1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và bài học kinh nghiệm trong sử dụng công cụ phái sinh để phòng tránh rủi ro của các doanh nghiệp ngành công nghiệp khai khoáng tại Việt Nam

12 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 562,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu này đưa ra tổng quan lý thuyết về công cụ phái sinh, thực trạng sử dụng công cụ phái sinh để phòng tránh rủi ro của các doanh nghiệp khai khoáng Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020. Từ bài học kinh nghiệm của các nước Mỹ, Singapore và Malaysia trong việc sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị để khuyến khích sự phát triển của thị trường.

Trang 1

THỰC TRẠNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

TRONG SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHÁI SINH

ĐỂ PHÒNG TRÁNH RỦI RO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH CÔNG NGHIỆP KHAI KHOÁNG TẠI VIỆT NAM

ThS Ngô Thanh Xuân*, Phí Kiều Trang** Dương Thu Thủy*, Lại Đỗ Phương Anh* Tóm tắt

Năm 2008, Shamsher và Taufiq (2008) từng đề cập rằng, châu Á có 19 thị trường phái sinh

mặc dù vẫn còn ở giai đoạn sơ khai Trong khi đó, mãi đến năm 2010, Việt Nam mới có sàn giao dịch và 7 năm sau, thị trường chứng khoán phái sinh của Việt Nam mới chính thức đi vào hoạt động Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam luôn phải chịu sức ép từ nhiều loại rủi ro, đặc biệt

là các doanh nghiệp trong ngành Công nghiệp khai khoáng Dù bắt đầu muộn nhưng thông qua Nghị định số 158/2020/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 31/12/2020 về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh, có thể nói rằng, Việt Nam đang là một thị trường phái sinh đầy tiềm năng và thu hút sự quan tâm đặc biệt từ Chính phủ, doanh nghiệp và các nhà đầu

tư nước ngoài Vì vậy, bài nghiên cứu này đưa ra tổng quan lý thuyết về công cụ phái sinh, thực trạng sử dụng công cụ phái sinh để phòng tránh rủi ro của các doanh nghiệp khai khoáng Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 Từ bài học kinh nghiệm của các nước Mỹ, Singapore và Malaysia trong việc sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị để khuyến khích sự phát triển của thị trường

Từ khóa: Công cụ phái sinh, doanh nghiệp khai khoáng, phòng tránh rủi ro, COVID-19

I GIỚI THIỆU CHUNG

Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam có những bước tiến mạnh mẽ, quản trị rủi ro đã trở thành một trong những nghiệp vụ không thể thiếu đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp khai khoáng (Phuong Tam, 2014) Khoáng sản là một trong những nguồn lực quan trọng để thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Dưới áp lực của đại dịch COVID-19, một cơn bão càn quét

58.

* Viện Ngân hàng - Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

** Viện Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 2

khắp các châu lục, ngành Công nghiệp khai khoáng phải chịu sức ép từ nhiều loại hình rủi ro đến

từ các biến số kinh tế vĩ mô như: tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, kim ngạch xuất - nhập khẩu,

tỷ giá hối đoái, lãi suất,… Chính vì vậy, các doanh nghiệp nên có sẵn “kịch bản” để có thể xử lý linh hoạt những biến động tiêu cực đến từ hoạt động ngoại thương với các quốc gia hoặc tổ chức kinh tế thế giới

Sau 20 năm thành lập và phát triển, thị trường tài chính Việt Nam đã có nhiều đổi mới, và một trong những thành tựu đáng kể đến đó là sự ra đời của thị trường chứng khoán phái sinh - một trong những công cụ tài chính cao cấp đại điện cho sự phát triển đến độ phức tạp của thị trường tài chính Việt Nam (Huyền Thu, 2020) Lượng người sử dụng ngày càng gia tăng cũng như sự xuất hiện ngày một đa dạng của các sản phẩm phái sinh chứng tỏ rằng, thị trường phái sinh đang dần được công chúng cũng như các nhà đầu tư đón nhận và sử dụng rộng khắp Với vấn đề quản trị rủi ro của doanh nghiệp, sự phát triển kinh tế trong và ngoài nước đã vô hình tạo ra sức cầu cấp thiết đối với ngành khoáng sản, đồng nghĩa với việc giá bán của nhiều loại khoáng sản sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào mặt bằng thế giới Đối với nguyên liệu đầu vào, giá của hầu hết các mặt hàng như xăng dầu, điện nước, hóa chất, thuốc nổ, nhân công,… đều biến động lên xuống thất thường khiến cho doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn Trước những thách thức đó, việc sử dụng những biện pháp phòng ngừa, mà cụ thể ở đây là các công cụ phái sinh (CCPS) là vô cùng quan trọng, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Do đó, cần có những nghiên cứu về đề tài quản trị rủi ro thông qua việc sử dụng CCPS nhằm giải quyết những vấn đề mang tính thời sự, những nút thắt trong lý thuyết cần có những yếu tố đánh giá phù hợp với Việt Nam

2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1 Về định nghĩa

Cho đến nay, CCPS được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Tại Mỹ, phái sinh được hiểu

là một loại công cụ tài chính chuyển đổi rủi ro giữa hai đối tượng và có giá trị được xác định dựa

trên những thứ khác, chẳng hạn như tài sản cơ bản hay lãi suất (Heckinger, 2013) Tại Việt Nam,

trong khoản 23 Điều 4 Luật số 47/2010/QH12 - Các tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010, thuật ngữ “sản phẩm phái sinh” được quy định là công cụ tài chính được định giá theo biến động dự kiến về giá trị của một tài sản tài chính gốc như tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ hoặc tài sản tài chính khác Trong thực tế, theo nhận định của Rubinstein (1999) và Hull (2012), lại được coi là một loại hợp đồng giữa hai bên xác định với các điều kiện (đặc biệt là ngày tháng, giá trị kết quả và các định nghĩa của các biến cơ sở, nghĩa vụ hợp đồng của các bên, và số tiền danh nghĩa) Tại bài nghiên cứu này, CCPS sẽ được quy định là các công cụ tài chính có hiệu suất

từ hoạt động của một tài sản cơ bản, chứng khoán hoặc chỉ số chẳng hạn như hợp đồng giữa hai bên, quyền chọn mua cổ phiếu,…

2.2 Về phân loại

CCPS có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau nhưng phổ biến nhất là dựa trên sản phẩm hợp đồng Cụ thể, Heckinger (2013) chia phái sinh làm hai loại: công cụ “khóa cứng”

(forward-based instruments) và công cụ “tùy chọn” (options) tương đương với bốn loại hợp

đồng riêng biệt (1) Hợp đồng kỳ hạn (forwards) là thỏa thuận giữa hai bên, trong đó một bên

Trang 3

đồng ý mua từ người bán một tài sản cơ bản trong tương lai với mức giá được xác định tại thời

điểm bắt đầu hợp đồng (Bessembinder, 1991) (2) Hợp đồng tương lai (futures) gần giống như

hợp đồng kỳ hạn nhưng lại được chuẩn hóa, niêm yết và giao dịch trên thị trường tập trung

như sàn giao dịch chứng khoán (Stosic-Mihajlovic, 2016) (3) Hợp đồng hoán đổi (swaps) là

thỏa thuận giữa hai bên trao đổi dòng tiền hay còn được hiểu là một danh mục các hợp đồng kỳ

hạn với những ngày đáo hạn khác nhau (Võ Thị Thúy Anh, 2009) (4) Hợp đồng quyền chọn

(options) là loại hợp đồng đảm bảo cho chủ sở hữu quyền nhưng không bắt buộc mua hoặc

bán tài sản cơ sở tại một mức giá xác định, tại hoặc trước một thời điểm xác định trong tương lai (Stosic-Mihajlovic, 2016)

Theo nghĩa rộng, hợp đồng phái sinh còn được phân thành hai nhóm bao gồm phái sinh giao dịch ngoài sàn (OTC1) và phái sinh trao đổi qua sàn giao dịch (ETD2) (Nanumyan và cộng sự, 2015; Gupta, 2017) Phái sinh giao dịch ngoài sàn được tạo ra và được thương lượng bởi một thỏa thuận giữa hai đối tác riêng lẻ Mặt khác, phái sinh trao đổi qua sàn giao dịch được tiêu chuẩn hóa hoàn toàn và các điều khoản hợp đồng được thiết kế bởi các sàn giao dịch phái sinh Đáng lưu ý, phái sinh ngoài sàn khác với phái sinh qua sàn như sau (Heckinger, 2013): (i) trong giao dịch phái sinh OTC, các bên ký kết có thể tự do thương lượng các điều khoản phù hợp với nhu cầu rủi ro cá nhân; (ii) thay vì thực hiện các giao dịch thông qua một sàn giao dịch, các bên

ký kết thực hiện các giao dịch với các đại lý (dealers); (iii) các bên tham gia hợp đồng gặp gỡ

và giao dịch trực tiếp

2.3 Về vai trò

Phái sinh là một công cụ đa năng nhưng nổi bật nhất vẫn là vai trò nghiệp vụ đảm bảo hay còn được biết đến với thuật ngữ “hedging” Nghiệp vụ đảm bảo về bản chất là một chiến lược tài chính nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro liên quan đến chứng khoán qua việc sử dụng nhiều loại công

cụ tài chính khác nhau, từ cổ phiếu, bảo hiểm, các hợp đồng phái sinh mà vẫn đảm bảo được lợi nhuận (Gençay và Min Qi, 2001) Nói cách khác, khi một công ty mua một sản phẩm phái sinh như một phần của chiến lược quản trị rủi ro thì rủi ro sẽ không được loại bỏ mà thay vào đó, rủi

ro được di chuyển từ những người không muốn nắm giữ sang những người sẵn sàng chấp nhận rủi ro (Hodgkins, 2014) Công cụ phòng ngừa rủi ro này được sử dụng bởi cả các công ty phi tài chính và các công ty tài chính Các ngân hàng đầu tư, quỹ tương hỗ và các tổ chức tài chính khác đặc biệt là ngân hàng cũng thường sử dụng các CCPS như một biện pháp phòng hộ (Sill, 1997)

Ngoài ra, đầu cơ (speculation) và kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) cũng được coi là

một trong những chức năng mà CCPS mang lại Mặc dù hai nghiệp vụ đều kinh doanh dựa trên chệnh lệch giá nhưng lại có sự khác nhau rõ rệt về tính chất Cụ thể, kinh doanh chênh lệch giá

là nghiệp vụ mà nhà đầu tư không cần phải bỏ vốn và không phải chịu rủi ro về tỷ giá, còn đầu

cơ phải bỏ vốn và tiềm ẩn khá nhiều rủi ro (Moosa, 2000) Từ đó, Hodgkins (2014) cho rằng, lợi

nhuận được tạo ra từ kinh doanh chênh lệch giá thường rất nhỏ Mặc khác, theo Chernenko và

Faulkender (2011), đầu cơ và nghiệp vụ đảm bảo chính là động cơ tác động đến quyết định sử dụng CCPS tại các doanh nghiệp phi tài chính

1 Over the counter

2 Exchange-traded derivatives

Trang 4

3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KHAI KHOÁNG TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 3.1 Thực trạng về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành Công nghiệp khai khoáng giai đoạn 2015 - 2020

Kể từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng trung bình gần 7%/năm Đặc biệt trong năm 2020, GDP tăng 2,91% trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội là thành công lớn của Việt Nam Việt Nam đã và đang nổi lên như một nước xuất khẩu đang phát triển mạnh Số liệu thống kê của Tổng cục Địa chất - Khoáng sản (Ngọc Hà, 2019) đã ghi nhận, Việt Nam điều tra cơ bản, thăm

dò và phát hiện mới trên 5.000 điểm khoáng và mỏ trên cả nước Trong số đó, các loại khoáng sản được đánh giá cao về giá trị công nghiệp đều có trữ lượng đáng kể như: dầu - khí khai thác được từ 1.2 tỷ - 1.7 tỷ m3, trữ lượng than khoảng 240 tỷ tấn, sắt xấp xỉ 2 tỷ tấn, titan có 600 triệu tấn, khoáng vật nặng và quặng bauxit chiếm 10 tỷ tấn

Hình 1 Chỉ số sản xuất công nghiệp của các thành phần trong ngành khai khoáng

giai đoạn 2015 - 2019

Đơn vị: %

108

0

111.3 100.2 124.9 106

102.5

0 100 200 300 400 500 600

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên Khai thác quặng kim loại Khai thác khác

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp (2021)

Từ Hình 1 cho thấy, chỉ số sản xuất công nghiệp của toàn bộ ngành khai khoáng ở Việt Nam trong giai đoạn này khá ổn định Theo số liệu thống kê kinh tế 6 tháng đầu năm 2015 của Tổng cục Thống kê (Minh Anh, 2015), ngành Công nghiệp khai khoáng Việt Nam là ngành có đóng góp lớn và tăng trưởng cao, đứng ở vị trí thứ 3 trong các ngành có đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GDP và đóng góp khoảng 25% tổng ngân sách nhà nước Trong giai đoạn này, Chính phủ

đã thi hành các chính sách hạn chế xuất khẩu than để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Tuy nhiên, nguồn thu từ mặt hàng này không giảm do nhu cầu sử dụng than trong nước tăng cao và giá than trong nước cũng đã được tiệm cận với giá thị trường thế giới (Minh Anh, 2015)

Giai đoạn 2015 - 2019 chứng kiến sự tăng trưởng chỉ số sản xuất công nghiệp của toàn bộ ngành khai khoáng Việt Nam, đặc biệt là ngành khai thác quặng kim loại, sau đó là các ngành khai thác khác Ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên, khai thác than và quặng kim loại có tốc độ tăng trưởng chậm hơn nhưng đều dương

Trang 5

Năm 2020, theo số liệu từ báo cáo của Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (2020), chiến lược khoáng sản sau 6 năm thực hiện đã đạt được một số kết quả quan trọng trong công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, dự trữ khoáng sản, công tác thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; quản lý hoạt động khoáng sản Cụ thể, Việt Nam cũng đã hoàn thành lập bản đồ địa chất khoáng sản bao gồm: hoàn thành 70% bản đồ phần đất liền diện tích gần 24,000 km2 với tỷ

lệ 1:50.000; hoàn thành bản đồ vùng biển biển sâu từ 30 m - 100 m diện tích 35.000 km2 với tỷ

lệ 1:100.000; hoàn thành đánh giá tổng thể tiềm năng quặng titan sa khoáng trong tầng cát đỏ ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, quặng bauxit ở Tây Nguyên; phát hiện và đánh giá tài nguyên một số mỏ khoáng sản gồm chì - kẽm, titan, vonfram, urani, felspat - kaolin Việt Nam cũng có 48 khu vực đưa vào dự trữ khoáng sản quốc gia với tổng diện tích hơn 11,000 km2

(BBT, 2020).

3.2 Thực trạng về hoạt động đầu tư vào các công cụ phái sinh của doanh nghiệp khai khoáng Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020

Trên thế giới, thị trường phái sinh là một sân chơi lớn cho các doanh nghiệp và tổ chức tham gia, tuy nhiên, tại Việt Nam, thị trường chứng khoán phái sinh của Việt Nam chỉ mới chính thức hoạt động từ ngày 10/8/2017 Sau 3 năm hoạt động, thị trường chứng khoán phái sinh có sự tăng trưởng rất tốt, vượt các kỳ vọng đặt ra (Hải An, 2020) và ngày càng thể hiện rõ vai trò như là một công cụ phòng ngừa rủi ro, góp phần tích cực vào việc ổn định thị trường cơ sở và thu hút

sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài

Từ năm 2015 tới nửa đầu năm 2017 là khoảng thời gian chưa có thị trường chứng khoán phái sinh chính thức nên các doanh nghiệp chủ yếu thực hiện các giao dịch phái sinh ngoại hối

để phòng ngừa trong giao dịch ngoại tệ hoặc các hoạt động xuất - nhập khẩu trên một số sản phẩm như cà phê, cao su và thép Năm 2015, theo số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước (Lê Thị Thuỳ Vân, 2017), doanh thu từ các giao dịch ngoại hối phái sinh hằng ngày ở Việt Nam vào khoảng 200 - 300 USD/ngày Trong giai đoạn này, các ngân hàng thương mại cổ phần chú trọng tới lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ, trong đó có giao dịch ngoại hối phái sinh, coi đó là nguồn kiếm lời trong khi lợi nhuận từ lĩnh vực tín dụng bị thu hẹp

Năm 2017 là năm khởi đầu của thị trường chứng khoán phái sinh Trên thị trường luôn duy trì

4 mã sản phẩm theo thông lệ quốc tế Tại thời điểm cuối tháng 12/2017, có 4 mã hợp đồng được giao dịch là VN30F1801, VN30F1802, VN30F1803 và VN30F1806 đáo hạn vào tháng 1, tháng

2, tháng 3 và tháng 6/2018 (Ngọc Quỳnh, 2018) Sự ra đời của hợp đồng tương lai VN30 cũng đạt được thành quả đáng mong đợi với diễn biến biến động tích cực trong những tháng cuối năm làm cho các chỉ số tương lai ở hầu hết các kỳ hạn đều tăng (Ngọc Quỳnh, 2018)

Trang 6

Hình 2 Tổng hợp khối lượng giao dịch chứng khoán phái sinh năm 2018

Đơn vị: nghìn hợp đồng

Tháng 12 Tháng 11 Tháng 10 Tháng 9 Tháng 8 Tháng 7 Tháng 6 Tháng 5 Tháng 4 Tháng 3 Tháng 2 Tháng 1

Hợp đồng

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp (2021)

Năm 2018, khối lượng giao dịch trung bình đạt 78,791 hợp đồng/phiên, tăng gấp 7 lần so

với năm 2017 (Hình 2) Trong 12 tháng của năm 2018, chỉ có tháng 8 và tháng 9 khối lượng hợp đồng giao dịch giảm, các tháng còn lại khối lượng giao dịch trên thị trường đều tăng, trong đó tháng 7 có khối lượng giao dịch lớn nhất đạt 2,843,872 hợp đồng Tuy nhiên, hoạt động giao dịch tập trung chủ yếu ở các nhà đầu tư cá nhân trong nước, giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 0.18% khối lượng giao dịch toàn thị trường (Ngọc Trâm, 2019)

Hình 3 Tổng hợp khối lượng giao dịch và khối lượng IO năm 2019

Đơn vị: hợp đồng

0 100000 200000 300000 400000 500000 600000 700000

0 500000 1000000 1500000 2000000 2500000 3000000

Khối lượng giao dịch khối lượng IO

Nguồn: Nhóm nghiên cứu tự tổng hợp (2021)

Năm 2019, khối lượng mở OI giảm 23.98% trong cả giai đoạn 2019 và đạt 16,625 hợp

đồng vào ngày giao dịch cuối cùng của tháng 12 (Hình 3) Tuy nhiên mức OI cao nhất trong tháng 5 đạt 660,989 hợp đồng, tăng 33.6%% so với mức OI cao nhất của tháng 1 Trong khi đó, khối lượng giao dịch trong năm có nhiều biến động, trong đó đạt đỉnh điểm vào tháng tháng 1 lên đến 2,794,793 hợp đồng Tháng 9 chứng kiến sự sụt giảm nghiêm trọng xấp xỉ 61% so với

Trang 7

giá trị đầu năm Trong tháng 12/2019, thanh khoản của hợp đồng tương lai tăng 30.97% so với tháng trước, khối lượng giao dịch bình quân đạt 79,899 hợp đồng/phiên Trong đó, phiên có khối lượng giao dịch cao nhất 131,911 hợp đồng vào ngày 3/12/2019, tăng 37.2% so với mức cao nhất của tháng trước

Năm 2020, tổng hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đạt 39,914,205 hợp đồng, tăng 79.91% so với năm 2019, khối lượng giao dịch bình quân phiên đạt 158,390 hợp đồng, tăng 78.49% so với năm 2019 (Duy Thái, 2021) Năm 2020 được coi như là một năm có những sự chuyển biến đáng

kể trong cơ cấu tham gia của các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trong nước Nếu như năm 2019,

tỷ trọng tham gia của nhà đầu tư cá nhân trong nước là 92.51% và nhà đầu tư tổ chức trong nước

là 7.03% thì trong năm 2020, các tỷ lệ này lần lượt là là 85.86% và 13.29% (Duy Thái, 2021) Điều này cho thấy sự quan tâm của nhà đầu tư tổ chức trong nước đã gia tăng đối với thị trường chứng khoán phái sinh

4 BÀI HỌC KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ PHÁI SINH ĐỂ PHÒNG NGỪA RỦI RO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI MỘT SỐ QUỐC GIA

4.1 Kinh nghiệm sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp tại Mỹ

Tại Mỹ, thị trường chứng khoán phái sinh đã phát triển và có nhiều sự biến đổi trong suốt đầu thế kỷ 21 Sự gia nhập của các tổ chức tài chính lớn thông qua kỷ nguyên của những khoản thế

chấp dưới chuẩn (sub-prime mortgage), và sự phát triển của những quỹ đầu tư mạo hiểm chính là

chìa khóa cho sự chuyển đổi của các CCPS (Hodgkins, 2014) Theo Hình 4, trong số các sàn giao dịch được khảo sát, đã có sự gia tăng 9.4% về khối lượng giao dịch so với năm 2018, lập kỷ lục 32.89 tỷ hợp đồng phái sinh được giao dịch trong một năm (bao gồm 14.76 tỷ hợp đồng quyền chọn và 18.13 tỷ hợp đồng tương lai) Con số này đã tăng 61.5% trong vòng một thập kỷ, với tốc

độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 7.6%, trong đó, các quốc gia ở Mỹ tăng 1.4%

Hình 4 Tổng khối lượng giao dịch hợp đồng phái sinh giai đoạn 2010 - 2019

Đơn vị: triệu hợp đồng

Nguồn: Báo cáo về công cụ phái sinh của WFE 1 , (2019)

1 WFE: Liên đoàn các giao dịch chứng khoán thế giới

Trang 8

Một ví dụ điển hình cho việc sử dụng các CCPS để phòng tránh rủi ro tại Mỹ đó là Tập đoàn Hershey’s - nhà sản xuất bánh kẹo lớn nhất Hoa Kỳ và là công ty hàng đầu về sản xuất socola trên toàn thế giới Một trong những khoản chi tiêu lớn nhất của công ty là để mua ca cao sử dụng cho việc chế tạo sản phẩm Giá cả của ca cao khá biến động và chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khách quan như thời tiết, dịch bệnh, những thay đổi về chính sách,… Vì lý do đó, công ty đã bắt đầu mua những hợp đồng tương lai cho mặt hàng ca cao để tránh sự rủi ro từ việc giá cả lên xuống thất thường Những hợp đồng này có thể đảm bảo cho Hershey’s một cấu trúc vốn hợp lý, tránh

ép giá lên người tiêu dùng khi giá ca cao tăng (Hershey’s, 2017)

Ngược lại, vụ bê bối của Tập đoàn Enron năm 2001 là một bài học kinh nghiệm về việc sử dụng CCPS của doanh nghiệp Enron đã tạo ra một thị trường phái sinh năng lượng toàn cầu, các hợp đồng hoán đổi được điều chỉnh theo nhu cầu của khách hàng giúp công ty phòng tránh được rủi ro do biến động giá cả và nguồn cung năng lượng (Henriques, 2002) Tuy nhiên, các giám đốc điều hành của Enron lại cố gắng khai thác lợi nhuận từ những CCPS đó bằng việc sử dụng các hợp đồng phái sinh để cung cấp khí đốt và năng lượng điện tự nhiên vào những thời điểm cụ thể trong tương lai thay vì tập trung sản xuất, khai thác sản phẩm (Tiến Đạt, 2020) Dù vậy, sau ít nhất 4 năm thực hiện gian lận kế toán để che giấu những khoản lỗ và món nợ khổng lồ, Enron đã phải công khai sự thật và nộp đơn xin bảo hộ phá sản vào năm 2001, kéo theo hàng trăm nghìn người lao động và nhà đầu tư phải gánh chịu những hậu quả nặng nề (Đỗ Tiến, 2020)

4.2 Kinh nghiệm sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp tại Singapore

Các công ty ở Singapore thường sử dụng CCPS để kiểm soát rủi ro xoay quanh các hoạt động tài chính và kinh doanh Đối với trường hợp của Singapore, loại hình phái sinh phổ biến nhất là các CCPS ngoại hối để phòng ngừa rủi ro do biến động ngoại hối Ngoài ra, các công ty trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh cũng sử dụng các loại phái sinh hàng hóa để phòng ngừa rủi ro có

thể phát sinh từ việc tăng giá nguyên vật liệu đầu vào (Nguyễn Thị Phương Chi, 2008) Cho tới

nay, thị trường chứng khoán phái sinh tại Singapore đã có những bước tiến mạnh mẽ, đi kèm với

đó là sự gia tăng trong khối lượng giao dịch Chỉ trong năm 2020, tổng khối lượng giao dịch hợp đồng phái sinh của Singapore đã tăng 6% (Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore, 2020)

Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore (SGX) cũng nhận được nhiều lợi ích từ sự gia tăng về

số lượng giao dịch chứng khoán phái sinh, một phần không thể thiếu của sàn giao dịch, chiếm đến gần 40% tổng thu nhập Vào năm 2015, Cơ quan niêm yết chứng khoán Singapore đã nâng cấp toàn bộ các nền tảng thanh toán và giao dịch chứng khoán phái sinh, đồng thời tìm cách tăng cường việc kiểm soát và bảo vệ hệ thống giao dịch Để ứng biến với hoạt động mua bán các CCPS ngày càng trở nên sôi động của doanh nghiệp, Sở Giao dịch Chứng khoán Singapore đã tăng phí gấp 10 lần đối với các thành viên giao dịch chứng khoán phái sinh (Gupta, 2017)

4.3 Kinh nghiệm sử dụng công cụ phái sinh của các doanh nghiệp tại Malaysia

Tại Malaysia, các CCPS được kiểm soát bởi Bộ Tài chính, quy định bởi Ủy ban Chứng khoán

và được vận hành bởi Bursa Malaysia Derivative Berhad (BMDB) Vào tháng 10/1980, việc ra mắt hợp đồng dầu cọ thô đang được giao dịch tại Sở Giao dịch hàng hóa Kuala Lumpur (KLCE) đã đánh dấu sự tham gia của Malaysia vào cộng đồng giao dịch phái sinh Ngày nay, BMDB là một phương tiện cho nhiều loại CCPS được cung cấp ở Malaysia, chẳng hạn như hợp đồng tương lai dầu cọ thô,

Trang 9

Một dấu ấn nổi bật của thị trường chứng khoán phái sinh Malaysia trong năm 2020 đó là việc các CCPS trên sàn Bursa Malaysia liên tiếp phá vỡ kỷ lục khi tổng khối lượng giao dịch cho hợp đồng tương lai mặt hàng dầu cọ thô ghi nhận khối lượng giao dịch cao nhất trong lịch sử là

12 triệu lô, vượt qua kỷ lục trước đó là 11.91 triệu lô đạt được trong năm 2017 Tính theo năm, con số này đã tăng 41% từ 8.49 triệu lô được ghi nhận từ năm 2019 Sự gia tăng về khối lượng chủ yếu là do việc sử dụng hợp đồng phái sinh dầu cọ thô như một công cụ phòng ngừa rủi ro để chống lại sự biến động giá cả do đại dịch COVID-19 gây ra (Raj, 2020)

5 KẾT LUẬN

Tổng kết kinh nghiệm từ các quốc gia Mỹ, Singapore và Malaysia, nhóm tác giả đề xuất một

số bài học có thể áp dụng cho Việt Nam như sau

5.1 Đối với Nhà nước

Thứ nhất, Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường phái sinh.

- Hệ thống pháp lý cần xây dựng phù hợp trên thông lệ quốc tế và bối cảnh hiện hành của thị trường Việt Nam Hệ thống khung pháp lý là một cơ sở quan trọng và cần được hoàn thành sớm

do nhiều biến động ngoại cảnh bất ngờ như đại dịch COVID-19

- Cơ quan quản lý sản phẩm phái sinh cần được thống nhất Đến năm 2017, thị trường phái sinh đang được quản lý lần lượt bởi Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Trong khi đó, một bài học được đúc kết từ kinh nghiệm của Singapore và nhiều nước mới nổi là cần loại bỏ sự chồng chéo giữa các cơ quan quản lý và làm rõ thẩm quyền của mỗi bên (Shamsher và Taufiq, 2008)

- Việc điều hành và giám sát hoạt động của thị trường cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng Nhà nước có thể kết hợp với các ban ngành, đẩy mạnh phối hợp giữa các đơn vị của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và hai Sở Giao dịch Chứng khoán hoặc với Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam - VACPA1 để giám sát, đánh giá và phát hiện các hành vi vi phạm kịp thời

Thứ hai, Nhà nước cần hoàn thiện chế độ kế toán với các quy định cụ thể về phái sinh.

- Chế độ kế toán cần tiện lợi hơn cho người sử dụng Trong quá trình thu thập dữ liệu từ báo cáo truyền thống, nhóm nghiên cứu nhận thấy hiện nay các ghi chép của doanh nghiệp về CCPS chủ yếu được diễn giải trong thuyết minh báo cáo tài chính, ở các tài khoản khác nhau (công cụ tài sản cơ sở, đầu tư tài chính, ngoại tệ,…) thay vì có sự thống nhất và ở trong bảng cân đối kế toán

- Chế độ kế toán cũng cần bắt kịp với Chuẩn mực quốc tế Với lộ trình áp dụng tự nguyện IFRS tại Việt Nam từ năm 2022, Bộ Tài chính cũng cần hoàn thiện chế độ kế toán các giao dịch phái sinh phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm thúc đẩy sản phẩm trong phòng ngừa rủi ro, đồng thời thuận tiện cho các ngân hàng thương mại theo dõi quản lý nghiệp vụ phái sinh trong quá trình sử dụng

Thứ ba, Nhà nước cần tập trung phát triển vào thị trường tài chính tiền tệ.

- Giao dịch phái sinh không thể tách rời giao dịch công cụ tài chính cơ sở Đa dạng sản phẩm tài chính cơ sở và cải thiện chất lượng nguồn cung là một điều cần thiết Bên cạnh đó, việc nghiên

1 Vietnam Association of Certified Public Accountants

Trang 10

cứu và triển khai số hóa thị trường chứng khoán cũng vô cùng quan trọng để tiếp cận và đem lại trải nghiệm hiệu quả cho mọi người dùng

- Hệ thống và năng lực của các tổ chức trung gian tài chính cần được phát triển Trong xu hướng của tự động hóa và trao đổi dữ liệu, Nhà nước có thể cân nhắc tích hợp trí tuệ nhân tạo trong quá trình quản lý hay tư vấn vào trong hướng dẫn hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng cần được tham gia vào quá trình trang bị kiến thức về phái sinh để tránh lo ngại về rủi ro

- Các giải pháp nâng hạng thị trường chứng khoán cần được triển khai Hiện nay, Việt Nam

mới chỉ đang ở hạng thị trường cận biên (frontier market) nên các giải pháp cần hướng đến một thị trường mới nổi (emerging market) trên bảng xếp hạng của MSCI và FTSE

5.2 Đối với doanh nghiệp khai khoáng

Thứ nhất, doanh nghiệp cần tối ưu hóa mô hình tổ chức hoạt động Trên thế giới, các doanh

nghiệp khai khoáng phần lớn hoạt động theo mô hình liên kết công ty mẹ và các công ty con với chuyên môn hóa trong từng khâu chuỗi cung ứng Các doanh nghiệp ngành khai khoáng Việt Nam cũng có nhiều sự tương đồng Tuy nhiên, các đơn vị được chia theo sản phẩm nhiều hơn

là chức năng, dẫn đến sự phân tán nguồn lực không hiệu quả do các hoạt động bị chồng chéo

Thứ hai, các doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức và liên tục cập nhật về CCPS Công tác

đào tạo và tái đào tạo cần được doanh nghiệp tiến hành thường xuyên trong cả lý thuyết và thực hành Công ty có thể thuê một bên thứ ba quản lý về đào tạo cho nhân viên nếu chưa vững Với một thị trường phái sinh được kỳ vọng như hiện nay, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng bằng việc hướng dẫn các bộ phận liên quan nghiên cứu về nghiệp vụ dự báo biến động, dự phòng và so sánh các cách sử dụng CCPS sao cho hiệu quả để giảm thiểu rủi ro và chi phí cho doanh nghiệp

Thứ ba, doanh nghiệp cần hiện đại hóa công nghệ Theo Nghị quyết số 02/NQ/TW của Bộ

Chính trị ngày 24/5/2011 về định hướng chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm

2030, các doanh nghiệp cần thích ứng nhanh với thị trường bằng việc trang bị hệ thống công nghệ hiện đại, nâng cao thương hiệu với các đối tác hay khách hàng tiềm năng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hải An (2020), Tiềm năng thị trường phái sinh Việt Nam, truy cập ngày 14/3/2021 tại <https://

bit.ly/38BqmlV>

2 Minh Anh (2015), Công nghiệp khai khoáng vẫn đóng góp lớn cho GDP, Báo Tài nguyên

Môi trường, truy cập ngày 14/3/2021 tại <https://bit.ly/3rU0jhO>

3 Võ Thị Thúy Anh (2009), Quản lý rủi ro hối đoán giao dịch trong kinh doanh quốc tế Tạp

chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng 2(31), truy cập từ: <https://bit.ly/3qMYnGm>

4 BBT (2020), Tiềm năng ngành Khoáng sản ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Môi trường, truy cập

ngày 14/3/2021 tại <https://bitly.com.vn/qq0ofc>

5 Bessembinder, H (1991), Forward Contracts and Firm Value: Investment Incentive and

Contracting Effects The Journal of Financial and Quantitative Analysis 26(4), 519 - 532

doi:10.2307/2331409

Ngày đăng: 24/06/2021, 10:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w