trẻ em [3] Quy định tại Hiến pháp năm 2013: “Nghiêm cấm xâm hại, hành

Trang 27

hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (khoản 1 Điều 37)[21].Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

(BVCS&GD) trẻ em năm 2004 thay thế cho Luật Bảo vệ và chăm sóc (BV&CS) trẻ

em năm 1991 và kế thừa, phát huy những hiệu quả của Luật năm 1991 về vấn đề trẻ

em nhưng đồng thời tiếp thu có chọn lọc các quy định của pháp luật các nước và văn kiện quốc tế; sửa đổi, bổ sung những quy định để điều chỉnh các quan hệ mới phát sinh, bảo đảm phù hợp, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đềra Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế-xã hội của đất nước có nhiều thay đổi, sự hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng đã làm xuất hiện nhiều vấn đề mới tác động đến công tác BV&CS trẻ em Vì thế, Luật BVCS&GD trẻ em năm 2004 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, không đáp ứng yêu cầu của các vấn đề mới phát sinh,đặc biệt là vấn đề về BV&CS trẻ em [34]

Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Trẻ em, ngày 05/4/2016 gồm 7 chương với 106 Điều Luật trẻ em năm 2016 ra đời là cơ sở pháp lý cao nhất quy định về quyền, bổn phận của trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em [39] Để cụ thể hóa thực hiện Luật trẻ em, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020 và Chương trình mục tiêu Phát triển hệ thống trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2020, trong đó có dự án Phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em Đồng thời, ban hành Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 16/5/2017về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em

Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 23/CT-TTg, ngày 26/5/2020 vềviệc tăng cường các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền trẻ em và bảo vệ trẻ em,

là cơ sở pháp lý để các ban, ngành và cả hệ thống chính trị vào cuộc chăm lo cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em vì mục tiêu phát triển ổn định và lâu dài của đất nước Trong những năm gần đây, quan điểm về chăm sóc, bảo vệ trẻ em của Đảng, Chính phủViệt Nam đã có những thay đổi quan trọng Xác định rõ vị trí và tầm quan trọng trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em gắn với mục tiêu phát triển đất nước theo hướng bền vững và hội nhập, các quan điểm vềbảo vệ, chăm sóc trẻ em đã hướng

Trang 28

tới đảm bảo quyền và lợi ích của trẻ em, trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc trẻ em là của toàn thể các cấp đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội và của toàn thể xã hội [52]

Theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách phòng, chống XHTD trẻ em hướng tới mục tiêu tạo môi trường an toàn, lành mạnh, tất cả trẻ em đều được bảo

vệ để giảm nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt, chủ trọng bảo vệ trẻ em không bị xâm hại; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được trợ giúp, chăm sóc để phục hội [52]

1.3.2 Vai trò của các tổ chức trong thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

- Quốc hội, Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo thẩm quyền

để thực hiện quyền trẻ em; giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo quy định của pháp luật; phân bổ ngân sách hằng năm để bảo đảm thực hiện quyền trẻ em

- Chính phủ có trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước về trẻ em; ban hành theo thẩm quyền và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình về trẻ em; bảo đảm cơ chế và biện pháp phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương trong việc thực hiện quyền trẻ em, giải quyết các vấn

đề về trẻ em Bảo đảm xây dựng và thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu liên quan đến trẻ em trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm của quốc gia, ngành, địa phương theo quy định Chỉ đạo các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chủ trì, phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về trẻ em theo thẩm quyền Bảo đảm điều kiện để tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Khoản 2 Điều 77 của Luật Trẻ em năm 2016 và chỉ đạo, phân công các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban Nhân dân (UBND) cấp tỉnh phối hợp với tổ chức này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện quyền trẻ em và việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ,

cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, địa phương liên quan đến trẻ em theo quy định

- Ủy ban Nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về trẻ em theo thẩm quyền; tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, kế hoạch, chương trình mục tiêu, chỉ

