1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển bền vững xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19

15 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 711,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tập trung đánh giá thực trạng của xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu bền vững trong tình hình mới, chung sống an toàn với đại dịch COVID-19.

Trang 1

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

PGS.TS Phan Thế Công* Tóm tắt

Đại dịch COVID-19 khiến hoạt động thương mại và đầu tư thế giới suy giảm, các nước nhập khẩu ngày càng siết chặt hàng rào phi thuế quan, bảo hộ trong nước gia tăng, nhưng với kim ngạch xuất - nhập khẩu ấn tượng đã đưa Việt Nam xếp thứ 22 thế giới về quy mô kim ngạch và năng lực xuất khẩu, đứng thứ 26 về quy mô thương mại quốc tế và đây chính là bước tạo đà, tạo lực bứt phá cho công tác xuất - nhập khẩu trong giai đoạn tới COVID-19 kéo theo hàng loạt khó khăn, gây ra đứt gãy các chuỗi cung ứng khiến hàng loạt ngành nghề sản xuất bị đình trệ, chậm trả, thậm chí dừng và hủy đơn hàng khiến nhiều doanh nghiệp các lĩnh vực hoang mang Các giải pháp thiết thực của Chính phủ đã giúp các doanh nghiệp tìm hướng đi và “thoát hiểm” từ các thị trường ngách, sản xuất các loại hàng hóa thiết yếu phục vụ phòng, chống dịch bệnh mà thị trường ngoài nước đang khan hiếm như: khẩu trang, găng tay, quần áo bảo hộ y tế… giúp xuất siêu lập nên kỳ tích mới Để hoạt động xuất - nhập khẩu diễn ra thuận lợi hơn trong năm tới, bài viết tập trung đánh giá thực trạng của xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu bền vững trong tình hình mới, chung sống an toàn với đại dịch COVID-19

Từ khóa: Xuất khẩu, COVID-19, xuất - nhập khẩu; tác động của COVID-19

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Vào cuối năm 2019 và đầu năm 2020, cả thế giới chấn động bởi một loại virus có tốc độ lây lan và mức độ nguy hiểm khủng khiếp hơn bất kỳ dịch bệnh nào trước đây Trước khi giải mã được gen và đặt tên gọi chính thức cho loại virus này, người ta gọi chung là căn bệnh viêm phổi cấp Theo dòng lịch sử, vào ngày 31/12/2019, Trung Quốc đã gửi thông báo tới Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về các trường hợp viêm phổi cấp không rõ nguyên nhân được phát hiện tại thành phố

Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc Theo số liệu của WHO, tính đến ngày 28/02/2021, thế giới ghi nhận tổng cộng hơn 114,379 triệu ca mắc COVID-19, trong đó hơn 2,5 triệu người đã tử vong Xuyên suốt giai đoạn này, WHO liên tục cảnh báo, thế giới đang bước vào một giai đoạn mới nguy hiểm của COVID-19 Số ca mắc COVID-19 trên thế giới có xu hướng tăng mạnh trở lại khi các nước bắt đầu

55.

* Bộ môn Kinh tế học, Trường Đại học Thương mại

Trang 2

rục rịch dỡ bỏ phong tỏa Các chuyên gia y tế cho rằng, việc mở rộng xét nghiệm cũng là yếu tố khiến số ca mắc COVID-19 tăng nhưng không phải nguyên do chính Tại thời điểm này, Hoa Kỳ ghi nhận hơn 29,2 triệu ca mắc COVID-19, trong đó hơn 524.000 người đã tử vong Các chuyên gia cảnh báo, số người chết tại Hoa Kỳ có thể lên 600 nghìn người vào tháng 6/2021

Hình 1 Phân bố ca lây nhiễm COVID-19 một số nước (tính đến 28/02/2021)

Nguồn: Worldometer - www.worldometers.info

Trước tình hình dịch bệnh, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ người dân giảm thiểu chi phí khám, chữa bệnh và xét nghiệm virus Cũng như hầu hết các quốc gia bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh trên thế giới, Việt Nam cũng phải chịu tác động đáng kể lên kinh

tế - xã hội Đến ngày 28/02/2021, Việt Nam có 2.432 ca nhiễm, 1.844 ca khỏi bệnh và 35 bệnh nhân tử vong Việt Nam đứng thứ 173/221 quốc gia/vùng lãnh thổ về số ca nhiễm

