1.1. Lý do lựa chọn đề tài Trường đại học có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển của xã hội hiện đại. Mặc dù các trường đại học có thể có những thông điệp về sứ mệnh cụ thể của mình khác nhau nhưng theo truyền thống, trường đại học luôn phải đảm bảo 3 sứ m ệnh quan trọng là (1) chuyển giao tri thức; (2) kiến tạo hay phát triển tri thức khoa học mới và (3) phụng sự xã hội với vai trò như một trung tâm văn hóa, trung tâm học thu ật thực hiện chức năng phản biện các chính sách xã hội, chính sách công của chính phủ. Việc kiến tạo tri thức hay phát triển tri thức mới là nhiệm vụ trọng tâm của trường đại học, nó giúp phân biệt trường đại học và trường đào tạo nghề. Nếu trường đại học ch ỉ thực hiện chức năng là nơi chuyển giao, phân phối tri thức như các hoạt động giảng dạy đơn thuần thì không được xem là một đại học đúng nghĩa. Ở khía cạnh chuyển giao, phân phối tri thức, trường đại học là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động và phát triển của đất nước. Việc chuyển giao tri thức được thực hiện thông qua hoạt động giảng dạy của giảng viên, các kiến thức, kinh nghiệm được truyền thụ cho sinh viên và người học. Ở khía cạnh kiến tạo tri thức mới, trường đại học phải là nơi tiên phong thực hiện các nghiên c ứu khoa học (NCKH) nhằm phát triển tri thức mới đóng góp vào sự hiểu biết c ủa con người về thế giới tự nhiên và xã hội. Việc phát triển tri thức mới không thể tách r ời khỏi hoạt động NCKH. Ở vai trò phụng sự xã hội, trường đại học không đơn thuần chỉ là nơi truyền thụ kiến thức và NCKH, các trường đại học hiện đại còn là một trung tâm văn hóa, nơi bảo vệ tự do học thuật thực hiện chức năng phản biện xã hội, phản biện chính sách một cách độc lập để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong thời gian gần đây, các trường đại học Việt Nam cũng chịu sự ảnh hưởng của hệ thống giáo dục đại học của các nước tiên tiến thông qua quá trình toàn cầu hoá (Nguyen, 2015). Đặc biệt, các trường đại học Việt Nam trong nhiều lĩnh vực cũng chịu ảnh hưởng bởi các mô hình đại học nghiên cứu từ các nước phát triển như các mô hình đại học ở Mỹ hay Úc. Theo đó, các trường đại học phải là nơi tạo ra và phổ biến tri thức thông qua các kết quả nghiên cứu (Brew & Lucas, 2009; Faust, 2013). Trường đại h ọc không chỉ cung cấp nguồn lực lao động có trình độ cao cho xã hội, đáp ứng yêu c ầu cao của quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà còn phục vụ nhiều vai trò xã hội. Các trường đại học gắn kết chặt chẽ với cộng đồng, với các cơ sở giáo dục đại học trong nước và quốc tế. Vì vậy, các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết những vấn đề cấp bách của quốc gia hay các vấn đề toàn c ầu thông qua các hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tri thức của mình (Nguyen, 2015). Sự tồn tại của các trường đại học với chất lượng nghiên cứu cao th ường được xem là một chỉ số cho thấy quốc gia đó có chất lượng giáo dục cao và thường có vị trí cao trong các đánh giá hệ thống thống giáo dục nói chung và hệ thống giáo d ục đại học nói riêng. Nghiên cứu khoa học là sứ mệnh trung tâm của bất kỳ trường đại học nào. Hoạt động NCKH là một trong những yếu tố để phân biệt một đại học đúng nghĩa hay một trường đào tạo nghề. Trường đại học không chỉ đào tạo ra những con người biết làm vi ệc (con người công cụ) mà còn là nơi đào tạo những cá nhân tinh hoa (elite). Do hoạt động NCKH là trọng tâm của tất cả các trường đại học nên trong phần lớn các bảng xếp hạng đại học trên thế giới (THE, QS, Giao thông Thượng Hải…) đều cho điểm trọng số NCKH rất cao trong các chỉ tiêu xếp hạng đại học. Thông thường, trọng số cho nghiên c ứu (số lượng và phẩm chất) đóng góp từ 20 đến 60% điểm đánh giá xếp hạng tùy vào từng bảng xếp hạng. Do đó, muốn quá trình quốc tế hóa diễn ra thành công, các tr ường đại học vươn ra thế giới để tham gia vào hệ thống xếp hạng đại học qu ốc tế thì các trường đại học bắt buộc phải đầu tư cho hoạt động NCKH. Ở góc độ cá nhân, với tư cách là thành viên của tổ chức nơi mình làm việc hoặc cộng tác, các giảng viên đại học ngoài việc giảng dạy đương nhiên có trách nhiệm tham gia NCKH. Ngoài ra, cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội tri thức, các giảng viên không chỉ bó hẹp hoạt động của mình trong khuôn khổ của trường đại học mà còn phải vươn xa hơn thông qua hoạt động phục vụ xã hội (social service) – một khái niệm được đề cập nhiều trong thời gian gần đây dưới tên gọi có tính tu từ là “sứ m ạng thứ ba” (third mission). Trong bài viết của mình đóng góp cho cuốn chuyên kh ảo “Sự phù hợp của công việc hàn lâm nhìn từ góc độ so sánh” (William K. Cummings và Ulrich Teichler, 2015), giáo sư Soo Jeung Lee từ Đại học quốc gia Xơun đã viết: “Chức năng của trường đại học đã thay đổi trong xã hội tri thức hiện nay và đã mở rộng ra ngoài mục tiêu giáo dục ban đầu của nó, các trường đại học ngày nay t ập trung nhiều vào hoạt động nghiên cứu và được trông chờ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội. Vai trò của đội ngũ giảng viên cũng trở nên phức hợp hơn do sứ mạng thứ ba của các trường đại học về đóng góp vào phát triển kinh tế - xã h ội được nhấn mạnh hơn bao giờ hết…”. Ở Việt Nam, hệ thống văn bản pháp luật đã nêu rõ nhiệm vụ NCKH của cơ sở giáo dục và giảng viên. Luật giáo dục 2019, Điều 19 nêu rõ: “Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục”, và “C ơ sở giáo dục tự triển khai hoặc phối hợp với tổ chức khoa học và công nghệ, cơ sở
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Lý do lựa chọn đề tài
Trường đại học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội hiện đại, với ba sứ mệnh chính: chuyển giao tri thức, kiến tạo tri thức mới và phụng sự xã hội Việc phát triển tri thức mới là nhiệm vụ cốt lõi, phân biệt trường đại học với các cơ sở đào tạo nghề Ngoài việc giảng dạy, trường đại học còn là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Chuyển giao tri thức diễn ra qua hoạt động giảng dạy của giảng viên, trong khi việc kiến tạo tri thức mới thông qua nghiên cứu khoa học (NCKH) giúp mở rộng hiểu biết về thế giới tự nhiên và xã hội Hơn nữa, trường đại học hiện đại còn giữ vai trò là trung tâm văn hóa, bảo vệ tự do học thuật và thực hiện chức năng phản biện xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững cho cộng đồng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các trường đại học Việt Nam ngày càng chịu ảnh hưởng từ hệ thống giáo dục đại học của các nước phát triển, đặc biệt là từ các mô hình đại học nghiên cứu của Mỹ và Úc (Nguyen, 2015) Những cơ sở giáo dục này không chỉ tạo ra và phổ biến tri thức qua các kết quả nghiên cứu (Brew & Lucas, 2009; Faust, 2013), mà còn cung cấp nguồn lực lao động có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời, các trường đại học còn gắn kết chặt chẽ với cộng đồng và các cơ sở giáo dục quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách của quốc gia và toàn cầu thông qua hoạt động nghiên cứu và chuyển giao tri thức (Nguyen, 2015) Chất lượng nghiên cứu cao của các trường đại học thường được xem là chỉ số phản ánh chất lượng giáo dục của quốc gia, góp phần nâng cao vị trí trong các đánh giá hệ thống giáo dục.
Nghiên cứu khoa học (NCKH) là sứ mệnh trung tâm của các trường đại học, phân biệt chúng với các cơ sở đào tạo nghề Đại học không chỉ tạo ra nhân lực mà còn phát triển những cá nhân tinh hoa Hoạt động NCKH đóng vai trò quan trọng trong các bảng xếp hạng đại học toàn cầu, chiếm từ 20 đến 60% điểm đánh giá Để quốc tế hóa thành công, các trường cần đầu tư cho NCKH Giảng viên không chỉ dạy học mà còn có trách nhiệm tham gia NCKH và phục vụ xã hội, một khái niệm được gọi là “sứ mạng thứ ba.” Theo giáo sư Soo Jeung Lee, vai trò của đại học đã mở rộng, tập trung vào NCKH và phát triển kinh tế - xã hội Tại Việt Nam, Luật giáo dục 2019 đã xác định rõ nhiệm vụ NCKH của các cơ sở giáo dục và giảng viên.
19 nêu rõ: “Hoạt động khoa học và công nghệ là một nhiệm vụ của cơ sở giáo dục”, và
Cơ sở giáo dục có thể tự triển khai hoặc hợp tác với các tổ chức khoa học, công nghệ, sản xuất và dịch vụ để thực hiện đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội Theo Điều 55 của Luật Giáo dục đại học 2012 (sửa đổi năm 2018), giảng viên được giao nhiệm vụ và quyền hạn liên quan đến các hoạt động này.
Nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học, bao gồm nghị định của Chính phủ và thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định rõ chế độ làm việc của giảng viên, trong đó xác định số giờ giảng dạy và giờ nghiên cứu khoa học (NCKH) theo từng ngạch bậc và học hàm Cụ thể, theo Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT và Thông tư số 20/2020/TT-BGDĐT, giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học cho nhiệm vụ NCKH.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định phát triển khoa học và công nghệ là quyết sách hàng đầu từ những năm 1980 Các cơ sở giáo dục đại học (GDĐH) đóng vai trò then chốt trong việc tạo ra nguồn tri thức mới và cung cấp nhân lực trình độ cao cho xã hội Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh cần phát huy tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia, đầu tư phát triển các viện khoa học công nghệ và trường đại học cấp quốc gia Quyết định số 418/QĐ-TTg khẳng định việc nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản của các trường đại học Đề án Tái cơ cấu ngành khoa học công nghệ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, nêu rõ sự cần thiết phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ trong cơ sở GDĐH và khuyến khích doanh nghiệp kết nối với hệ thống phòng thí nghiệm Nghị định số 99/2014/NĐ-CP quy định chi tiết việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và công nghệ trong cơ sở GDĐH, cùng với nhiều văn bản pháp lý khác từ Thủ tướng Chính phủ nhằm thúc đẩy sự phát triển này.
Luật Giáo dục đại học năm 2018 quy định rõ trách nhiệm của nhà nước trong việc phát triển khoa học và công nghệ, nhấn mạnh việc đầu tư vào tiềm lực khoa học và công nghệ, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong các cơ sở GDĐH Chính phủ cũng thiết lập các quy định cho hoạt động khoa học và công nghệ tại các cơ sở này Nghị định số 99/2014/NĐ-CP đưa ra chính sách ưu đãi cho giảng viên nghiên cứu khoa học và khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức đầu tư vào lĩnh vực này thông qua các hình thức ưu đãi thuế và bảo hộ quyền sở hữu Hệ thống pháp luật hiện hành đã xác lập vai trò của hoạt động NCKH trong các cơ sở GDĐH, tạo khung pháp lý đồng bộ cho việc tham gia và quản lý hoạt động này.
Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế, các trường đại học tại Việt Nam đã chuyển mình từ việc chỉ tập trung vào giảng dạy kiến thức và kỹ năng sang việc coi hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) là một nhiệm vụ quan trọng Mặc dù vậy, hoạt động NCKH tại các trường thuộc khối khoa học xã hội vẫn còn gặp nhiều thách thức, cần được chú trọng hơn để góp phần kiến tạo tri thức mới và phục vụ xã hội.
Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 phê duyệt Đề án Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025, cùng với các quyết định khác như Quyết định số 1665/QĐ-TTg và Quyết định số 2469/QĐ-TTg, đã đặt nền tảng cho sự phát triển giáo dục và khởi nghiệp tại Việt Nam Đặc biệt, Quyết định số 69/QĐ-TTg và Quyết định số 89/QĐ-TTg nhấn mạnh việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học và năng lực giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục giai đoạn 2019-2030 Tuy nhiên, ngành khoa học xã hội, đặc biệt là kinh tế, vẫn gặp nhiều hạn chế trong việc công bố sản phẩm nghiên cứu quốc tế so với các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật, dẫn đến việc nhiều ứng viên trong các kỳ xét duyệt học hàm chưa có nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Các NCKH của các trường đại học khối kinh tế đã đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, đặc biệt trong việc hoạch định chính sách kinh tế Tuy nhiên, hoạt động NCKH hiện nay vẫn gặp nhiều hạn chế, như giảng viên chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nghiên cứu, khả năng triển khai nghiên cứu còn yếu kém, và hạn chế về trình độ ngoại ngữ dẫn đến việc phụ thuộc vào tài liệu tiếng Việt Ngoài ra, số lượng công bố khoa học quốc tế và chất lượng nghiên cứu còn khiêm tốn, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện năng lực nghiên cứu trong các trường đại học khối kinh tế.
Những hạn chế trong hoạt động NCKH của các trường đại học khối kinh tế được xác định bởi hai nhóm nguyên nhân chính: nguyên nhân khách quan, bao gồm môi trường thể chế và chính sách, và nguyên nhân chủ quan, liên quan đến văn hóa nghiên cứu, quy chế nội bộ của trường, cũng như ý thức và động lực NCKH của giảng viên Các vấn đề này đã được thảo luận rộng rãi tại nhiều hội nghị và hội thảo, cũng như trong các báo cáo đánh giá về thực thi pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ tại các trường đại học rất thấp, với mức trung bình hàng năm trong giai đoạn 2011- không đủ đáp ứng nhu cầu phát triển.
Năm 2015, ngân sách đầu tư cho tăng cường năng lực nghiên cứu từ nguồn ngân sách sự nghiệp khoa học và công nghệ đạt khoảng 30-50 tỷ đồng cho 61 đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vũ Văn Tích, 2016) Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2016, tổng đầu tư tài chính cho hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trên toàn quốc trong giai đoạn 2011-2015 chỉ đạt khoảng 1,7% ngân sách nhà nước, trong đó kinh phí dành cho NCKH trong ngành giáo dục rất khiêm tốn và chưa hợp lý, chỉ bằng 35% so với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 86% so với Bộ Công thương, 44,9% so với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, và 18,3% so với các đơn vị khác.