Trang 29

tiêu về trẻ em; ban hành theo thẩm quyền chính sách, pháp luật bảo đảm thực hiện quyền trẻ em phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương Chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyền trẻ em; bố trí và vận động nguồn lực bảo đảm thực hiện quyền của trẻ em và bảo vệ trẻ em theo quy định; tổ chức, quản lý hoạt động của cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em theo thẩm quyền; bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em

ở địa phương Hằng năm, báo cáo Hội Đồng nhân dân cùng cấp việc thực hiện quyền trẻ em, giải quyết các vấn đề về trẻ em của địa phương Đối với UBND cấp

xã giao nhiệm vụ cụ thể về thực hiện quyền của trẻ em, bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em trong số các công chức cấp xã hoặc người hoạt động không chuyên trách thuộc quyền quản lý

- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệmgiám sát, phản biện, tham vấn, kiến nghị đối với cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, phân bổ nguồn lực đáp ứng quyền của trẻ em theo quy định của pháp luật Tuyên truyền, vận động thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức và toàn xã hội hỗ trợ, tham gia thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch, dịch vụ đáp ứng quyền của trẻ em, phòng ngừa hành vi vi phạm quyền của trẻ em Thực hiện chương trình, kế hoạch, dịch vụ đáp ứng quyền trẻ em theo sự ủy quyền, hỗ trợ của Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; chấp hành việc thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật Riêng Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ngoài việc thực hiện quy định trên, có trách nhiệm sau đây: Chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em; đề xuất với Chính phủ các Điều kiện bảo đảm thực hiện trách nhiệm đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em và giám sát việc thực hiện quyền trẻ em theo ý kiến, nguyện vọng của trẻ em; phối hợp với Bộ LĐTB&XH, cơ quan, tổ chức có liên quan, UBND cấp tỉnh hướng dẫn bảo đảm sự tham gia của trẻ em vào các vấn đề về trẻ em Trung ương Hội LHPN Việt Nam ngoài việc thực hiện quy định nêu trên, có trách nhiệm phối hợp với tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em thực hiện giám sát việc bảo đảm quyền, lợi ích của trẻ em

- Các tổ chức xã hội vận động thành viên của tổ chức và xã hội hỗ trợ, tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch, dịch vụ đáp

Trang 30

ứng quyền của trẻ em, phòng ngừa hành vi vi phạm quyền của trẻ em Thực hiện chính sách, pháp luật, đáp ứng quyền của trẻ em theo tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức được pháp luật quy định; tiếp nhận, thu thập thông tin từ thành viên và xã hội để phản ánh, kiến nghị, tư vấn cho cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, cá nhân về việc thực hiện chính sách, pháp luật Tổ chức việc cung cấp dịch vụ đáp ứng quyền của trẻ em theo sự ủy quyền, hỗ trợ của Chính phủ, các cấp chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước; chấp hành việc thanh tra, kiểm tra quá trình thực hiện theo quy định của pháp luật Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam còn có trách nhiệm tổ chức việc kết nối, thu thập thông tin, kiến nghị của các tổ chức xã hội và của trẻ em chuyển đến các cơ quan nhà nước để góp ý, tư vấn cho việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về quyền trẻ em; tham gia giám sát thực hiện quyền trẻ em; phát biểu chính kiến và kiến nghị của Hội đối với các cơ quan nhà nước có liên quan về các vấn đề về trẻ em và việc vi phạm pháp luật về trẻ em

- Tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em: Thủ tướng Chính phủ thành lập tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, Điều hòa giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; phối hợp giữa Chính phủ với các cơ quan của Quốc hội, TAND tối cao, Viện KSND tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; phối hợp giữa các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề về trẻ em, thực hiện quyền của trẻ em Căn cứ yêu cầu thực tế và điều kiện của địa phương, Chủ tịch UBND các cấp thành lập tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em để giúp UBND, Chủ tịch UBND cùng cấp phối hợp, đôn đốc, điều hòa việc giải quyết các vấn đề trẻ em, thực hiện quyền của trẻ em ở địa phương