Hình 2 Thống kê tình hình dịch bệnh COVID-19 đến ngày 28/02/2021

Nguồn: https://ncov.moh.gov.vn/web/guest/trang-chu

Hình 3 Thống kê ca nhiễm COVID-19 đến ngày 28/02/2021

Nguồn: Worldometer - www.worldometers.info

Trang 3

Theo Tổng cục Hải quan (2020), trong năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa của cả nước thặng dư 19,95 tỷ USD Tổng trị giá xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0%, tương ứng tăng 18,39 tỷ USD so với năm 2019 Trong đó: máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 8,89 tỷ USD, tương ứng tăng 48,6%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 8,66 tỷ USD, tương ứng tăng 24,1%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,72 tỷ USD, tương ứng tăng 16,2%; sắt thép các loại tăng 1,05 tỷ USD, tương ứng tăng 25,1% Dự báo, xuất khẩu hàng hóa năm 2021 trong điều kiện thế giới khống chế được dịch sẽ tốt hơn năm 2020, tăng trưởng xuất khẩu cao hơn Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEF) có hiệu lực kết hợp với các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới sẽ có tác dụng tốt với xuất khẩu và sẽ còn tác dụng nữa nếu như tận dụng tốt cơ hội

Thế giới hiện nay là môi trường có bối cảnh mới với nhiều yếu tố khó lường, khó đoán định Tuy nhiên cũng phải khẳng định, năm 2021 và những năm tới sẽ là những năm về cơ bản có được điều kiện thuận lợi từ những chiến lược hội nhập, khung khổ các FTA đã ký kết và sẽ ký kết; các chính sách của Chính phủ, Đảng, Nhà nước và quyết sách của Chính phủ trong hàng loạt khía cạnh tái cơ cấu nền kinh tế, các chính sách về an sinh xã hội, cải cách và mở cửa cũng như nỗ lực hoàn thiện thể chế pháp luật,… Năm 2021 và những năm tiếp theo sẽ chứng kiến sự phát triển, thậm chí là tăng tốc của Việt Nam, trong đó có cả khía cạnh hội nhập quốc tế và xuất khẩu Bài viết sẽ tập trung phân tích thực trạng của xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu bền vững trong bối cảnh đại dịch COVID-19

2 XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

2.1 Diễn biến xuất khẩu trong bối cảnh đại dịch COVID-19

Tình hình dịch bệnh bùng phát tại nhiều quốc gia, việc các nước áp dụng biện pháp hạn chế

đi lại sẽ tiếp tục gây ảnh hưởng đến hoạt động xuất - nhập khẩu của Việt Nam trong thời gian tới Dịch COVID-19 bùng phát ngay những tháng đầu năm 2020 đã ngay lập tức gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, từ việc tắc nghẽn vận chuyển hàng hóa qua biên giới, đến tác động làm gián đoạn chuỗi cung nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất nhiều loại hàng hóa trong nước Tiếp đó, kể từ quý II /2020, dịch bệnh lan rộng ra khu vực các nước châu Âu, châu Mỹ và vẫn chưa được kiểm soát hiệu quả Nhiều thị trường xuất khẩu quan trọng của nước ta đến nay vẫn

áp dụng các biện pháp phong tỏa đã ảnh hưởng rất lớn tới tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như dệt may, da giày Trước tình hình đó, ngay từ giai đoạn đầu của dịch bệnh, Chính phủ

và các bộ, ngành, địa phương liên quan đã quyết liệt chỉ đạo thực thi nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn nhằm bảo đảm công tác phòng, chống dịch, vừa hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của dịch bệnh tới xuất - nhập khẩu Cụ thể, để khơi thông luồng vận chuyển hàng hóa, các bộ, ngành đã khẩn trương, liên tục hướng dẫn, thông báo cập nhật diễn biến tình hình trong nước và khu vực biên giới cho các địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp nhằm tránh ảnh hưởng đến tốc

