Đó là những hoạt động sản xuất rra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và traođổi của con người, như: hoạt động trồng lúa, hoạt động trồng rau, trồng hoa màu hay các hoạt động dệ
Trang 1KHỐI KIẾN THỨC THỨ NHẤT GỒM PHẦN I.1 – I.2 - VI PHẦN I.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1 Chủ nghĩa duy vật Macxit – cơ sở khoa học cho nhận thức và cải tạo hiện thực Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Câu 1 Phân tích định nghĩa vật chất của lênin?
Vật chất là phạm trù cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa duy vật Nội dung của phạm trù vật chất luôn được bổ sung,phát triển cùng với sự phastt tireern của khoa học, thực tiễn và nhận thức của con người
Xuất phát từ quan điểm, cách thức nhìn nhận, lập trường giai cấp và tùy thuộc vào mỗi thời kỳ lịch sử, các nhàkhoa học đã tiếp cận và quan niệm khác nhau về vật chất (VC)
Trong thời kỳ thời kỳ cổ đại, các nhà khoa học đã quy vật chất về một dạng, nhiều dạng, nguyên tử…
Chẳng hạn có nhà triết học cho rằng VC là nước; hoặc lửa; không khí…
Thế kỷ XVII khoa học tự nhiên phát triển dẫn dến đồng nhất vật chất với những thuộc tính cụ thể của nó (đồng nhất vật chất với khối lượng cơ học niutơn coi khối lượng của vật thể là đặc trưng cơ bản và bất biến của vật chất.) cơ
học niutơn chi phối triết học bịảnh hưởng bởi phương pháp siêu hình
C.mác và ăngghen đã kế thừa những giá trị tích cực, đồng thời vạch ra những hạn chế trong quan niệm về vậtchất của các nhà duy vật trước đó, đồng thời các ông đã tổng kết những thành tựu của khoa học hiện đại, khái quátthành một quan niệm khoa học về vật chất các ông nêu lên quan niệm về sự đối lập giữa vật chất và ý thức, về tínhthống nhất vật chất thế giới, về những dạng tồn tại cụ thể của nó
V.I.lênin đã tiến hành phê phán một cách toàn diện chủ nghĩa duy tâm, đặc biệt là chủ nghĩa duy tâm chủ quanđang thịnh hành đầu thế kỷ XX; trên cơ sở đó, v.i.lê-nin đã đưa ra định nghĩa khái quát về vật chất:
“vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Trước hết, cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với các quan niệm của khoa học tự nhiên về
cấu tạo và những thuộc tính cụ thể của các đối tượng, các dạng vật chất khác nhau Các đối tượng vật chất cụ thể đều
có giới hạn, có sinh ra và mất đi, chuyển hoá thành cái khác, còn vật chất nói chung thì vô hạn và vô tận, không sinh
ra và mất đi vì vậy, không thể qui vật chất về một dạng cụ thể duy nhất nào đó của vật chất.
* phương pháp định nghĩa
Thuộc tính chung của vật chất là “thực tại khách quan” ở ngoài và độc lập với ý thức con người
Thế giới vật chất tồn tại dưới dạng các sự vật cụ thể, hiện tượng cụ thể rất phong phú, vô cùng, vô tận, và chúng
có vô vàn các thuộc tính, nhưng “thực tại khách quan” tức sự tồn tại ở ngoài và độc lập với ý thức của con người đượcv.i.lênin coi là “thuộc tính duy nhất” để phân biệt cái là vật chất và cái không phải vật chất
Ngày nay, khoa học ngày càng đi sâu khám phá những bí mật của thế giới vật chất, càng phát hiện thêm nhữngdạng hạt, phản hạt, các loại trường với những kết cấu và thuộc tính mới lạ đối với con người điều đó thể hiện sự tồn tại
khách quan của thế giới vật chất với tính đa dạng của nó khoa học ngày càng phát triển, càng khẳng định quan niệm duy vật biện chứng về vật chất là đúng đắn, và do đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành thế giới quan và phương pháp luận của các khoa học hiện đại, kể cả trong điều kiện đổi mới tư duy hiện nay.
1
Trang 2Định nghĩa của lênin về vật chất đã bao quát toàn bộ hiện thực - cả tự nhiên và cả trong xã hội điều đó hết sứcquan trọng để hiểu đúng vật chất xã hội là dạng vật chất không tồn tại dưới dạng vật thể chẳng hạn, các quan hệ sảnxuất là có tính vật chất, mặc dù ở đây không hề có một nguyên tử vật chất nào
Ngoài dấu hiệu tồn tại khách quan, vật chất còn có một dấu hiệu quan trọng khác là tính có thể nhận thức được
vì vậy, vật chất mang tính khách thể và về nguyên tắc, mọi dạng vật chất đều có thể nhận thức vật chất không phải tồn tại một cách thần bí, vô hình mà tồn tại một cách hiện thực tồn tại vật chất là tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng cảm tính, tức dưới dạng cụ thể mà giác quan con người có thể nhận thức một cách trực tiếp hoặc gián tiếp ví dụ VC tồn tại trong các vật thể xung quanh ta hình thành nên các vật dụng.
Vật chất “được đem lại cho con người trong cảm giác”, nó là nguồn gốc, nguyên nhân của cảm giác, của ý thức,
nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của ý thức còn cảm giác hay ý thức chỉ là sự “chép lại, chụp lại, phản ánh”, nó
có sau so với vật chất rõ ràng vật chất là tính thư nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức
* ý nghĩa của định nghĩa vật chất
Như vậy, quan niệm duy vật biện chứng về vật chất đã được thể hiện tập trung ở định nghĩa vật chất của v.i.lênin.điều đó có ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận quan trọng để:
Chống lại được cả quan điểm duy tâm chủ quan và quan điểm duy tâm khách quan về vấn đề cơ bản của triết học
và về phạm trù vật chất, khắc phục được tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật chất của chủ nghĩaduy vật cũ, đồng thời kế thừa, phát triển được những tư tưởng của C.Mác và Angghen về vật chất \
Định nghĩa này còn là cơ sở khoa học cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện chứng trong lĩnh vực xãhội.khắc phục những cuộc khủng hoảng trong khoa học, khắc phục tính trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm
về vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, phát triển chủ nghĩa duy vật lên một trình độ mới thành chủ nghĩa duy vật biệnchứng, tạo cơ sở khoa học cho quan niệm duy vật trong lĩnh vực xã hội đó là chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời tạo
cơ sở cho sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng với chủ nghĩa duy vật lịch sử
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin là cơ sở thế giới quan khoa học và phương pháp luận đúng đắn cho các nhà
khoa học trong nghiên cứu thế giới vật chất từ đócổ vũ các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra ngày càng nhiều những thuộc tính mới, kết cấu mới của vật chất, không ngừng làm phong phú tri thức của con người
về thế giới ví dụ thế kỷ 19 khi tìm các hạt nơtron là phát triển rồi, ngày nay các chất mới ra đời nhờ khoa học ngày càng phát triển.
Câu 2: phân tích nguồn gốc, bản chất của ý thức ?
Nguồn gốc, bản chất và vai trò của ý thức là một trong những vấn đề phức tạp của triết học, là một trong nhữngnội dung của cuộc đấu tranh gay gắt giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nhờ những thành tựu của khoa họctrong các thời kỳ lịch sử và của hoạt động thực tiễn xã hội mà vấn đề này ngày càng được làm sáng tỏ
Chủ nghĩa duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể độc lập, siêu tự nhiên, không phụ thuộc vào vật chất, cótrước vật chất và sáng tạo ra thế giới vật chất ở các học thuyết triết học duy tâm khác nhau, quan niệm về ý thức cũngkhông hoàn toàn giống nhau nhưng sự giống nhau của các học thuyết này là ở chỗ đều coi ý thức là điểm xuất phát,sinh ra giới tự nhiên
chủ nghĩa duy vật trước mác đã chỉ ra mối liên hệ khăng khít giữa ý thức với vật chất, không thừa nhận tính siêu
tự nhiên của ý thức và khẳng định ý thức có nguồn gốc từ vật chất
Dựa trên những thành tựu khoa học, nhất là sinh lý học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức
là một thuộc tính của vật chất, nhưng không phải của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của dạng vật chất sống có
tổ chức cao là bộ óc người bộ óc người là cơ quan vật chất của ý thức ý thức là chức năng của bộ óc người hoạt động
ý thức chỉ diễn ra trên cơ sở của hoạt động sinh lý thần kinh trong bộ óc người không có quá trình này thì không thể có
ý thức, và nói chung không có bất kỳ một hoạt động tâm lý, ý thức, tư tưởng nào.mặc dù vậy, không thể quy hoạt động
ý thức về các quá trình sinh lý thần kinh của bộ óc người một cách đơn giản
Bộ óc người hiện đại là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh vật - xã hội, sau quá trình vượnchuyển thành người, óc vượn chuyển thành óc người bộ óc người là một thực thể vật chất đặc biệt, có cấu trúc tinh vi,
2
Trang 3phức tạp, bao gồm hàng tỷ tế bào thần kinh bộ óc và đặc biệt là vỏ đại não được phân chia thành các vùng điều khiểntoàn bộ hoạt động của con người và là nơi diễn ra các quá trình sinh lý thần kinh làm cơ sở cho sự hình thành ý thức.
Quá trình sản sinh ra ý thức trong bộ óc người không đồng nhất, nhưng cũng không tách rời, độc lập hoặc songsong với quá trình sinh lý thần kinh đây là hai mặt của một quá trình, quá trình sinh lý thần kinh diễn ra trong óc ngườimang nội dung ý thức, tương tự như tín hiệu vật chất mang nội dung thông tin
Ngày nay, những thành tựu của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tạo ra những máy móc có thể thaythế một phần lao động trí óc của con người, thậm chí có những phần việc làm nhanh và chính xác hơn con người songnhư thế không có nghĩa máy móc có ý thức như con người máy móc không thể thay thế hoạt động trí tuệ con người, vìmáy móc cũng do con người tạo ra máy móc không thể sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần trong bản thân nónhư con người, máy móc chỉ hoạt động theo những qui trình mà con người sắp đặt chỉ có con người với bộ óc củamình mới sản sinh ra ý thức
Tuy nhiên, ý thức không chỉ có nguồn gốc từ bộ óc người mà ý thức còn có nguồn gốc từ thuộc tính phản ánh củavật chất
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất thuộc tính này được biểu hiện ra trong sự tácđộng qua lại giữa các đối tượng vật chất với nhau phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này
ở hệ thống vật chất khác trong qúa trình tương tác của chúng kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào vật tác động vàvật nhận tác động, đồng thời bao hàm quá trình thông tin, nghĩa là vật bị tác động bao giờ cũng mang thông tin của vậttác động
Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp mỗiquá trình phát triển của vật chất có một hình thức phản ánh tương ứng nó mang nội dung thông tin về thế giới kháchquan về các đối tượng khách quan, về vật được phản ánh ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc conngười bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức không có sự tác động của thếgiới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra
Nguồn gốc xã hội của ý thức:
Sự ra đời của bộ não người cũng như sự hình thành con người và xã hội loài người nhờ hoạt động lao động vàgiao tiếp xã hội bằng ngôn ngữ
+ lao động là hoạt động đặc thù của con người, làm cho con người và xã hội loài người khác hoàn toàn với cácđộng vật khác
+ trong quá trình lao động, con người biết chế tạo ra các công cụ lao động qua đó tác động vào giới tự nhiên làmgiới tự nhiên bộc lộ ra những thuộc tính của nó thông qua quá trình này con người ngày càng nắm bắt sâu sắc hơnnhững thuộc tính về giới tự nhiên, nhờ đó con người ngày càng hoàn thiện khả năng tư duy, làm cho bộ não ngày càngphát triển
+ trong quá trình hoạt động của con người, ngay từ đầu đã có sự liên kết những thành viên xã hội bởi những mụcđích chung và từ đó xuất hiện nhu cầu giao tiếp - trao đổi kinh nghiệm với nhau chính những nhu cầu khách quan nàylàm xuất hiện ngôn ngữ ngôn ngữ bắt nguồn từ lao động và cùng phát triển với lao động đó là cách giải thích duy nhấtđúng về nguồn gốc của ngôn ngữ
ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, là "vỏ vật chất" của tư duy, là hiện thực trực tiếpcủa tư tưởng không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và phát triển được ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp,vừa là công cụ của tư duy nhờ ngôn ngữ mà con người có khả năng trừu tượng hoá và khái quát hoá, có thể truyềnnhững kinh nghiệm của người này cho người khác, thế hệ này cho thế hệ khác và do đó mà ý thức phát triển.ph.ăngghen coi lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ là "hai sức kích thích chủ yếu" làm chuyển biến bộ ócvượn thành óc người, tâm lý động vật thành ý thức con người
- như vậy, nguồn gốc trực tiếp và có ý nghĩa quyết định sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội và ý thức là mộthiện tượng xã hội, đó không phải hiện tượng tự nhiên
2 bản chất của ý thức
Do chịu ảnh hưởng của quan điểm siêu hình, nhiều nhà duy vật trước mác đã coi ý thức là sự phản ánh thụ động,giản đơn máy móc họ không thấy được tính năng động, sáng tạo, tính biện chứng của quá trình phản ánh còn chủnghĩa duy tâm thì cường điệu tính năng động của ý thức, tuyệt đối hóa vai trò của ý thức đến mức coi ý thức sinh ra vậtchất cả hai quan điểm trên đây đều sai lầm
chủ nghĩa duy vật mácxít cho rằng:
- ý thức là sự phản ánh sáng tạo hiện thực khách quan của bộ óc con người, thông qua hoạt động thực tiễn
3
Trang 4để hiểu đúng đắn bản chất của ý thức, trước hết phải thừa nhận ý thức là cái phản ánh, còn vật chất là cái đượcphản ánh cái được phản ánh tồn tại khách quan ở bên ngoài và độc lập với cái phản ánh vì vậy, không được đồng nhấthoặc tách rời giữa vật chất và ý thức ý thức là cái phản ánh thế giới khách quan, là hình ảnh phi cảm tính của các đốitượng vật chất tồn tại cảm tính ý thức lấy hiện thực khách quan làm tiền đề nhưng như mọi sự phản ánh, bị chi phối cảcái phản ánh lẫn cái bị phản ánh
+ ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan của bộ óc con người nhưng bộ óc con người là một thực thể vật chất
có tổ chức cao nhất, vì vậy sự phản ánh này không phải là sự phản ánh thụ động, giản đơn là sản phẩm của quá trìnhphát triển vật chất lâu dài, đồng thời cũng là sản phẩm của lịch sử xã hội loài người, bộ óc có khả năng phản ánh ngàycàng linh loạt, sáng tạo
+ tính sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của sự phản ánh điều đó thể hiện trước hết ở khả năng phản ánh có chọnlọc của con người xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, của đời sống xã hội nói chung, sự phản ánh của ý thức bao giờcũng tập trung vào những cái cơ bản chính yếu tuỳ theo nhu cầu của chủ thể phản ánh sự sáng tạo của ý thức khôngđối lập, không loại trừ, tách rời sự phản ánh, mà luôn thống nhất với phản ánh, trên cơ sở của phản ánh phản ánh vàsáng tạo là hai mặt thuộc bản chất của ý thức chính thực tiễn xã hội tạo nên sự năng động, sáng tạo này
+ tính sáng tạo của ý thức còn thể hiện ở khả năng dự báo về tương lai, ở sự tái tạo những hình ảnh của thế giớihiện thực trên cơ sở những quy luật vốn có của nó hoặc những tiền đề về vật chất đã có sự phản ánh của ý thức là sựphản ánh đặc biệt, phản ánh trong quá trình con người nhận thức và cải tạo thế giới quá trình ý thức là quá trình traođổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, mang tính hai chiều, định hướng và chọn lọc các thông tin; là qúatrình mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần, là quá trình sáng tạo lại hiện thực trong tư duy,
mã hoá các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần
- ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
+ là hình ảnh của thế giới khách quan nhưng ý thức không phải là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động vật
về sự vật, mà là hình ảnh tinh thần của con người trong quá trình “chép lại, chụp lai, phản ánh” thế giới khách quan.theo mác, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được di chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”.+ ý thức là hình ảnh chủ quan vì ý thức bao giờ cũng là ý thức của con người mỗi con người đều tồn tại trongmột xã hội nhất định ý thức phát triển tuỳ thuộc vào sự phát triển của xã hội, vì vậy, ý thức bao giờ cũng có bản chất
xã hội
Câu 3: Trình bày mối quan hệ giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận
Trả lời: Trong quá trình hình thành và phát triển, con người luôn có khát vọng được khám phá tự nhiên và khámphá chính mình Vì thế con người cũng luôn trăn trở và lí giải về các mối quan hệ xung quanh mình như: giữa conngười với con người, giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên…Vì thế triết học ra đời giúp conngười giải đáp được những câu hỏi của mình Bởi triết học phản ảnh thế giới một cách chỉnh thể, nghiên cứu nhữngvấn đề chung nhất, những quy luật chung nhất của thế giới tự nhiên xã hội, con người cũng như mối quan hệ của conngười với thế giới xung quanh Do đó, một trong những vấn đề cơ bản nhất của triết học là mối quan hệ giữa vật chất
và ý thức Vậy vật chất là gì? Ý thức là gì? Mối quan hệ của nó ra sao? Là những điều chúng ta cần làm sáng tỏ
Trước hết, chúng ta cần hiểu vật chất là gì?
Kếnthừa những thành tựu của các nhà duy vật trong lịch sử, đặc biệ là quan điểm của C Mác và Awngghen Lênin đã đưa ra định nghĩa về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thưc tại khách quan được đem lạilại cho con người trong cảm giác, được các giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vàocảm giác” Với khái niệm này, vật chất mang tính khái quát hóa cao, phản ánh tất cả những dạng tồn tại cụ thể của vậtchất Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” tức là tồn tại khách quan độc lập với ý thức của conngười và loại người đây là tiêu chuẩn để chúng ta phân biệt được cái gì thuộc về vật chất, cái gì không thuộc về vậtchất Đồng thời, khái niệm này cũng cho thấy tư duy của con người có thể nhận thức được vật chất
Còn ý thức là gì?
Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người Chủ nghĩa duy vật mác xít khẳng định ý thức cónguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên của ý thức bắt nguồn bộ óc người và sự tác động của thế
4
Trang 5giới khách quan lên bộ óc người Điều này giúp con người có năng lực lưu giữ và tái hiện lại của hệ thống vật chấtnày, những đặc điểm của hệ thống vật chất khác Còn nguồn gốc xã hội của ý thức bắt nguồn từ lao động và ngôn ngữ.Chính lao động đóng vai trò quyết định trong việc chuyển biến vượn người thành người; giúp bộ óc phát triển, làm nảysinh ngôn ngữ Lao động và ngôn ngữ là hai nguồn gốc xã hội trực tiếp quyết định sự ra đời của ý thức con người
Với những thuộc tính của vật chất và ý thức, chúng ta sẽ thấy mối quan hệ giữa vật chất là mối quan hệ biệnchứng vô cùng quan trọng
Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức Bởi vì, ýthức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Trongmói quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vậtchất Điều này đã được chứng minh bởi sự phát triển lâu dài của khoa học về giới tự nhiên, nó là bằng chứng khoa họcchứng minh quan điểm vật chất có trước ý thức có sau
Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức (bộ óc con người, thế giới khách quan tácđộng đến bộ óc gây ra các hiện tượng phản ánh, lao động, ngôn ngữ) hoặc là chính bản thế giới vật chất (thế giớikhách quan) đã khẳng định vật chất là nguồn gốc của ý thức Hơn nữa, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hìnhảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất Sự vận động và phát triển của
ý thức, hình thức biểu hiện của ý thức, bị các quy luật xã hội và sự tác động của môi trường sống quyết dịnh Nhữngyếu tố này thuộc lĩnh vực vật chất nên vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết iddnhj hình thức biểu hiệncũng như mọi sự biến đổi của ý thức
Đến lượt mình ý thức có thể tác động trỏe lại vật chất thông qua hoạt động thưc tiễn của con người Vì ý thức là
ý thức của con người, nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếpthay đổi được gì trong hiện thực, song mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo nên vai trò của ý thức khôngphải trực tiếp tạo ra hay thay đổi vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức vế thực tại khách quan Trên cơ sở ấy,con người xác định mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chon phương pháp…để thực hiện mục tiêucủa mình Lấy ví dụ như, khi virut covid-19 xuất hiện, nhận thức được sự nguy hiểm của nó về mức đọo lây lan, nguy
cơ tử vong…Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các chỉ thị, UBND tỉnh, huyện đã ban hành các văn bản chỉ đạo về việcgiản cách xã hội, khai báo y tế, đeo khẩu trang, vệ sinh tay…để phòng chống dịch bệnh, tiêu diệt virut covid 19 Ở đây,
ý thức đã thể hiện sự tác động của mình đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sự tác động trởlại của ý thức đối với vật chất diễn ra hai hướng: tích cực và tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoahọc, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan,con người có năng lực vượt qua những thứ thác trong quá trình thực hiện mục tiêu của mình, thế giới được cải tạo Đó
là sự tác động tích cực Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản chất, quy luậtkhách quan thì ngay từ đầu hướng hành động của con người đã đi ngược lại quy luật khách quan, hành động ấy sẽ cótác động tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn Như vậy, bằng việc định hướng có hoạt động của con người, ý thức cóthể quyết định hành động của con người, hoạt động thực tiễn của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại, hiệuquả hay không…Từ đó khẳng định lại: Vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết điịnh nội dung và khả năng sáng tạocủa ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; Ý thức chỉ có khả năng tác động lại vật chất thông quan hoạtđộng thực tiễn của con người
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là biện chứng Vì thế ý nghĩa phương pháp luận đối với thực tế là vô cùngquan trọng Con người nhận ra và hiểu được mối quan hệ vật chất và ý thức luôn phải xuất phát từ tực tế khách quan.Chúng ta phải tôn trọng và hành động theo đúng quy luật khách quan Lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạtđộng Và mọi hoạt động thực tiễn phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức – mang tinh thần cải tạo thếgiới, chống thái độ thụ động, ỷ lại, trì trệ của bản thân Trong quá trình nhận thức và hành động của con người tránh tưtưởng, chủ quan, duy ý chí, thái độ nóng vội, bất chấp quy luật và những điều kiện vật chất khách quan Trong thựctiễn xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, trước đối mới 1986 đã cho thấy những ưu, khuyết điểm của Đảng ta tronglãnh đạo, phát triển đất nước Trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta trước 1986, chúng ta đã mắc phải bệnh chủ quan,duy ý chí trong xây dựng mục tiêu, xây dựng XHCN Điều này cho thấy ý thúc đi trước hiện thực khách quan Đấtnước còn nghèo, lạc hậu mà Đảng và nhà nước lại đặt mục tiêu xa vời thực tế dẫn đến những khủng hoảng về kinh tế,chính trị xã hội…Nhận ra những sai lầm này, Đảng NHà nuocws đã nhanh chóng tìm cách khắc phục Đổi mới sau
5
Trang 61986 đã dần điều chỉnh, phù hợp dần với hiện thực khách quan của đất nước và xu thế phát triển của thế giới Việc vậndụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê nin, Đảng và nhà nước ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế phù hợp,sáng tạo Từ đố các mặt của đời sống nhân dân nâng lên, vị thế đất nước trên trường quốc tế được khảng định và nângcao;
Câu 4: Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại Ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các thuộctính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượngthành những thay đổi về chất và ngược lại (Quy luật lượng chất) là một trong ba quy luật cơ bản nhất của phép biệnchứng duy vật.CÁc sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan dù lĩnh vực tự nhiên hay xã hội đều tồn tại nhữngthuộc tính về chất và thuộc tính về lượng Trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển, giữa chất – lượng bao giờcũng có quan hệ chặt chẽ với nhau và chính mối quan hệ ấy giải thích sự vận động, phát triển của sự vật Quy luậtlượng chất tác động đến toàn bộ quá trình hình thành, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội Vậyquy luật lượng chất là gì? Nội dung quy luật lượng chất gồm những gì?
Trước hết chúng ta cần hiểu chất, lượng là gì?
Chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu
cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải sự vật khác Ví dụ chất của con người so với động vật là khảnăng chế tạo công cự, khả năng sử dụng công cụ, khả năng tư duy Chất của kim loại so với nhựa, gỗ là tính tích điện,dẫn nhiệt, nóng chảy ở nhiệt độ cao
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô,trình độ phát triển, biểu thị đại lượng con số các thuộc tính, các yếu tố…cấu thành sự vật Ví dụ, một lớp học có 40 họcsinh.Trong thực tế, lượng có thể biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau nhưng cách thức phổ biến là bằng các con số, cácđại lượng hay tập hợp…Tuy nhiên, cũng có những lương không thể xác định bằng những công cụ đo lường, nó phảiđược xác định một các gián tiếp bằng phương pháp khác nhau, đặc biệt là mặt lượng của các hiện tượng xã hội Chẳnghạn, khi xác định trình dộ quản lý, năng lực tư duy của một con người, trình độ giác ngộ cách mạng của quần chúngnhân dân phải cần rất nhiều thông tin và đòi hỏi đầu óc phân tích, tổng hợp tốt mới có thể đưa ra kết luận đúng đắn
Các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan dù lĩnh vực tự nhiên hay xã hội đều tồn tại thuộc tính về chất vànhững thuộc tính về lượng Trong quá trình tồn tại, vân động và phát triển, giữa chất và lượng bao giờ cũng có quan hệchặt chẽ với nhau và chính mối quan hệ ấy giải thích sự vận động của sự vật, hiện tượng Mỗi sự vật không phải chỉ cóchất mà còn có lượng Chất của sự vật không bao giờ tồn tại tách rời với mặt lượng của nó Chất nào cũng có mộtlượng nhất định
Quy luật lượng chất diễn đạt sự thống nhất biện chứng giữa chất và lượng trong sự vật Đồng thời diễn đạt cơ chếtác động lẫn nhau giữa chất và lượng Do thuộc tính vận động của vật chất nên trong thế giới khách quan không có cái
gì là bất động chúng luôn biến hóa dưới hình thức này hay hình thức khác Sự biến đổi của bất kì sự vật nào dù lớn haynhỏ, dù vô cơ hay hữ cơ cũng đều bắt đầu từ sự biến đổi về lượng Ví dụ, nước lỏng muốn chuyển thành thể hơi, thìnhiệt độ của nó phải tăng từ thấp lên cao Một con người muốn phát triển phải có sự tăng trưởng về thể lực, về trí tuệ
và khi đạt đến một trình độ phát triển nào đó mới chuyển từ nhi đồng sang thiếu niên, từ thiếu niên sang thanh niên…
Sự thay đổi về lượng có thể diễn ra nhanh chóng hoặc lâu dài nhưng ở một phạm vi nào đó nó chưa thể tạo rađược sự biến đổi về chất hay nói đúng hơn nó chưa tạo ra sự biến đổi căn bản về chất Trong trường hợp đó, sự vật
“vẫn là nó” nó chưa chuyển thành các khác Lượng và chất ở thời điểm này được xem là thống nhất với nhau Chẳnghạn nước lỏng từ 0 độ C đến 100 độ C dưới áp suất 1alm, dù nhiệt độ có tăng hay giảm thì vẫn không làm cho nướclỏng thành hơi Khoảng giới hạn từ 0 độ C đến 100 độ C được gọi là độ của nước lỏng Vậy độ là phạm trù triết họcchỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho
sự thay đổi căn bản về chất của sự vật diễn ra
6
Trang 7Sự thay đổi về lượng của sự vật (tăng lên hoặc giảm đi) đến giới hạn nhất định sẽ làm cho chất của sự vật thayđổi Điểm tới hạn đó được gọi là điểm nút Điểm nút là điểm ở hai đầu của độ Chẳng hạn, điểm nút của nước lỏng là 0
độ C và 100 độ C Khi nước ở 100 độ C nước bốc hơi hoặc ngược lại, nếu nước ở 0 độ C thì nước cũng chuyển thànhthể rắn
Sự chuyển biến từ chất cũ sang chất mới được gọi là “bước nhảy” Bước nhảy là phạm trù dùng để chỉ quá trìnhchuyển hóa từ chất cũ sang chất mới do kết quả của sự biến đổi về lượng tạo ra Bước nhảy có nhiều loại, nếu xết vềthời gian có thể phân thành nước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần, bước nhảy đột biến là bước nhảy diễn ra mộtcách nhanh chóng Bước nhảy đột biến có thể diễn ra trong khoảnh khắc như các vụ nỏ hạt nhân Trong xã hội, nhữngcuộc cách mạng chính trị diễn ra nhanh chóng cũng có thể được xem là bước nhảy đột biến Những sự đột phá tạo nênnhững chuyển biến căn bản trong lĩnh vực khoa học công nghệ cung có thể được xem là bước nhảy đột biến Bướcnhảy dần dần là q úa trình chất cũ mất đi dần dần và chất mới dần dần nảy sinh
Xét về quy mô có thể phân bước nhảy thành bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ là biếnđổi toàn diện về chất của sự vật còn bước nhảy cục bộ là sự biến đổi về chất của từng bộ phận, từng mặt của sự vật đó
Sự chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế- xã hội khác là buwcos nhảy toàn bộ; nhưng sự biếnđổi từng bộ phân như: cách mạng chính trị, cách mạng khoa học công nghệ, cách mạng văn hóa tư tưởng….là nhữngbước nhảy bộ phận
Tóm lại, sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ Những thay đổi về lượng dần dần đến giớihạn nhất định thì xảy ra bước nhảy, chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới Như vậy, sự vật phát triển theocách thức: đứt đoạn liên tục Liên tục chính là sự tích lỹ về lượng, đứt đoạn chính là bước nhảy về chất Nghĩa là sự vậtphát triển theo cách thức từ từ tích lũy về lượng rồi đến một giới hạn nhất định thì nhảy vọt về chất khi sự tích tụ vềlượng đã đạt tới điểm nút Chất mới ra đời tác động trở lại tới lượng mới
*) ý nghĩa phương pháp luận
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại đã chỉ rõ phươngthức vận động, biến đổi của thế giới khách quan nên nó có ý nghĩa đối với việc hình thành phương thức hoạt độngcủacon người
Trong đời sống muốn tạo sự biến đổi về chất nào đó phải có sự tích lũy về lượng Tùy thuộc vào những hoàncảnh cụ tể mà sự tích lũy này có thể nhanh chóng hay lâu dài Do đó không nên nôn nóng, vội vàng Nhận thức đượcđiểm nút là nhận thức được sự chín muồi, là biết được thời cơ hoặc cũng có thể dự báo được những nguy cơ, những taihọa có thể ập đến…Ở nước ta,Trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta trước 1986, với tư tưởng nóng vội tiến thẳng lênchủ nghĩa xã hội chúng ta đã mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí trong xây dựng mục tiêu, xây dựng XHCN trong tìnhhình đất nước còn nghèo, lạc hậu mà Đảng và nhà nước lại đặt mục tiêu xa vời thực tế dẫn đến những khủng hoảng vềkinh tế, chính trị xã hội…các mục tiêu đặt ra không thể thực hiện
Câu 5: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các thuộctính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặtđối lập (quy luật mâu thuẫn) là một trong ba quy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật.Quy luật mâu thuẫnvạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Chúng ta cần tìm hiểu mâu thuẫn là gì? mặt đối lập là gì? Như thế nào là thống nhất của các mặt đối lập? và đấutranh của các mặt đối lập là gì?
Mâu thuẫn biện chứng là sự liên hệ, thống nhất, tác động ảnh hưởng, chi phối…lẫn nhau của các mặt đối lập.Mâu thuẩn biện chứng tồn tại một các khách quan, phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người
Những mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng, thuộc tính biến đổi, phát triển trái ngược nhau trong cùng sựvật, hiện tượng hay hệ thống sự vật, hiện tượng Chẳng hạn như, trong sinh vật, các mặt đối lập là đồng hóa và dị hóa,trong mỗi con người, các mặt đối lập là hoạt động ăn và hoạt động bài tiết
7
Trang 8Thống nhất giữa các mặt đối lập được hiểu theo ba nghĩa:
Thứ nhất, các mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt đối lập này thì không có mặt đốilập kia và ngược lại Chẳng hạn trong xã hội nếu không có giai cấp thống trị thì sẽ không có giai cấp bị trị và ngược lại.Thứ hai, các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau Chửng hạn như, trong mỗi con người hoạt động ăn
và hoạt động bài tiết rõ ràng là các mặt đối lập Nhưng chúng nương tựa nhau, không tách rời nhua Nếu có hoạt động
ăn mà không có hoạt động bài tiết thì con người không thể sống được
Thứ ba, giữa hai mặt đối lập có điểm chung nhau, tương đồng nhau Chẳng hạn như, nhà sản xuất và người tiêudùng, mặc dù đối lập nhau nhưng đều có điểm chung là thỏa mãn nhu cầu của mình Đối với nhà sản xuất là bán đượcsản phẩm, hàng hóa do mình sản xuất, đối với người tiêu dùng là mua và được sử dụng các sản phẩm, hàng hóa
Đấu tranh của các mặt đối lập là sự phủ định nhau, bài trừ nhau hay sự triển khai của các mặt đối lập Đấu tranhcủa các mặt đối lập là tuyệt đối, vì nó diễn ra thường xuyên, liên tục, trong tất cả quá trình vận động, phát triển của sựvật Ví dụ như, trong xã hội hai giai cấp thống trị và gia cấp bị trị là hai mặt đối lập và luôn đấu tranh với nhau để giànhquyền lợi về mình
Nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
có vai trò là nguồn gốc của quá trình vận động, phát triển của sự vật Khi hai mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vậtvận động từ từ, chậm chạp, mâu thuẫn chưa gay gắt Những xu hướng của hai mặt đối lập là đấu tranh với nhua, đingược nhau Do vậy, đến một thời điểm nhất định thì cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẩn biến đổi Nếu mâuthuẩn được giải quyét thì mâu thuẫn cũ mất đi làm sự vật không còn là nó Từ sự vật cũ ra đời sự vật mới, mâu thuẫnmới lại xuất hiện Mâu thuẫn mới này lại được giải quyết và cứ như vậy sự vật vận động và phát triển Điều này chứngminh, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập đã chỉ ra nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật
Ý nghĩa phương pháp luận
quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghãi hết sức quan trọng đối với hoạt động của conngười Mâu thuẫn là là nguồn gốc của sự vận động và phát triển nên muốn hiểu rõ sự vật hay cải tạo nó phải nhận thứcđược mâu thuẫn Mâu thuẫn tồn tại khách quan bên trong sự vật vì thế chúng ta không được né tránh hoặc che đậymẫu thuẫn mà sàng lọc mâu thuẫn, giải quyết kịp thời mâu thuẫn đưa sự vật tiến lên
Trong hoạt động thực tiễn khi giải quyết bất cứ công việc gì dù lớn hay nhỏ thì cũng là giải quyết 1 mâu thuẫncho nên phải biết tác động đồng bộ vào cả 2 mặt đối lập, làm cho 2 mặt đối lập cùng biến đổi, khi mâu thuẫn nổ ra điđúng hướng và ngược lại
Câu6: Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp đi lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng, giữa các thuộctính của các sự vật cũng như giữa các thuộc tính của cùng một sự vật Quy luật phủ định của phủ định là một trong baquy luật cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật.Quy luật này nói lên chiều hướng phát triển của sự vật, hiện tượng
Phủ định là sự thay thế sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện tượng khác trong quá trình vận động và pháttriển.Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật
cũ mất đi được thay bằng sự vật mới.Sự thay thế đó là phủ định Phủ định là tất yếu trong quá trình vận động và pháttriển của sự vật Không có phủ định, sự vật không phát triển được.Ví dụ:+ Trong ngành sản xuất điện thoạithông minh, iPhone 5 là sự phủ định đối với iPhone 4
Có hai loại phủ định là phủ định siêu hình và phủ định biện chứng Chúng ta cùng nghiên cứu về phủ định biệnchứng Phủ định biện chứng là phạm trù triế học dùng để chỉ sự tự phủ định, sự phủ định tạo tiền đề cho sự phát triểntiếp theo của sự vật, sự phủ định tạo tiền đề cho cái mới ra đờit hay thế cái cũ, lực lượng phủ định ở ngay trong bảnthân sự vật Trong ngành sản xuất Tivi, Tivi màu ra đời thay thế Tivi trắng đen, ti
Phủ định biện chứng có các đặc điểm:
8
Trang 9Một là, Tính khách quan: sự vậ tự phủ định, sự phủ định này không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của conngười Phủ định biện chứng mang tính khách quan do nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật.Nguyên nhân đó chính là kết quả giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật Nhờ việc giải quyết những mâu thuẫn
mà sự vật luôn phát triển Vì thế, phủ định biện chứng là một tất yếu khách quan trong quá trình vận động, phát triểncủa sự vật Đương nhiên, mỗi sự vật có phương thức phủ định riêng tùy thuộc vào sự giải quyết mâu thuẫn của bảnthân chúng Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí chủ quan của con người Con người chỉ có thể tácđộng mà cho quá trình phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật
Hai là Tính phổ biến: phủ định biện chứng tồn tại cả trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy của con người
Ba là, Tính kế thừa: trong phủ định biện chứng có sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới, không phủ định sạch tronhoàn toàn cái cũ, mà có lọc bỏ những cái cũ không còn phù hợp, kế thừa những yếu tố còn phù hợp và chueyẻn vào sựvật mới.Ví dụ, khi sản xuất dòng iphone 5 nhà sản xuất phải kế thừa những yếu tố tốt của iphone 4 như về cấu tạo, tínhnăng…và nghiên cứu bổ sung những tính năng vượt trội…
Quy luật phụ định của phủ định nói lên rằng ít nhất qua hai lần phủ định biện cuhứng, sự vật dường như quay trởlại điểm xuất phát ban đầu trên cơ sở cao hơn Phủ định của phủ định có đầy đủ tính chất của phủ định biện chứng và
có thêm tính chất chu kyd Tức lad, ít nhất qua hai lần phủ định biên chưgns sự vật dường quay trở lại điểm xuất phátban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật cũ trở thành cái đối lập của mình Su nhữnglần phủ định tiếp theo, đến một lúc nào đóm sẽ ra đời sự vật mới màn nhiều đặc trưng giống với sự vật ban đầu Ví dụnhư:
Một quả trứng là sự khẳng định ban đầu (trong điều kiện được ấp Phủ định lần 1 tạo ra gà mái con Phủ định lần
2 (gà mái con lớn lên) sinh ra nhiều quả trứng
Một hạt thóc là sự khẳng định ban đầu (được gieo trồng) Phủ định lần 1 tạo ra cây lúa Phủ định lần 2, cây lúasinh ra nhiều hạt thóc
Ở 2 ví dụ trên ta có một chu kỳ phát triển: Từ một quả trứng ban đầu đến nhiều quả trứng mới Từ một hạt thócban đầu đến nhiều hạt thóc mới Từ một đến nhiều tức là có sự phát triển lên nấc thang cao hơn Đó là kết quả phủ địnhcủa phủ định.Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng là sự thống nhất giữa loại bỏ, kế thừa
và phát triển Mỗi lần phủ định biện chứng được thực hiện sẽ mang lại những nhân tố tích cực mới Như thế, những lầnphủ định biện chứng nối tiếp nhau sẽ tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng, như việc sẽ ngày càng có nhiều quả trứnghơn, ngày càng có nhiều hạt thóc hơn Nhờ tính chu kỳ mà sự vật có khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc đilên Nghĩa là quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng vận động, phát triển theo đường xoáy ốc đi lên của
sự vật
Ý nghĩa phương pháp luận:
Quy luật phủ định của phủ định cho chúng ta cơ sở để hiểu sự ra đời của cái mới, mối liên hệ hệ giữ cái cũ và cáimới Do đó, trong hoạt động thực tiễn phải biết ủng hộ cới mới hợp quy luật.Ta phải biết phát hiện và quý trọng cáimới, phải tin tưởng vào tương lai phát triển của cái mới Mặc dù cái mới lúc đầu còn yếu ớt, ít ỏi, ta phải ra sức ủng hộ,bồi dưỡng, phát huy cái mới, tạo điều kiện cho cái mới chiến thắng cái cũ
Cái mới nhất định sẽ xuất hiện từ cái cũ nhưng ta không được phủ sạch cãi cũ.Trong nhận thức và hoạt động thựctiễn, ta cần lưu ý rằng cái mới nhất định sẽ thay thế cái cũ, cái tiến bộ nhất định sẽ chiến thắng cái lạc hậu Cái mới rađời từ cái cũ, kế thừa tất cả những gì tích cực của cái cũ Do đó, ta cần chống thái độ phủ định sạch trơn cái cũ
Chúng ta phải chủ động phát hiện, bồi dưỡng, thúc đẩy cái mới.
Trong thực tiễn, Trong khi đấu tranh với cái cũ, chúng ta phải biết sàng lọc, gạn đục khơi trong, giữ lấy những gìcòn tích cực, có giá trị từ cái cũ, cải tạo cái cũ cho phù hợp với những điều kiện mới Chúng ta phải chống thái độ “hư
vô chủ nghĩa” trong khi nhìn nhận, đánh giá quá khứ
9
Trang 10Phải khắc phục thái độ bảo thủ, khư khư giữ lại những cái lỗi thời cản trở sự phát triển của lịch sử, loại bỏ những hủ tục trong xã hội, ví dụ như những hủ tục cũ trong việc cưới xin, tang lễ, hội hè…, quan niệm “có nếp có tẻ”
trong việc sinh con
2 LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG Câu 7: Mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận ý nghĩa phương pháp luận
Lý luận và thực tiễn là hai trong số những phạm trù quan trọng của triết học Mác – Lênin Việc tìm hiểu, phântích mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù này sẽ giúp chúng ta có nhiều bài học bổ ích trong nhận thức và tronglao động, trong công tác
Thực tiễn là gì?
Thực tiễn theo chủ nghĩa duy vật biện chứng là hoạt động vật chất – cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đíchcủa con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Thực tiễn có ba đặc trưng:
Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảm tính
Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vậtchất để làm thay đổi chúng Ví dụ như hoạt động gặt lúa của nông dân sử dụng máy gặt tác động vào cây lúa để thuhoạch thóc lấy gạo để ăn; hay hoạt động lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp tác động vào máymóc trên các loại vải, da, để tạo ra sản phẩm tiêu dùng như quần áo, giày dép phục vụ đời sống con người…
Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Là những hoạt động của con người, diễn ra trong xãhội với sự tham gia của đông đảo người và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định
Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tảo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộThực tiễn có ba hình thức cơ bản:
Một là, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất rra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và traođổi của con người, như: hoạt động trồng lúa, hoạt động trồng rau, trồng hoa màu hay các hoạt động dệt vải, sản xuấtgiày dép, hoạt động sản xuất ô tô, xe máy…
Hai là, những hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị- xã hội, như: hoạt động bỏphiếu của nhân dân đi bầu cử đại biểu Quốc hộiđấu tranh giai cấp, biểu tình…
Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức đặc biệt của thực tiễn, trong thực nghiệm khoa học, conngười chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạothế giới, Ví dụ như:Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nănglượng tái tạo, hóa học lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano;hay việc nghiên cứu chế tạo ra vaxin phòng chống virut covid 19;
Ba hình thức của thực tiễn liên hệ, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò quyếtđịnh đối với hai hình thực tiễn kia và hai hình thức thực tiễn kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất
Lý luận là gì?
Lý luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ thống những tri thúc được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn,phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và đượcbiểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
Lý luận có những đặc trưng sau:
Một là, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ
10
Trang 11Hai là, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có tri thúc kinh nghiệm thực tiễn thìkhông có cơ sở để khái quát thành lý luận,
Ba là, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác
động vào sự vật làm cho sự vật bộ lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng.Tức là, thực tiễn cung cấp vật liệu cho nhận thức Không có thực tiễn thì không có nhận thức Ví dụ, khi thủy tinh bịnung nóng ở nhiệt độ cao có thể bị nóng chảy do đó, con người có thể sử dụng thủy tinh để uốn nắn, thiết kế thủy tinhthàng các vật dụng trang trí với hình dạng khác nhau Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đồi hỏi nhận thức phảitrả lời Hay nói cách khác, chính thực tiễn là người đặt hàng nhận thức phát triển Ví dụ, khi virut covid 19 xuất hiệnvới tốc dộ lây lan nhanh, tỉ lệ tử vong cao đặt ra nhiệm vụ cho các nước phải nghiên cứu sản xuất ra vắc xin phòngchống Thực tiễn là nơi rèn luyện giác quan của con người., ví dụ như một người đầu bếp qua quá trình chế biến món
ăn sẽ rèn luyện được vị giác….Thực tiễn còn là cơ sở chế biến công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quảhơn, như: tàu vũ trụ được sản xuất chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ nó mà con người có nhận thức đúng hơn về vũtrụ, thúc đẩy sự nhận thức phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu
tồn tại Ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn.Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Ví
dụ khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, khiến cho đất nước ta lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, nhân dân bị áp bức, bóc lột,cuộc sống lầm than Chính vì thế vào năm 1911, thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nướcgiúp nhân dân thoát khỏi tình cảnh đó
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của
chân lý Chân lý là những tri thức của con người phù hợp với hiện thực khách quan và đã được thực tiễn kiểm nghiệm.Tuy nhiên cũng có trường hợp không nhất thiết phải qua thực tiễn trải nghiệm mới biết nhận thức đó là đúng hay sai,
mà có thể thông qua quy tắc logic vẫn có thể biết được nhận thức đó là thế nào Nhưng xét đến cùng thì những nguyêntắc đó cũng đã được chứng minh từ trong thực tiễn
Láy ví dụ cho vai trò này của thực tiễn, trong thời kỳ trước đổi mới nước ta đã có lúc áp dụng rập khuôn mô hình
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, tập trung phát triển công nghiệp nặng Đảng có biểu hiện nóng vội trong việc tiến hànhcải htaoj xã hội chủ nghĩa nhằm xó bỏ tất cả các thành phần kinh tế mà không nhận ra rằng sự có mựt của nhiều thànhphần kinh tế với các mối quan hệ tác động qua lại của nó sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này.Chính những sai lầm đó là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng.Qua thực tế
đó, Đảng ta đã nhận tuhwcs thức được những sai lầm trên , từ đại hộ 6 năm 1986 Đanmgr đã khởi xướng công cuộc đổimới toàn diện tất cả các lĩnh vự trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, tư duy và đề ra phương hướng đổi mới của Đảng
ta “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ va fkeets luận những vấn đề mới,bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung phát triển đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh vớikhuynh hướng, tư duy sai trái”
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối: Tuyệt đối là ở chỗ, thực tiễn ởnhững giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tínhtương đối ở chỗ bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển liên tục Cho nên khi tực tiễn đổithay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
Lý luận đóng vai trò soi dường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn
Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt đồngthực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới
11
Trang 12khách quan, biến đổi chính thực tiễn và biến đổi chính con người Trong lịch sử nước ta, cách mạng tháng 8/1945 thànhcông chưa được bao lâu, thực dân Pháp được sự tiếp tay của các nước đế quốc đồng minh trở lại xâm lược nước ta lầnthứ hai, chúng tăng cường các hoạt động quân sự, phá hoại nền hòa bình của nhân dân ta Trong thời khắc đất nước lâmnguy, đêm ngày 19/12/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, đây được xem là một tácphẩm mang tầm vóc chiến lược, hoạch định đường lối cho cuộc kháng chiến, là công trình có tính nền tảng để sau đóĐảng ta tiếp tục phát triển đường lối kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Lời kêu gọithể hiện đường lối chiến tranh nhân dân toàn dâ, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, dưới sự lãnh đạo tài tìnhcủa Đảng và chủ tịch HCM quan dân ta đã kết thúc thắng lợi sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Phápbằng chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạtđộng thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng nhân dân Chẳng hạn, thông qua các chỉ thị, văn bản, lời kêu gọitrong việc phòng chống dịch covid 19 của Trung ương và các cấp, đã dẫn đến việc nhân dân trên khắp cả nước lan tỏa
ý thức tốt trong việc thực hiện nghiêm ngặt việc khai báo y tế, không tập trung đông người ,đeo khẩu trang, khửkhuẩn…
Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự gíac, bớt
mò mẩm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn Lấy lại ví dụ về dịch bệnh covid 19, chúng ta thấy rằng, dịch bệnh ảnhhưởng nặng nề đến nền kinh tế thế giới trong đó có nền kinh tế Việt Nam Do đó, Các nhà nghiên cứu kinh tế cần dựbáo sự thay đổi các chỉ tiêu kinh tế, định hướng được các doanh nghiệp cần sử dụng các biện pháp gì để khắc phục hậuquả và chủ động trong hoạt động của mình
*) Ý nghĩa phương pháp luận
Qua phân tích mối quan hệ thực tiễn và lý luận Chúng ta nhận thấy phả có quan điểm thực tiễn trong nhận thúc
và hoạt động lý luận:
Một là, nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuát phát từ thực tiễn địa phương, thựctiễn ngành, đất nước
Hai là, nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành
Ba là, phải “đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận choviệc hoạt định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm (khuynh hướng tư tưởng vàhành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, coi thường, hạ thấp lý luận), bệnh giáo điều (khuynh hướng tư tưởng vàhạnh động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn hoặc vận dụng kinh nghiệm của người khác,địa phương khác, nước khác mà không tính đến điều kiện thực tiễn của thể của cơ quan, địa phương, ngành mình)
Câu 8: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với lý luận
Thực tiễn theo chủ nghĩa duy vật biện chứng là hoạt động vật chất – cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đíchcủa con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Thực tiễn có ba đặc trưng:
Một là, thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảm tính
Đó là những hoạt động mà con người phải sử dụng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vậtchất để làm thay đổi chúng Ví dụ như hoạt động gặt lúa của nông dân sử dụng máy gặt tác động vào cây lúa để thuhoạch thóc lấy gạo để ăn; hay hoạt động lao động của các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp tác động vào máymóc trên các loại vải, da, để tạo ra sản phẩm tiêu dùng như quần áo, giày dép phục vụ đời sống con người…
Hai là, thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Là những hoạt động của con người, diễn ra trong xãhội với sự tham gia của đông đảo người và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định
12
Trang 13Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tảo tự nhiên và xã hội phục vụ con người tiến bộThực tiễn có ba hình thức cơ bản:
Một là, sản xuất vật chất Đó là những hoạt động sản xuất rra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và traođổi của con người, như: hoạt động trồng lúa, hoạt động trồng rau, trồng hoa màu hay các hoạt động dệt vải, sản xuấtgiày dép, hoạt động sản xuất ô tô, xe máy…
Hai là, những hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị- xã hội, như: hoạt động bỏphiếu của nhân dân đi bầu cử đại biểu Quốc hộiđấu tranh giai cấp, biểu tình…
Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học Đây là hình thức đặc biệt của thực tiễn, trong thực nghiệm khoa học, conngười chủ động tạo ra những điều kiện nhân tạo để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạothế giới, Ví dụ như:Cách mạng Công nghiệp 4.0 tập trung vào nghiên cứu để tạo ra những bước nhảy vọt trong nănglượng tái tạo, hóa học lĩnh vực Vật lý với robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới và công nghệ nano;hay việc nghiên cứu chế tạo ra vaxin phòng chống virut covid 19;
Ba hình thức của thực tiễn liên hệ, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó sản xuất vật chất đóng vai trò quyếtđịnh đối với hai hình thực tiễn kia và hai hình thức thực tiễn kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác
động vào sự vật làm cho sự vật bộ lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng.Tức là, thực tiễn cung cấp vật liệu cho nhận thức Không có thực tiễn thì không có nhận thức Ví dụ, khi thủy tinh bịnung nóng ở nhiệt độ cao có thể bị nóng chảy do đó, con người có thể sử dụng thủy tinh để uốn nắn, thiết kế thủy tinhthàng các vật dụng trang trí với hình dạng khác nhau Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đồi hỏi nhận thức phảitrả lời Hay nói cách khác, chính thực tiễn là người đặt hàng nhận thức phát triển Ví dụ, khi virut covid 19 xuất hiệnvới tốc dộ lây lan nhanh, tỉ lệ tử vong cao đặt ra nhiệm vụ cho các nước phải nghiên cứu sản xuất ra vắc xin phòngchống Thực tiễn là nơi rèn luyện giác quan của con người., ví dụ như một người đầu bếp qua quá trình chế biến món
ăn sẽ rèn luyện được vị giác….Thực tiễn còn là cơ sở chế biến công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quảhơn, như: tàu vũ trụ được sản xuất chế tạo trong sản xuất vật chất Nhờ nó mà con người có nhận thức đúng hơn về vũtrụ, thúc đẩy sự nhận thức phát triển
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu
tồn tại Ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất, nhận thức của con người đã bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn.Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Ví
dụ khi thực dân Pháp đô hộ nước ta, khiến cho đất nước ta lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, nhân dân bị áp bức, bóc lột,cuộc sống lầm than Chính vì thế vào năm 1911, thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nướcgiúp nhân dân thoát khỏi tình cảnh đó
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của
chân lý Chân lý là những tri thức của con người phù hợp với hiện thực khách quan và đã được thực tiễn kiểm nghiệm.Tuy nhiên cũng có trường hợp không nhất thiết phải qua thực tiễn trải nghiệm mới biết nhận thức đó là đúng hay sai,
mà có thể thông qua quy tắc logic vẫn có thể biết được nhận thức đó là thế nào Nhưng xét đến cùng thì những nguyêntắc đó cũng đã được chứng minh từ trong thực tiễn
Láy ví dụ cho vai trò này của thực tiễn, trong thời kỳ trước đổi mới nước ta đã có lúc áp dụng rập khuôn mô hình
xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, tập trung phát triển công nghiệp nặng Đảng có biểu hiện nóng vội trong việc tiến hànhcải htaoj xã hội chủ nghĩa nhằm xó bỏ tất cả các thành phần kinh tế mà không nhận ra rằng sự có mựt của nhiều thànhphần kinh tế với các mối quan hệ tác động qua lại của nó sẽ là động lực cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này.Chính những sai lầm đó là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng khủng hoảng kinh tế trầm trọng.Qua thực tế
đó, Đảng ta đã nhận tuhwcs thức được những sai lầm trên , từ đại hộ 6 năm 1986 Đanmgr đã khởi xướng công cuộc đổimới toàn diện tất cả các lĩnh vự trong đó có lĩnh vực tư tưởng, lý luận, tư duy và đề ra phương hướng đổi mới của Đảng
13
Trang 14ta “Đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ, sớm làm rõ va fkeets luận những vấn đề mới,bức xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa, bổ sung phát triển đường lối, chính sách của Đảng, đấu tranh vớikhuynh hướng, tư duy sai trái”.
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối lại vừa có tính tương đối: Tuyệt đối là ở chỗ, thực tiễn ởnhững giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tínhtương đối ở chỗ bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển liên tục Cho nên khi tực tiễn đổithay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp
Câu 9: Lý luận và vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
Lý luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ thống những tri thúc được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn,phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và đượcbiểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
Lý luận có những đặc trưng sau:
Một là, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ
Hai là, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn Không có tri thúc kinh nghiệm thực tiễn thìkhông có cơ sở để khái quát thành lý luận,
Ba là, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất của sự vật, hiện tượng
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi dường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn:
Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt đồngthực tiễn của con người Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giớikhách quan, biến đổi chính thực tiễn và biến đổi chính con người Trong lịch sử nước ta, cách mạng tháng 8/1945 thànhcông chưa được bao lâu, thực dân Pháp được sự tiếp tay của các nước đế quốc đồng minh trở lại xâm lược nước ta lầnthứ hai, chúng tăng cường các hoạt động quân sự, phá hoại nền hòa bình của nhân dân ta Trong thời khắc đất nước lâmnguy, đêm ngày 19/12/1946 chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, đây được xem là một tácphẩm mang tầm vóc chiến lược, hoạch định đường lối cho cuộc kháng chiến, là công trình có tính nền tảng để sau đóĐảng ta tiếp tục phát triển đường lối kháng chiến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Lời kêu gọithể hiện đường lối chiến tranh nhân dân toàn dâ, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, dưới sự lãnh đạo tài tìnhcủa Đảng và chủ tịch HCM quan dân ta đã kết thúc thắng lợi sau 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Phápbằng chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954
Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào
hoạt động thực tiễn rộng lớn của đông đảo quần chúng nhân dân Chẳng hạn, thông qua các chỉ thị, văn bản, lời kêu gọitrong việc phòng chống dịch covid 19 của Trung ương và các cấp, đã dẫn đến việc nhân dân trên khắp cả nước lan tỏa
ý thức tốt trong việc thực hiện nghiêm ngặt việc khai báo y tế, không tập trung đông người ,đeo khẩu trang, khửkhuẩn…
Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự gíac, bớt mò mẩm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn Lấy lại ví dụ về dịch bệnh covid 19, chúng ta thấy rằng, dịch
bệnh ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế thế giới trong đó có nền kinh tế Việt Nam Do đó, Các nhà nghiên cứu kinh tếcần dự báo sự thay đổi các chỉ tiêu kinh tế, định hướng được các doanh nghiệp cần sử dụng các biện pháp gì để khắcphục hậu quả và chủ động trong hoạt động của mình
*) Ý nghĩa phương pháp luận
14
Trang 15Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta do Đảng lãnh đạo đầy khó khăn, gian khổ, phức tạp do tính chất, chiều sâu vàtầm cỡ của nó Nhận thức được những đặc tính đó đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, nâng cao trìnhtrình độ lý luận của toàn Đảng Nếu lý luận khong được phát triển, bổ sung để soi đường, dãn dắt cho sự nghiệp đổimới thì khó tránh khỏi những sai lầm, tổn thất Tốc độ, nhịp điệu và hiệu quả của sự nghiệp đổi mới phụ thuộc rấtnhiều vào sự phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận Đại hội lần VII của Đảng ta đã khẳng định “Chỉ có tăng cườngtổng kết thực tiễn, phát triển lý luận thì công cuộc dổi mới mới trở thành hoạt động thị giác, chủ động và sáng tạo, bớtđược những sai lầm và những bước đi quanh co phức tạp”
Để phát huy vai trò của lý luận trong thời kì đổi mới, lý luận phải thật sự làm cơ sở khoa học cho sự lãnh đạo củaĐảng và quản lý của Nhà nước Lý luận phải cung cấp được những căn cứ khoa học đáng tin cậy cho việc hoachjddịnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước Và để lý luận thực sự có tác dụng làm cơ sở khoa họccho đường lối đối mới của Đảng và sự nghiệp quản lý của Nhà nước thì Đảng và Nhà nước phải coi trọng lý luận, coitrọng đội ngũ cán bộ lý luận, cán bộ khoa học, biết sử dụng họ vào công tác nghiên cứu, đề xuất chủ trương, đường lối,chính sách
Lý luận góp phần dự báo xu hướng vận động của sự nghiệp đổi mới sự nghiệp đổi mới của chúng ta đầy khókhăn, phức tạp, diễn ra trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động Nếu lý luận không thực hiện tốt vai trò dự báo thì sựnghiệp đổi mới sẽ trở nên bị động
Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm (khuynh hướng tư tưởng vàhành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, coi thường, hạ thấp lý luận), bệnh giáo điều (khuynh hướng tư tưởng vàhạnh động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn hoặc vận dụng kinh nghiệm của người khác,địa phương khác, nước khác mà không tính đến điều kiện thực tiễn của thể của cơ quan, địa phương, ngành mình)
3 LÝ LUẬN VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ XÃ HỘI; GIAI CẤP; NHÀ NƯỚC (BÀI 2)
Câu 10:Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phá triển của LLSX) Liên hệ sự vận dụng của Đảng trong thực tiễn nước ta
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một phương thức sản xuất riêng Đó là cách thức con người thực hiện quá trình
vật chất ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định Phương thức sản xuất vật chất là sự thống nhất biện chứng của lực lượng sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất (QHSX)
Vậy lực lượng sản xuất là gì: Quan hệ sản xuất là gì? Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ như thế nào?
LLSX là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động để tạo ramột sức xản xuất nhất định Người lao động là con người có sức khỏe, có kỹ năng lao động và có tri thức Công cụ laođộng như cày, cuốc, máy kéo, dệt, máy, xe tải…; những nhiên liệu sản xuất như xăng, dầu, điện
Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể, đóng vai trò quan trọng nhất, chiếm vị tríhàng đầu Vì, với tư cách là chủ thể của lao động, con người không chỉ sáng tạo ra công cụ lao động, mà còn là ngườitrực tiếp sử dụng chúng để sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội
Công cụ lao động chính là “khí quan của bộ óc con người”, là “sức mạnh của tri thức đã được vật thể hóa”, có tácđộng “nối dài bàn tay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ con người.Bởi vậy, khi công cụ lao động đã đạt tới trình độ tin họchóa, số hóa, tự động hóa… một cách phổ biến như hiện nay, thì hiệu năng của nó thật sự rất kỳ diệu.Trong mọi thờiđại, công cụ lao động luôn là yếu tố động nhất (tức là dễ biến đổi, tiến hóa lên mức cao hơn nhất) của lực lượng sảnxuất Điều này biểu hiện năng lực thực tiễn của con người ngày càng tăng thêm, bởi công cụ sản xuất là do chính conngười chế tạo ra.Chính sự chuyển đổi, cải tiến, hoàn thiện không ngừng của công cụ lao động đã gây ra những biến đổisâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Xét cho cùng, đó chính là nguyên nhân sâu xa của mọi biến cải xã hội Ngày naykhoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho lực lượng sản xuấthiện đại Những phát minh khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới Yếu tố trí lực trongsức lao động hiện đại không còn là kinh nghiệm và thói quen mà là tri thức khoa học Và, người lao động có trí tuệngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong lực lượng sản xuất Ví dụ tiêu biểu là công nghệ Internet, trí tuệ nhân
15
Trang 16tạo (AI), mạng 5G,…đã làm thay đổi to lớn nhiều mắt khâu trong quá trình sản xuất của con người Những công nghệ
hiện đại này chính là đặc trưng mang tính thời đại cho lực lượng sản xuất hiện nay.
Quan hệ sản xuất là gì?
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Ví
dụ, Trong quá trình khai thác mỏ than, có có sự phối hợp giữa các công nhân, những người công nhân nghe chỉ đạo của
quản lý…, tức là tồn tại mối quan hệ giữa những con người với nhau (“quan hệ sản xuất
Xét về kết cấu quan hệ sản xuất được cấu thành từ ba quan hệ: quan hệ về mặt sở hữu đối với tư liệu sản xuất
(ví dụ:Quan hệ giữa địa chủ sở hữu đất với tá điền không sở hữu đất là quan hệ sở hữu); Quan hệ trong tổ chức và
quản lý sản xuất (ví dụ: Khi xét đơn thuần trong các mối quan hệ công việc tại công ty A thì quan hệ giữa giám đốc vớicác Trưởng bộ phận… là những quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất); Quan hệ trong phân phối sản phẩm sảnxuất ra Ba quan hệ này thống nhất với nhau Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất làquan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội và nó giữ vai trò quyết định đối vớiquan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm Chẳng hạn, trong xã hội có giai cấp giai cấp nào nắm đượcquyền sở hữu về tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống trị xã hội, do vậy họ có quyền tổ chức và quản lý sảnxuất, quyền phân phối sản phẩm lao động Đồng thời quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có tác động trở lạiđối với quan hệ sở hữu
Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX.
Đây là MQH mang tính biện chứng, khách quan, vốn có của mọi quá trình sản xuất vật chất, của mọi nền kinh
tế
Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX:
Trong MQH giữa LLSX và QHSX thì LLSX giữ vai trò quyết định LLSX là nội dung còn QHSX là hình thứccủa quá trình sản xuất VC, mà nội dung thì quyết định hình thức, vì vậy LLSX quyết định QHSX
Xu hướng của sản xuất VC là biến đổi không ngừng, phát triển; sự phát triển ấy bao giờ cũng bắt đầu từ sự pháttriển của LLSX mà trước hết là công cụ lao động LLSX phát triển thì sẽ buộc QHSX biến đối, phát triển theo cho phùhợp
LLSX ở trình độ nào thì QHSX ở trình độ ấy Ví dụ: Trình độ LLSX ở thời kỳ “đồ đá”, LLSX chưa phát triểnthì QHSX công hữu, làm chung, ăn chung…Hay trình độ sản xuất ở thời kỳ đồ đồng, sắt, nhựa tổng hợp…, LLSX pháttriển thì QHSX là quan hệ tư hữu…
Khi LLSX biến đổi thì QHSX cũng biến đổi theo Vì, LLSX là yếu tố “động” không ngừng vận động, biến đổi,phát triển, trong khi đó QHSX là yếu tố tương đối ổn định Khi LLSX phát triển đến một trình độ nhất định thì QHSX
sẽ trở nên không còn phù hợp với LLSX phát triển; QHSX từ chỗ là hình thức phát triển của LLSX lại trở thành xiềngxích kìm hãm sự phát triển của LLSX, QHSX trở nên mâu thuẫn với LLSX, mâu thuẫn ngày càng gay gắt đòi hỏi phảithay thế QHSX cũ bằng QHSX mới cho phù hợp với LLSX phát triển và khi QHSX mới được thay thế lại tiếp tục thúcđẩy LLSX phát triển và đến một lúc nào đó mâu thuẫn giữa chúng lại trở nên gay gắt Cứ như vậy, tình trạng phù hợp,không phù hợp rồi lại phù hợp… đan xen lẫn nhau, thay thế lẫn nhau, chuyển hóa lẫn nhau diễn ra trong suốt quá trìnhtác động qua lại biện chứng giữa LLSX và QHSX thúc đẩy nền sản xuất vật chất cũng như HX phát triển không ngừng
từ phương thức sản xuất này lên phương thức sản xuất khác, từ hình thái KT - XH này lên hình thái KT - XH khácngày càng cao hơn
Sự tác động trở lại của QHSX đối với sự phát triển của LLSX:
QHSX bị quy định bởi LLSX nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại đối với LLSX QHSX quy định mục đích củ sản xuất, quy định khuynh hướng phát triển của các nhu cầu lợi ích vật chất, lợi íchtinh thần, ảnh hưởng đến thái độ lao động của người lao động; kích thích hoặc kìm hãm việc cải tiến công cụ lao độngcũng như việc áp dụng các tiến bộ hkhoa học - kỹ thuật vào sản xuất
QHSX là hình thức XH của quá trình sản xuất vật chất, vì thế, nó có thể tác động trở lại LLSX (nội dung) theohai xu hướng sau:
Thứ nhất, khi QHSX không phù hợp với trình độ phát triển của LLSX (thể hiện ở 3 điểm: QHSX lạc hậu,QHSX lỗi thời, QHSX vượt trước) sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của LLSX
16
Trang 17Thứ hai, Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì sẽ thúc đẩy LLSX phát triển Vì nó đưa rađược hình thức tổ chức, quản lý cao hơn, phương thức phân phối hợp lỹ hơn thông qua đòn bẩy “lợi ích” thúc đẩyngười lao động hăng hái sản xuất, qua đó nó thúc đẩy nền sản xuất cũng như LLSX phát triển.
+ Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất đang kìm hãm
sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến (cải cách, đổi mới, )…
- Nghiên cứu quy luật này để chúng ta hiểu về chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước
* Sự vận dụng quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX ở nước ta:
Bối cảnh chung của đất nước trước 1986
- Thuận lợi:
Đất nước được giải phóng, Nam – Bắc thống nhất, quyết tâm đi lên CNXH
Có Đảng dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo
- Khó khăn:
Đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, các thế lực thù địch bao vây cấm vận
Chiến tranh biên giới nổ ra cả Miền Bắc và Miền Nam
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp
Từ những sai lầm trong nhận thức đã dẫn tới những sai lầm trong chỉ đạo thực hiện, vi phạm quy luật, làmtrái quy luật khách quan, cụ thể:
Một là, xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu SX một cách ồ ạt, trong khi chế độ đó đang tạo địa bàn cho
sự phát triển không đồng đều
Hai là, xây dựng chế độ công hữu về TLSX một cách tràn lan, trong khi trình độ LLSX còn thấp kém và phát
triển không đồng đều
Đồng thời, trong xây dựng QHSX mới – QHSX xã hội chủ nghĩa về thực chất chúng ta mới xác lập được chế
độ sở hữu, còn hình thức tổ chức quản lý và cách thức phân phối chưa được giải quyết đứng đắn
Dẫn đến nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng Hiệu ứng sau đổi tiền 1985 dẫn đến lạmphát lên đến mức 774%, đất nước đứng trước nhiều thách thức
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 năm 1986
Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, thừa nhận những sai lầm khuyết điểm trong quátrình lãnh đạo đất nước, toàn Đảng và cả dân tộc quyết tâm đổi mới đất nước
Chuyển nền kinh tế thuần nhất XHCN sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN Đó chính
là sự vận dụng quy luật sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".
Đại hội X tiếp tục xác định: “Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong
đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.
Đại hội XI chỉ ra các thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư
17
Trang 18nước ngoài các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo tạo môi trường
và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Đại hội XII tiếp tục khẳng định: “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời đảm bảo định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”
Đồng thời khẳng định: Phát triển lực lượng sản xuất là để xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, nên
phải tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta
Thực tiễn đã chứng minh rằng, đường lối đổi mới đó là đúng đắn và sáng tạo, chúng ta đã đạt được nhiều
thành tựu “Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử; đường lối đổi mới của Ðảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; Ðảng luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, trung thành với giai cấp và dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thách thức, sáng suốt lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta tiến lên Qua đó, Ðảng ngày càng tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm; nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.
Câu 11: Cơ sở hạ tầng là gì? Kiến trúc thượng tầng là gì
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan tạp thành quan hệ vật chất của xã hội Trên cơ sở quan
hệ sản xuất hình thành nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đó của đời sống xã hội được kháiquát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
CSHT là tổng hợp những QHSX hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định CSHT hình thành một cáchkhách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội
Về kết cấu, CSHT trong một xã hội thông thường được cấu thành bởi: QHSX tàn dư (QHSX của phương thứcsản xuất cũ); QHSX thống trị (QHSX của phương thức sản xuất đang thống trị trong xã hội ấy) và QHSX mầm mống
(QHSX của phương thức sản xuất tương lai) Trong đó, quan hệ sản xuất thống trị giữ địa vị chi phối, có vai trò chủ
đạo và quyết định tính chất, đặc trưng của một cơ sở hạ tầng nhất định Tuy nhiên, hai kiểu quan hệ sản xuất còn lạicũng có vai trò nhất định Ví dụ, trong xã hội tư bản chủ nghĩa có quan hệ sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa (đã lỗi thời);quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (thống trị), và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (mầm mống của tương lai)
KTTT là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tô giáo, nghệ thuật…cùng với nhữngthiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể…được hình thành trên một CSHT nhất định
Trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm và quy luật phát triển riêng Nhưng chúng đều liên hệ với nhau và đều nảy sinh từ cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở hạ tầng.
Trong xã hội có giai cấp thì KTTT cũng mang tính gia cấp Trong đó, Nhà nước là công cụ của giai cấp thốngtrị, bộ phận có quyền lực nhất Bởi vì nhờ có NHà nước, giai cấp thống trị mới thực hiện được sự thống trị của mìnhtrên các mặt đời sống xã hội
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, kiến trúc thượng tầng gồm có: Hệ tư tưởng và các thiết chế của giai cấp
thống trị (như chủ nô, địa chủ, tư sản…); Các quan điểm và tổ chức của giai cấp bị trị (như nô lệ, tá điền, công nhân…)đối lập với giai cấp thống trị; Tàn dư của các quan điểm xã hội đã lỗi thời;Quan điểm của các tầng lớp trung gian (nhưtrí thức, nông dân…);v.v…
Câu 12: Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Quan hệ sản xuất được hình thành một cách khách quan tạp thành quan hệ vật chất của xã hội Trên cơ sở quan
hệ sản xuất hình thành nên các quan hệ về chính trị và tinh thần của xã hội Hai mặt đó của đời sống xã hội được kháiquát thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng là gì:
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội nhất định Chúng bao gồm 3 loại: quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội trước và quan hệ sản xuất mầm mống của
xã hội tương lai Trong đó, quan hệ sản xuất thống trị là chủ đạo và chi phối các loại quan hệ sản xuất khác và tạo nên
đặc trưng của một loại cơ sở hạ tầng nào đó Các quan hệ sản xuất khác cũng có vai trò nhất định
18
Trang 19Kiến trúc thượng tầng là gì?
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm tư tưởng (chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, triết học ) và những thiết chế xã hội tương ứng (Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các tổ chức quần chúng ) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
Trong các bộ phận của kiến trúc thượng tầng thì nhà nước là bộ phận có quyền lực mạnh nhất, nó tiêu biểucho chế độ chính trị của một xã hội nhất định Nhờ nó mà giai cấp thống trị có thể áp đặt hệ tư tưởng thống trị của giaicấp mình cho giai cấp khác và toàn bộ xã hội Trong xã hội có đối kháng giai cấp, kiến trúc thượng tầng cũng mangtính đối kháng và phản ánh tính đối kháng của cơ sở hạ tầng
Giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau:
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội tồn tại không tách rời và có quan hệ tácđộng biện chứng với nhau Nó thể hiện:
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng:
Mỗi cơ sở hạ tầng hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó Quan hệ sản xuất nào thốngtrị thì tạo nên kiến trúc thượng tầng chính trị tương ứng; giai cấp nào thống trị về kinh tế thì tư tưởng của giai cấp đó
cũng thống trị Mâu thuẫn trong kinh tế quyết định mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng Mác viết “toàn bộ những quan
hệ xã hội ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”
Ví dụ: nếu quan hệ sản xuất là phong kiến thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng từ hệ tư tưởng chính trị, pháp
quyền, đạo đức, triết học đến các thiết chế xã hội đều của giai cấp phong kiến, phản ánh và bảo vệ lợi ích cho giai cấpphong kiến
Khi cơ sở hạ tầng thay đổi, thì kiến trúc thượng tầng cũng biến đổi theo để đảm bảo sự tương ứng Chẳng
hạn, khi cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản thời kỳ tự do cạnh tranh chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền thì kiếntrúc thượng tầng của chủ nghĩa tư bản cũng biến đổi theo: Nhà nước dân chủ tư sản chuyển thành Nhà nước độc quyền;các quan điểm chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật có xu hướng phản tiến bộ Quá trình đó không chỉ diễn ra khi
có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong mỗi hìnhthái kinh tế - xã hội
Khi cơ sở hạ tầng cũ mất đi thì sớm hay muộn kiến trúc thượng tầng cũ cũng mất đi, kiến trúc thượng tầng mới ra đời theo để đảm bảo sự tương ứng Sở dĩ như vậy do kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và nó có
nhiều bộ phận mà mỗi bộ phận ra đời hoặc mất đi không đồng loạt, ngang nhau
Lực lượng sản xuất không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng mà nó chỉ làm thay đổi quan hệ sản xuất, tức trực tiếp làm thay đổi cơ sở hạ tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng.
Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lên cơ sở hạ tầng
Tuy cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng nhưng chủ nghĩa Mác – Lênin cũng luôn nhấn mạnh tính độclập tương đối và khả năng tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng:
Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận của KTTT cũng có ảnh hưởng đến sự tồn tại, vận động và pháttriển của KTTT KTTT không chỉ tác động đến CSHT mà chúng còn tác động lẫn nhau Ví dụ, giữa đạo đức và phápluật, giữa chính trị và triết học,,,có tác động, ảnh hưởng lẫn nhau và cùng tác động đến CSHT
KTTT còn tác động trở lại đối với CSHT Sự tác động của kiến trúc thượng tầng thể hiện trước hết ở chức năng
xã hội Kiến trúc thượng tầng có chức năng bảo vệ, là công cụ đắc lực để củng cố, duy trì sự phát triển của cơ sở hạ
tầng sinh ra nó, đồng thời đấu tranh xóa bỏ cơ sở hạ tầng cũ và kiến trúc thượng tầng cũ Đồng thời, mỗi bộ phận, yếu
tố khác nhau thuộc kiến trúc thượng tầng cũng đều có khả năng tác động ít nhiều lên cơ sở hạ tầng Những bộ phận
đó tác động lên cơ sở hạ tầng theo những cơ chế khác nhau, bằng nhiều hình thức khác nhau.Trong đó, nhà nước có
vai trò đặc biệt quan trọng, có khả năng tác động lớn nhất và trực tiếp nhất lên cơ sở hạ tầng Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng.Nếu không có chính quyền của giải cấp công nhân và nhân dân lao
19
Trang 20động thì không thể xây dựng được cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa xã hội Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ đắc lực
để cải tạo và xóa bỏ cơ sở hạ tầng cũ, tạo lập cơ sở hạ tầng mới
Sự tác động của KTTT đến CSHT theo nhiều chiều đan xen, nhưng thường diễn ra theo hai chiều tích cực và tiêucực:
Một là, sự tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ thúc đẩy kinh tế, cơ sở hạ tầng phát triển
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng nếu phù hợp, cùng chiều phát triển vớ cơ sở hạ tầng thì sự tác động đó
mang lại hiệu quả thúc đẩy sự tiến bộ xã hội
Hai là, Sự tác động không phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế, thậm chíđẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng Nếu KTTT kìm hãm kinh tế phát triển thì sớm hay muộn, bằng cáchnày hay cách khác, KTTT cũ sẽ bị thay thế bằng KTTT mới tiến bộ hơn, để thúc đẩy kinh tế phát triển
Như vậy, sự tác động trỏe lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở kinh tế rất to lớn, nhưng nếu tuyệt đối hóavai trò của KTTT một cách chủ quan, duy ý chí sẽ dẫn đến những sai lầm gây hậu quả đối với sự phát triển kinh tế, sựtiến bộ xã hội
Sự vận dụng vào mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng vào công cuộc đổi mới nước ta:
Quan hệ giữa CSHT và KTTT thực chất là quan hệ giữa kinh tế và chính trị Phép biện chứng giữa kinh tế vàchính trị khẳng định kinh tế quyết định chính trị, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Sai lầm của một số nướcXHCN trước đây là cường điệu hóa vai trò của KTTT, của chính trị
Trong đổi mới, nước ta đã vận dụng một cách sáng tạo mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT, đổi
mới đồng bộ với những bước đi thích hợp giữa kinh tế và chính trị nên đã giành được nhiều thành tưu to lớn; chủ nghĩa xã hội được giữ vững, kinh tế phát triển, tiến bộ xã hội được biểu hiện một các rõ rệt
Đảng ta xác định: "Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ
nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa"
CSHT Việt Nam hiện nay bao gồm các kiểu quan hệ sản xuất gắn liền với các hình thức sở hữu khácnhau.Các hình thức sở hữu đó tương ứng với các thành phần kinh tế khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng cùng tồntại trong một cơ cấu kinh tế thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa Ở Việt Nam hiện nay, các hình thức sở hữu
cơ bản gồm sở hữu nhà nước (hay sở hữu toàn dân, trong đó nhà nước là đại diện của nhân dân), sở hữu tập thể, sở hữu
tư nhân Các thành phần kinh gồm kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, hợp tác xã; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tưcủa nước ngoài.Nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành đầy đủ, đồng bộtheo các quy luật của nền kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là nền kinh tế hiệnđại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủđạo, kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, các thành phần kinh tế khác được khuyến khích phát triểnhết mọi tiềm năng
Trong xây dựng kiến trúc thượng tầng ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định:Lấy chủ nghĩa
Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng Xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa mang tínhchất giai cấp công nhân, do đội tiên phong của giai cấp công nhân là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm đểnhân dân là người làm chủ xã hội
Các tổ chức, bộ máy thuộc hệ thống chính trị như Đảng Cộng sản, Quốc hội, Chính phủ, quân đội, công an, tòa
án, ngân hàng… không tồn tại vì lợi ích của riêng nó mà là để phục vụ nhân dân, thực hiện cho được phương châm mọilợi ích, quyền lực đều thuộc về nhân dân
Câu 13: Vì sao sự phát triển của những hình thái kinh tế -xã hội là quá trình lịch sự tự nhiên? Liên hệ vớ quá trình phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam?
20
Trang 21Hình thái kinh tế - XH là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ một Xh cụ thể ở trong một giaiđoạn phát triển lịch sử nhất định, với những quan hệ sản xuất đặc trưng của nó phù hợp với lực lượng sản xuất ở mộttrình độ phát triển nhất định và một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.
Đứng trên lập trường duy vật lịch sử, chủ nghĩa Mác Leenin khẳng định: “ Sự phát triển của những hình tháikinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên” Tính chất lịch sử - tự nhiên của quá trình phát triển các hình tháikinh tế -xã hội được khẳng định dựa trên những căn cứ sau:
Một là, sản xuất vật chất là cơ sở, nền tảng của sự tồn tại, vận động và phát triển các hình thái kinh tế - xã hội
Con người làm ra lịch sử của mình, tạo ra các quan hệ xã hội của mình nhưng không phải một cách chủ quan, tùyđiện mà trên nền tảng sản xuất vật chất nhấ định Hay nói cách khác, con người không được tự do lựa chọn hình tháikinh tế- xã hội của mình Chẳng hạn, ngày hay hoạt động sản xuất hàng hóa diễn ra mạnh mẽ, số lượng hàng hóa nhiều,con người được đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau Trước đây, hàng hóa khan hiếm, nhu cầu của con người chỉ ở mức
cơ bản, không được đáp ứng nhiều nhu cầu
Mỗi quốc gia đều phải dựa trên cơ sở nền tảng sản xuất vật chất trong nước và trên thế giới mà xây dựng hìnhthái kinh tế - xã hội phù hợp
Hai là, sự vân động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, sự chuyển biến từ hình thái này sang hình thái khác bị chi phối bởi các quy luật khách quan.
Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống trong đó các mặt không ngừng tác động qua lại lẫn nhau tạo thành cácquy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội Đó là quy luật về sự phù hợp của qua hệ sản xuất với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất, biện chứng của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng…Chính sự tác động của các quyluật khách quan đó mà các hình thái kinh tế-xã hội vận động từ thấp đến cao
Quy luật xã hội là quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, tuy nhiên chúngchỉ tồn tại, vận động, thể hiện thông qua hoạt động có ý thức, có mục đích của con người Con người không thể sángtạo rta quy luật, cũng không thể xóa bỏ quy luật một cách tùy tiện
Nguồn gốc sâu xa của sự vận động phát triển của xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất Chính sự pháttriển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự thay đổi của quan hệ sản xuất Đến lượt mình, quan hệ sản xuất làm cho kiếntrúc tượng tầng thay đổi theo Do đó mà hình thái kinh tế - xã hội cũ được thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội mới,cao hơn, tiến bộ hơn Quá trình đó diễn ra một các khách quan chú khoogn phải theo ý muốn chủ quan
Có những dân tộc lần lượt trải qua các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp đến cao, nhưng cũng có những dân tộc bỏqua một vài hình thái kinh tế - xã hội nào đó để tiến lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn trong thời đại đó Bởi vì họ
có điều kiện địa lý, lực lượng giai cấp, tầng lớp xã hội, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế…khách nhau Chẳnghạn, nước Mỹ từ hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ lên Tư bản chủ nghĩa; Australia từ Cộng sản nguyên thủytiến lên tư bản chủ nghĩa…Tuy nhiên, việc bỏ qua như vậy cũng tuân theo quy luật, theo một quá trihf lịch sủ tự nhiênchứ không phải tùy tiện
Như vậy, quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phastt riển xã hội khong những diễn ra bằng con đường phát triểntuần tự mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội nhất định Quá trình phá t triển bỏqua cũng là quá trình lịch sữ - tự nhiên; cũng do nền sản xuất vật chất quyết định và phải tuân theo các quy luật kháchquan thể hiện tính quy định của sự vận động lịch sử
*) Ý nghĩa phương pháp luận:
Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử mà hạt nhân của nó là lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã cungcấp một phương pháp luận thực sự khoa học trong nghiên cứu về lĩnh vực xã hội
Thứ nhất, theo lý luận hình thái kinh tế - xã hội, sản xuất vật chất là cơ sở của đời sống xã hội, phương thức
sản xuất quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất và cũng là nhân tố quyết định trình độ phát triển của đời sống
xã hội và lịch sử nói chung, do đó việc giải thích các hiện tượng trong đời sống xã hội không thể xuất phát từ ý thức, tưtưởng hoặc ý chí chủ quan của con người mà phải xuất phát từ bản thân thực trạng phát triển của sản xuất xã hội, từtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Thứ hai, xã hội là một cơ thể sống động, trong đó các phương diện của đời sống xã hội tồn tại trong một hệ
thống cấu trúc chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò là quan hệ cơ bản nhất, quyếtđịnh các quan hệ khác vì vậy, để lý giải các vấn đề đời sống xã hội cần xuất phát từ quan hệ sản xuất hiện thực của xã
hội để phân tích các phương diện khác nhau (chính trị, pháp luật, văn hóa, khoa học ) của đời sống xã hội và mối
21
Trang 22quan hệ giữa chúng.
Thứ ba, sự vận động, phát triển của xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên, diễn ra theo quy luật khách quan chứ
không phải theo ý muốn chủ quan, do đó muốn nhận thức và giải quyết đúng đắn những vấn đề thực tế của đời sống xãhội thì phải nghiên cứu quy luật vận động, phát triển của xã hội
*) Liên hệ với quá trình phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam?
Khẳng định với điểm xuất phát thấp , đất nước chưa trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa đi lên XHCN
là chúng ta đã lựa chọn con đường “rút ngắn”, “bỏ qua” Đó là sự lựa chọn đúng đắn, không những đáp ứng khát vọngcủa nhân dân lao động mà còn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
Tuy nhiên trong cách mạng XHCN chúng ta đã mặ những sai lầm, chủ quan, duy ý chí của thời kỳ trước đổi mớiđưa nước ta rơi vào khủng hoảng, trì trệ Vì vậy đi lên XHCN “bỏ qua” TBCN cần:
Phải có tư duy đúng đắn về sự phát triển “bỏ qua” với điểm xuất phát thấp Trước đổi mới, quan niệm bỏ qua giađoạn phát triển TBCN là chủ quan duy ý trí Trong đổi mới, “bỏ qua|” việc xác lập vị trí thống trị của QHSX và KTTTTBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tự mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt là khoa học,cong nghệ để phát triển nhanh LLSX, xây dựng nền kinh tế hiện đại Trên cơ sở tư duy mới đó của Đảng, công cuộcđổi mới ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Do vậy, bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Namthực chất là bỏ qua việc xác lập vị trí của QHSX và KTTT tư bản chủ nghĩa
Phải phát huy vai trò của nhân tố chủ quan, khai thác triệt để những điều kiện khách quan, để đưa đất nước đi lênCNXH “bỏ qua” chế độ TBCN:
Nhân tố chủ quan như: nước ta có nền độc lập, có sự lãnh đạo của Đàng, sự đồng thuận của xã hội với mục đích
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiệnphát triển toàn diện”…
Một số nhân tố thế giới tác động vào quá trình |”bỏ qua” chế độ TBNC là: lực lượng sản xuất của thời đại đãmang tính chất quốc tế hóa ngày càng cao, toàn cầu hóa là xu hướng tất yếu khách quan; Chúng ta có khả năng khaithác, sử dụng thành phần kinh tế tư bản như một khâu trung gian để chuyển nền sản xuất nhỏ lên sản xuất CNXH “Bỏqua” chế độ TBCN đã có tiền lệ trong lịch sử nhân loại Xu thế chung của thế giới là lên chủ nghĩa cộng sản mà giađoạn đầu của nó là CNXH
Câu hỏi về: GIAI CẤP - NHÀ NƯỚC (SÁCH GIÁO TRÌNH TRANG 82-106)
II GIAI CẤP – NHÀ NƯỚC
1 Giai cấp và đấu tranh giai cấp
Lê nin đã từng coi lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp là “một trong những thành tựu vĩ đại nhất của khoa học xã hội”
a Khái niệm giai cấp
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, gắn liền giai cấp với phương thức sản xuất, trước hết là quan hệ sản
xuất V.I.Lênin nêu ra định nghĩa: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau
về địa của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ phần của cải xã hội ít hay nhiều mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định”1
Qua định nghĩa cho thấy ba đặc trưng cơ bản của giai cấp:
Thứ nhất, khác nhau về quan hệ giữa họ với việc sở hữu những tư liệu sản xuất của xã hội.
Thứ hai, khác nhau về vai trò của họ trong tổ chức quản lý sản xuất, tổ chức quản lý lao động xã hội.
1 V.L.Lênin toàn tập, NXB tiến bộ M.1977, T39, Tr 17-18
22
Trang 23Thứ ba, khác nhau về phương thức và quy mô thu nhập những sản phẩm lao động của xã hội.
Lưu ý: trong những sự khác nhau nêu trên, sự khác nhau của họ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất có ý nghĩa
quyết định Đó là bản chất của những xung đột giai cấp trong các xã hội có giai cấp đối kháng Cội nguồn của sự bất bình đẳng trong xã hội đồng thời giúp chúng ta thấy rõ thực chất của quan hệ giai cấp là quan hệ bóc lột, là tập đoàn này chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác.
Ngoài giai cấp thống trị và bị trị còn có các giai cấp và tầng lớp trung gian, không chiếm địa vị cơ bản trongphương thức sản xuất
Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ, giai cấp vô sản, tư sản và các tầng lớp kháctrong xã hội đều đang có những biến đổi to lớn nhưng đặc trưng của chủ nghĩa tư bản vẫn là tình trạng bóc lột ngàycàng mở rộng, nạn thất nghiệp vẫn là vấn đề nan giải, ngày một tăng
Định nghĩa giai cấp của Lênin có giá trị cả về lý luận và thực tiễn, nó chỉ ra nguồn gốc phát sinh giai cấp, là
cơ sở để xác định kết cấu giai cấp trong một xã hội nhất định
b Nguồn gốc hình thành giai cấp
- Nguồn gốc kinh tế là nguồn gốc quan trọng nhất G/c chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất
định Mác viết: đã có hàng triệu năm loài người sống trong xã hội cộng sản nguyên thủy với “nền kinh tế gia đình được một loạt gia đình tiến hành chung và theo nguyên tắc cộng sản trong xã hội ấy tất cả đều bình đẳng và tự do ”2
Thời kỳ nguyên thủy: trình độ sản xuất thấp, sản phẩm làm ra chưa đủ nuôi sống con người, để tồn tại họ phảisống bầy đàn lệ thuộc vào nhau nên g/c chưa xuất hiện
- Khi LLSX phát triển, CCSX bằng kim loại ra đời thay thế công cụ bằng đá dẫn đến năng suất lao động tăngđáng kể cho nên của cải dư thừa xuất hiện dẫn đến phân công LĐ hình thành, dẫn đến chế độ tư hữu ra đời vì thế g/cxuất hiện Như vậy XH chiếm hữu nô lệ là XH có g/c đầu tiên hình thành bằng 2 con đường: phân hóa nội bộ trongCSNT và chiến tranh cướp bóc, biến tù binh thành nô lệ
- Nguồn gốc sâu xa của sự ra đời các giai cấp trong xã hội là sự phát triển của LLSX, còn nguồn gốc trực tiếpcủa nó là chế độ tư hữu
Sự tồn tại của g/c đối kháng gắn với chế độ CHNL, PK, TBCN, CNTB phát triển cao lại tạo tiền đề thủ tiêuchế độ tư hữu, cơ sở kinh tế của đối kháng g/c trở thành xu thế khách quan trong sự phát triển xã hội dẫn tới logickhách quan của tiến trình phát triển lịch sử
c Kết cấu giai cấp
- Kết cấu giai cấp gắn với một PTSX nhất định, mỗi PTSX có một kết cấu giai cấp phù hợp với nó
- Trong một xã hội cụ thể, kết cấu giai cấp rất đa dạng do chế độ kinh tế và cơ cấu kinh tế quy định Nó cógiai cấp cơ bản và giai cấp không cơ bản
+ Các giai cấp cơ bản là các giai cấp gắn với PTSX thống trị trong một xã hội nhất định
+ Các giai cấp không cơ bản là những giai cấp gắn với PTSX tàn dư
- Tầng lớp trung gian là sản phẩm của chính PTSX đang thống trị hoặc là kết quả của quá trình phân hóa xãhội liên tục xảy ra trong bất cứ xã hội nào
Lưu ý: giai cấp cơ bản và giai cấp không cơ bản có thể có sự chuyển hóa khi có một PTSX mới thay thếPTSX hiện thời
d Đấu tranh giai cấp
* Khái niệm đấu tranh giai cấp
V.I.Lênin định nghĩa: “Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận nhân dân này chống một bộ phận khác, cuộc đấu tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức và lao động chống bọn có đặc quyền, đặc lợi, bọn
áp bức và ăn bám, cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô sản chống những người
2 C.Mac và Ăng ghen; toàn tập,NXB chính trị quốc gia, H 1995, t21, tr 147-148
23
Trang 24hữu sản hay giai cấp tư sản”3.
Đấu tranh giai cấp là đấu tranh giữa các tập đoàn người mà lợi ích cơ bản của họ đối lập, không thể dung hoà
Điều kiện để một giai cấp tiến hành đấu tranh chống một giai cấp khác là giai cấp đó “nhất thiết phải là một giai cấp
đã hoàn toàn ly khai và hoàn toàn đối lập với kẻ thù của mình” Vì vậy đấu tranh giai cấp không do một lý thuyết nào
tạo ra mà là một hiện tượng tất yếu trong xã hội có áp bức giai cấp
Lưu ý: trong xã hội có đối kháng giai cấp, những giai cấp luôn phải tập hợp lực lượng trong xã hội về phía
mình để đảm bảo cho cuộc đấu tranh giành thắng lợi Liên minh giai cấp là một yếu tố quan trọng mà các giai cấp thường xuyên phải tính tới trong việc giải quyết các nhiệm vụ lịch sử.
* Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển của xã hội có giai cấp
Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì đấu tranh giai cấp là một trong những động lực phát triển quan trọng.Vai trò đó thể hiện ở các khía cạnh sau:
Sản xuất bao giờ cũng phát triển trong quan hệ giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, Giữa hai mặt đó luôn luôn có mâu thuẫn Trong xã hội có giai cấp đối kháng, biểu hiện về mặt xã hội của của mâu thuẫn là mâu thuẫn
giữa hai giai cấp cơ bản: giai cấp bị trị đại diện cho lực lượng sản xuất mới, giai cấp thống trị đại diện cho quan hệ sảnxuất Giai cấp thống trị không bao giờ tự từ bỏ lợi ích và địa vị thống trị Mâu thuẫn giai cấp tất yếu dẫn tới đấu tranhgiai cấp Đấu tranh giai cấp tới đỉnh cao dẫn tới cách mạng xã hội, thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuấtmới, thay thế hình thái kinh tế - xã hội cũ bằng hình thái mới
- Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển các mặt đời sống xã hội trong thời kỳ phát triển bình thường của xã
hội có giai cấp Ví dụ, sự đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại việc kéo dại ngày lao động thúc đẩy giới chủ sử dụng máy móc mới, hoàn thiện kỹ thuật, đổi mới quản lý từ đó nâng cao năng suất lao động, làm phát triển lực lượng
sản xuất
- Đấu tranh làm cho giai cấp tư sản phải tiến hành những cải cách mang tính chất tiến bộ Đấu tranh giai cấpcũng có tác dụng cải tạo và đổi mới bản thân các giai cấp cách mạng và quần chúng nhân dân lao động Đấu tranh giaicấp còn thúc đẩy sự phát triển của văn hoá, nghệ thuật, khoa học và các mặt khác của đời sống xã hội
Tóm lại: Đấu tranh giai cấp không chỉ là động lực phát triển xã hội có đối kháng giai cấp mà còn là động
lực phát triển phát triển xã hội nói chung Nó là quy luật chung của mọi xã hội có giai cấp, nhưng quy luật ấy có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể.
Ví dụ: Đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản nói chung
Giai cấp vô sản là trung tâm, đại biểu cho xu hướng phát triển của thời đại ngày nay Bởi vì, giai cấp vô sản làsản phẩm của nền đại công nghiệp, là hiện thân của lực lượng sản xuất xã hội hoá, do đó nó có tính tổ chức, kỷ luậtcao Mục tiêu, lý tưởng của giai cấp vô sản là xây dựng chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Đó làmột chế độ xã hội không có tư hữu, không đối kháng giai cấp, không bóc lột, không áp bức, mình vì mọi người và mọingười vì mình Trong cuộc đấu tranh cho lý tưởng đó giai cấp vô sản chỉ mất có xiềng xích và được cả thế giới, do đó
nó có tính triệt để cách mạng Giai cấp vô sản lại có hệ tư tưởng Mác - Lênin, hệ tư tưởng cách mạng, khoa học và tiêntiến nhất trong thời đại ngày nay, có bộ tham mưu vĩ đại là đảng cộng sản lãnh đạo Do đó, giai cấp vô sản hoàn toàn
có khả năng thực hiện được sứ mệnh cao quý của mình, có đủ tư cách và điều kiện lãnh đạo quần chúng lao động trongcuộc đấu tranh giai cấp xoá bỏ xã hội cũ xây dựng xã hội mới
Cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản diễn ra ngay từ khi nó mới ra đời và phát triển từ thấp đến cao, từ
tự phát đến tự giác
* Đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam hiện nay
Trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản diễn ra gay gắt vàquyết liệt, bởi vì đặc điểm lớn nhất của nước ta là từ sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, tự cung, tự cấp, tiến lên chủnghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Do đó, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vừa phải tuân theonhững quy luật chung, vừa bị chi phối bởi những quy luật đặc thù
3 V.L.Lênin toàn tập, NXB tiến bộ M.1977, T7, Tr 237-238
24
Trang 25Thực chất đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là đấu tranh chống khuynh hướng tự phát tư bản chủ nghĩa
và các thế lực thù địch với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Nội dung chủ yếu cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐHtheo định hướng XHCN, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bứcbất công
Bên cạnh những quan điểm về đấu tranh giai cấp nêu trên, hiện nay Đảng ta còn nhấn mạnh vấn đề đoàn kết:
“Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
2 Nhà nước
a Nguồn gốc và bản chất của Nhà nước
+ Nguồn gốc của nhà nước
Nhận xét về thời kỳ cộng sản nguyên thủy (chưa có Nhà nước) Ăngghen viết: “với tất cả tính ngây thơ và
giản dị của nó, chế độ thị tộc đó quả là một tổ chức tốt đẹp biết bao! Không quân đội, hiến binh và cảnh sát, không quýtộc vua chúa, tổng đốc, trưởng quan và quan tòa, không có nhà tù, không có những vụ xử án, - thế mà mọi việc đều trôichảy”
Những Nhà nước xuất hiện sớm nhất khoảng từ 3200 đến 4000 năm trước công nguyên
Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Hai là: sự dư thừa tương đối sản phẩm tiêu dùng và khát vọng muốn chiếm đoạt nó đã làm nảy sinh ở giới có
thẩm quyền thói hám của, dẫn đến phân hóa xã hội
Ba là: chiến tranh ăn cướp giữa các bộ lạc, thị tộc.
Thứ tư: cơ quan tổ chức của thị tộc, bộ lạc dần dần thoát khỏi gốc rễ của nó trong nhân dân.
Nhà nước ra đời sau khi xã hội thị tộc nguyên thuỷ tan rã Nguyên nhân ra đời của nhà nước là: khi chế độ tưhữu ra đời, xã hội có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà Nguy cơ các giai cấp tiêu diệt nhau,
tiêu diệt cả xã hội xuất hiện Để thoát khỏi thảm họa đó nhà nước ra đời, "Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được" và ngược lại: “sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu
thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được”4
Trong lịch sử đã có bốn kiểu Nhà nước của bốn giai cấp thống trị xã hội Lúc đầu đó là nhà nước chủ nô, làsản phẩm của mâu thuẫn không thể điều hòa giữa giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ Sau đó là nhà nước phong kiến, nhànước tư sản và nhà nước vô sản
+ Bản chất của Nhà nước
Nhà nước là một kiểu tổ chức xã hội của xã hội có giai cấp, nó là một bộ máy có hệ thống tổ chức chặt chẽ tácđộng vào mọi mặt của đời sống xã hội nhằm bảo vệ lợi ích và địa vị xã hội của giai cấp thống trị Nhà nước xuất hiện
và tồn tại không phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân hay một giai cấp, trái lại sự xuất hiện của nhà nước là một
tất yếu khách quan để “khống chế những đối kháng giai cấp”, để làm “dịu” xung đột giai cấp, làm cho xung đột giai
cấp diễn ra trong vòng “trật tự” Trật tự ấy hoàn toàn cần thiết để duy trì chế độ kinh tế, trong đó giai cấp này bóc lộtgiai cấp khác5
Về bản chất nhà nước Ph.Ăngghen viết: “Nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của một giai cấp này dùng
để trấn áp một giai cấp khác”, là bộ máy dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác, là cơ quan quyền lực của một giai cấp đối với toàn xã hội, là công cụ chuyên chính của một giai cấp " Nhà nước nói chung, chỉ là
sự phản ánh, dưới hình thức tập trung, của những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất” Đó là bản
chất của nhà nước theo nguyên nghĩa, tức nhà nước của giai cấp bóc lột
Vậy có thể định nghĩa: nhà nước là thiết chế quan trọng nhất của kiến trúc thượng tầng, là bộ phận cơ bản
nhất của hệ thống chính trị, gồm bộ máy quan liêu, quân đội, nhà tù, cảnh sát do giai cấp thống trị tổ chức ra để thựchiện quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế của giai cấp mình
4 V.L.Lênin toàn tập, NXB tiến bộ M.1977, T33, Tr 9-10
5 V.L.Lênin toàn tập, NXB tiến bộ M.1977, T33, Tr 9-10
25
Trang 26+ Đặc trưng của nhà nước
- Nhà nước quản lý dân cư trên một vùng lãnh thổ nhất định
- Có một hệ thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế đối với mọi thành viên trong xãhội
- Hình thành một hệ thống thuế khóa để nuôi bộ máy nhà nước
+ Chức năng cơ bản của nhà nước
- Chức năng thống trị chính trị của giai cấp và chức năng xã hội
Bất kỳ nhà nước nào cũng là công cụ chuyên chính của một giai cấp, nó có thể sử dụng mọi công cụ, biệnpháp để bảo vệ sự thống trị của giai cấp đó
Nhà nước quản lý các hoạt động chung vì sự tồn tại của xã hội
- Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại (hai mặt của một thể thống nhất)
+ Các kiểu nhà nước trong lịch sử
“Kiểu nhà nước” là khái niệm dùng để chỉ bộ máy thống trị đó thuộc về giai cấp nào, tồn tại trên cơ sở kinh
tế nào, tương ứng với hình thái kinh tế – xã hội nào
“Hình thức nhà nước” là khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức và phương thức thực hiện quyền lực nhà
nước Nói cách khác, đó là hình thức cầm quyền của giai cấp thống trị
- Nhà nước chủ nô: Chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc,
- Nhà nước phong kiến: phong kiến quân chủ phân quyền và quân chủ tập quyền
- Dưới chủ nghĩa tư bản hình thức nhà nước phổ biến là chế độ cộng hòa dân chủ tư sản
Ăngghen viết “nhà nước chẳng qua chỉ là một bộ máy của giai cấp này dùng để trấn áp một giai cấp khác,điều đó trong chế độ cộng hòa dân chủ cũng hoàn toàn giống như trong chế độ quân chủ”6
b Nhà nước vô sản – tính tất yếu và đặc điểm của nhà nước vô sản
- Tính tất yếu của nhà nước vô sản
+ Luận điểm của phái vô chính phủ cho rằng, sau khi lật đổ nhà nước tư sản thì xã hội không cần nhà nướcnữa, vì nhà nước nào cũng là nguyên nhân gây nên tai họa
+ Quan điểm cơ hội, hữu khuynh cho rằng sau khi lật đổ nhà nước tư sản, sẽ thực hiện một nhà nước dân chủphi giai cấp
+ Khẳng định tính tất yếu của nhà nước vô sản, C Mác viết “giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sảnchủ nghĩa là một thời cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độchính trị và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”7.Với một số lý do sau:
Thứ nhất, xã hội còn phân chia giai cấp, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn còn tiếp tục, vẫn còn lực lượng mưu toan
phục hồi chế độ cũ, vẫn còn âm mưu xâm lược của các thế lực đế quốc
Thứ hai, xã hội trong thời kỳ quá độ vừa thoát thai từ xã hội cũ, còn mang nhiều dấu vết của xã hội cũ Để
quản lý một xã hội như vậy, cần có sự cưỡng chế, cần pháp luật, kỷ cương, nghĩa là cần có nhà nước, công cụ làm chủcủa nhân dân
Thứ ba, xây dựng CNXH là một sự nghiệp vĩ đại, khó khăn, phức tạp, nó đòi hỏi phải có nhà nước do những
người lao động dưới sự lãnh đạo của ĐCS lập ra để tổ chức và quản lý công việc của xã hội mới
- Những đặc điểm của nhà nước vô sản
Là kiểu nhà nước cuối cùng trong lịch sử, nhà nước vô sản có những đặc trưng cơ bản của nhà nước nóichung – công cụ trấn áp của một giai cấp với một giai cấp khác, Song nhà nước vô sản có những đặc trưng khác vớinhà nước của giai cấp bóc lột
Một là, lần đầu tiên trong lịch sử xuất hiện một nhà nước của dân, do dân, vì dân Nó không còn là nhà nước
của thiểu số thống trị đa số như trước đây, mà là nhà nước của đa số thống trị thiểu số những kẻ chống lại lợi ích của
6 C.Mac và Ăng ghen; toàn tập,NXB chính trị quốc gia, H 1995, t22, tr 290-291
7 C.Mac và Ăng ghen; toàn tập,NXB chính trị quốc gia, H 1995, t19, tr 47
26
Trang 27nhân dân lao động Cơ sở Xh nòng cốt của NNVS là liên minh GC công – nông – trí; GCCN giữ vai trò lãnh đạo thôngqua đội tiên phong của mình.; mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân; nhân dân lao động làm chủ XH trong mọi lĩnhvực – đó là bản chất của nền DC XHCN; tính chất của dân, do dân và vì dân thể hiện thông qua nguyên tắc tổ chức, cơchế hoạt động và pháp luật của NN
Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử, đã ra đời một nhà nước mà chức năng chủ yếu nhất của nó không phải là
bạo lực trấn áp mà là tổ chức xây dựng, phát triển xã hội
Với hai đặc điểm trên, nhà nước vô sản không còn là nhà nước theo nguyên nghĩa mà là nhà nước “ nửa nhà
nước”.
- Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Kế thừa và phát triển quan điểm của Mác – Lênin và Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền đã được ghi
trong Hiến pháp 1946, 1959, 1980 Từ Đại hội VI Đảng ta đã khẳng định “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý”, Đại hội VII bổ sung thêm nội dung “Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó”.
Tuy nhiên phải đến Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (1994) chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN ở nước ta mới chính thức được khẳng định (lưu ý: đây là lần đầu tiên thuật ngữ Pháp quyền được sử dụng
trong văn kiện quan trọng của Đảng)
Nhà nước của ta cũng có đầy đủ những đặc điểm của Nhà nước xã hội chủ nghĩa như đã nêu trên đây Để tiến
vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VIII) của Đảng ta đã đề ra ba chủ trương:
Một là, Tiếp tục phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ
trực tiếp để nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ Nhà nước, nhất là việc giám sát, kiểm tra của nhân dân đối với hoạtđộng của cơ quan và cán bộ, công chức Nhà nước
Hai là, Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững
mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; cán bộ, công chức Nhà nước thực sự là công bộc, tận tuỵ phục vụ nhân dân
Ba là, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; xây dựng và hoàn thiện nội dung, phương thức
lãnh đạo của Đảng với nhà nước
Đại hội XI nhấn mạnh: “Đẩy mạnh XD NNPQ XHCN” tập trung vào 3 nội dung:
Một là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy NN, trong đó đẩy mạnh đổi mới tổ chức và hoạt động
của Quốc Hội, của Chính Phủ, đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, đổi mới hoạt độngcủa chính quyền địa phương
Hai là, Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.
Ba là, tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.
Đại hội XII đưa ra phương hướng, nhiện vụ xây dựng nhà nước như sau:
+ Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm củađổi mới hệ thống chính trị
+ Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả củanhà nước pháp quyền XHCN
+ Hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
+ Chú trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
Câu 14: Tính độc lập tương đối của Ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội? Ý nghĩa đối với việc xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời
Tồn tại xã hội là đời sống vật chất cùng toàn bộ những điều kiện sinh hoạt vật chất, quan hệ vật chất của
xã hội
27
Trang 28Các yếu tố cấu thành tồn tại xã hội gồm: phương thức sản xuất, các yếu tố thuộc điều kiện tự nhiên, hoàn cảnhđịa lý, dân số và mật độ dân cư, trong đó phương thức sản xuất vật chất là quan trọng nhất, là nhân tố cơ bản vì nó làmthay đổi ý nghĩa của hoàn cảnh địa lý và điều kiện dân số trong sự phát triển của xã hội.
Ý thức xã hội là mặt tinh thần đời sống tinh thần của xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng
những tỉnh cảm, tâm trạng…của những cộng đồng ã hội nảy sinh từ tồn tại xã hội của họ và phản ánh tồn tại xã hộitrong những giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định
* Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội:
Triết học Mác - Lênin khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, nhưng cũng khẳng định ý thức xã hội
có tính độc lập tương đối so với tồn tại xã hội Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được xem xét trong quan hệbiện chứng với tồn tại xã hội, vẫn do tồn tại xã hội quyết định, nhưng ý thức xã hội có quy luật vận động nội tại riêng
và luôn tác động mạnh mẽ trở lại tồn tại xã hội Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội được biểu hiện trên nhữngđặc điểm cơ bản sau :
Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội
+ Tính lạc hậu của ý thức xã hội biểu hiện khi tư tưởng xã hội không phản ánh kịp sự phát triển của đời sống xãhội, các hiện tượng ý thức xã hội có nguồn gốc và nảy sinh từ xã hội cũ vẫn tồn tại dai dẳng trong xã hội mới mặc dù
xã hội đã mất đi
Ví dụ: Tục thách cưới hay trọng nam khinh nữ
+ Không chỉ ở cấp độ tâm lý mà ngay cả cấp độ lý luận ý thức xã hội vẫn có thể tồn tại xã hội bị bỏ xa nếu lýluận đó không chuyển đổi kịp thời so với sự biến đổi của hiện thực
Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội:
+ Ý thức xã hội nếu phản ánh đúng quy luật vận động của tồn tại xã hội trong những điều kiện nhất định tư
tưởng của con người đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước tồn tại xã hội chỉ ra chính xác sựvận động của tương lai có tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người
Ví dụ: Cùng với sự tiến bộ của khoa học-kỹ thuật ngày nay con người còn khám phá, thám hiểm sao hỏa, mặttrăng, tìm kiếm những nguyên vật liệu mới phục vụ cho con người
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH nhưng nước ta lấy CN Mac-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làmkim chỉ nam cho hành động đưa đất nước tiến lên cộng sản chủ nghĩa, con người làm theo năng lực, hưởng theo nhucầu, mọi người được sống ấm no, hạnh phúc,… Tư tưởng khoa học tiên tiến nêu lên những dự đoán khoa học vạch racác mục tiêu thể hiện được những nhu cầu chín muồi của đời sống hiện thực và trong tương lai, hướng dẫn động viêngiáo dục quần chúng trong hoạt động thực tiễn
+ Phản ánh vượt trước có cơ sở và phản ánh vượt trước không có cơ sở của ý thức xã hội
Ý thức xã hội được coi là vượt trước tồn tại xã hội nếu nó phản ánh đúng mối quan hệ bản chất tất yếu của tồn tại
xã hội nghĩa là ý thức xã hội phản ánh đúng quy luật khách quan của sự vận động phát triển của tồn tại xã hội
Tư tưởng khoa học tiên tiến có thể vượt trước ý thức xã hội nhưng xét đến cùng nó bắt nguồn từ tồn tại xã hội nó
dự báo trước thực tại khách quan của tự nhiên xã hội
Ngược lại nếu ý thức xã hội không phản ánh đúng quy luật khách quan của sự vận động phát triển tồntại xã hội và bị chi phối bởi mong muốn chủ quan thì khi đó sự phản ánh vượt trước của ý thức xã hội là không có cơ
sở rơi vào ảo tưởng tác động xấu đến tồn tại xã hội Sở dĩ ý thức xã hội có khả năng vượt trước tồn tại xã hội là do ýthức xã hội có tính tồn tại độc lập tương đối so với tồn tại xã hội nó có khả năng phát huy tính sáng tạo trong phản ánhtồn tại xã hội chính vì vậy ý thức xã hội không chỉ phản ánh cái đã có mà vạch ra cái sẽ có trong tương lai
28
Trang 29Ý nghĩa: Muốn có ý thức xã hội mới – ý thức xã hội XHCN chúng ta phải phát huy cao tính năng động sáng tạo
của nó và vai trò của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới đồng thời khắc phục tính bảo thủ, thụ động ỷ lạitrong cuộc sống
- Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của mình
Kế thừa là 1 trong những tính quy luật của sự phát triển một tư tưởng mới ra đời bao giờ cũng có sựchọn lọc tiếp thu những tinh hoa của quá khứ, quan hệ kế thừa làm cho sự phát triển trong lĩnh vực, ý thức xã hội diễn
ra như một dòng chảy lịch sử tự nhiên nối tiếp liên tục của tư duy giữa các thế hệ
Do ý thức xã hội có tính kế thừa nên không thể giải thích 1 quan điểm tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào quan hệkinh tế xã hội hiện có mà chú ý đến tính kế thừa của nó
Như vậy trong quá trình tồn tại xã hội và ý thức xã hội luôn có tính kế thừa nó không ra đời từ hư vô mà ra đờinhững tiền đề kinh tế xã hội và những tư tưởng trước đó
Ý nghĩa
Chủ động lựa chọn kế thừa những tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại để xây dựng xã hội mới cần gìngiữ và nâng cao các giá trị truyền thống quý báu như yêu nước, nhân ái đoàn kết… của dân tộc
Làm cơ sở đấu tranh chống quan điểm phủ định sạch trơn đối với quá khứ cũng như thái độ bảo thủ bê nguyên
si những yếu tố tinh thần của các thời kỳ trước trong kế thừa di sản văn hóa
Trong công cuộc cải tạo và xây dựng CNXH ở Việt Nam chúng ta không thể nào sáng tạo ra được một nền vănhóa mới XHCN nếu không biết kế thừa những di sản quý giá do toŕn thể nhân loại tạo ra qua bao thế hệ
Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng
Các hình thái ý thức xã hội tác động lẫn nhau Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội vừa
là sự biểu hiện tương đối của ý thức xã hộ vừa là quy luật phát triển của ý thức xã hội Trong sự phát triển của ý thức
xã hội, các hình thái ý thức xã hội như tư tưởng, chính trị, đạo đức, pháp quyền, tôn giáo, triết học… không thể táchrời nhau mà tác động ảnh hưởng lẫn nhau xâm nhập vào nhau trên cơ sở phản ánh tồn tại xã hội
Trong xã hội có giai cấp hình thái ý thức chính trị có ảnh hưởng to lớn nhất và giữ đại vị chi phối đối với cáchình thái ý thức xã hội khác
Thứ năm: Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
Ý thức xã hội không chỉ chịu sự phân phối quy định của tồn tại xã hội mà nó còn tác động trở lại đối với tồn tại
xã hội đây là 1 biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, sự tác động này phải thông qua hoạt
động của con người và diễn ra theo 2 khuynh hướng khác nhau: Những tư tưởng khoa học và tiến bộ góp phần thúc
đẩy xã hội phát triển Ngược lại những tư tưởng lạc hậu, phản động thỉ cản trở sự phát triển của xã hội
Tính chất và hiệu quả tác động của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
- Tính tiến bộ cách mạng hay lạc hậu phản động của chủ thể mang ý thức xã hội
- Tính khoa học hay không hoa học của ý thức xã hội
- Mức độ xâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng nhân dân
Mức độ truyền bá mở rộng của tư tưởng đó trong quần chúng
Ý nghĩa đối với việc xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay?
Ý thức xã hội mới ở nước ta bắt nguồn từ ý thức cách mạng của giai cấp vô sản, là sự kế thừa tư tưởng xã hội caođẹp về bình đẳng xã hội trong lịch sử tư tưởng nhân loại, là sự vận dụng kế thừa phát triển của Mác - Lê nin, tư tưởng
Hồ chí minh trong điều kiện thực tiễn Việt Nam Vì vậy, ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay mang tính khoa học, tiêntiến, cách mạng và dân tộc, cụ thể:
-Ý thức xã hội không hình thành một cách tự phát mà hình thành một cách tự giác, lâu dài, dưới sự lãnh đạo củaĐCS với sự tham gia tích cực của quảng đại quần chúng nhân dân Đảng có thể hoàn thành sứ mệnh lãnh đạo khi biếtnâng cao tầm trí tuệ, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo và gắn bó máu thịt với nhân dân
- Ý thức xã hội mới là kết quả của sự kế thừa toàn bộ những tinh hoa trong lịch sử tư tưởng dân tộc và nhân loại,đồng thời đấu tranh không khoan nhượng với những ý thức lạc hậu, phản tiến bộ Đó là quá trình đấu tranh khắc phụcnhững tư tưởng, tập quán, thói quen lạc hậu; chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng phản động; làm
29
Trang 30thất bại cuộc tiến công về tư tưởng của lực lượng phản cách mạng Đồng thời đây cũng là cuộc đấu tranh bảo vệ sựtrong sáng của CN Mac-Lenin, TTHCM, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước Đây làquá trình đầy khó khăn, gian khổ, lâu dài, đòi hỏi sự nổ lực, cố gắng của mỗi cán bộ, đảng viên, của toàn Đảng toàndân.
- Hình thành ý thức xã hội mới phải gắn liền với phát triển kinh tế, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa,phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Hiện nay, đất nước ta đang phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa, giao lưu, hội nhập kinh tếQuốc tế, chúng ta cần phải chú ý giữ vững định hướng XHCN của sự phát triển kinh tế cùng với sự phát triển kinh tếthị trường định hướng XHCN, chúng ta phải phát huy được quyền làm chủ của nhân dân lao động, mới lô cuốn đượcđông đảo quần chúng tham gia cải tạo nhwungx tư tưởng lạc hậu, đấu trah có hiệu quả những tư tưởng sai trái, phảntiến bộ, tự giác hình thành trong bản thân ý thức xã hội mới Có phát huy được quyền làm chủ của nhân dân lao độngthì mới thu hút được đông đảo họ tham gia vào quản lý, xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, khoahọc Đây là điều kiện cơ bản, quan trọng cho việc hình thành và phát triển ý thức xã hội mới.\
4 SẢN XUẤT HÀNG HÓA VÀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ TRONG NỀN SẢN XUẤT HÀNG HÓA; ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI VÀ BẢN CHẤT CỦA SẢN XUÁT HÀNG HÓA TƯ BẢN CHỈ NGHĨA Câu 15 : A/C hãy trình bày 2 thuộc tính của hàng hóa Liên hệ với quá trình sản xuất hàng hóa ở nước ta
có đặc điểm gì khác so với quá trình sản xuất hàng hóa ở các nước TBCN?
Hàng hóa có hai thuộc tính là: giá trị sử dụng và giá trị
Gía trị sử dụng của hàng hóa: là công dụng của vật phẩm có thể thể thỏa mãng nhu cầu nào đó của con người: vd:gạo để nấu cơm, vải để mặc, xe đạp để đi…
Bấc cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công dụng đó (Tính có ích đó) làm chohàng hóa có gía trị sử dụng
Gía trị của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học công nghệ và của lực lượngsản xuất nói chung Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị ngày càng nhiều, chủngloại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao
Gía trị sử dụng của hàng hóa là gía trị sử dụng xã hội, vì gía trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sửdụng cho người sản xuất trực trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua bán Điều đó ngườisản xuất hàng hóa phải quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xãhội
Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi
GTSD là công dụng của SP có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người như: gạo để nấu cơm, xe đạp để đi…
GTSD do những thuộc tính tự nhiên của vật quy định
Lượng của GTSD phụ thuộc vào sự phát triển của KHKT
GTSD là phạm trù vĩnh viễn
Giá trị của hàng hóa
- Giá trị trao đổi: là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đỗi giữa những giá trị sử dụng khác nhau Vd: 1m vải =
5 kg thóc
- Để trao đổi với nhau, trước hết chúng ta phải có gía trị sử dụng khác nhau (vải là để may quần áo, thóc để làmthức ăn) Đồng thời giữa chúng lại có thể trao đổi được với nhau vì giữa chúng tồn tại điểm chung: điều là sản phẩmcủa lao động, điều được kết tinh bởi lao động Nhờ đó chúng ta có thể trao đổi cho nhau
Gía trị của hàng hóa: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Chất của hàng hóa
là lao động Lượng của giá trị là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Gía trị là cơ sở của gía
30
Trang 31trị trao đổi, còn giá trị của trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị Vì vậy một hàng hóa dù giá trị sử dụng cao, nhưngnếu hao phí lao động tạo ra nó ít thì giá trị trao đổi thấp và ngược lại.
Vì vậy, người ta trao đổi HH cho nhau chẳng qua là trao đổi LĐ của mình ẩn dấu trong HH đó Chính LĐ hao phí
để tạo ra HH là cơ sở của việc trao đổi và tạo thành GIÁ TRỊ của HH
+ GT của HH là lao động XH của người SX HH kết tinh trong HH
Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa:
Tính thống nhất và tính mâu thuẫn: cả 2 thuộc tính cùng tồn tại trong một hàng hóa, Tính thống nhất vì chúng tồntại đồng thời trong một hàng hóa Tức là một vật phẩm có đầy đủ hai thuộc tính này mới trở thành hàng hóa Nếu thiếumột trong hai thuộc tính trên thì vật phẩm không phải hàng hóa Mâu thuẩn thể hiện ở chỗ, khi là giá trị sử dụng thì cáchàng hóa không đồng nhất về chất, nhưng khi là giá trị thì chúng lại đồng nhật về chất (đều là kết tinh của lao động).Việc thực hiện hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng khác nhau về không gian và thời gian Đứng về phía người sảnxuất, cái mà anh ta cần là giá trị, nhưng họ phải tạo ra gía trờị sử dụng; ngược lại, người tiêu dùng lại cần giá trị sửdụng, nhưng anh ta phải có giá trị, tức là phải có tiền để thanh toán Nó được thể hiện thành mâu thuẫn giữa sản xuất vàtiêu dùng, giữa cung và cầu
* Liên hệ với quá trình sản xuất hàng hóa ở nước ta có đặc điểm gì khác so với quá trình sản xuất hàng hóa ở các nước TBCN
Khác nhau về thuộc tính của nó
- Quá trình sản xuất hàng hóa XHCN
Về sở hữu: chế độ công hữu về tư liệu sản xuất (sở hữu nhà nước và tập thể) tồn tại đa dạng các thành phần kinh
tế nhưng trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Về quản lý: Đảng lãnh đạo Nhà nước quản lý
Về Phân phối: Theo thời gian lao động, dựa trên hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh
tế
Cơ chế thị trường: đảm bảo quy tắc định hướng XHCN
- Quá trình sản xuất hàng hóa TBCN
Về sở hữu: chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất (Tư liệu sản xuất chủ yếu tập trung trong tay một bộ phận nắmquyền trong XHTB (TS) giai cấp VS là lực lượng sản xuất trực tiếp tạo ra sản phẩm nhưng nắm rất ít về TLSX
Về quản lý: Tự phát không hoạch định cụ thể không có sự điều tiết
Về Phân phối: Lợi nhuận phân phối chủ yếu cho giai cấp tư sản, giai cấp vô sản trực tiếp tạo ra sản phẩm thúcđẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển nhưng hưởng từ thành quả của mình rất hạn chế
Cơ chế thị trường: mục đích cao nhất là giá trị thặng dư
Câu h 16 : A/C hãy trình bày 2 thuộc tính của hàng hóa Vì sao hàng hóa có hai thuộc tính đó.
Hàng hóa có hai thuộc tính là: giá trị sử dụng và giá trị
Gía trị sử dụng của hàng hóa: là công dụng của vật phẩm có thể thể thỏa mãng nhu cầu nào đó của con người: vd:điện để thắp sáng, gạo để nấu cơm, vải để may quần áo, xe đạp để đi…
Bấc cứ hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định Chính công dụng đó (Tính có ích đó) làm chohàng hóa có gía trị sử dụng
31
Trang 32Gía trị sử dụng của hàng hóa được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học công nghệ và củalực lượng sản xuất nói chung Xã hội càng tiến bộ, lực lượng sản xuất càng phát triển thì số lượng giá trị ngày càngnhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chất lượng giá trị sử dụng ngày càng cao.
Gía trị sử dụng của hàng hóa là gía trị sử dụng xã hội, vì gía trị sử dụng của hàng hóa không phải là giá trị sửdụng cho người sản xuất trực trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua bán Điều đó ngườisản xuất hàng hóa phải quan tâm đến nhu cầu của xã hội, làm cho sản phẩm của mình đáp ứng được nhu cầu của xãhội
Như vậy, Giá trị sử dụng của hàng hóa là vật mang giá trị trao đổi GTSD là công dụng của SP có thể thỏa mãnnhu cầu nào đó của con người như: gạo để nấu cơm, xe đạp để đi…GTSD do những thuộc tính tự nhiên của vật quyđịnh Lượng của GTSD phụ thuộc vào sự phát triển của KHKT GTSD là phạm trù vĩnh viễn
Giá trị của hàng hóa là một phạm trù khái niệm trừu tượng Muốn biết được giá trị hàng hóa phải thông qua giá trị trao đổi
Giá trị trao đổi: là một quan hệ về số lượng, là tỷ lệ trao đỗi giữa những giá trị sử dụng khác nhau Vd: 1m vải =
5 kg thóc
Để trao đổi với nhau, trước hết chúng ta phải có gía trị sử dụng khác nhau (vải là để may quần áo, thóc để làmthức ăn) Đồng thời giữa chúng lại có thể trao đổi được với nhau vì giữa chúng tồn tại điểm chung: điều là sản phẩmcủa lao động, điều được kết tinh bởi lao động Nhờ đó chúng ta có thể trao đổi cho nhau
Gía trị của hàng hóa: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Chất của hàng hóa
là lao động Lượng là số lượng lao động của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa Gía trị là cơ sở của gía trị trao đổi,còn giá trị của trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị Vì vậy một hàng hóa dù giá trị sử dụng cao, nhưng nếu haophí lao động tạo ra nó ít thì giá trị trao đổi thấp và ngược lại
Vì vậy, người ta trao đổi HH cho nhau chẳng qua là trao đổi LĐ của mình ẩn dấu trong HH đó Chính LĐ hao phí
để tạo ra HH là cơ sở của việc trao đổi và tạo thành GIÁ TRỊ của HH
GT của HH là lao động XH của người SX HH kết tinh trong HH GT là một phạm trù lịch sử GT của HHphản ánh mối quan hệ XH giữa những người SX hàng hóa Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Tóm lại: Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Giá trị traođổi là quan hệ tỷ lệ về lượng giữa những GTSD khác nhau
Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa:
Tính thống nhất và tính mâu thuẫn: cả 2 thuộc tính cùng tồn tại trong một hàng hóa, Tính thống nhất vì chúng tồntại đồng thời trong một hàng hóa Tức là một vật phẩm có đầy đủ hai thuộc tính này mới trở thành hàng hóa Nếu thiếumột trong hai thuộc tính trên thì vật phẩm không phải hàng hóa Mâu thuẩn thể hiện ở chỗ, khi là giá trị sử dụng thì cáchàng hóa không đồng nhất về chất, nhưng khi là giá trị thì chúng lại đồng nhật về chất (đều là kết tinh của lao động).Việc thực hiện hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng khác nhau về không gian và thời gian Đứng về phía người sảnxuất, cái mà anh ta cần là giá trị, nhưng họ phải tạo ra gía trờị sử dụng; ngược lại, người tiêu dùng lại cần giá trị sửdụng, nhưng anh ta phải có giá trị, tức là phải có tiền để thanh toán Nó được thể hiện thành mâu thuẫn giữa sản xuất vàtiêu dùng, giữa cung và cầu
Sở dĩ, hàng hóa có hai thuộc tính là vì lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao
động trừu tượng:
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Laođộng cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đốitượng lao động và kết quả lao động riêng tạo ra những sản phẩm có công dụng khác nhau Chính những cái riêng đóphân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau ví dụ: người thợ xây thì nân nhà để ở, người trồng lúa tạo ra lúa để ăn…Lao động cụ thể còn phụ thuộc vào phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó và quy
về một thể chung đồng nhất, đó chính là sự tiêu phí sức lao động nói chung (cả thể lực và trí lực) của người sản xuấthàng hóa
Lao động trừu tượng là là lao động của người SX HH; Là sự hao phí SLĐ nói chung; Không kể các hình thức cụthể; Là một phạm trù lịch sử; Đồng nhất với nhau về chất
Tóm lại: LĐ trừu tượng tạo nên giá trị của HH Gía trị hàng hóa chính là lao động trừu tượng của người sản xuấtkết tinh trong hàng hóa Nhờ lao động trừu tượng mà ta tìm thấy sự đồng nhất giữa người sản xuất, do đó thấy được cơ
sở của quan hệ kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa Lao động trừu tượng là cơ sở để người sản xuất hàng hóa trao đổivới nhau
32
Trang 33Khi năng suất lao động xã hội tăng lên thì sự hao tổn sức lực của người sản xuất ra hàng hóa giảm xuống, do đógiá trị hàng hóa ngày càng giảm xuống, hàng hòa ngày càng rẽ hơn.
Câu 17: A/C hãy trình bày tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa Tại sao nói phát hiện này đưa tới cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị của C.Mác.
Trả lời:
Hàng hóa có tính hai mặt là: lao động và lao động trừu tượng
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định.Lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động,đối tượng lao động và kết quả lao động riêng tạo ra những sản phẩm có công dụng khác nhau Chính những cái riêng
đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau ví dụ: người thợ xây thì nân nhà để ở, người trồng lúa tạo ra lúa đểăn…Lao động cụ thể còn phụ thuộc vào phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội
Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó và quy
về một thể chung đồng nhất, đó chính là sự tiêu phí sức lao động nói chung (cả thể lực và trí lực) của người sản xuấthàng hóa
Lao động trừu tượng là là lao động của người SX HH; Là sự hao phí SLĐ nói chung; Không kể các hình thức cụthể; Là một phạm trù lịch sử; Đồng nhất với nhau về chất
Tóm lại: LĐ trừu tượng tạo nên giá trị của HH Gía trị hàng hóa chính là lao động trừu tượng của người sảnxuất kết tinh trong hàng hóa Nhờ lao động trừu tượng mà ta tìm thấy sự đồng nhất giữa người sản xuất, do đó thấyđược cơ sở của quan hệ kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa Lao động trừu tượng là cơ sở để người sản xuất hàng hóatrao đổi với nhau
Khi năng suất lao động xã hội tăng lên thì sự hao tổn sức lực của người sản xuất ra hàng hóa giảm xuống, do đógiá trị hàng hóa ngày càng giảm xuống, hàng hòa ngày càng rẽ hơn
Tại sao nói phát hiện này đưa tới cuộc cách mạng trong kinh tế chính trị của C.Mác:
C.Mác là người đã phân tích được tính 2 mặt của hàng hóa là lao động cụ thể và lao động trừu tượng, nên đãhoàn chỉnh về lý luận giá trị, từ đó Mác đã phát minh ra quy luật thặng dư đó chính là lao động của người sản xuấthàng hóa, từ trị giá này Mác đã đưa đến những vấn đề lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất, lợi nhuận địa tô…
ð Khi phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa thì đó chính là cuộc cách mạng trong kinh tếchính trị của Mác
Câu hỏi 18: HÀNG HOÁ SỨC LAO ĐỘNG
Để giải quyết mâu thuẫn công thức chung của tư bản, cần có sự hình thành và trở thành phổ biến một loại hànghoá đặc biệt, có khả năng tạo ra giá trị thặng dư đó là hàng hoá sức lao động
Sức lao động là những tổng thể những năng lực tồn tại trong mỗi con người mà có thể mang ra sử dụng mỗi khitạo ra một giá trị sử dụng nào đó Sức lao động là yếu tố cơ bản của mỗi quá trình sản xuấtn nhưng trở thành hàng hoákhi có điều kiện:
Thứ nhất: người lao động được tư do về thân thể, tự do chi phối sức lao động của mình, có quyền bán sức laođộng của mình trong một thời gian nhất định
Thứ hai, người lao động buộc phải bán sức lao động của mình khi mất hết tư liệu sản xuất
Với tư cách hàng hoá đặc biệt, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính:
Thứ nhất, giá trị của hàng hoá sức lao động giá trị hàng hoá sức lao động là lao động xã hội cần thiết để sảnxuất và tái sản xuất lao động Do tính đặc thù của quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao động, giá trị sức lao độngđược tính bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, bao gồm ba bộ phận:giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động của người công nhân làm thuê, chi phí đào tạonâng cao tay nghề và chi phí nuôi dưỡng con cái Gía trị hàng hoá sức lao động chịu ảnh hưởng lớn của cá c yếu
tố tinh thần và lịch sử
Thứ hai, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là khả năng tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó chochủ thể mua sức lao động, tức là khả năng tạo ra giá trị thặng dư Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động gắn liềnvới cơ thể của người công nhân làm thuê và không tích luỹ được, vì vậy người mua sức lao động buộc phải sử dụng nó
Câu 19: Phân tích nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa ?
33
Trang 34Quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ở đâu có trao đổi, sản xuất hàng hóathì ở đáy có sự hoạt động của quy luật giá trị
Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí lao động xãhội cần thiết
Trong sản xuất, người sản xuất phải có mức hao phí lao động cá biệt của mình nhỏ hơn hoặc bằng với mức haophí lao động xã hội cần thiết, thì mới đạt được lợi thế cạnh tranh Và trong trao đổi, phải thực hiện theo nguyên tắcngang giá
Trao đổi mua bán hàng hóa phải thực hiện với giá cả bằng giá trị Giá cả hàng hóa trên thị trường có thể bằnghoặc giao động lên xuống xung quanh giá trị hàng hóa, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì tổng giá cả bằng tổng giá
trị
Có ba cơ chế tác động của quy luật giá trị :
Thứ nhất, nếu cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị
Ví dụ : Trong nước, nếu nhu cầu sử dụng gạo là 35.000 tấn/tháng và nông dân sản xuất ra đủ 35.000 tấn/tháng thìgiá cả gạo trên thị trường sẽ ổn định
Thứ hai, Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị
Ví dụ : Trong nông nghiệp, người nông dân một số nơi trồng trọt theo nhu cầu thị trường Khi cao su được giá,nông dân tập trung vào trồng cao su Khi nhu cầu sử dụng thấp, lượng mủ cao su làm ra nhiều hơn so với nhu cầu thịtrường cần dùng thì giá mủ cao su giảm
Thứ ba, Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cơ hơn hơn giá trị
Ví dụ, trong đợt dịch covid 19, nhu cầu sử dụng khẩu trang y tế cao, vượt so với lượng khẩu trang được sản xuất
ra Dẫn đến giá cả khẩu trang y tế bán ra trên thị trường rất cao
Quy luật giá trị tác dụng lên nền kinh tế hàng hóa ở các điểm sau :
- Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
Điều tiết sản xuất thể hiện ở chỗ thu hút vốn (tư liệu sản xuất, sức lao động) vào các ngành sản xuất khác nhau(theo sự biến động cung, cầu, giá cả) tạo nên cơ cấu kinh tế hiệu quả hơn và đáp ứng nhu cầu của xã hội
Ví dụ : Nếu cung nhỏ hơn cầu, giá cả lớn hơn giá trị tức là hàng hóa sản xuất ra bán chạy, có lãi Giả cả cao hơngiá trị sẽ kích thích mở rộng và đẩy mạnh sản xuất để tăng cung ; ngược lại cầu giàm vì giá cả tăng
Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm làm ra nhiều so với nhu cầu, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuấtkhông có lãi Thực tết đó người sản xuất ra quyết định ngừng hoặc giảm sản xuất Ngược lại, giá giảm sẽ kích thíchtăng cầu, tự nó là nhân tố làm cung tăng Cung cầu tạm thời cân bằng, giá cả trùng hợp với giá trị Khi đó, ta nói nềnkinh tế "bão hòa
Điều tiết lưu thông hàng hóa thể hiện ở chỗ, nó thu hút hàng hóa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, làmcho lưu thông hàng hóa thông suốt ; góp phần làm cho hàng hóa giữa các vùng có sự cân bằng nhất định
Thứ hai, kích thích tiến bộ, năng cao năng suất lao động
Trong nền kinh tế hàng hóa mỗi nhà sản xuất tự quyết định hoạt động sản xuất và kinh doanh của mình Donhững điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt của mỗi người khác nhau, người sản xuất nào có haophí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hóa có thể có lợi, sẽ thu được lãi cao Ngược lại, ngườisản xuất nào có hoa phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội hàng hóa sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành lợithế cạnh tranh, tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho bằng hao phílao động xã hội cần thiết Muốn vậy, nhà sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, cải tiến công tác tổ chức quản lý, thực hiện tiếtkiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất Quá trình này diễn ra liên tục làm cho lực lượng sản xuất
xã hội phát triển
Thứ ba, phân hóa những người sản xuất hàng hóa thành giàu – nghèo
Quá trình cạnh tranh, theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, cótrình độ, có kiến thức cao, trang thiết bị kỹ thuật cao nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hộicần thiết, nhờ đó nhà sản xuất trở thành chủ thể giàu có Họ có điều kiện đầu tư thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sảnxuất, kinh doanh, và có thể sử dụng nhiều hơn lao động làm thuê Ngược lại, những chủ thể sản xuất hàng hóa có mứchao phí lao động cá biệt cao hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản họ trởthành người nghèo, người lao động làm thuê Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệsản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản
Câu 20 Hai điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa TBCN
34
Trang 35Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Có nhiều cách phân loại hàng hóa như: Hàng hóa vật thể, hàng hóa phi vật thể; hàng hóa tiêu dung, hàng hóa phục vụsản xuất, Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị
Hai điều kiện ra đời sản xuất hàng hóa TBCN:
- Sản xuất hàng hóa
Sản xuất tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa phát triển cao để sản xuất hàng hóa giản đơn chuyển hóa thànhsản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa cần có các điều kiện, bao gồm:
Một là, của cải được tập trung vào trong tay một số ít người để lập ra xí nghiệp tư bản chủ nghĩa
Hai là, người lao động không có đủ tư liệu sản xuất để tự kết hợp với sức lao động của mình, họ buộc phải bánsức lao động và trở thành công nhân làm thuê
Thứ nhất: người lao động được tư do về thân thể, tự do chi phối sức lao động của mình, có quyền bán sức laođộng của mình trong một thời gian nhất định
Thứ hai, người lao động buộc phải bán sức lao động của mình khi mất hết tư liệu sản xuất
Với tư cách hàng hoá đặc biệt, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính:
Thứ nhất, giá trị của hàng hoá sức lao động giá trị hàng hoá sức lao động là lao động xã hội cần thiết để sản xuất
và tái sản xuất lao động Do tính đặc thù của quá trình sản xuất và tái sản xuất sức lao động, giá trị sức lao động đượctính bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động, bao gồm ba bộ phận: giá trịnhững tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động của người công nhân làm thuê, chi phí đào tạo nâng caotay nghề và chi phí nuôi dưỡng con cái Gía trị hàng hoá sức lao động chịu ảnh hưởng lớn của cá c yếu tố tinh thần vàlịch sử
Thứ hai, giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động là khả năng tạo ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó chochủ thể mua sức lao động, tức là khả năng tạo ra giá trị thặng dư Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động gắn liềnvới cơ thể của người công nhân làm thuê và không tích luỹ được, vì vậy người mua sức lao động buộc phải sử dụng nó
Câu hỏi: Bản chất của sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa (sách trang 146)
5 NHỮNG VẤN ĐỀN KINH TẾ CHÍNH TRỊ CỦA THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH (BÀI 4) Câu 21: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh VỀ THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH từ một nước có trình độ phát triển kinh tế còn lạc hậu?Liên hệ sự vận dụng của Đảng ta (bài 4)
35
Trang 36Sau hơn 33 năm đổi mới nhờ sự vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ ngĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) và điều kiện cụ thể ở nước ta Trong văn kiện đại hội IX Đảng ta chỉ rõ
‘Con đường đi lên CNXH của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN), tức
là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừanhững thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới Chủ nghĩa tư bản, đặc biệt về khoa học, công nghệ để phát triển nhanhlực lượng sản xuât xây dựng nền kinh tế hiện đại’ Và thực tiễn luôn cận động biến đổi không ngừng Sự nghiệp đổimới ở các nước XHCN trong đó có nước ta hiện nay đang đòi hỏi lý luận thời kì quá độ lên CNXH cần phải đượcnghiên cứu nhận thức sâu sắc hơn, nhằm khẳng định những giá trị của nó đồng thời bổ sung phát triển cho phù hợp
Chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ được thay thế bằng chế độ kinh tế - xã hội mới cao hơn :
Quan điểm của C Mác
C Mác đã phân tích, chỉ ra rằng lịch sử xã hội loài người đã, đang và sẽ nảy sinh 5 hình thái kinh tế - xã hội(cộng sản nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ CNTB và chế độ chủ nghĩa cộng sản).CNTB, với tư cách là phương thức sản xuất được hình thành và thay thế phương thức sản xuất phong kiến Do đó, chế
độ kinh tế - xã hội của CNTB tất yếu sẽ được thay thế bằng chế độ kinh tế - xã hội mới cao hơn, đó là quy luật tiến hóacủa lịch sử xã hội loại người
Trong quá trình phát triển của CNTB, những tiến bộ về mặt kinh tế chủ yếu được sử dụng để phục vụ lợi íchgiai cấp tư sản chứ không phải phục vụ lợi ích của xã hội là giai cấp công nhân làm thuê Do đó, tất yếu CNTB sẽ bịthay thế bằng một chế độ kinh tế - xã hội tiến bộ hơn nhiều so với các chế độ KT-XH trước đó
Mặc dù CNTB có vai trò vô cùng to lớn trong việc nâng cao NSLĐ, thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển KTXH,song CNTB vẫn là chế độ bất công
Trong quá trình phát triển của CNTB, những tiến bộ về kinh tế chủ yếu được sử dụng để sử dụng để phục vụlợi ích g/c tư sản chứ không phải LLSX chủ yếu của xã hội là g/c công nhân làm thuê, do đó CNTB càng phát triển thìcác mâu thuẩn nội tại của nó càng sâu sắc, xu thế xã hội hóa sản xuất ngày càng trở nên không thế chịu đựng nổi trong
vỏ bọc sở hữu tư nhân tbcn, cho nên CNTB tất yếu phải được thay thế bằng chế độ KT-XH mới, “trong đó sựphát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”
Tóm lại, C Mác và Ăngghen đã chỉ ra CNTB càng phát triển thì những mâu thuẫn nội tại của nó càng sâu sắc,
không thể điều hòa nên tất yếu sẽ được thay thế bằng chế độ kinh tế - xã hội mới tiến bộ hơn
* Quan điểm của Lê Nin
- Kế thừa quan điểm của C Mác, Lê Nin cho rằng, giữa CNTB và CNXH với tư cách là giai đoạn thấp củaCNCS là thời kỳ quá độ lên CNXH
- Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm của cả hai kết cấu kinh tế xã hội ấy, giữa CNTB đã bịđánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn, và CNCS đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu (CNXH và CNTB đan xen)
Giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản là thời kỳ quá độ lâu dài, khó khăn, phức tạp:
* Quan điểm của C Mác
Chủ nghĩa cộng sản, với tư cách là chế độ kinh tế - xã hội mới cao hơn, tiến bộ hơn so với CNTB, nhưng khôngthể hình thành và thay thế toàn phần CNTB ngay lập tức
Để đi tới chủ nghĩa cộng sản từ CNTB cần phải có thời gian (phải trãi qua nhiều giai đoạn đấu tranh giai cấp,
XD XH mới, cải tạo kinh tế…) Mác khẳng định: “Giai cấp công nhân biết rằng nó phải trải qua nhiều giai đoạn khácnhau của đấu tranh giai cấp Nó biết rằng việc thay thế những điều kiện kinh tế của sự nô dịch lao động bằng nhữngđiều kiện của lao động tự do và liên hợp, chỉ có thể là một sự nghiệp tiến triển trong thời gian (đó là việc cải tạo kinhtế) (…) sau một quá trình phát triển lâu dài”
+ Giai đoạn đầu: một xã hội CSCN vừa thoát thai từ xã hội TBCN, còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà
biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của
thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”.
Thờ kỳ lịch sử đặc biệt này chính là CNXH, giai đoạn thấp của CNCS Mác đã chỉ ra đặc điểm của thời kỳ này:
“cái xã hội mà chúng ta nói ở đây không phải là một xã hội CSCN đã phát triển trên những cơ sở của chính nó, mà trái
36
Trang 37lại là một XHCS chủ nghĩa vừa thoát thai từ XH TBCN, do đó là một xã hội, về mọi phương diện- TK, đạo đức, tinhthần- còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó lọt ra”8 Trong thời kỳ này “ Muốn biến nền SX XH thành một hệthống thống nhất, rộng lớn và nhịp nhàng của LĐ hợp tác tự do thì cần có những thay đổi chung của XH, những sựthay đổi trong các cơ sở của chế độ xã hội”
C Mác đã chỉ ra đặc điểm của thời kỳ quá độ là một xã hội về mọi phương diện kinh tế, đạo đức, tinh thần còn mang những dấu vết của xã hội cũ mà nó đã lọt lòng ra
C.Mác, Ăngghen đưa ra luận điểm chủ yếu của thời kỳ quá độ: Cải biến cách mạng trong quan hệ sản xuất,trong lực lượng sản xuất, trong kinh tế và xã hội tất cả đều nhằm phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, làm điều kiệnthỏa mãn nhu cầu vật chất và văn hóa của mọi thành viên trong xã hội
* Quan điểm của Lê Nin
- Trên cơ sở phát triển quan điểm của C.Mác về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa công sản, Lê Ninkhông những khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên CNCS giai đoạn thấp – CNXH, mà Lê Nin cònchỉ ra bản chất cốt lõi của thời kỳ này Ông viết: “về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa CNTB và CNCS,
có một thời kỳ quá độ nhất định Thời kỳ đó không thể không bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kếtcấu kinh tế xã hội ấy Thời kỳ quá độ ấy không thể nào lại không phải là một thời kỳ đấu tranh giữu CNTB đang giãychết và CNCS đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bại nhưng chưa tiêu diệt hẳn, và CNCS
đã phát sinh nhưng còn non yếu”
- Thời kỳ quá độ lên CNXH là một thời kỳ vô cùng khó khăn, phức tạp và có thể rất lâu dài Lê Nin viết: “mụctiêu của giai cấp là thiết lập CNXH, xóa bỏ sự phân chia xã hội thành giai cấp, biến tất cả những thành viên trong xãhội thành người lao động, tiêu diệt cơ sở của tình trạng người bóc lột người Mục đích đó, người ta không thể đạt ngaytức khắc được, muốn thế cần phải có thời kỳ quá độ khá lâu dài từ CNTB lên CNXH Bởi vì, cải tổ trong sản xuất làviệc khó khăn, cần phải có thời gian thực hiện được những thay đổi căn bản trong mọi lĩnh vực của đời sống, và vì phảitrải qua một cuộc đấu tranh quyết liệt, lâu dài mới có thể thắng được sức mạnh to lớn của thói quen quản lý theo kiểutiểu tư sản và tư sản”
- Trong tác phẩm bút ký triết học, Lê Nin chú giải về thời kỳ quá độ: I “Những cơn đau đẻ kéo dài”, II “Giaiđoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa”, III “Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa” Như vậy, theo Lê Ninthời kỳ quá độ lâu dài từ CNTB lên CNXH là giai đoạn I “Những cơn đau đẻ kéo dài”
* Quan điểm của Hồ Chí Minh
- Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, Hồ Chí Minh nhận định, một chế độ này biến đổi thành mộtchế độ khác là cả một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt và lâu dài giữa cái xấu và cái tốt, giữa cái cũ và cái mới, giữacái thoái bộ và cái tiến bộ, giữa cái đang suy tàn và cái đang phát triển Kết quả là cái mới, cái đang tiến bộ nhất địnhthắng
- Trong bài khai mạc lớp Lý luận khóa 1 Trường Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh chỉ rõ:
+ Cuộc cách mang XHCN là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất
+ Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta
+ Chúng ta phải thay đổi triệt để những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngànnăm
+ Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không cóbóc lột áp bức
+ Chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp
+ Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui, hạnh phúc…Cách mạng XHCN là nhằm xóa bỏ mọi chế độ người bóc lột người Đó là một cuộc cách mạng vĩ đại và vẻ vang nhất tronglịch sử loài người, nhưng đồng thời cũng là cuộc cách mạng gay go, phức tạp, khó khăn nhất
- Trong bài nói chuyện tại lớp hướng dẫn giáo viên và Hội nghị sư phạm, Hồ Chí Minh khẳng định: tiến lênCNXH, không thể một sớm một chiều Đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục của tất cả mọi người và của cả thầygiáo
- Trong bài nói chuyện với cán bộ công nhân nhà máy dệt Nam Định, Người nêu rõ: Tiến lên CNXH khôngphải muốn là tức khắc có, mà phải làm thế nào cho nó tiến lên, tức là phải lao động, lao động thiết thực Tất cả mọingười phải lao động Lao động nhiều hưởng nhiều, lao động ít hưởng ít
* Sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam
8
37
Trang 38Trong quá trình vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạngViệt Nam, quá trình đổi mới, xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ Đảng ta đã từng bước xác định rõ hơn nhữngchặng đường mà dân tộc phải trải qua trong xây dựng CNXH.
Trong Bảo cáo chỉnh trị của Đại hội V có nêu rõ: Chúng ta phải hiểu đúng và cụ thể hóa đường lối chung vàđường lối kinh tế, căn cứ vào đường lối để vạch ra chiến lược kinh tế - xã hội, những kế hoạch phát triển, những chủtrương, chính sách và biện pháp lớn cho cả nước, cũng như cho từng ngành, từng lĩnh vực, sát với những điều kiện lịch
sử cụ thể của đất nước, với những yêu cầu và khả năng của nhân dân ta trong từng chặng đường phát triển
Căn cứ vào đường lối của Đảng và xuất phát từ thực trạng nền kinh tế quốc dân, chúng ta xác định những mụctiêu kinh tế và xã hội tổng quát của những năm 80 là:
Một là, đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết yếu nhất, dần dần ổn định, tiến lên cải thiện một bước đời sốngvật chất và văn hóa của nhân dân, trước hết giải quyết vững chắc vấn đề lương thực, thực phẩm, đáp ứng tốt hơn nhữngnhu cầu về mặc, về học hành, chữa bệnh, về ở, đi lại, về chăm sóc trẻ em và các nhu cầu tiêu dùng thiết yếu khác
Hai là, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nôngnghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, và chuẩn bị cho
sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng đường tiếp theo
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI trên cơ sở tổng kết thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta đã nhận định:Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cơ sở nhận định đúng những đặc điểm cơ bản của tìnhhĩnh cách mạng nước ta, Đảng đã kịp thời quyết định thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên CNXH Tuy nhiên,việc đánh giá tình hình cụ thể về các mặt kinh tế, xã hội của đất nước, đã có nhiều thiếu sót Do đó, trong mười nămqua, chúng ta đã phạm nhiều sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cảitạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế
- Từ đó Đại hội VI đã rút ra các bài học, bao gồm:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát
huy quyền làm chủ của nhân dân lao động
Hai là, Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan Năng lực nhận
thức và hành động theo quy luật là điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng
Tiêu chuẩn đánh giá sự vận dụng đúng đắn các quy luật thông qua chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước là sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân từng bước được ổn định vànâng cao, con người mới xã hội chủ nghĩa ngày càng hình thành rõ nét, xã hội ngày càng lành mạnh, chế độ XHCNđược cùng cố Mọi chủ trương, chính sách gây tác động ngược lại là biểu hiện sự vận dụng không đúng quy luật kháchquan, phải được sửa dổi hoặc bãi bỏ
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong điều kiện mới.
Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến
hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa
Từ đó, Đại hội VI nhận thức rõ hơn về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam và xácđịnh rõ những nhiệm vụ cơ bản cần thực hiện
Đến Đại hội VIII, trên sơ sở đánh giá thực tiễn xây dựng CNXH ở nước ta, Đảng khẳng định: “Nhiệm vụ đề racho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàn thành cho phépchuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại,
cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vậtchất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xă hội công bằng, văn minh, xây dựngthành công CNXH
Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiệnđại
Như vậy, từ Đại hội VIII của Đảng năm 1996, đất nước ta đã chuyển sang chặng đường mới đẩy mạnhCNH,HĐH, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quả độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng
định rõ: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một
nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
38
Trang 39Tóm lại, bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể từng
giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã xác định đúng đắn hơn những chặng đường của thời kỳ quá độ lên CNXH, từ đó chophép nhìn nhận rõ hơn về đặc điểm và thực chất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam
Câu 22 THAM KHẢO: Quan điểm của chủ nghĩa Mac Lenin và tư tưởng HCM về KHẢ NĂNG quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa từ một nước có trình độ phát triển kinh tế còn lạc hậu (bài 4)
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) từ quan điểm của cácnhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lenin đến thực tiễn thế giới hiện nay đã, đang và sẽ tiếp tục là vấn đề thu hút quan tâmcủa các chính Đảng và các nhà kinh điển của chũ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định các nước có trình độ phát triển kinh
tế lạc hậu có thể quả độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN
* Quan điểm của C Mác
- Trong các dự báo của mình về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, C.Mác và Ăngghen nêu luận điểm vềkhả năng quá độ lên xã hội cộng sản từ những nước đang ở giai đoạn phát triển tiền TBCN
- Khi nghiên cứu tình hình nước Nga thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu ra những luận điểm như: những
nước lạc hậu có thể bước vào “con đường phát triển rút ngắn”, có thể “chuyển thẳng” lên hình thức sở hữu CSCN bộ thời
kỳ tư bản chủ nghĩa”, có thể không cần phải trải qua những đau khổ của chế độ đó, có thể rút ngắn một cách đáng kể quátrình phát triển của mình đi lên CNXH và có thể tránh được phần lớn những đau khổ và những cuộc đấu tranh mà Tây Âu
đã phải trải qua
- Đặc điểm bao trùm của thời kỳ quá độ lên CNXH chính là xã hội quá độ bao gồm trong đó sự hiện diện nhữngdấu vết, những bộ phận của xã hội cũ TBCN ở mọi lĩnh vực đời sống xã hội; đồng thời, là sự xuất hiện và hình thànhnhững nhân tố của xã hội mới CSCN
Tóm lại, C Mác và Ăngghen là người đầu tiên nêu lên khả năng những nước còn ở trong giai đoạn phát triển tiền
TBCN có thể chuyển thẳng lên hình thái XH CSCN, bỏ qua chế độ TBCN Tuy nhiên, hai ông chưa đề cập tới cách thức
và những nhiệm vụ cụ thể của TKQĐ lên CNCS ở các nước có trình độ phát triển thấp
* Quan điểm của V.I.Lê Nin
- Kế thừa chủ nghĩa Mác và trên cơ sở kết quả nghiên cứu về CNTB giai đoạn cuối thế kỹ XIX đầu thế kỹ XX,V.I Lê Nin đã phát hiện ra và luận giải rõ về quy luật phát triển không đều của CNTB trong thời kỳ thống trị tư bản tàichính, từ đó khẳng định rằng cách mạng vô sản có thể thắng lợi trước tiên ở một số nước, thậm chí ở một nước tư bảnriêng lẻ
- Lê Nin còn khẳng định: các dân tộc lạc hậu có thể đi lên CNXH mà không phải chờ tới khi CNTB phát triển(nhờ điều kiện bên ngoài – giai cấp vô sản của những nước tiên tiến phải giúp đỡ, nhưng điều kiện bên trong quyếtđịnh – đó là, các dân tộc lạc hậu cần thiết lập chính quyền công nông mà tiến lên và đuổi kịp với các dân tộc khác)
+ V.I Lê Nin đã chỉ ra những điều kiện để thực hiện bước quá độ đối với các dân tộc lạc hậu đó là: giai cấp vôsản của những nước tiên tiến có thể và phải giúp đỡ quần chúng lao động ở những nước lạc hậu; và khi giai cấp vô sảnchiến thắng của các nước cộng hòa xô viết chìa tay ra giúp và ủng hộ họ thì các nước lạc hậu có thể tiến tới chế độ xôviết - Đây mới chỉ là điều kiện cần để các nước lạc hậu thực hiện cuộc cách mạng xây dựng chế độ mới tiến bộ hơn
+ Để đảm bảo cho CNXH thắng lợi ở các nước chưa phát triển TBCN, V.I Lê Nin luận giải nếu như để xâydựng CNXH cần tới một trình độ văn hóa nhất định thì bắc đầu trước hết từ việc giành lấy những điều kiện tiên quyếtcho trình độ nhất định đó bằng con đường cách mạng đề về sau, nhờ có một chính quyền công nông nhờ có chế độ xô -viết, mà tiến lên và đuổi kịp các dân tộc khác - Chỉ ra rằng điều kiện bên trong quyết định
Đồng thời điều kiện chủ yếu đảm bảo việc chuyển sang con đường phát triển phi TBCN là việc tăng cườngcông tác của Đảng nhân dân cách mạng và của chính phủ nhân dân cách mạng để nhờ kết quả của công tác ấy và của
sự tăng cường ảnh hưởng của Đảng và chính quyền mà các hợp tác xã sẽ lớn mạnh lên, các hình thức mới về kinhdoanh và văn hóa dân tộc sẽ được áp dụng, để tầng lớp nông dân đoàn kết lại xung quanh Đảng và chính phủ vì sựphát triển về kinh tế và văn hóa của đất nước Chính chỉ từ những đảo nhỏ của cơ cấu kinh tế mới được thành lập dướiảnh hươgr của Đảng và chính phủ mà hình thành lên hệ thống kinh tế mới phi TBCN của nước Mông -cổ arát
Như vậy, theo Lê nin, các điều kiện quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN đối với các dân tộc lạc hậu baogồm:
Thứ nhất, cần phải tạo ra những điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH bắt đầu bằng một cuộc cách mạng
thiết lập chính quyền công nông, thông qua chính quyền ấy mà tiến lên và đuổi kịp các dân tộc khác
Thứ hai, Sự ủng hộ kịp thời của cách mạng XHCN ở một nước hay một số nước tiên tiến.
39
Trang 40Thứ ba, sự liên minh giữa các giai cấp vô sản đang nắm chính quyền với đại đa số nông dân
* Quan điểm của Hồ Chí Minh
- Vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch
Hồ Chí Minh khẳng định Việt Nam có thể và cần phải đi lên CNXH - bỏ qua chế độ CNTB
- Hồ Chí Minh đã chỉ ra những kinh nghiệm của một số nước châu Á Người viết: sau khi thoát khỏi ách thựcdân, các nước đã bắt tay vào giải quyết những vấn đề xã hội do sự phát triển của cách mạng đề ra Họ đã phát triển theoCNXH và đã chứng thực trong đời sống sự đúng đắn luận điểm của Lê Nin về khả năng các nước lạc hậu tiến thắng lênCNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN trong điều kiện có nước XHCN đi trước giúp đỡ
- Từ lý luận, thực tiễn, kinh nghiệm của các nước lạc hậu đi lên CNXH, cho nên khi trả lời phỏng vấn của nhà báoMatxuôca, Người khẳng định rõ con đường phát triển của dân tộc Việt Nam: Chúng tôi xây dựng CNXH trong hoàn cảnhmột nước vốn là thuộc địa, một nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh xâm lược tàn phá Song, những thắng lợibước đầu trong công cuộc XD CNXH cho phép chúng tôi tin tưởng chắc chắn ở sự cần thiết và khả năng của một nướcnhư Việt Nam tiến lên CNXH một cách thắng lợi không phải qua con đường phát triển TBCN
Câu 23: Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về thời kỳ quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN
Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh Trong suốt quá trình cách mạngViệt Nam, Đảng ta luôn khẳng định con đường đi lên của đất nước là quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN T rongquá trình xây dựng CNXH đã xuất hiện không ít khó khăn, thách thức, đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế
và trong những năm đổi mới Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Đảng ta đã kiên trì con đường đi lên CNXH Mặc
dù kinh tế còn lạc hậu, nước ta vẫn có những khả năng và tiền đề để quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ngay cảtrong điều kiện không còn hệ thống XHCN trên thế giới Việt Nam có những nhân tố, khả năng, tiền đề, điều kiện quá
độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN Những nhân tố, khả năng, tiền đề, đó là:
- Về khả năng khách quan
+ Trước hết phải kể đến nhân tố thời đại Nhân tố thời đại đóng vai trò tích cực làm thức tỉnh các dân tộc, cácquốc gia, nó như bối cảnh thuận lợi bên ngoài cho sự quá độ bỏ qua chế độ TBCN và đem lại những điều kiện và khảnăng khách quan cho sự quá độ này
+ Sự phát triển của cuộc cách mạng KHCN về khách quan đã tạo ra những khả năng để các nước kém phát triển
đi sau có thể tiếp thu và vận dụng vào nước mình những thành tựu KHCN hiện đại của thế giới và những kinh nghiệmcủa các nước đi trước để thực hiện “con đường phát triển rút ngắn”
+ Cương lĩnh xây dựng đất nước ưong thời kỳ quá độ lên CNXH đã khẳng định: “Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ để phát triển”1
-+ Hòa bình, họp tác và phát triển là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia dân tộc sẽ là xu thếtác động có lợi cho cách mạng của nhân dân ta
+ Xu thế toàn cầu hóa, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng lên, tuy có chứađựng những nguy cơ và thách thức nhưng vẫn tạo khả năng khách quan cho việc khắc phục khó khăn về nguồn vốn và
kỹ thuật hiện đại cho các nước chậm phát triển nếu cỏ đường lối, chính sách đúng Trong điều kiện đó, cho phép vàbuộc chúng ta phải biết tranh thủ cơ hội, tận dụng, khai thác, sử dụng có hiệu quả những thành tựu mà nhân loại đã đạtđược để rút ngắn thời kỳ quả độ lên CNXH ở nước ta
+ Điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý nước ta nằm áng ngữ bán đảo khu vực Đông nam Á rất thuận lợi cho côngcuộc xây dựng, phát triển đất nước
- Về những tiền đề chủ quan
+ Việt Nam là nước có số dân tương đối đông, nhân lực dồi dào, đặc biệt là tiềm năng ý chí và trí tuệ của conngười Việt Nam Nhân dân ta đã lập nên chính quyền nhà nước dân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản,làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản, đã xây dựng những cơ sở ban đầu về chính trị, kinh tế của chủ nghĩa xãhội So sánh với Liên Xô trước đây khi bắt đầu thời kỳ quá độ, ta tuy có mặt yếu, nhưng cũng có những mặt thuận lợihơn trong công cuộc xây dựng đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội
+ Cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo - một đảng giàu tinh thần cách mạng, sáng tạo,khoa học và trí tuệ, có đường lối đúng đắn và gắn bó với quần chúng - đó là nhân tố chủ quan có ý nghĩa vô cùng, bảođảm cho thắng lợi của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Cương lĩnhxây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân
tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam”
40