- Vận động thành viên của tổ chức và xã hội hỗ trợ, tham gia xây dựng, thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch, dịch vụ đáp ứng quyền của trẻ

em, phòng ngừa hành vi vi phạm quyền của trẻ em; tiếp nhận, thu thập thông tin từ thành viên và xã hội để phản ánh, kiến nghị, tư vấn cho cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, cá nhân về việc thực hiện chính sách, pháp luật; tổ chức việc cung cấp dịch vụ đáp ứng quyền của trẻ em theo sự ủy quyền, hỗ trợ của Chính phủ, các cấp chính quyền, cơ quan quản lý nhà nước; chấp hành việc thanh tra, kiểm tra quá trình thực

Trang 31

hiện theo quy định của pháp luật Trong đó, Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam còn

có trách nhiệm tổ chức việc kết nối, thu thập thông tin, kiến nghị của các tổ chức xã hội và của trẻ em chuyển đến các cơ quan nhà nước để góp ý, tư vấn cho việc xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật về quyền trẻ em; tham gia giám sát thực hiện quyền trẻ em; phát biểu chính kiến và kiến nghị của Hội đối với các cơ quan nhà nước có liên quan về các vấn đề về trẻ em và việc vi phạm pháp luật về trẻ em

- Quỹ Bảo trợ trẻ em thực hiện vận động sự đóng góp tự nguyện của cơ quan,

tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài, viện trợ quốc tế và hỗ trợ của ngân sách nhà nước trong trường hợp cần thiết để thực hiện các mục tiêu về trẻ em được Nhà nước ưu tiên Việc vận động, quản lý và sử dụng Quỹ Bảo trợ trẻ em đúng mục đích và quy định của pháp luật

Về trách nhiệm của gia đình, cá nhân và cơ sở giáo dục bảo đảm cho trẻ được sống với cha, mẹ; chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục trẻ;bảo đảm quyền học tập, phát triển năng khiếu, vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch của trẻ em; bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, bí mật đời sống riêng tư của trẻ em; bảo đảm quyền dân sự của trẻ em; quản lý trẻ em và giáo dục để trẻ em thực hiện được quyền và bổn phận của trẻ em

1.3.3 Các chế tài hình sự xử lý đối với các hành vi bạo lực và xâm hại trẻ

em theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Một nguyên nhân gây nên tình trạng xâm hại trẻ em là việc thiếu quy định

chặt chẽ trong luật, chế tài xử phạt tuy có nhưng “nhiều khi không tương xứng với

hành vi bạo lực cần xử lý” Có thể thấy qua việc pháp luật chưa bắt buộc những

người phát hiện, nghi ngờ trẻ em bị bạo lực, xâm hại phải khai báo, trừ phi các hành

vi đó có yếu tố hình sự, chưa quy định về việc bảo vệ trẻ em là nạn nhân, nhân chứng hay thủ phạm; quy trình, trách nhiệm thẩm quyền đánh giá nguy cơ và quản

lý trường hợp trẻ em bị bạo lực, xâm hại, cũng như những tiêu chuẩn cụ thể về đánh giá mức độ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em của các hành vi bạo lực, xâm hại để từ

đó có kế hoạch và hạn chế tối đa những tổn hại có thể gây ra cho trẻ em

Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 dành các điều Luật và quy định khung hình phạt đối với các hành vi bạo

lực, xâm hại và phạm tội với trẻ em như điểm b, khoản 2, Điều 127 “Tội làm chết

Trang 32

trong khi thi hành công vụ”; điểm b, khoản 2, Điều 130 “Tội bức tử”; điểm d,

khoản 2, Điều 133 “Tội đe dọa giết người”; điểm e, Điều 134 “Tội cố ý gây thương

tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác”; điểm c, khoản 2, Điều 137 “Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong thi hành công vụ”; Điều 142 “Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; Điều 143 “Tội cưỡng dâm”;

Điều 144 “Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; Điều 145 “Tội

giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; Điều 146 “Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”; Điều 147 “Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm”; Điều 184 “Tội loạn luân”; Điều

186 “Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng”… khung hình phạt đối với các tội này rất nghiêm khắc