độ thông quan và gây ùn ứ tại khu vực cửa khẩu biên giới; tổ chức các đoàn công tác tại các tỉnh biên giới để điều tiết hoạt động thương mại và thông quan hàng hóa

Hoạt động xuất - nhập khẩu tại các biên giới phía Bắc đã được khôi phục từ rất sớm Để giải quyết khó khăn về thị trường, các thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đã đồng loạt tìm kiếm những mặt hàng mới mà thị trường đang có nhu cầu mạnh trong bối cảnh COVID-19 như: khẩu trang

Trang 4

kháng khuẩn, đồ bảo hộ, buồng khử khuẩn toàn thân được coi là phương án thay thế tốt trong bối cảnh xuất khẩu các mặt hàng dệt may gặp khó khăn Mặt khác, nhiều giải pháp, cách làm mới đã được các bộ, ngành, địa phương, hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp triển khai, trong đó phải

kể đến các mô hình, chương trình xúc tiến thương mại, kết nối cung - cầu cả trong và ngoài nước trên môi trường trực tuyến và dựa trên những nền tảng mới Theo đó, Việt Nam là một trong những nước đầu tiên tổ chức hội nghị giao thương trực tuyến trong bối cảnh COVID-19

Kể từ khi Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), việc phổ biến thông tin Hiệp định, quy tắc xuất xứ hàng hóa trước và sau khi EVFTA có hiệu lực đã

hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tận dụng lợi ích do Hiệp định mang lại ngay từ những ngày đầu thực thi Thực tế, EVFTA đã trở thành “cú huých” rất lớn cho xuất khẩu của Việt Nam trong bối cảnh khó khăn chung của năm 2020 Chính nhờ hiệu quả trong công tác phòng, chống dịch cũng như các giải pháp tháo gỡ khó khăn nêu trên, hoạt động xuất - nhập khẩu của Việt Nam năm vừa qua đã vượt khó, đạt nhiều kết quả tích cực Trong năm 2020, tổng trị giá xuất - nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm trước Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0%, tương ứng tăng 18,39 tỷ USD và nhập khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7%, tương ứng tăng 9,31 tỷ USD

Hình 4 Diễn biến xuất - nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam theo tháng

(năm 2020)

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Theo Tổng cục Hải quan (2020), năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa của cả nước thặng

dư 19,95 tỷ USD Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng trị giá xuất - nhập khẩu của doanh nghiệp

có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng đạt 38,48 tỷ USD, tăng 9,6% so với tháng trước, đưa trị giá xuất - nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong năm 2020 đạt 371,90 tỷ USD, tăng 11,8%, tương ứng tăng 39,26 tỷ USD so với năm 2019 Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 12 đạt 20,44 tỷ USD, tăng 8,2% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu của khối này trong năm 2020 lên 202,89 tỷ USD, tăng 10,7% so với năm trước Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 12/2020 đạt 18,04 tỷ USD, tăng 11,3% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu của khối này trong năm 2020 đạt 169,01 tỷ USD, tăng 13,1% so với năm 2019 Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 12/2020 có mức thặng dư trị giá 2,4 tỷ USD

Trang 5

2.2 Xuất khẩu theo nhóm hàng hóa

Tính cả năm 2020, tổng trị giá xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0%, tương ứng tăng 18,39

tỷ USD so với năm trước Trong đó: máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 8,89 tỷ USD, tương ứng tăng 48,6%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 8,66 tỷ USD, tương ứng tăng 24,1%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 1,72 tỷ USD, tương ứng tăng 16,2%; sắt thép các loại tăng 1,05 tỷ USD, tương ứng tăng 25,1% Bên cạnh đó, có một số nhóm hàng giảm mạnh như: hàng dệt may giảm 3,02 tỷ USD, tương ứng giảm 9,2%; giày dép các loại giảm 1,52 tỷ USD, tương ứng giảm 8,3%; xăng dầu các loại giảm 1,03 tỷ USD, tương ứng giảm 51,2% Một số nhóm hàng xuất khẩu chính trong năm 2020:

Thủy sản

Tháng 12/2020, xuất khẩu thủy sản đạt 731 triệu, giảm nhẹ 1,5% so với tháng trước Tính chung cả năm 2020, xuất khẩu nhóm hàng này đạt 8,4 tỷ USD, giảm 1,5% so với năm trước Trong đó, xuất khẩu sang 4 thị trường chính là Hoa Kỳ đạt 1,6 tỷ USD, tăng 10,4%; Nhật Bản đạt 1,4 tỷ USD, giảm 1,8%; EU đạt 1,3 tỷ USD, giảm nhẹ 0,8% và Trung Quốc đạt 1,2 tỷ USD, giảm 4,8%

Gạo

Lượng xuất khẩu trong tháng đạt 547 nghìn tấn với trị giá là 292 triệu USD, tăng 55,5% về lượng và tăng 54,4% về trị giá so với tháng trước Trong năm 2020, xuất khẩu gạo của cả nước đạt 6,2 triệu tấn, giảm 1,9% về lượng so với năm trước nhưng do đơn giá bình quân xuất khẩu tăng nên trị giá đã tăng 11,2%, đạt 3,12 tỷ USD Đặc biệt, lượng gạo xuất sang thị trường Trung Quốc tăng mạnh 70% với 811 nghìn tấn; xuất sang thị trường dẫn đầu Philippines 2,2 triệu tấn; tăng nhẹ 4% so với cùng kỳ năm trước

Hàng dệt may

Xuất khẩu hàng dệt may trong tháng đạt 2,83 tỷ USD, tăng 26,3% so với tháng trước Qua đó, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong cả năm 2020 lên 29,81 tỷ USD, giảm 9,2% so với năm trước Tính trong năm 2020, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam với trị giá đạt gần 14 tỷ USD, giảm 5,8% so với năm trước và chiếm 46,9% tổng trị giá xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; thị trường EU (28 nước) tiêu thụ 3,68 tỷ USD, giảm 15%; tiếp theo là thị trường Nhật Bản đã tiêu thụ 3,53 tỷ USD, giảm 11,4%; thị trường Hàn Quốc tiêu thụ 2,86 tỷ USD, giảm 14,8%

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

Trị giá xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm trong tháng 12/2020 là gần 60 triệu USD, giảm 15,1% so với tháng trước Trong năm qua, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt tới 2,67 tỷ USD, tăng mạnh 28,7% so với năm trước Trong đó: xuất sang Hồng Kông là 2,1 tỷ USD, trong khi con số của cùng kỳ năm trước chỉ là 50 triệu USD; xuất sang Thụy Sỹ là 103 triệu USD, giảm mạnh so với con số 1,4 tỷ USD của năm ngoái

Trang 6

Hình 5 Mức tăng/giảm trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng

năm 2020 so với năm 2019

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác

Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 3,15 tỷ USD, tăng 9,9% so với tháng trước Tính cả năm 2020 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 27,19 tỷ USD, tăng 48,6% so với năm trước Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong năm 2020 chủ yếu gồm: Hoa Kỳ với 12,21 tỷ USD, tăng mạnh 141,5%; EU (28 nước) đạt trị giá 3,49 tỷ USD, tăng 28,5%; Hàn Quốc với 2,05 tỷ USD, tăng 25,9%; Nhật Bản với 2,05 tỷ USD, tăng 5,6%; Trung Quốc với 1,94

tỷ USD, tăng 22,2% so với năm 2019

Điện thoại các loại và linh kiện

Xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 12 đạt trị giá 4,61 tỷ USD, tăng 4,6% so với tháng trước Tính cả năm 2020, xuất khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 51,18 tỷ USD, giảm nhẹ 0,4% so với năm 2019 Trong đó, xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường Trung Quốc đạt 12,34 tỷ USD, tăng mạnh 48,8%; sang EU (28 nước) đạt 10,06 tỷ USD, giảm 18,6%; sang thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 8,79 tỷ USD, giảm 1,2%; sang Hàn Quốc đạt 4,58 tỷ USD, giảm 11% so với năm trước

Máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện

Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 4,31 tỷ USD, tăng 11,9% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong cả năm 2020 đạt 44,58 tỷ USD, tăng 24,1% so với năm 2019 Trong năm 2020, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện sang Trung Quốc đạt 11,09 tỷ USD, tăng 16% so với năm trước; sang thị trường Hoa Kỳ đạt 10,39 tỷ USD, tăng mạnh 71,7%; sang thị trường EU (28 nước) đạt 6,51 tỷ USD, tăng 28,7%; sang Hồng Kông đạt 4,19 tỷ USD, tăng 38,2%

Nhờ những nỗ lực của Chính phủ, các bộ, ngành với hàng loạt giải pháp ứng phó dịch COVID-19 hiệu quả, bảo đảm tăng trưởng kinh tế, cùng nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, hoạt động xuất - nhập khẩu đã giữ được đà tăng trưởng khá, trở thành động lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế

Trang 7

2.3 Thị trường xuất khẩu

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa năm 2020, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 76,4 tỷ USD, tăng 24,5% so với năm trước; tiếp đến là Trung Quốc đạt 48,5 tỷ USD, tăng 17,1%; thị trường EU đạt 34,8 tỷ USD, giảm 2,7%; thị trường ASEAN đạt 23,1 tỷ USD, giảm 8,7%; Nhật Bản đạt 19,2 tỷ USD, giảm 5,7%; Hàn Quốc đạt 18,7 tỷ USD, giảm 5,1% Trong năm 2020, trao đổi thương mại hàng hóa của Việt Nam với châu Mỹ đạt 112,02 tỷ USD, tăng 16,2% so với năm 2019, liên tục là châu lục đạt mức tăng trưởng cao nhất Xuất - nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam với châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất (64,7%) trong tổng trị giá xuất - nhập khẩu của cả nước Trị giá xuất - nhập khẩu trong năm 2020 với thị trường này đạt 352,97 tỷ USD, tăng 4,2% so với năm 2019, trong đó trị giá xuất khẩu là 140,25

tỷ USD, tăng 3,4% và trị giá nhập khẩu là 212,72 tỷ USD, tăng 4,7% Trị giá xuất - nhập khẩu giữa Việt Nam với các châu lục khác lần lượt là: châu Âu: 63,85 tỷ USD, giảm 3,1%; châu Đại Dương: 9,79 tỷ USD, tăng 2,4% và châu Phi: 6,72 tỷ USD, giảm 5,0% so với năm 2019

Diễn biến dịch bệnh tại các thị trường xuất khẩu của Việt Nam vẫn khó đoán định Do vậy, Bộ Công Thương đã thông qua hệ thống thương vụ, cơ quan đại diện thương mại tại nước ngoài để tiếp tục theo sát diễn biến tình hình thị trường, nhất là tình hình phòng, chống dịch COVID-19 ở các thị trường đối tác lớn, quan trọng của Việt Nam nhằm kịp thời đề xuất, báo cáo Chính phủ; chủ động triển khai các biện pháp nhằm tận dụng cơ hội thị trường, giảm khó khăn, tác động bất lợi đối với hoạt động xuất - nhập khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những thách thức, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong năm tới cũng có một số thuận lợi nhất định Đó là các biện pháp thực thi EVFTA đã và đang mang lại kết quả bước đầu rất tích cực Sản xuất trong nước được khôi phục Một số nước dự kiến triển khai các gói kích thích kinh tế “hậu COVID-19”, qua

đó có thể thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng và nhập khẩu hàng hóa trong năm 2021 Theo các chuyên gia, bước sang năm 2021, xuất khẩu cùng với vốn đầu tư toàn xã hội và tiêu dùng nội địa vẫn

sẽ là “cỗ xe tam mã” của nền kinh tế, là động lực chính để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội

Bảng 1 Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu theo châu lục, khối nước và một số thị trường lớn

trong năm 2020

Thị trường

Xuất khẩu Nhập khẩu

Trị giá (Tỷ USD)

So với năm 2019 (%)

Tỷ trọng (%) (Tỷ USD) Trị giá

So với năm 2019 (%)