Bộ Khoa học và Công nghệ nhận định rằng việc phân bổ kinh phí cho sự nghiệp khoa học và công nghệ hiện nay chưa hợp lý, chủ yếu dựa vào số cấp ban đầu và không gắn với sản phẩm đầu ra, dẫn đến khó khăn trong việc đạt được mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia Điều này cũng khiến việc thu hút các nhà khoa học nước ngoài tham gia vào nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học trở nên khó khăn Mặc dù Chính phủ đã có những quy định khuyến khích doanh nghiệp và tổ chức đầu tư vào phát triển tiềm lực khoa học, các chính sách vẫn chủ yếu dừng lại ở việc đề xuất nhiệm vụ mà chưa thực sự đi vào thực tiễn.
Theo Điều 11 Nghị định số 99/2014/NĐ-CP, Nhà nước khuyến khích xã hội hóa hoạt động khoa học và công nghệ (KHCN) thông qua việc miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển tiềm lực KHCN Các quyền sở hữu tài sản và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư được công nhận và bảo hộ Tuy nhiên, các quy định hiện tại còn thiếu cụ thể, không giải quyết triệt để các vấn đề phát sinh trong thực tế đầu tư KHCN Thủ tục đăng ký và thanh toán kinh phí nghiên cứu còn phức tạp, gây khó khăn cho các tổ chức, cá nhân Cần có các giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho đội ngũ giáo viên, cán bộ nghiên cứu thông qua đào tạo và hợp tác quốc tế Mặc dù đã có nhiều văn bản đề cập đến vấn đề này, nhưng các chính sách vẫn mang tính định hướng chung và thiếu sự phân biệt giữa các lĩnh vực nghiên cứu Các biện pháp khuyến khích và khen thưởng cho người tham gia hoạt động KHCN còn mờ nhạt, chưa cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này tập trung vào việc xây dựng và kiểm chứng mô hình nghiên cứu để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) thông qua kết quả nghiên cứu của giảng viên Đồng thời, bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường hoạt động NCKH và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam.
Hệ thống hóa và phân tích các yếu tố lý thuyết và thực tiễn tác động đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học là rất quan trọng Việc hiểu rõ những nhân tố này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn thúc đẩy sự phát triển của giáo dục đại học Các yếu tố như chính sách hỗ trợ, cơ sở vật chất, và động lực cá nhân đều có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả NCKH của giảng viên.
Mô hình nghiên cứu được thiết lập nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố động cơ, rào cản nghiên cứu và đặc điểm của nhà khoa học đến kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam.
Nghiên cứu này nhằm lượng hoá ảnh hưởng của các nhân tố động cơ, rào cản và đặc điểm giảng viên đối với kết quả nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam Các yếu tố động cơ như sự đam mê nghiên cứu và nhu cầu phát triển nghề nghiệp có tác động tích cực đến kết quả NCKH Ngược lại, các rào cản như thiếu thời gian và nguồn lực hạn chế có thể cản trở khả năng nghiên cứu của giảng viên Đặc điểm giảng viên, bao gồm trình độ chuyên môn và kinh nghiệm, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả NCKH.
Để nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) và năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam, cần thực hiện một số khuyến nghị quan trọng Trước tiên, các trường cần tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng nghiên cứu và trang thiết bị hiện đại Thứ hai, việc tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo chuyên sâu sẽ giúp giảng viên cập nhật kiến thức và kỹ năng mới Thứ ba, khuyến khích hợp tác nghiên cứu giữa các trường đại học và doanh nghiệp để tạo ra các sản phẩm nghiên cứu ứng dụng Cuối cùng, cần có chính sách khen thưởng hợp lý để động viên giảng viên tích cực tham gia vào các hoạt động NCKH.
Tổng quan nghiên cứu
Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) luôn được xem là một yếu tố quan trọng trong các trường đại học trên toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từ các quốc gia khác nhau Trong luận án này, tác giả đã tổng hợp các nghiên cứu gần đây về hoạt động NCKH của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
1.3.1 Các lý thuy ế t n ề n t ả ng v ề các nhân t ố ả nh h ưở ng t ớ i ho ạ t độ ng nghiên c ứ u khoa h ọ c và k ế t qu ả nghiên c ứ u khoa h ọ c
1.3.1.1 Lý thuyết về sự hài lòng và ảnh hưởng của các nhân tố tạo ra sự hài lòng tới kết quả nghiên cứu
Sự hài lòng công việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu suất của tổ chức, đặc biệt là trong môi trường đại học, nơi giảng viên đóng vai trò chủ chốt Các khía cạnh như mức lương, cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc hấp dẫn có thể tác động lớn đến sự hài lòng của giảng viên, từ đó ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Sự hài lòng này phản ánh cảm xúc tích cực về công việc và kết quả đạt được, xuất phát từ việc đáp ứng kỳ vọng cá nhân Do đó, những yếu tố tạo ra sự hài lòng được coi là nguồn lực quan trọng giúp nâng cao hiệu suất trong tổ chức.
Mối liên hệ tích cực giữa sự hài lòng và kết quả công việc đã được xác nhận qua nhiều nghiên cứu từ những năm 1980, với nghiên cứu của Creswell J (1986) cho thấy sự tương quan giữa sự hài lòng và hiệu suất công việc của nhân viên Judge và cộng sự (2001) tiếp tục khẳng định rằng mối quan hệ này mạnh hơn ở các công việc phức tạp Trong bối cảnh đại học, nghiên cứu của C A D’Angelo và G Abramo (2014) chỉ ra rằng những học giả hài lòng nhất là những người có thể tiếp cận các nguồn lực cần thiết và cảm nhận sự hỗ trợ từ trường Họ cũng dự đoán rằng năng suất nghiên cứu có mối quan hệ thuận chiều với sự hài lòng của giảng viên Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng phát hiện mối tương quan nghịch giữa hỗ trợ nghiên cứu và số lượng bài báo xuất bản, cho thấy sự hài lòng có thể thay đổi tùy thuộc vào bối cảnh và thời gian Do đó, cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng như một yếu tố dự đoán năng suất nghiên cứu (Nguyen, 2015).
1.3.1.2 Lý thuyết về cam kết tổ chức và ảnh hưởng của cam kết với tổ chức tới kết quả nghiên cứu
Cam kết với tổ chức là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của nhân viên tại nơi làm việc, đóng vai trò quyết định đến hiệu quả tổ chức (Perry J & Porter L., 1982) Mối quan hệ giữa cam kết và thái độ của nhân viên cho thấy rằng sự cam kết gia tăng khi mục tiêu cá nhân phù hợp với giá trị của tổ chức, từ đó nâng cao hiệu suất công việc (Meyer & Allen, 1997) Cam kết không chỉ gia tăng tính trung thành của nhân viên mà còn cải thiện hiệu quả tổ chức, khi nhân viên nỗ lực hết mình để đạt được mục tiêu chung (Meyer & Allen, 1997) Cam kết với tổ chức được phân loại thành ba loại: cam kết tình cảm, cam kết tiếp tục và cam kết chuẩn mực Trong đó, cam kết tình cảm (Affective commitment) phản ánh sự gắn bó cảm xúc của nhân viên với tổ chức, thể hiện qua sự tham gia tích cực vào các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu chung và sẵn sàng đầu tư nguồn lực cá nhân để đóng góp cho tổ chức.
Cam kết tiếp tục (continuance commitment) là nhận thức của nhân viên về chi phí khi rời bỏ tổ chức, được hình thành bởi điều kiện làm việc và sống (Meyer & Allen, 1991) Nhân viên có kiểu cam kết này thường ở lại tổ chức vì lý do tài chính cá nhân, như cần tiền để trang trải cuộc sống Nếu không đạt được kỳ vọng tài chính, họ có thể chuyển sang tổ chức khác Những người không thể rời bỏ vì khó tìm việc mới sẽ vẫn ở lại, nhưng về mặt cảm xúc, họ có thể rút lui khỏi công việc hàng ngày (Joo, 2010) Cam kết tiếp tục thiếu tính tự nguyện và dựa trên kỳ vọng tài chính, dẫn đến động lực cống hiến và đóng góp cho sự phát triển của tổ chức thấp.
Cam kết chuẩn mực là dạng cam kết thứ ba, thể hiện ý thức về nghĩa vụ của người lao động trong việc tiếp tục làm việc tại tổ chức như một trách nhiệm Những nhân viên có cam kết chuẩn mực cao thường gắn bó với tổ chức vì lý do đạo đức và tinh thần trách nhiệm (Meyer & Allen, 1991).
Nghiên cứu cho thấy hệ thống khen thưởng tại các trường đại học có tác động tích cực đến mức độ cam kết của giảng viên và nhà nghiên cứu, từ đó ảnh hưởng đến việc xuất bản các ấn phẩm khoa học (Finaly - Newmann, 1990) Các loại cam kết với tổ chức có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó cam kết tình cảm có tác động lớn nhất đến hiệu suất (Dunham và cộng sự, 1994; Meyer & Allen, 1991) Cam kết với tổ chức được coi là động lực bên trong của nhà khoa học và giảng viên trong việc thực hiện nghiên cứu, do đó, lý thuyết cam kết với tổ chức là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu tại các trường đại học.
1.3.1.3 Lý thuyết động lực của con người: Lý thuyết tự quyết định
Lý thuyết tự quyết định (Self-Determination Theory - STD) của Ryan và Deci (2000) cung cấp cái nhìn sâu sắc về động lực nghiên cứu của giảng viên và nhà khoa học Lý thuyết này giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa động lực, giá trị và chuẩn mực, đồng thời nhấn mạnh ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý cá nhân đối với hoạt động nghiên cứu Việc áp dụng lý thuyết này có thể giải thích cơ chế hình thành động lực nghiên cứu và tác động của nó đến kết quả nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học, đặc biệt là các trường thuộc khối kinh tế.
Lý thuyết tự quyết định cho rằng động lực xuất phát từ sự tương tác giữa các yếu tố điều chỉnh bên ngoài và nhu cầu tâm lý nội tại, giúp cá nhân tự chủ và ra quyết định Theo Ryan & Deci (2000), con người có xu hướng hành động khi họ tin rằng hành vi của mình sẽ mang lại kết quả mong muốn Lý thuyết này cũng nhấn mạnh vai trò của tự điều chỉnh trong việc tạo động lực và hành động, đặc biệt hiệu quả trong việc giải thích hành vi của những người yêu thích sự tự do trong công việc, như giảng viên và học giả (Lam, 2014).
Lý thuyết tự quyết định phân biệt ba loại động lực: động lực bên trong, động lực bên ngoài và không có động lực Động lực bên trong liên quan đến việc theo đuổi đam mê và sự hài lòng cá nhân, trong khi động lực bên ngoài tập trung vào việc đạt được kết quả và phần thưởng từ bên ngoài (Ryan & Deci, 2000) Không có động lực (amotivation) là trạng thái thiếu ý định hành động do thiếu quan tâm hoặc không đánh giá được kết quả (Ryan, 1995) Lý thuyết này cho rằng hành vi cá nhân có thể thay đổi từ không có động lực đến động lực nội tại, với động lực tự xác định xuất phát từ lợi ích tự phát thay vì điều kiện bên ngoài Động lực bên ngoài có thể được điều chỉnh hoặc tích hợp với động lực nội tại, và quá trình nội tâm hóa cho phép các giá trị bên ngoài trở thành động lực tự thân mà không cần phần thưởng bên ngoài.
Lam (2011) đã phát triển một mô hình dựa trên lý thuyết tự quyết định để giải thích mối quan hệ giữa động lực hành động và thương mại hóa trong nghiên cứu tại Anh Theo ông, động lực nghiên cứu không chỉ đơn thuần là vì tiền bạc, mà còn phức tạp hơn nhiều Hệ thống khen thưởng trong khoa học được phân chia thành ba nhóm: sự vinh danh (ribbon), phần thưởng tài chính (gold) và việc giải quyết các thách thức (puzzle) (Stephan & Levin, 1992) Trong giới học thuật, sự vinh danh được coi là phần thưởng quan trọng nhất, vì nó không chỉ thúc đẩy các nhà khoa học bởi sự công nhận từ đồng nghiệp mà còn ảnh hưởng đến tài trợ nghiên cứu và các phần thưởng tài chính từ tổ chức (Stephan, 1996).
Sự vinh danh đóng vai trò quan trọng trong hệ thống khoa bảng, ảnh hưởng đến quỹ và ngân sách nghiên cứu của các nhà khoa học Mặc dù số lượng giải thưởng danh dự cho hoạt động nghiên cứu không nhiều, nhưng chúng có tác động gián tiếp đến việc huy động tài chính (Hong & Walsh, 2009) Trong mô hình truyền thống, các ấn bản khoa học được xem như chứng từ trong quan hệ với sự vinh danh, cho phép các nhà khoa học kết hợp sản phẩm khoa học với hình thức thương mại và sử dụng bằng sáng chế để xây dựng uy tín và nhận được các phần thưởng truyền thống (Murray, 2006; Owen - Smith, 2003).
Các quá trình điều khiển động lực trong nghiên cứu có thể đồng thời tồn tại, với các nhà khoa học bị ảnh hưởng bởi cả yếu tố nội tại và ngoại tại Trường đại học hoạt động như một bộ máy hành chính, nơi giảng viên có mức độ tự chủ cao và có thể lựa chọn tham gia vào thương mại hóa Tuy nhiên, xu hướng thương mại hóa khoa học đang tạo ra áp lực buộc các nhà khoa học tham gia vào các hoạt động thương mại, tùy thuộc vào lợi ích tiềm năng mà chúng mang lại Hình ảnh dưới đây minh họa các loại hình nhà khoa học và các cơ chế động lực ảnh hưởng đến hoạt động thương mại hóa và nghiên cứu.
Hình 1.1: Các dạng nhà khoa học và các động cơ ảnh hưởng tới các hoạt động thương mại hoá nghiên cứu hay công bố
Hoạt động thương mại hóa/nghiên cứu/công bố
Ruy băng Vàng Giải đố Định hướng giá trị
Nhà khoa học doanh nhân
Không có động lực Động lực bên trong
Hoạt động kiểm soát Hoạt động tự thân Động lực Động lực bên ngoài
Nhà khoa học truyền thống Hybrid
1.3.2 T ổ ng quan các nghiên c ứ u c ủ a n ướ c ngoài v ề nghiên c ứ u khoa h ọ c trong tr ườ ng đạ i h ọ c
1.3.2.1 Các nghiên cứu về hoạt động nghiên cứu khoa học trong trường đại học
Nghiên cứu là một quá trình liên tục và là mục tiêu của khoa học, theo Muhammad Zafar Iqbal và cộng sự (2011) Geiger (1986) nhấn mạnh rằng giáo dục đại học trong thế kỷ XXI đã thay đổi đáng kể so với các thế kỷ trước, với các trường đại học trở thành trung tâm sản sinh kiến thức khoa học và công nghệ Giảng viên đại học đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao trình độ chuyên môn thông qua công việc giảng dạy và nghiên cứu hàng ngày Tham gia vào các hoạt động nghiên cứu không chỉ nâng cao kiến thức của giảng viên mà còn làm cho bài giảng trở nên hấp dẫn hơn, giúp sinh viên tiếp cận các vấn đề thực tiễn Bên cạnh đó, năng lực nghiên cứu của giảng viên, được đánh giá qua các công trình công bố trên tạp chí uy tín, có ảnh hưởng tích cực đến danh tiếng của trường, như Geiger (1986) đã chỉ ra.
Theo "Tuyên bố về các nguyên tắc" năm 1915 do ủy ban đại diện của Hiệp hội Giáo sư Đại học Hoa Kỳ (AAUP) xây dựng, chức năng của các trường đại học là thúc đẩy sự tìm hiểu, nâng cao kiến thức nhân loại, cung cấp hướng dẫn cho sinh viên và phát triển chuyên gia cho các ngành dịch vụ công Giảng viên đại học đảm nhận vai trò nghiên cứu, giảng dạy và phục vụ để thực hiện công việc học tập của tổ chức Mỗi vai trò này cho phép giảng viên tạo ra và phổ biến kiến thức cho đồng nghiệp, sinh viên và khán giả bên ngoài Tuy nhiên, sự cân bằng giữa giảng dạy, nghiên cứu và dịch vụ khác nhau giữa các loại hình tổ chức và chế độ bổ nhiệm giảng viên.
Trong bài chuyên khảo của tổ chức Niên giám các trường đại học, cao đẳng
Khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về hoạt động NCKH của giảng viên đại học tại các trường trong và ngoài nước cho thấy sự đa dạng và ảnh hưởng của nhiều yếu tố Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế và khoảng trống trong các nghiên cứu này.
Các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tập trung vào việc thiết lập khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) trên nhiều lĩnh vực, bao gồm các yếu tố cá nhân như giới tính, độ tuổi và trình độ, cùng với các yếu tố ngoại cảnh như môi trường làm việc và hoạt động khen thưởng Mặc dù các nhà nghiên cứu nước ngoài đã áp dụng phương pháp định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng một cách thành công, nhưng họ chưa chú trọng đến sự khác biệt của các yếu tố này giữa các ngành khoa học khác nhau Điều này dẫn đến việc chưa có nghiên cứu nào về định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế.
Các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung vào đánh giá các vấn đề tổ chức, quản lý, thể chế chính sách và quản lý tài chính Mặc dù đã nêu ra các vấn đề và phân tích thực trạng, nhưng các nghiên cứu thường thiếu các phương pháp định lượng và mô hình hóa tác động của các yếu tố khác nhau đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên Điều này dẫn đến việc thiếu các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực của người nghiên cứu.
Do đó, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là:
Một là, các nhân tố nào ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu khoa học của các giảng viên của các trường đại học khối kinh tế?
Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên được thể hiện rõ qua các chỉ số như điểm đề tài, điểm viết sách, điểm công bố và điểm hướng dẫn Những yếu tố này không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả nghiên cứu mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển nghề nghiệp của giảng viên trong lĩnh vực học thuật Sự tổng hợp và phân tích các nhóm chỉ số này sẽ giúp xác định các yếu tố chính thúc đẩy thành công trong nghiên cứu khoa học.
Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học, đặc biệt là khối kinh tế, cần xây dựng môi trường nghiên cứu tích cực, khuyến khích sự hợp tác giữa giảng viên và sinh viên, đồng thời tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất và các chương trình đào tạo nghiên cứu Việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm và cung cấp các nguồn tài nguyên học thuật cũng sẽ góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu và tạo động lực cho giảng viên tham gia nhiều hơn vào các dự án nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học, đặc biệt là tại các trường đại học khối kinh tế, cùng với các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này.
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế ở Việt Nam Khảo sát được thực hiện tại năm trường đại học nổi bật, bao gồm Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Thương mại, Trường Đại học Tài chính - Kế toán, và Trường Đại học Kinh tế - Luật thuộc Đại học Quốc gia TP HCM.
Phạm vi thời gian của nghiên cứu bao gồm dữ liệu thứ cấp từ năm 2012 đến 2017, được cập nhật đến năm 2019, trong khi dữ liệu sơ cấp được thu thập đến năm 2019 Các giải pháp và hàm ý chính sách được đề xuất sẽ áp dụng trong giai đoạn từ 2021 đến 2025.
Luận án này tập trung vào việc đánh giá và phân tích hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên đại học, đặc biệt trong khối kinh tế, cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả NCKH Dựa trên việc đánh giá thực trạng và các yếu tố tác động, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động NCKH và nâng cao năng lực nghiên cứu cho giảng viên và các trường đại học khối kinh tế.
Các trường đại học thuộc khối kinh tế trong bài luận này được định nghĩa là những cơ sở giáo dục có tên gọi liên quan đến lĩnh vực kinh tế hoặc chuyên đào tạo các ngành học về kinh tế.
Tác giả lựa chọn các trường đại học khối kinh tế cho nghiên cứu này vì các lý do sau:
Chương trình nghiên cứu tiến sĩ trong lĩnh vực kinh tế yêu cầu lựa chọn các trường kinh tế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu sinh trong quá trình triển khai nghiên cứu.
Trong thời gian qua, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) tại các trường thuộc khối kinh tế chưa phát triển mạnh mẽ như ở các trường khối kỹ thuật - công nghệ Do đó, nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích thúc đẩy và nâng cao hiệu quả NCKH tại các trường khối kinh tế.
Trong giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo, nền kinh tế thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục hoàn thiện sau những thành công đã đạt được Để đạt được mục tiêu hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học (NCKH) trong các trường khối kinh tế là rất cần thiết.
Do hạn chế về thời gian và ngân sách, nghiên cứu sinh đã quyết định khảo sát 5 trường đại học khối kinh tế Mặc dù số lượng này không nhiều, nhưng các trường này đều là những cơ sở giáo dục lớn, có chuyên môn sâu về các ngành kinh tế và đại diện cho các vùng miền khác nhau.
Khái quát về phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng để giải quyết vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu định tính được thực hiện ở giai đoạn đầu và cuối của quá trình nghiên cứu định lượng, nhằm mục đích lựa chọn và hiệu chỉnh thang đo trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng, cũng như thu thập thông tin bổ sung qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Nghiên cứu định lượng sử dụng các phương pháp phân tích đa biến, bao gồm phân tích thống kê mô tả, phân tích khám phá nhân tố, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích tương quan, phân tích hồi quy bội và phân tích hồi quy logistic, nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế, đặc biệt là khả năng công bố quốc tế của họ.
Đóng góp mới của luận án
Luận án có những đóng góp về lý luận và thực tiễn như sau:
Luận án đã phân tích hệ thống lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học, đồng thời chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu của giảng viên tại các trường đại học khối kinh tế.
Trong báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Hội nghị “Phát triển khoa học công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học giai đoạn 2017-2025”, giai đoạn 2011 – 2015, cả nước đã công bố tổng cộng 10.034 bài báo quốc tế Một số trường kỹ thuật công nghệ lớn đã đóng góp 1.733 bài, chiếm hơn 30% tổng số Các trường thuộc khối nông, lâm, ngư và y tế đã đăng tải 7.023 bài báo, trong đó có 3.349 bài trên các kỷ yếu hội thảo quốc gia và quốc tế Các trường sư phạm, khoa học xã hội và nhân văn cũng có một phần bài báo nhất định, trong khi khối kinh tế có tỷ lệ đề tài trên giảng viên còn thấp, với Trường Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia có tỷ lệ cao nhất.
Hà Nội đạt điểm số 0,71, trong khi Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có điểm số 0,47 Các trường khác như Trường Đại học Ngoại thương chỉ đạt 0,17, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng đạt 0,19, và Trường Đại học Kinh tế Tp HCM đạt 0,28, cho thấy tỷ lệ thấp của các trường này.
Luận án đã phát triển mô hình và điều chỉnh các thang đo chính để đánh giá tác động của các yếu tố động cơ bên trong, động cơ bên ngoài, rào cản nghiên cứu và các yếu tố điều kiện đến kết quả nghiên cứu của giảng viên.
Nghiên cứu đã phát triển một phương pháp đánh giá trọng số cho các thành phần tạo ra kết quả nghiên cứu, dựa trên việc điều chỉnh cách tính điểm nghiên cứu khoa học của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước.
Nghiên cứu đã xác định và lượng hóa ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên tại các trường đại học kinh tế, bao gồm cả kết quả tổng hợp và điểm các thành phần Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất một mô hình đánh giá tác động của các nhân tố đến khả năng công bố quốc tế trong danh mục ISI/Scopus của giảng viên trong khối kinh tế.
Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của giảng viên tại các trường đại học kinh tế, bao gồm: (1) Thực hiện tự do học thuật trong các trường đại học; (2) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho hoạt động nghiên cứu; (3) Cải thiện cơ chế tài trợ khoa học; (4) Xã hội hóa nguồn quỹ tài trợ cho hoạt động nghiên cứu; (5) Đổi mới mô hình hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế; (6) Đẩy mạnh liên kết giữa đại học và doanh nghiệp (U-I links); (7) Thúc đẩy hội nhập và chấp nhận văn hóa khoa học quốc tế.
Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu thành 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về kết quả nghiên cứu khoa học và các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả nghiên cứu khoa học của giảng viên
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Thảo luận và các hàm ý nghiên cứu.