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

1.4.1 Hệ thống luật pháp

Những khoảng trống trong hệ thống pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em và

sự hạn chế cả về năng lực, số lượng lẫn quyền hạn pháp lý của hệ thống cán bộ và mạng lưới cộng tác viên làm công tác bảo vệ mỏng, thiếu đồng bộ, chủ yếu là cán

bộ không chuyên trách làm công tác chăm sóc trẻ em ở cơ sở cũng là những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ trẻ em bị XHTD gia tăng [54] Trong khi đó, việc tiếp nhận,

xử lý thông tin, thông báo tố giác hành vi xâm hại trẻ em và phối hợp xác minh, điều tra về hành vi xâm hại trẻ em còn thiếu chặt chẽ Quy định về việc tách trẻ em

ra khỏi cha mẹ, người chăm sóc trong trường hợp chính là cha mẹ, người chăm sóc

có hành vi XHTD đối với trẻ em chưa có…

Bên cạnh đó, chế tài xử lý hành vi XHTD trẻ em quy định rất cụ thể trong Bộ Luật Hình sự năm 1999 và Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, trong đó có quy định cụ thể về các tội XHTD với người chưa thành niên với các nhóm độ tuổi cụ thể (từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, từ

13 tuổi đến dưới 16 tuổi, dưới 13 tuổi) gồm: tội hiếp dâm, tội cưỡng bức, tội dâm ô, tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi XHTD khác, tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm… Đây là các tội phạm có tính nguy hiểm trong xã hội, xâm

Trang 33

phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của các em (không phân biệt nam hay nữ), khung hình phạt đối với tội này rất nghiêm khắc

Tóm lại, yếu tố chính sách pháp luật đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạch định, xây dựng các chương trình, kế hoạch liên quan đến công tác quản lý, chế tài xử lý và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các em

1.4.2 Nhận thức và triển khai thực hiện của chính quyền địa phương

Môi trường là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách Nếu môi trường tốt thì chính sách tốt, chính sách sẽ dễ dàng thực hiện và ngược lại nếu môi trường không thuận lợi thì việc thực hiện chính sách gặp nhiều khó khăn, không hiệu quả

Yếu tố quan trọng trong hoạch định, xây dựng chính sách xác định mục tiêu, nhiệm vụ và thể chế phòng, chống XHTD trẻ em Đây là yếu tố có tác động trực tiếp đến cách giải quyết vấn đề bằng chính sách và gắn liền với mỗi vấn đề chính sách, tổ chức thực thi chính sách Vấn đề của chính sách phòng, chống XHTD trẻ

em là vấn đề bức xúc hiện nay được nhà nước và xã hội quan tâm, giải quyết theo mục tiêu đã định hướng Tính chất của vấn đề chính là yếu tố khách quan có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức thực thi chính sách nhanh hay chậm, thuận lợi hay khó khăn

Sự tham gia phối hợp giữa các đối tượng thực hiện chính sách và đối tượng thụ hưởng chính sách là một trong những tác nhân gây ảnh hưởng đến chính sách tuy nhiên rất ít địa phương quan tâm, chú trọng; lợi ích của các đối tượng trong quá trình thực hiện mục tiêu chính sách phải đồng nhất với nhau Nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách mâu thuẫn với lợi ích của đối tượng thụ hưởng thì thực hiện chính sách sẽ khó khăn, thậm chí còn thất bại và ngược lại nếu lợi ích của các đối tượng tham gia thực hiện chính sách đồng nhất với đối tượng thụ hưởng thì chính sách sẽ được thực hiện dễ dàng hơn Nhìn chung mối quan hệ giữa các đối tượng thực thi chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nước ta cơ bản là đồng thuận

Để các hoạt động liên quan đến việc thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em có hiệu quả thì nhà nước phải chú trọng đầu tư nguồn lực vật chất cả

về số lượng và chất lượng; chế độ tiền lương, các ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp thực hiện chính sách Những điều kiện về vật chất có ảnh hưởng

Trang 34

rất lớn đến hiệu quả thực hiện chính sách, nó giúp cho thực hiện chính sách được thuận tiện nhanh chóng, giúp cho các nhà nghiên cứu có thể triển khai những ý tưởng sáng tạo của mình thành hiện thực, giúp cho đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách yên tâm làm việc, tâm huyết với nhiệm vụ được giao góp phần đạt được mục tiêu đã đề ra của chính sách

1.4.3 Đặc điểm gia đình

Trong khi các vụ XHTD có chiều hướng gia tăng, khiến dư luận lo lắng cho con em thì nhiều đối tượng gây ra lại là những người thân quen với trẻ [25] Điều này cũng chính là vấn đề các bậc cha mẹ quan tâm và lo lắng nhiều nhất Vậy, câu hỏi đặt ra là cha mẹ làm sao có thể yên tâm khi không phải lúc nào cũng ở bên trẻ

em cả ngày? Câu trả lời đó là dạy kỹ năng cho trẻ Các kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng xử lý khi có kẻ dụ dỗ, ép buộc trẻ em làm đều trẻ em không thích; kỹ năng tìm người giúp đỡ; kỹ năng từ chối, nói không… Nhưng thực tế các kỹ năng này còn chưa được nhiều cha mẹ quan tâm chủ động dạy con kỹ năng tự bảo vệ, thậm chí vì

e ngại ảnh hưởng đến tương lai của con em mình nên cũng không tố giác kẻ phạm tội; việc cha mẹ sao nhãng, bỏ mặc con cái ở một số gia đình cũng là mầm mống nảy sinh các hành vi XHTD đối với trẻ em Ngoài ra, một thực trạng là bản thân các bậc cha mẹ cũng chưa hiểu hết về hành vi xâm hại và càng chưa nhận biết được nguy cơ con mình sẽ bị xâm hại [57] Nhiều bậc cha mẹ cũng như người thân trong gia đình trẻ thiếu hụt kiến thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lý ở từng lứa tuổi của trẻ em, không biết cách trò chuyện, hướng dẫn trẻ về cơ thể, các nguy cơ và kỹ năng tự bảo vệ mình Cha mẹ giao trẻ cho người khác chăm sóc mà hoàn toàn không có sự giám sát, nghi ngờ, không có ý thức về bảo vệ trẻ em khỏi bị XHTD [28]

Một số gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; cha mẹ ly hôn, ly thân; cha

mẹ mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật… cũng là nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em bỏ học, lang thang kiếm sống và bị bạo lực, XHTD Một bộ phận gia đình mải mê kiếm sống làm giàu đã bỏ mặc cho con cái đi lang thang, trẻ em không có người bảo vệ nên đã bị các đối tượng xấu XHTD [28] Chưa kể, sự xuất hiện của các ấn phẩm, trò chơi, thông tin trên mạng internet, phim ảnh ngoài luồng có tính chất bạo lực, khiêu dâm cũng góp phần dẫn đến nguy cơ trẻ em bị XHTD

1.4.4 Đặc điểm trẻ em

Trang 35

Với lứa tuổi của các em còn nhỏ nên việc thiếu nhận thức về các vấn đề và các mối nguy hiểm từ việc xâm hại, lạm dụng tình dục Đa phần khi sự việc xảy ra rồi, khi các em có dấu hiệu khủng hoảng về tâm lý thì người lớn mới phát hiện Hơn nữa, các em khi bị XHTD đa phần đều có tâm lý sợ hãi, mặc cảm, tự ti nên không dám chia sẻ, không dám tố giác kẻ phạm tội Trong khi đó, cha mẹ ít chủ động dạy con kỹ năng tự bảo vệ và đôi khi e ngại ảnh hưởng đến tương lai của con em mình nên cũng không tố giác kẻ phạm tội [55]

Một yếu tố chủ quan mà trẻ em vô ý tạo nên những kẻ hở của sự quá hớ hênh như mặc đồ quá mát mẻ so với độ tuổi của trẻ, hay có những tư thế ngồi hay đi thiếu

ý tứ Chính điều đó, khi tình huống xâm hại tình dục xảy ra với các em, các em chưa nhận thức mức độ nghiêm trọng, thậm chí khi bị đe dọa các em chỉ biết một mình xử lý và sợ hãi

1.4.5 Trình độ, kỹ năng của người thực hiện công tác phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em

Đội ngũ cán bộ làm công tác trẻ em có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em Năng lực thực thi của cán bộ là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, thiết kế tổ chức, phân tích, dự báo… để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh Với chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em thì năng lực thực hiện chính sách của cán bộ là kiến thức, kỹ năng và tinh thần trách nhiệm của họ trong thực hiện nhiệm vụ Một chính sách thực hiện có hiệu quả, đòi hỏi đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách phải nắm vững kiến thức chuyên môn, am hiểu mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng, quy mô, tầm quan trọng của chính sách đồng thời phải có kỹ năng thực tế, phổ biến tuyên truyền chính sách, có tinh thần, thái độ trách nhiệm trong thực hiện chính sách

Trang 36

Tiểu kết chương

Thông qua chương 1, luận văn đã làm rõ được các khái niệm như: khái niệm

về trẻ em là người dưới 16 tuổi, khái niệm XHTD là dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo,

dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức Trong đó, lý luận về công tác phòng, chống XHTD trẻ em được hiểu là trang bị những kiến thức, kỹ năng, những hiểu biết về cơ thể mình về bảo vệ bản thân trước những nguy cơ khi người khác có ý đồ xấu đồng thời nâng cao năng lực xử lý các tình huống nguy cơ có thể xảy ra với các em

Chương này nêu lên những vấn đề lý luận về nguyên nhân, hậu quả và các vấn đề gặp phải của trẻ là nạn nhân của XHTD Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống XHTD trẻ em đó là: Hệ thống luật pháp; nhận thức và triển khai thực hiện của chính quyền địa phương; đặc điểm từ gia đình; đặc điểm từ trẻ

Chương 1 đã xác định sự cần thiết về thực hiện chính sách phòng, chống XHTD trẻ em thông qua các hoạt động như: hoạt động truyền thông trong phòng, chống XHTD trẻ em; hoạt động giáo dục trong phòng, chống XHTD trẻ em; hoạt động phát triển kỹ năng trong phòng, chống XHTD trẻ em; hoạt động tư vấn trong phòng, chống XHTD trẻ em

Những căn cứ pháp lý hỗ trợ trong thực hiện phòng, chống XHTD trẻ em cũng đã được trình bày: Quyền trẻ em theo quy định của pháp luật quốc tế; một số quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật của Việt Nam hiện hành; các chế tài hình sự

xử lý đối với các hành vi bạo lực và xâm hại trẻ em theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG

2.1 Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang

An Giang hiện có 1.908.601 người (năm 2019) là một tỉnh thuộc vùng đồng

giác Long Xuyên, phía tây bắc có chung đường biên giới giáp với tỉnh Kandal và tỉnh TaKeo của Vương quốc Campuchia (104 km), phía tây nam giáp tỉnh Kiên Giang (69km), phía nam giáp thành phố Cần Thơ (44km), phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp (107km) [62]

Nhiều năm qua, tỉnh luôn quyết tâm triển khai thực hiện hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu quả quản lý của chính quyền, phát huy dân chủ, kỷ cương, khai thác mạnh mẽ lợi thế trong liên kết vùng và lợi thế so sánh của địa phương, huy động nguồn lực xã hội và tranh thủ ngoại lực tập trung phát triển nông nghiệp theo chiều sâu tạo nền tảng phát triển thương mại, dịch vụ,

du lịch và công nghiệp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân Đồng thời, đẩy mạnh thực hiện nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, xây dựng nông thôn mới; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, công tác bình đẳng giới và các quyền trẻ em

2.1.2 Khái quát về tình hình trẻ em

Toàn tỉnh có 463.747 trẻ em, chiếm 24,3% tổng dân số (năm 2019) Số trẻ

em đang học mầm non, mẫu giáo và các cấp học phổ thông là 423.677, chiếm tỉ lệ 91,35% tổng số trẻ em Số trẻ em không được đến trường, phải tham gia lao động trái pháp luật là 03, chiếm tỉ lệ 0,065% tổng số trẻ em Số trẻ em bỏ nhà đi lang thang, không có nơi cư trú ổn định là 41, chiếm tỉ lệ 0,0088% tổng số trẻ em Số trẻ

em có cha, mẹ ly hôn là 889, chiếm tỉ lệ 0,19% tổng số trẻ em Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 4567, chiếm tỉ lệ 0,98% tổng số trẻ em Số trẻ em dưới 6 tuổi đã được cấp 231.340 thẻ bảo hiểm y tế, chiếm tỉ lệ 49,88% tổng số trẻ em [62]

Trang 38

Tổng số trẻ em bị xâm hại 198, trong đó 191 trẻ em nữ, 07 trẻ em nam Với các hình thức xâm hại: bạo lực 01, xâm hại tình dục 147, mua bán 01, các hình thức gây tổn hại khác 49, so với 5 năm trước đã giảm đáng kể, nhất là hành vi mua bán trẻ em [62]

2.2 Tình hình thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại tình dục trẻ

em trên địa bàn tỉnh An Giang

2.2.1 Bộ máy quản lý phụ trách triển khai thực hiện chính sách phòng, chống xâm hại trẻ em

Tỉnh An Giang đã thành lập Ban Điều hành Hệ thống Bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng và Nhóm công tác Bảo vệ trẻ em (Quyết định số 1985/QĐ-UBND ngày 22/9/2015 của UBND tỉnh kiện toàn Ban Điều hành Hệ thống Bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng và Nhóm công tác Bảo vệ trẻ em tỉnh An Giang) gồm 20 thành viên,

do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban Thành phần Ban điều hành:

Sở LĐTB&XH, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo,

Sở Y tế, Sở Tư pháp, Công an tỉnh, Tỉnh Đoàn, Hội LHPN tỉnh, Ban Bảo vệ, chăm trẻ em của Sở LĐTB&XH có nhiệm vụ triển khai thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch, dự án của tỉnh liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Sở LĐTB&XH là cơ quan tham mưu giúp UBND tỉnh thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em; đã bố trí 05 công chức tham mưu thực hiện Có Trung tâm công tác

xã hội tỉnh thực hiện chức năng cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, đảm bảo các yếu tố

về năng lực cán bộ, cơ sở vật chất phù hợp đã góp phần rất lớn trong việc trợ giúp trẻ em bị xâm hại

Tại 11/11 huyện, thị, thành phố có 11 chuyên viên phụ trách đều kiêm nhiệm Tại 156/156 xã, phường, thị trấn có 180 cán bộ không chuyên trách làm công tác xóa đói giảm nghèo – gia đình và trẻ em

2.2.2 Định hướng chỉ đạo, xây dựng chính sách bảo vệ, chăm sóc trẻ em, pḥng, chống xâm hại trẻ em

Thời gian qua, công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em cũng như phòng, chống xâm hại trẻ em tỉnh An Giang luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền và cộng đồng xã hội quan tâm, là một trong những mục tiêu xuyên suốt trong tiến trình phát triển

Trang 39

kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng thời, Tỉnh ủy, HĐND, UBND cũng đã ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, Chýõng trình, các dự án, xây dựng tổ chức bộ máy, bố trí và đào tạo cán bộ quản lý, xây dựng và phát triển các tổ chức, cung cấp dịch vụ liên quan nhằm mục tiêu BVCS&GD trẻ em

Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số 14-CT/TU, ngày 29/5/2012 về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng cơ sở đối với công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em; đồng thời thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TƯ, ngày 05/11/2013 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục

và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, Quyết định số 2361/QĐ-TTg, ngày 22/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016 -2020 và Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017 về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em

Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 12 văn bản quản lý, điều hành, chỉ đạo tổ chức thực hiện về các chính sách trong công tác phòng, chống xâm hại trẻ em khá kịp thời, cụ thể hóa các chính sách của trung ương quy định, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong từng giai đoạn: Công văn số 1161/UBND-KGVX ngày 16/8/2016

về việc định mức kinh phí hỗ trợ đối với trẻ em bị xâm hại; Kế hoạch số UBND ngày 24/5/2016 về phê duyệt Chương trình thúc đẩy quyền tham gia của trẻ

247/KH-em vào các vấn đề trẻ 247/KH-em trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2016-2020; Kế hoạch số 257/KH-UBND ngày 11/5/2017 thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ

em bị bạo lực, bị xâm hại tình dục giai đoạn 2017-2020; Công văn số KGVX ngày 07/12/2017 về tăng cường phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em trên địa bàn tỉnh; Công văn số 557/UBND-KGVX ngày 29/5/2018 về việc tăng cường các biện pháp bảo vệ trẻ em; Công văn số 1396/UBND-NC ngày 24/12/2018 về việc tăng cường phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em; Kế hoạch số 475/KH-UBND ngày 16/8/2017 và Kế hoạch số 536/KH-UBND ngày 10/7/2018 về việc kiểm tra thực hiện quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh An Giang năm 2017, 2018; Kế hoạch số 756/KH-UBND, ngày 16/11/2018 về thực hiện Dự án 4 “Đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phòng, chống bạo lực gia đình, mua bán người” tỉnh An Giang giai đoạn 2018-2020; Quyết định số 2977/QĐ-UBND ngày 26/11/2018 về thành lập Ban chủ hiệm

Trang 40

2127/UBND-Dự án 4 tình và Kế hoạch số 756/KH-UBND, ngày 26/11/2018 về thực hiện 2127/UBND-Dự án 4; Quyết định số 1985/QĐ-UBND, ngày 22/9/2015 về kiện toàn Ban Điều hành hệ thống bảo vệ trẻ em dựa vào cộng đồng và nhóm công tác bảo vệ trẻ em; Quyết

định số 605/QĐ-UBND, ngày 27/3/2018 về triển khai thí điểm Mô hình “Địa chỉ

tin cậy – Nhà tạm lánh tại cộng đồng” giai đoạn 2018-2020

Trong đó, nổi bật là việc UBND tỉnh ban hành Quyết định số

2977/QĐ-UBND, ngày 26/11/2018 về thành lập Ban Chủ nhiệm Dự án “Đấu tranh phòng,

chống tội phạm xâm hại trẻ em và người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phòng, chống bạo lực gia đình, mua bán người” giai đoạn 2018 – 2020 (gọi tắt là

Dự án 4) và Kế hoạch số 756/KH-UBND, ngày 26/11/2018 về thực hiện Dự án 4 giao cho ngành Công an là đơn vị chủ trì

Đặc biệt 07 sở, ngành: Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) tỉnh, Công an tỉnh, Viện Kiểmsát Nhân dân (KSND) tỉnh, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh, Sở Tư pháp,

Sở Y tế, Sở Giáo dục-Đào tạo, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH)

đã xây dựng, ký kết Chương trình phối hợp số TAND-STP-SYT-SGD&ĐT-SLĐTB&XH,ngày 30/5/2019 về công tác bảo vệ an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái, giai đoạn 2019 – 2021 với mục tiêu phát huy vai trò, trách nhiệm và tăng cường sự phối hợp trong đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật về quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái Trong giai đoạn 2019 - 2021, các cơ quan, tổ chức trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình phối hợp thực hiện có hiệu quả các nội dung: phối hợp xử lý tố giác tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố trong đầu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật về quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái; phối hợp tổ chức các hoạt động truyền thoông đối với các vụ viêc nghiêm trọng liên quan đến phụ nữ, trẻ em gái gây bức xúc trong dư luận tổ chức hội thảo, tọa đàm, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn triển khai hoạt động; nhân rộng mô hình hiệu quả, cách làm hay trong công tác bảo vệ an toàn cho phụ nữ và trẻ em gái Các bên phối hợp nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ liên quan đến bảo vệ phụ nữ và trẻ em gái thông qua bồi dưỡng tập huấn kiến thức, kỹ năng cần thiết cho cán bộ Hội LHPN các cấp và cán bộ công chức các ngành; phối hợp biên soạn, xây dựng tài liệu tuyên truyền liên quan công

Ngày đăng: 24/06/2021, 11:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w