Tỷ trọng (%) Châu Á 140,25 3,4 49,6 212,72 4,7 81,0

Châu Mỹ 90,17 22,1 31,9 21,85 -3,0 8,3

Châu Âu 44,71 -5,4 15,8 19,14 2,7 7,3

Trang 8

Thị trường

Xuất khẩu Nhập khẩu

Trị giá (Tỷ USD)

So với năm 2019 (%)

Tỷ trọng (%)

Trị giá (Tỷ USD)

So với năm 2019 (%)

Tỷ trọng (%)

Châu Đại Dương 4,47 1,0 1,6 5,33 3,7 2,0 Châu Phi 3,06 -1,9 1,1 3,67 -7,5 1,4 Tổng 282,65 7,0 100,0 262,70 3,7 100,0

Nguồn: Tổng cục Hải quan

3 TRIỂN VỌNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH ĐẠI DỊCH COVID-19

Dự báo sức mua thị trường năm 2021 vẫn sẽ giẫm chân tại chỗ, không có sự tăng trưởng đột phá nếu tình hình dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp Về kịch bản nguyên phụ liệu, năm 2021 và

2022, Việt Nam có thể vẫn thu hút nhiều dự án đầu tư sợi, dệt, nhuộm, chuyển tiếp từ 2019 - 2020 sang, có thể đảm bảo phần cung thiếu hụt của dệt may Việt Nam Nguyên nhân là do sự thay đổi phương thức mua hàng ở các quốc gia, sau khi chuỗi cung ứng toàn cầu có “trục trặc”, các nhãn hàng thời trang chấp nhận mua nguyên phụ liệu của Việt Nam, trong khi đó, các nhà máy của Việt Nam sản xuất sợi và dệt đã phát huy tốt năng lực phục vụ tại thị trường trong nước và xuất khẩu Dự kiến, với khả năng kịch bản dịch bệnh được kiểm soát tốt hơn trên thế giới trong quý I/2021, xuất khẩu dệt may năm 2021 có thể đạt khoảng 37 - 38 tỷ USD, có tăng trưởng nhẹ so với 2020 Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp dệt may dễ dàng khai thác lợi ích của các hiệp định đã có và thúc đẩy chuỗi sản xuất trong khu vực

Với nhiều mặt hàng như: giày dép, dệt may, sản phẩm gỗ, máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện , một năm sẽ có hai mùa sản xuất chính là đầu năm và cuối năm Do vậy, thời điểm này cũng là thời điểm vào mùa sản xuất, xuất khẩu nên các doanh nghiệp đang “tăng tốc” để hoàn thành các đơn hàng Các doanh nghiệp đang kỳ vọng vào mùa sản xuất đầu năm 2021 Đến nay, nhiều doanh nghiệp trên lĩnh vực dệt may, giày dép, máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đã nhận được đơn hàng đến quý II/2021 Vào cuối năm, thị trường xuất khẩu từng bước được khơi thông nên đầu ra của các doanh nghiệp thuận lợi hơn Tới đây, nếu dịch bệnh COVID-19 được khống chế hoàn toàn, các nước đồng loạt mở rộng thị trường sẽ giúp cho các doanh nghiệp tăng xuất khẩu Nhiều doanh nghiệp Việt Nam bắt đầu nhận được các đơn hàng lớn của đối tác nước ngoài nên sản xuất được khôi phục Nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam kỳ vọng, khi dịch COVID-19 được kiểm soát tốt thì sẽ thúc đẩy xuất khẩu được tốt hơn, dự kiến, xuất khẩu ngành da, giày, túi xách sẽ tăng trưởng 15 - 20% trong năm 2021 nếu tình hình dịch COVID-19 được kiểm soát tốt Cho tới thời điểm này, có thể thấy, da giày là một trong những ngành tận dụng tốt nhất Hiệp định EVFTA Thời gian tới, ngành da giày vẫn

Trang 9

xác định tập trung cho xuất khẩu, tham gia mạnh vào chuỗi giá trị Từ đại dịch COVID-19 cho thấy đứt gãy chuỗi cung gây ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng tới sản xuất, buộc toàn ngành phải nhìn nhận lại chiến lược Nếu phụ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu nguyên phụ liệu, khi xảy ra vấn đề chuỗi cung doanh nghiệp sẽ rất bị động Thời gian sắp tới là cơ hội rất tốt để toàn ngành

và Chính phủ thiết lập lại chính sách mạnh hơn cho phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phải chớp lấy cơ hội này để phát triển sản xuất nguyên phụ liệu ở Việt Nam

Thực tế cho thấy năm 2020, Việt Nam đạt được kết quả xuất khẩu khả quan trong bối cảnh dịch COVID-19 là bởi Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do (FTA) với hầu hết các đối tác, doanh nghiệp tận dụng tốt các FTA đã đưa vào thực thi Chẳng hạn trong năm 2020, số lượng bộ C/O ưu đãi được cấp tăng 9% so với năm 2019 cho thấy doanh nghiệp và hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam đang dần nâng cao tỷ lệ sử dụng ưu đãi thuế quan tại các thị trường có FTA

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang một số thị trường truyền thống gặp nhiều khó khăn, nhưng xuất khẩu vẫn có tăng trưởng dương do các doanh nghiệp đã tận dụng được cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường thay thế Thực tế cho thấy, đến năm 2020, Việt Nam có 31 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, tăng mạnh so với con số 24 thị trường đạt kim ngạch trên 1

tỷ USD vào năm 2016, chưa kể trong đó có đến 5 thị trường đạt kim ngạch trên 10 tỷ USD và 8 thị trường trên 5 tỷ USD Dù thừa nhận xuất khẩu trong năm 2021 sẽ tiếp tục đối diện với nhiều rủi ro do dịch COVID-19 nhưng vẫn có triển vọng tích cực nhờ các FTA thế hệ mới như: CPTPP

và EVFTA, với ưu đãi về thuế quan và các điều kiện tiếp cận thị trường Hơn nữa, sau thời gian

bị trì hoãn bởi dịch bệnh, năm 2021 dự báo sẽ chứng kiến sự dịch chuyển luồng đầu tư của các doanh nghiệp FDI từ các nước trong khu vực sang Việt Nam, định vị lại chuỗi cung ứng cũng như tận dụng các ưu đãi mang lại từ các FTA

Số lượng doanh nghiệp FDI tăng sẽ tạo ra tăng trưởng cao về xuất khẩu do xuất khẩu của khối FDI luôn chiếm tỷ trọng cao (trên 80%) trong tổng kim ngạch nhiều năm qua “Dịch bệnh COVID-19 được nhận định là trong “nguy” có “cơ” Các doanh nghiệp có cơ hội để tái cấu trúc, nâng cao khả năng ứng phó trước các biến động của thương mại thế giới, phù hợp với độ mở lớn của nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay Khi năng lực của cộng đồng doanh nghiệp được nâng cao, xuất khẩu được kỳ vọng sẽ tăng trưởng tích cực hơn, bền vững hơn”

Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, năm 2021, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam có nhiều triển vọng tăng trưởng ở hầu hết các ngành hàng Việt Nam đang có cơ hội hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do đã ký như: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam -

EU (EVFTA); Hiệp định Ðối tác Kinh tế Toàn diện khu vực (RCEP); Hiệp định Thương mại tự

do giữa Việt Nam và Vương quốc Anh và Bắc Ailen (UKVFTA) Trong đó, ngoài EVFTA đã có hiệu lực từ ngày 01/8/2020 và được các doanh nghiệp đẩy mạnh khai thác lợi thế thuế quan thì UKVFTA cũng đang mang đến những cơ hội lớn cho xuất khẩu nông sản

Ðối với ngành lúa gạo, tháng 3/2021, Công ty cổ phần Giống cây trồng Trung ương (Vinaseed)

đã xuất lô hàng 80 tấn gạo thơm thượng hạng sang thị trường Anh theo UKVFTA Lô hàng này được doanh nghiệp Long Dan tại Anh nhập và bày bán trong chuỗi siêu thị Long Dan với giá bán

Trang 10

lẻ 15,5 bảng/10 kg (465.000 đồng/10kg) Không chỉ gạo, Anh còn là một trong những thị trường nhập khẩu thủy sản lớn trên thế giới, khoảng 4,4 tỷ USD/năm Tuy nhiên, thị phần của thủy sản Việt Nam trong tổng giá trị nhập khẩu thủy sản của Anh hiện chỉ chiếm khoảng 6,7%, nên với UKVFTA, cánh cửa xuất khẩu thủy sản đang rộng mở với các doanh nghiệp Việt Nam Về đồ gỗ, hiện Việt Nam là quốc gia xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 6 vào Anh Theo UKVFTA, trong vòng 5 năm, nhiều mặt hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ sẽ có thuế suất về 0% (gỗ nguyên liệu hiện có thuế suất từ 2% đến 10%), chắc chắn sẽ mang lại nhiều cơ hội hưởng lợi cho ngành hàng này

Cùng với cơ hội sẵn có, năm 2021 cũng đang đặt ra nhiều thách thức mới cho hoạt động xuất khẩu chung của toàn ngành, nhất là trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn diễn biến phức tạp trong nước và thế giới Theo đó, hàng hóa vừa phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm vừa phải bảo đảm công tác phòng, chống dịch Ðối với lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, trong năm

2020, do ảnh hưởng của dịch COVID-19, chỉ có thị trường Mỹ và Trung Quốc duy trì được tăng trưởng dương, mức tăng lần lượt là 13% và 5% Riêng thị trường EU, dù sụt giảm nhưng lại ghi nhận sự bứt phá đáng kể sau khi EVFTA có hiệu lực Năm 2021, ngành thủy sản vẫn hưởng nhiều lợi thế từ các FTA, nhưng để có thể chinh phục được đa dạng thị trường thì cần tạo ra sự khác biệt rõ nét cho sản phẩm về cả chất lượng và hình thức Cụ thể như sản phẩm chủ lực tôm xuất khẩu, khi khó giảm giá thành thì buộc phải tạo ra sự khác biệt về chất lượng để cạnh tranh với sản phẩm tương đồng đến từ các quốc gia khác như Ấn Ðộ, Indonesia… Hay như cá tra, cần

đa dạng các sản phẩm chế biến sâu, phù hợp nhu cầu người tiêu dùng từng quốc gia, khu vực Các mặt hàng rau, quả cũng đối mặt nhiều thách thức do những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, mẫu mã ở hầu hết các thị trường Ngay cả Trung Quốc - một trong những thị trường truyền thống, chiếm thị phần lớn trong xuất khẩu rau quả, trái cây của Việt Nam cũng đang liên tục tăng cường các biện pháp thắt chặt kiểm dịch và an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, cùng nhiều yêu cầu chi tiết về cơ sở đóng gói, nhãn mác , tạo ra những rào cản không nhỏ đối với các mặt hàng xuất khẩu

Các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường cần tăng cường giám sát chất lượng hàng hóa, kiểm nghiệm kiểm dịch, tránh hiện tượng tồn ứ lượng lớn hàng nông sản do không đủ điều kiện thông quan Bên cạnh đó, với khối thị trường ASEAN, dù có lợi thế từ Hiệp định Ðối tác Kinh

tế Toàn diện khu vực (RCEP) thì thách thức lớn lại chính là buộc phải tăng tối đa khả năng cạnh tranh cho sản phẩm vì hầu hết các quốc gia đều có chung những mặt hàng nông sản tương đối tương đồng Riêng thị trường Mỹ, hiện cũng có nhiều lo ngại về việc Mỹ tiếp tục gia tăng hàng rào kỹ thuật đối với nhóm hàng lớn như thủy sản, hồ tiêu, gỗ và các sản phẩm gỗ…, cho nên các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cũng cần chủ động có giải pháp ứng phó linh hoạt

Có thể thấy, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đã bổ sung nguồn thu ngoại tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, tạo động lực cho việc tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới cũng như thu hút đầu tư Bên cạnh đó, hiệu quả của công tác hội nhập đã được thể hiện rõ ràng hơn, khi hoạt động xuất - nhập khẩu không bị tác động quá lớn bởi sự phụ thuộc vào một số thị trường

và những xáo trộn trong chuỗi cung ứng toàn cầu

Ngày đăng: 24/06/2021, 10:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm