TIẾNG VIỆT PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM Lợi nhuận phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và chất
Trang 1DƯƠNG THỊ KHÁNH LINH
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ
- BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 2DƯƠNG THỊ KHÁNH LINH
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ
LỢI NHUẬN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ
- BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 8340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HỒNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài nghiên cứu này do chính tác giả thực hiện theo
sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác trước đó
Tất cả những nội dung được kế thừa, tham khảo đều được tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục các tài liệu tham khảo theo đúng quy định của Nhà Trường
Tác giả
Dương Thị Khánh Linh
Trang 6MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới của luận văn 5
6 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về đo lường quản trị lợi nhuận 8
1.1.1 Quản trị lợi nhuận thực 8
1.1.2 Quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích 11
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư 15
1.3 Khe hổng nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 21
2.1 Giải thích một số khái niệm 21
2.1.1 Quyết định của nhà đầu tư 21
2.1.2 Quản trị lợi nhuận 21
2.1.3 Chất lượng lợi nhuận 22
2.1.4 Biến kế toán dồn tích 23
2.2 Lý thuyết nền tảng liên quan 23
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) 23
Trang 72.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory) 25
2.3 Mô hình nghiên cứu 25
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 25
2.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 31
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu định lượng 31
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 32
3.2 Mô hình hồi quy và đo lường biến 33
3.2.1 Mô hình hồi quy 33
3.2.2 Đo lường biến 34
3.3 Mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu 38
3.4 Phương pháp hồi quy và lựa chọn mô hình phù hợp 40
3.4.1 Mô hình Pooled OLS 40
3.4.2 Mô hình hiệu ứng cố định (FEM) 40
3.4.3 Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) 44
3.4.4 Lựa chọn mô hình phù hợp 46
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 49
4.1 Thống kê mô tả 49
4.2 Kết quả phân tích tương quan và hồi quy 55
4.2.1 Phân tích tương quan 55
4.2.2 Kết quả phân tích hồi quy 56
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý ĐỀ XUẤT 67
5.1 Kết luận các vấn đề nghiên cứu 67
5.2 Một số gợi ý đề xuất 68
5.2.1 Đối với nhà đầu tư 69
5.2.2 Đối với doanh nghiệp 69
5.2.3 Đối với công ty kiểm toán 71
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai 72
KẾT LUẬN 74 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BĐS Bất động sản
Big4 Deloitte, Ernst & Young, KPMG, PwC
CFO Dòng tiền hoạt động kinh doanh Cashflow from operating
FEM Mô hình hiệu ứng cố định Fixed effect model
FGLS Bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi Feasible Generalized Least
Squares HNX Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Hanoi Stock Exchange HOSE Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh
Hochiminh Stock Exchange
NDA Biến kế toán dồn tích không thể điều
chỉnh
Non-discreationary accruals
NI Lợi nhuận ròng Net income
OLS Bình phương nhỏ nhất thông thường Ordinary Least Squares P/E Chỉ số giá trên lợi nhuận Price-to-Earnings
REM Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên Random effect model ROA Lợi nhuận trên tổng tài sản Return on Asset
ROE Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu Return on Equity
TA Tổng biến kế toán dồn tích Total accruals
VN-Index Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các giả thuyết nghiên cứu và kỳ vọng 29
Bảng 3.1 Danh sách các biến của mô hình và phương pháp đo lường 38
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến định lượng trong mẫu nghiên cứu 50
Bảng 4.2 Số lượng doanh nghiệp theo ngành, theo sàn và theo năm 52
Bảng 4.3 Giá trị trung bình các biến định lượng phân theo ngành nghề 52
Bảng 4.4 Ma trận hệ số tương quan 55
Bảng 4.5 Kết quả hồi quy theo phương pháp Pooled OLS 57
Bảng 4.6 Kết quả hồi quy theo phương pháp FEM với hiệu ứng không gian và thời gian 58
Bảng 4.7 Kết quả hồi quy theo phương pháp REM với hiệu ứng không gian 59
Bảng 4.8 Kết quả kiểm định F 60
Bảng 4.9 Kết quả kiểm định LM 60
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định Hausman 61
Bảng 4.11 Tóm tắt các kiểm định lựa chọn mô hình hồi quy phù hợp nhất 61
Bảng 4.12 Tóm tắt kết quả thực nghiệm các giả thuyết nghiên cứu 65
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 26
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 32
Hình 4.1 Số lượng doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu qua các năm 49
Hình 4.2 Quyết định của nhà đầu tư và quản trị lợi nhuận qua các năm 50
Hình 4.3 Thống kê quyết định của nhà đầu tư theo ngành 53
Hình 4.4 Thống kê quản trị lợi nhuận theo ngành 54
Hình 4.5 Số lượng báo cáo tài chính phân theo ngành và công ty kiểm toán 54
Hình 4.6 Biểu đồ phần dư theo REM và phân phối chuẩn 63
Trang 12TÓM TẮT
A TIẾNG VIỆT
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ - BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Lợi nhuận phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và chất lượng lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư Tuy nhiên, các nghiên cứu về ảnh hưởng của hành vi quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư vẫn còn khá ít ỏi Vì vậy, nghiên cứu này phân tích mối quan hệ trên và tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Việt Nam Mẫu nghiên cứu có dạng dữ liệu bảng không cân bằng, gồm 2.980 quan sát của 669 công ty niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2017 Tác giả sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính đa biến, với biến phụ thuộc là quyết định của nhà đầu tư, biến độc lập là quản trị lợi nhuận và các biến đặc điểm của doanh nghiệp Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên được kiểm định là mô hình phù hợp nhất, cho kết quả rằng doanh nghiệp có mức quản trị lợi nhuận càng cao thì nhà đầu tư càng quyết định mua nhiều hơn, bán ít hơn Từ đó, tác giả đưa ra gợi ý cho nhà đầu tư về các cổ phiếu có chênh lệch lớn giữa khối lượng đặt mua và khối lượng đặt bán Tuy nhiên, các thông tin về giá chưa được xem xét trong nghiên cứu này và có thể là hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
Từ khóa: quyết định của nhà đầu tư, quản trị lợi nhuận, mô hình Jones điều chỉnh
Trang 13Keywords: investor decision, earnings management, modified Jones model
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lợi nhuận đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Lợi nhuận được xem là kết quả tài chính cuối cùng mà doanh nghiệp có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính cũng như các hoạt động khác Nói một cách đơn giản, lợi nhuận là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ đi các chi phí bỏ ra Doanh nghiệp chỉ có thể phát triển khi tạo ra lợi nhuận
do lợi nhuận là cơ sở đảm bảo cho việc mở rộng sản xuất, kinh doanh Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, khiến chi phí bỏ ra luôn lớn hơn doanh thu thu vào, sớm muộn gì doanh nghiệp cũng sẽ bị đào thải, từ đó dẫn đến phá sản Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường thì lợi nhuận lại càng khẳng định vai trò của mình đối với bản thân doanh nghiệp
Cổ đông và nhà quản lý doanh nghiệp đều đặc biệt quan tâm kết quả lợi nhuận Lợi nhuận dương làm tăng giá trị doanh nghiệp và từ đó tăng tài sản của cổ đông, những người chủ sở hữu doanh nghiệp Đây cũng là mục tiêu cốt lõi của cổ đông khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp Mặt khác, lợi nhuận cũng là căn cứ đánh giá năng lực của nhà quản lý doanh nghiệp trên nhiều phương diện (nhân sự, tài chính, đầu tư, điều hành,…) Lợi nhuận không chỉ phản ánh hiệu quả kinh tế của các chiến lược kinh doanh hiện tại, giúp đánh giá một cách toàn diện kết quả của doanh nghiệp trong quá khứ mà còn là cơ sở để đặt ra các mục tiêu phát triển trong tương lai
Hơn nữa, tình hình kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn phản ánh sức khỏe của nền kinh tế Chỉ báo lợi nhuận ròng trung bình của các doanh nghiệp niêm yết là một trong những chỉ báo quan trọng khi đánh giá tình hình của nền kinh tế Bên cạnh đó, lợi nhuận đem lại nguồn thu cho ngân sách Nhà nước thông qua nguồn thuế mà doanh nghiệp phải nộp, tạo nguồn vốn cho việc đầu tư cơ
sở hạ tầng, mở rộng, phát triển kinh tế xã hội Đây là một trong những thước đo
Trang 15phản ánh sự hiệu quả của các chính sách quản lý của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
Không chỉ có nhà quản lý, cổ đông và các cơ quan chức năng quan tâm đến lợi nhuận mà còn cả những nhà đầu tư trên thị trường cũng ngày càng chú ý hơn đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ số P/E (chỉ số giá trên lợi nhuận – Price to Earnings) cũng là một chỉ số quan trọng mà nhà đầu tư thường cân nhắc trước khi quyết định đầu tư Chỉ số này được tính bằng giá thị trường chia cho lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu (EPS – Earnings per share) P/E càng cao (thấp) thể hiện cổ phiếu đang được giao dịch với giá càng đắt (rẻ) một cách tương đối so với mức lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Tuy nhiên, câu hỏi được đặt ra là liệu chỉ số P/E hiện tại có hợp lý chưa, hay cụ thể hơn là liệu con số EPS được doanh nghiệp báo cáo có đáng tin cậy hay không Ngoài ra, các chỉ số tài chính khác có liên quan tới lợi nhuận như ROE, ROA cũng đều được nhà đầu tư quan tâm, đánh giá trước khi
ra một quyết định đầu tư chứng khoán Chính vậy, quản trị lợi nhuận (Earnings Management) trở thành một yếu tố quan trọng mà nhà đầu tư sẽ cân nhắc trước khi
ra quyết định đầu tư
Hơn nữa, thời gian vừa qua, thị trường chứng khoán đã có nhiều thay đổi đáng kể Giai đoạn cuối năm 2017 đầu năm 2018 là giai đoạn thị trường chứng khoán có nhiều tăng trưởng ngoạn mục VN-Index đạt đỉnh điểm ở mức 1.204,33 điểm vào ngày 09/04/2018 Năm 2017, hàng loạt doanh nghiệp lớn chính thức niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán như: Tổng công ty Hàng Không Việt Nam (HVN), Tập đoàn Dệt May Việt Nam (VGT), Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (PLX),… Thị trường chứng khoán sôi động hơn bao giờ hết Nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn và cân nhắc hơn trước khi đưa ra quyết định đầu tư Mặc dù hiện tại thị trường chứng khoán Việt Nam đã phần nào hạ nhiệt, nhà đầu tư vẫn luôn chú ý đến thị trường cổ phiếu này Mối quan tâm của nhà đầu tư ngày càng tập trung vào lợi nhuận mà doanh nghiệp mang lại, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có dấu hiệu suy thoái Từ đó, có thể thấy được tầm quan trọng của chất lượng lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư nói riêng, đến thị trường chứng khoán nói chung
Trang 16Trên thế giới và Việt Nam cũng đã có khá nhiều nghiên cứu về quản trị lợi nhuận Nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành xây dựng mô hình để đo lường quản trị lợi nhuận, chủ yếu bao gồm mô hình đo lường quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích (Jones, 1991; Dechow và các cộng sự, 1995) hay mô hình đo lường quản trị lợi nhuận thực (Gunny, 2010; Roychowdhury, 2006) Các mô hình đo lường này đã được vận dụng trong nhiều công trình nghiên cứu xoay quanh quản trị lợi nhuận và chất lượng lợi nhuận Chẳng hạn, một số nghiên cứu đã xem xét các yếu tố có ảnh hưởng tới chất lượng lợi nhuận như nghiên cứu của Qinghua và các cộng sự (2007), Dechow và các cộng sự (2010), Radzi và các cộng sự (2011), Nguyen Thi Phuong Hong và Nguyen Thi Thuong (2015)
Xét ở chiều ngược lại, một số nghiên cứu tập trung phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến lợi suất bất thường của cổ phiếu trên thị trường (Perotti và Wagenhofer, 2014), đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp (Biddle và các cộng sự, 2009), đến chi phí vốn (Aboody và các cộng sự, 2005) và đến thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường (Bar-Yosef và Prencipe, 2013) Tuy nhiên, ở Việt Nam và trên thế giới, có rất ít nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán (Nwaobia và các cộng sự, 2016), cụ thể là quyết định mua hoặc bán cổ phiếu của nhà đầu tư
Với những lí do nêu trên, người viết chọn nghiên cứu đề tài luận văn “Phân
tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư - Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” Đây sẽ là vấn đề mang tính thời sự nhằm cải
thiện chất lượng lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán và góp phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Luận văn này đề ra mục tiêu nghiên cứu là phân tích sự ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam Ngoài ra, luận văn cũng xem xét tác động của các nhân tố phản ánh đặc điểm của
Trang 17doanh nghiệp (như tăng trưởng doanh thu, quy mô tài sản, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời và loại công ty kiểm toán) đến quyết định của nhà đầu tư Trên cơ sở
đó, đưa ra một số gợi ý đề xuất có liên quan đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp niêm yết và công ty kiểm toán
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu vừa nêu, tác giả xác định những câu hỏi nghiên cứu sau đây:
(1) Quản trị lợi nhuận có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định của nhà đầu
tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam?
(2) Tăng trưởng doanh thu, quy mô tài sản, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời và loại công ty kiểm toán có ảnh hưởng ra sao đến quyết định của nhà đầu tư?
(3) Các gợi ý và đề xuất nào đối với nhà đầu tư, doanh nghiệp và công ty kiểm toán?
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận và các nhân tố đặc điểm của doanh nghiệp đến quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu này được thực hiện trên các công ty phi tài chính được niêm yết trên một trong hai sàn giao dịch chứng khoán của Việt Nam
là Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Hochiminh Stock Exchange
- HOSE) và Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội (Hanoi Stock Exchange - HNX)
Phạm vi về thời gian: Dữ liệu nghiên cứu có thời gian được chọn là giai đoạn
5 năm từ năm 2013 đến năm 2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Theo phương pháp này, tác giả dựa trên các lý thuyết nền tảng như lý thuyết đại diện, lý thuyết tín hiệu,… và kết quả các công trình nghiên cứu trước đây
Trang 18trên thế giới và ở Việt Nam về quản trị lợi nhuận và quyết định của nhà đầu tư để xây dựng mô hình nghiên cứu, bao gồm nhân tố chính là quản trị lợi nhuận và các nhân tố khác như tăng trưởng doanh thu, quy mô tài sản, đòn bẩy tài chính, khả năng sinh lời và loại công ty kiểm toán để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu Sau đó, tác giả sẽ tiến hành thu thập dữ liệu và sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết bao gồm mối quan hệ giữa quyết định của nhà đầu tư và mức độ quản trị lợi nhuận, cùng các nhân tố khác
có liên quan
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê, phân tích thông tin, phương pháp tổng hợp số liệu để đánh giá thực trạng và đưa ra nhận định về tình hình quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, cũng như quyết định của nhà đầu tư trong giai đoạn quan sát Mẫu nghiên cứu được thu thập
từ nguồn số liệu thứ cấp Để phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư, tác giả sử dụng phần mềm Eviews 7.0 Phần mềm Microsoft Excel 2010 được sử dụng để xử lí số liệu, thống kê và tính toán các biến của mô hình hồi quy
5 Đóng góp mới của luận văn
Xem xét và đối chiếu các nghiên cứu trước đây về đối tượng nghiên cứu, luận văn nghiên cứu này đóng góp thêm những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, nghiên cứu này đã xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp thị trường chứng khoán Việt Nam về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư Có khá nhiều nghiên cứu trước đây nghiên cứu xoay quanh tác động của quản trị lợi nhuận Tuy nhiên, theo khả năng tiếp cận của tác giả, luận văn này
là một trong những nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về tác động của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư, cụ thể là quyết định mua hoặc bán của nhà đầu tư đối với cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết Ngoài ra, tác giả cũng đưa thêm 5 biến khác có liên quan vào mô hình nghiên cứu (Tăng trưởng doanh thu,
Trang 19Quy mô tài sản, Đòn bẩy tài chính, Khả năng sinh lời và Loại công ty kiểm toán), góp phần tạo thêm cơ sở tham khảo cho các nghiên cứu sau này
Thứ hai, nghiên cứu này tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm tại thị trường Việt Nam thông qua mẫu nghiên cứu toàn diện và cập nhật Mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ các công ty phi tài chính niêm yết tại một trong hai sàn chứng khoán lớn của Việt Nam là sàn HOSE và sàn HNX trong giai đoạn 2013-2017 Chính vì vậy, các kết quả phân tích thực trạng sẽ phản ánh đúng thực tế tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam chứ không chỉ đánh giá một bộ phận đại diện Việc phân tích dữ liệu bảng không cân bằng theo 3 hướng tiếp cận (mô hình Pooled OLS, mô hình hiệu ứng cố định và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên) cũng góp phần phản ánh đúng hơn về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư
Thứ ba, dựa trên kết quả thực nghiệm về tác động của quản trị lợi nhuận và các nhân tố khác đến quyết định của nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam, tác giả có cơ sở để đưa ra những gợi ý và đề xuất hữu ích cho nhà quản lý doanh nghiệp khi muốn thu hút nhà đầu tư mua cổ phiếu của doanh nghiệp mình, những lưu ý mà nhà đầu tư nên cân nhắc khi đưa ra quyết định đầu tư, và những khuyến nghị cho công ty kiểm toán để góp phần làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển minh bạch hơn
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nghiên cứu có kết cấu 5 chương như sau:
Chương 1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
Phần này trình bày về các nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam
có liên quan đến đề tài nghiên cứu Cụ thể, tác giả trình bày các nghiên cứu liên quan đến việc đo lường quản trị lợi nhuận và các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư Từ đó, xác định khe hổng nghiên cứu cho luận văn
Trang 20Chương 2 Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Trong chương này, tác giả trình bày khái niệm và các lý thuyết nền tảng có liên quan đến quyết định của nhà đầu tư và quản trị lợi nhuận Trên cơ sở đó và tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu và phát triển các giả thuyết nghiên cứu
Chương 3 Phương pháp nghiên cứu
Chương này trình bày việc xây dựng mô hình định lượng để xem xét mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và quyết định của nhà đầu tư, cũng như các phương pháp đo lường và phân tích hồi quy tương ứng Việc lựa chọn các biến độc lập khác
để đưa vào mô hình và ý nghĩa kinh tế đằng sau sự lựa chọn đó cũng sẽ được trình bày cụ thể trong chương 3 này
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thu được về quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu cũng như tổng quan quyết định của nhà đầu tư trong khoảng thời gian quan sát 2013-2017 Đồng thời, chương này sẽ tổng hợp và trình bày các kết quả của mô hình định lượng và bàn luận về các kết quả đó
Chương 5 Kết luận và gợi ý đề xuất
Chương cuối cùng sẽ tóm lược các kết luận về vấn đề nghiên cứu Đồng thời, chương này cũng đề xuất một số gợi ý để các doanh nghiệp niêm yết có thể xem xét khi muốn thu hút nhà đầu tư, cũng như những yếu tố mà nhà đầu tư nên cân nhắc khi quyết định mua bán cổ phiếu của doanh nghiệp, và một số đề xuất cho công ty kiểm toán Mặt khác, tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu này và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai
Trang 21CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Nội dung chính của chương này, người viết sẽ trình bày những nghiên cứu có liên quan trên thế giới và Việt Nam về quản trị lợi nhuận, quyết định của nhà đầu
tư, và sự ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư, từ đó tìm
ra khe hổng nghiên cứu
1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về đo lường quản trị lợi nhuận
Lợi nhuận của công ty gồm hai phần: lợi nhuận thực và lợi nhuận kế toán dồn tích (Dechow và Dichev, 2002) Lợi nhuận thực liên quan đến dòng tiền thực sự thu được trong kỳ kế toán, trong khi lợi nhuận kế toán dồn tích phản ánh dòng tiền
dự định thu được trong tương lai Cụ thể hơn, lợi nhuận kế toán dồn tích ghi nhận doanh thu và chi phí tương ứng phát sinh trong kỳ kế toán do công ty đã thực hiện các nghiệp vụ kinh tế, mà không căn cứ vào việc thực tế thu hoặc chi tiền Như vậy, việc quản trị lợi nhuận có thể được thực hiện thông qua việc quản trị lợi nhuận thực
và quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích
1.1.1 Quản trị lợi nhuận thực
Việc quản trị lợi nhuận thực liên quan đến dòng tiền thu được trong kỳ kế toán và có thể được thực hiện thông qua các giao dịch thực tế phát sinh trong kỳ Các giao dịch này có thể liên quan đến việc sản xuất vượt công suất để giảm giá vốn hàng bán, cắt giảm chi phí quảng cáo, chi phí nghiên cứu quá mức để tăng lợi nhuận trong kỳ, lựa chọn thời điểm thanh lý tài sản cố định để ghi nhận lợi nhuận khác, hay tăng mạnh chiết khấu thương mại để thúc đẩy tăng doanh thu (Gunny, 2010)
Roychowdhury (2006) và Thomas và Zhang (2002) phát hiện bằng chứng rằng nhà quản lý cố tình sản xuất vượt công suất để giảm giá vốn hàng bán nhằm tránh báo cáo lợi nhuận âm Dechow và Sloan (1991) tìm ra rằng các công ty có chi phí nghiên cứu cao (như các công ty ngành dược) thường cắt giảm chi phí nghiên cứu ngay trước khi tổng giám đốc điều hành nghỉ hưu Bartov (1993) chỉ ra rằng
Trang 22công ty lựa chọn thời điểm thanh lý tài sản cố định để làm mượt lợi nhuận qua các
kỳ kế toán và tránh tăng trưởng lợi nhuận âm
Tuy vậy, rất khó để biết được rằng liệu một giao dịch nào đó có phải là bằng chứng của hành vi quản trị lợi nhuận hay không Xét cho cùng, các giao dịch với mục đích quản trị lợi nhuận thực cũng không vi phạm các quy định của chuẩn mực
kế toán, nó chỉ gây thiệt hại về dài hạn cho công ty và cho lợi ích của cổ đông Ví
dụ như, việc sản xuất vượt công suất giúp hạ thấp chi phí cố định trên mỗi đơn vị sản phẩm, từ đó giảm giá vốn hàng bán trong kỳ Điều này không vi phạm các chuẩn mực kế toán nhưng sẽ gây giảm chất lượng tài sản cố định, từ đó gây phát sinh các chi phí có liên quan trong tương lai và gây áp lực lên hàng tồn kho vào kỳ
kế toán tiếp theo Hơn nữa, dù cho các giao dịch bằng tiền này có mang lại lợi ích
về mặt ghi nhận lợi nhuận thì đó cũng không thể xem là bằng chứng của hành vi quản trị lợi nhuận
Các nghiên cứu trước đây đo lường quản trị lợi nhuận thực thông qua mức
kỳ vọng của các giao dịch có liên quan (mức bình thường) (Gunny, 2010; Roychowdhury, 2006) Nếu nhà quản lý thực hiện các giao dịch trong kỳ vượt xa mức bình thường thì rất có thể nhà quản lý đang có hành vi quản trị lợi nhuận Mức
độ quản trị lợi nhuận thực chính là chênh lệch giữa mức bình thường và mức thực tế phát sinh của các giao dịch có liên quan
Theo Gunny (2010), quản trị lợi nhuận thực gồm 4 thành phần sau đây với mỗi thành phần được xác định bởi các mô hình tương ứng:
(1) chi phí nghiên cứu (R&D)
Trang 23(3) lợi nhuận từ thanh lý tài sản cố định
RDt: chi phí nghiên cứu trong năm t;
SGAt: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp trong năm t;
GainA: lợi nhuận từ thanh lý tài sản cố định trong năm 1;
At-1 : giá trị tổng tài sản tại thời điểm đầu năm t, cũng tức là cuối năm t-1; MV: logarit tự nhiên của vốn hóa thị trường;
Q: giá trị Tobin’s Q;
INT: các nguồn vốn của công ty;
St: doanh thu trong năm t;
ΔS: thay đổi về doanh thu giữa năm t và năm t-1;
DD: biến giả, nhận giá trị bằng 1 nếu doanh thu năm t giảm so với doanh thu năm t-1, nhận giá trị bằng 0 cho các trường hợp còn lại;
ASales: doanh thu thanh lý tài sản cố định;
ISales: doanh thu thanh lý tài sản đầu tư;
α0, α1, β1, β2, β3, β4, β5: các hệ số hồi quy;
𝜀𝑡𝑅&𝐷, 𝜀𝑡𝑆𝐺&𝐴, 𝜀𝑡𝐴𝑠𝑠𝑒𝑡, 𝜀𝑡𝑃𝑟𝑜𝑑𝑢𝑐𝑡𝑖𝑜𝑛: phần dư của các mô hình Đây là giá trị bất thường mà Gunny (2010) dùng để đo lường quản trị lợi nhuận thực
Trang 24Roychowdhury (2006) đo lường quản trị lợi nhuận thực thông qua (1) dòng tiền hoạt động (CFO), (2) chi phí sản xuất và (3) các chi phí khác có liên quan (chi phí nghiên cứu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp), theo 3 mô hình:
CFO t / A t-1 = α 0 + α 1 *(1/ A t-1 ) + β 1 *(S t / A t-1 ) + β 2 *(ΔS t / A t-1 ) + 𝜺𝒕𝑪𝑭𝑶 (1.5) PROD t / A t-1 = α 0 + α 1 *(1/ A t-1 ) + β 1 *(S t / A t-1 ) + β 2 *(ΔS t / A t-1 ) +
DISEXP t / A t-1 = α 0 + α 1 *(1/ A t-1 ) + β 1 *(S t-1 / A t-1 ) + 𝜺𝒕𝑫𝑰𝑺𝑬𝑿𝑷 (1.7)
Trong đó:
CFOt: dòng tiền hoạt động của công ty trong năm t;
PRODt: chi phí sản xuất (= giá vốn hàng bán + thay đổi hàng tồn kho);
DISEXP: các chi phí khác có liên quan (chi phí nghiên cứu, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp);
St: doanh thu trong năm t;
ΔS: thay đổi về doanh thu giữa năm t và năm t-1;
At-1 : giá trị tổng tài sản tại thời điểm đầu năm t, cũng tức là cuối năm t-1
α0, α1, β1, β2, β3: các hệ số hồi quy;
𝜀𝑡𝐶𝐹𝑂, 𝜀𝑡𝑃𝑅𝑂𝐷, 𝜀𝑡𝐷𝐼𝑆𝐸𝑋𝑃: phần dư của các mô hình Đây là giá trị bất thường mà Roychowdhury (2006) dùng để đo lường quản trị lợi nhuận thực
1.1.2 Quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích
Quản trị lợi nhuận cũng có thể được thực hiện thông qua điều chỉnh lợi nhuận kế toán dồn tích Thay vì lợi dụng các giao dịch bằng tiền để điều chỉnh lợi nhuận thực, nhà quản lý điều chỉnh các biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh Dechow và Schrand (2004, pp.40-41) đưa ra một số ví dụ cho các khoản mà nhà quản lý có thể điều chỉnh như: dự phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các phương pháp khấu hao khác nhau, vốn hóa chi phí vào tài sản cố
Trang 25định,… Đây là các biến cho phép nhà quản lý tự ước lượng và đưa ra quyết định nên cũng tạo ra cơ hội cho nhà quản lý thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận
Có rất nhiều mô hình đo lường đã được xây dựng để lượng hóa mức độ quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích trong các nghiên cứu trước đây Tương tự như khi đo lường quản trị lợi nhuận thực, các mô hình đo lường quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích đều cố gắng tìm ra mức bình thường của lợi nhuận kế toán dồn tích
Healy (1985) sử dụng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (discretionary accrual - DA) làm đại diện cho quản trị lợi nhuận Biến DA được tính bằng chênh lệch giữa tổng biến kế toán dồn tích (total accrual - TA) tại một năm và biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (non-discretionary accrual - NDA) của năm đó Tổng biến kế toán dồn tích trong năm t (TAt) được tính bằng chênh lệch giữa lợi nhuận ròng báo cáo (NI) và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) trong năm t Biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh NDA là trung bình của tổng biến kế toán dồn tích trong suốt giai đoạn quan sát Các biến kế toán dồn tích trên (TA, DA, NDA) đều được chia cho tổng tài sản tại thời điểm đầu năm
DeAngelo (1986) có cách tiếp cận tương đối giống với cách tiếp cận của Healy (1985) nhưng lại cho rằng biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh chính
là tổng biến kế toán dồn tích của năm trước đó (TAt-1) Do vậy, biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh của năm t (DAt) chính là chênh lệch giữa tổng biến kế toán trong năm t (TAt) và năm t-1 (TAt-1) Tuy nhiên, mô hình của DeAngelo có một nhược điểm đó là nó đòi hỏi NDA phải không đổi theo thời gian và do vậy trung bình DA cũng sẽ bằng 0 trong giai đoạn quan sát Để khắc phục hạn chế này, các biến kế toán dồn tích (TA, DA, NDA) được chia cho doanh thu trong năm trước đó
để phản ánh thay đổi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Mô hình Jones chuẩn (1991) được phát triển từ ý tưởng của mô hình Healy (1985) và mô hình DeAngelo (1986) Khi tính toán biến kế toán dồn tích không điều chỉnh được, mô hình Jones chuẩn đưa thêm các yếu tố liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vào mô hình Thay vì giả định rằng biến kế toán dồn
Trang 26tích không thể điều chỉnh (NDA) là không thay đổi theo thời gian, mô hình Jones chuẩn xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến biến NDA này, bao gồm những thay đổi
về doanh thu (ΔREV) và nguyên giá của tài sản cố định hữu hình (PPE) Mô hình hồi quy sau đây được tiến hành cho giai đoạn ước lượng (estimation period) Giai đoạn ước lượng là giai đoạn mà mô hình Jones ngầm giả định rằng doanh nghiệp không có hành vi điều chỉnh biến kế toán dồn tích:
TA i,t /A i,t -1 = α 1 [1/A i,t -1 ] + α 2 [ΔREV i,t / A i,t -1 ] + α 3 [PPE i,t /A i,t -1 ] + ε i,t (1.8)
Trong đó:
TA: tổng biến kế toán dồn tích của công ty i trong năm t;
ΔREV: thay đổi về doanh thu của công ty i giữa năm t và năm t-1;
PPE: nguyên giá tài sản cố định hữu hình của công ty i vào cuối năm t;
At-1 : giá trị tổng tài sản tại thời điểm đầu năm t, cũng tức là cuối năm t-1
α1, α2, α3: các hệ số hồi quy;
ε: phần dư;
Sau đó, các ước lượng của hệ số hồi quy α1, α2, α3 từ mô hình (1.8) theo phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS – Ordinary Least Square) được áp dụng để tính giá trị bình thường của biến kế toán dồn tích cho giai đoạn quan sát (observation period) Giá trị bình thường này chính là giá trị của biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được (NDAt) và được tính theo công thức (1.9) Chênh lệch giữa giá trị kế toán dồn tích thực tế (TAt) và giá trị bình thường NDAt
được tính từ mô hình (1.9) chính là giá trị kế toán dồn tích bất thường (abnormal accruals) và được xem là giá trị của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh (DAt) Tất cả các biến dồn tích đều được chia cho tổng tài sản tại thời điểm đầu năm
NDA i,t /A i,t -1 = α 1 [1/A i,t -1 ] + α 2 [ΔREV i,t / A i,t -1 ] + α 3 [PPE i,t /A i,t -1 ] (1.9)
Trong đó:
α1, α2, α3 là các ước lượng OLS của hệ số hồi quy từ mô hình (1.8);
Trang 27NDA: biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh của công ty i trong năm t; ΔREV: thay đổi về doanh thu của công ty i giữa năm t và năm t-1;
PPE: nguyên giá tài sản cố định hữu hình của công ty i vào cuối năm t;
At-1 : giá trị tổng tài sản tại thời điểm đầu năm t, cũng tức là cuối năm t-1 Lưu ý rằng, mô hình hồi quy (1.8) được tiến hành riêng đối với từng doanh nghiệp cho giai đoạn ước lượng Đây là giai đoạn mà mô hình Jones chuẩn ngầm giả định rằng doanh nghiệp không thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua biến kế toán dồn tích Điều này cũng là một hạn chế của mô hình Jones chuẩn khi
nó đòi hỏi giai đoạn ước lượng phải dài ít nhất 14 năm (Jones, 1991) và không có hành vi điều chỉnh lợi nhuận Trong khi đó, giá trị biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (NDAt) được tính từ công thức (1.9) được áp dụng cho giai đoạn quan sát (observation period), ngắn hơn và theo sau giai đoạn ước lượng
Dechow và các cộng sự (1995) đã điều chỉnh mô hình chuẩn của Jones (1991) bằng cách thêm vào mô hình biến đại diện cho thay đổi của khoản phải thu (ΔREC) với dấu âm (–) Mô hình Jones điều chỉnh vẫn giữ nguyên giả định như mô hình Jones chuẩn: không có hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua biến kế toán dồn tích trong giai đoạn ước lượng Tuy nhiên, mô hình Jones điều chỉnh gỡ bỏ giả định này đối với giai đoạn quan sát Trong giai đoạn quan sát, doanh nghiệp có thể điều chỉnh lợi nhuận thông qua các khoản phải thu, và do vậy những thay đổi của khoản phải thu nên được loại ra khỏi thay đổi của doanh thu
Thay vì phải ước lượng hệ số hồi quy của mô hình (1.8) dựa trên giai đoạn ước lượng rồi áp dụng vào công thức (1.9) cho giai đoạn quan sát, Defond và Jiambalvo (1994) đưa ra cách tiếp cận theo ngành Theo đó, mô hình hồi quy (1.8) được ước lượng riêng cho từng ngành theo từng năm Cách tiếp cận này không đòi hỏi giai đoạn ước lượng quá dài như mô hình Jones chuẩn, đồng thời nó cũng phản ánh tốt hơn chu kỳ kinh doanh đặc thù của ngành Theo Lai (2011), để có thể ước lượng mô hình hồi quy (1.8) thì mỗi ngành cần có tối thiểu 20 quan sát (doanh nghiệp) trong mỗi năm
Trang 28Dechow và các cộng sự (1995) đã so sánh các mô hình đo lường quản trị lợi nhuận và kết quả cho thấy mô hình Jones điều chỉnh là tốt nhất để phát hiện quản trị lợi nhuận Trong nhiều nghiên cứu, cách tiếp cận kế toán dồn tích giải thích tốt hơn các cách tiếp cận khác (Francis và các cộng sự, 2004) Do vậy, tác giả cũng tập trung vào các đo lường theo cách tiếp cận kế toán dồn tích và lựa chọn mô hình Jones điều chỉnh của Dechow và các cộng sự (1995) để đo lường quản trị lợi nhuận
1.2 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư Tuy vậy, các yếu tố này chủ yếu xoay quanh các đặc điểm của chất lượng lợi nhuận Tác động của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư được xem xét gián tiếp thông qua việc làm giảm chất lượng lợi nhuận
Nwaobia và các cộng sự (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đến quyết định của nhà đầu tư tại Nigeria Mẫu nghiên cứu gồm 10 doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria Dữ liệu nghiên cứu được thu thập cho giai đoạn 5 năm 2010-2014 Nwaobia đo lường chất lượng báo cáo tài chính theo phương pháp dồn tích được đề xuất bởi Dechow và Dichev (2002) và điều chỉnh bởi McNichols và Stubben (2008) và Kothari và các cộng sự (2005) Khối lượng giao dịch khớp lệnh được sử dụng làm đại diện cho quyết định của nhà đầu tư Các biến kiểm soát có ảnh hưởng tới phản ứng của nhà đầu tư trong nghiên cứu này bao gồm thời gian niêm yết, quy mô, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu Kết quả nghiên cứu kết luận rằng có mối tương quan dương giữa quyết định của nhà đầu tư và chất lượng báo cáo tài chính Chất lượng báo cáo tài chính càng cao thì khối lượng giao dịch khớp lệnh càng nhiều
Tuy vậy, các nhóm nhà đầu tư khác nhau thường có các cách tiếp cận khác nhau về chất lượng báo cáo tài chính (Sajjadi và các cộng sự, 2009) Những nhà đầu
tư ngắn hạn thường quan tâm đến tính phù hợp và tính kịp thời của thông tin tài
Trang 29chính để có thể đưa ra những quyết định mua bán cổ phiếu đúng lúc Trong khi đó, những nhà đầu tư dài hạn ưu tiên độ tin cậy của thông tin tài chính để nhà đầu tư có thể đánh giá đúng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp Tuy vậy, dù nhà đầu tư thuộc kiểu đầu tư dài hạn hay ngắn hạn thì chất lượng của thông tin tài chính, hay cụ thể hơn là chất lượng báo cáo tài chính cũng có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư
Tính kịp thời của thông tin kế toán cũng trợ giúp nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định mua hay bán cổ phiếu Doanh nghiệp cam kết công bố thông tin lợi nhuận kịp thời, dù là tốt hay xấu, cũng sẽ giúp giảm sự không chắc chắn của nhà đầu tư đối với kỳ vọng của họ về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp (Sujis, 2008; Latif, 2016) Tính kịp thời của thông tin lợi nhuận càng cao thì nhà đầu tư càng tự tin hơn vào ước lượng của mình về dòng tiền tương lai của doanh nghiệp Mặt khác, tính đáng tin cậy của thông tin lợi nhuận giúp nhà đầu tư tìm thấy những thông tin hữu ích được phản ánh trong thông tin lợi nhuận Nếu nhà quản lý doanh nghiệp cố
ý điều chỉnh lợi nhuận để trục lợi thì thông tin về lợi nhuận sẽ bị sai lệch và làm ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư
Một số nghiên cứu tập trung vào hiệu quả của quyết định đầu tư, được đo lường bằng lợi suất của cổ phiếu (Nichols và Wahlen, 2004) Thực tế, nhà đầu tư rất quan tâm đến dòng tiền tương lai của doanh nghiệp (Mohammadi, 2014) Trong nghiên cứu này, Mohammadi (2014) xem xét mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư trên thị trường chứng khoán Tehran Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 93 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2009-2012 Chất lượng báo cáo tài chính được đo lường theo mô hình chất lượng dồn tích được đề xuất bởi McNichols (2002) Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng báo cáo tài chính có mối tương quan dương và có ý nghĩa thống
kê với hiệu quả đầu tư cổ phiếu
Houcine và Kolsi (2017) chỉ ra rằng các đặc điểm của chất lượng lợi nhuận như tính tin cậy và tính làm mượt (smoothness) đều có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu
Trang 30quả đầu tư cổ phiếu Chất lượng lợi nhuận cao sẽ giúp nhà đầu tư lựa chọn được những khoản đầu tư tốt Hành vi quản trị lợi nhuận sẽ làm giảm đi chất lượng lợi nhuận Do vậy, quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư phần nào chịu ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận Nghiên cứu này được tiến hành trên 25 công ty niêm yết tại Tunisia trong giai đoạn 1997-2013
Thay vì phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư hay hiệu quả đầu tư, một số nghiên cứu khác phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến lợi nhuận bất thường của cổ phiếu (Perotti và Wagenhofer, 2014), đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp (Biddle và các cộng sự, 2009), đến chi phí vốn (Aboody và các cộng sự, 2005) và đến tính thanh khoản của cổ phiếu trên thị trường (Bar-Yosef và Prencipe, 2013)
Tại Việt Nam, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu trước đây về các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận Ngô Hoàng Điệp (2018) đưa ra nghiên cứu toàn diện
về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Phạm Thị Bích Vân (2017) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận khi các doanh nghiệp niêm yết phát hành thêm cổ phiếu Nguyễn Thị Phương Hồng và Nguyễn Thị Thương (2015) nghiên cứu về ảnh hưởng của đặc điểm nhà quản lý đến quản trị lợi nhuận Đặng Ngọc Hùng (2015) tìm ra bằng chứng thực nghiệm cho thấy các doanh nghiệp niêm yết có thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận khi thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp Lê Thị Yến Nhi (2017) nghiên cứu và kết luận rằng có tồn tại hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết thuộc nhóm ngành sản xuất hàng tiêu dùng tại Việt Nam trong năm 2015 Nguyễn Thị Phượng Loan và Nguyễn Minh Thao (2016) xém xét các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam giai đoạn 2008-2015
và cho thấy các doanh nghiệp có áp dụng hành vi lợi nhuận thực để tránh lỗ thông qua các chính sách chiết khấu hoặc cắt giảm chi phí có thể điều chỉnh
Tuy vậy, các nghiên cứu tại Việt Nam về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận với vai trò là biến độc lập cũng đã được một số nhà nghiên cứu thực hiện, như
Trang 31nghiên cứu của Phan Thị Đỗ Quyên (2018) phân tích ảnh hưởng của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến tính thông tin của giá cổ phiếu tại Việt Nam và kết luận rằng có mối quan hệ thuận chiều giữa mức độ quản trị lợi nhuận và tính thông tin của giá cổ phiếu Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang (2013), nghiên cứu này đã phân tích mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và nguy cơ phá sản của các công ty niêm yết trên sàn HOSE, với kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có mức quản trị lợi nhuận càng cao thì nguy cơ phá sản càng lớn Ngoài
ra, Đinh Thị Thu Thảo và Nguyễn Vĩnh Khương (2016) cũng đã nghiên cứu tác động của hành vi điều chỉnh lợi nhuận đến khả năng hoạt động liên tục của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam và cho ra kết quả khá thống nhất với Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang (2013) Tuy nhiên, theo khả năng tiếp cận của tác giả, tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư
1.3 Khe hổng nghiên cứu
Đã có khá nhiều nghiên cứu về quản trị lợi nhuận trên thế giới, đặc biệt là các nghiên cứu xây dựng mô hình đo lường quản trị lợi nhuận Tuy nhiên, nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư vẫn còn khá hạn chế Các nghiên cứu này tập trung vào mối tương quan giữa quản trị lợi nhuận
và hiệu quả đầu tư cổ phiếu Biến động trong giá cổ phiếu được sử dụng để đo lường cho quyết định của nhà đầu tư trên thị trường Biến động giá này được quan sát trong một khoảng thời gian quy định trước Như vậy, các nghiên cứu này đang tập trung vào kết quả của quyết định đầu tư (hiệu quả đầu tư) chứ không phải bản thân của quyết định đầu tư đó, vốn được đưa ra ngay từ ban đầu lúc nhà đầu tư đưa
ra quyết định Có thể nói, những nghiên cứu này phân tích mối quan hệ tương quan giữa quản trị lợi nhuận và kết quả của quyết định đầu tư (ex post), mà không phải là mối quan hệ tác động của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư ngay lúc ban đầu (ex ante)
Trang 32Tại Việt Nam, đa phần các nghiên cứu về quản trị lợi nhuận đều tập trung vào các nhân tố, sự kiện có ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận, và xem quản trị lợi nhuận là biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy Có rất ít công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận với vai trò là biến độc lập Không những vậy, theo khả năng tiếp cận của tác giả, chưa có nghiên cứu nào ở Việt Nam phân tích tác động của quản trị lợi nhuận đến quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư Nếu
có đề cập đến nhà đầu tư, các nghiên cứu này cũng chỉ dừng lại ở mức lý luận rằng hành vi quản trị lợi nhuận làm giảm đi chất lượng báo cáo tài chính và do đó có ảnh hưởng tiêu cực đến nhà đầu tư
Như đã phân tích ở trên, tác giả nhận thấy cần có một nghiên cứu tập trung phân tích định lượng mối quan hệ tác động của quản trị lợi nhuận đến quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư Quyết định này nên được xem xét và phân tích tại thời điểm nhà đầu tư đưa ra quyết định, thay vì xem xét kết quả của quyết định đó Mặt khác, mối quan hệ tương quan (nếu có) giữa quản trị lợi nhuận và quyết định của nhà đầu tư cần có bằng chứng thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Việt Nam hơn là chỉ dừng lại ở mức lý luận
Cuối cùng, số lượng các doanh nghiệp quan sát trong các nghiên cứu trước đây trên thế giới và ở Việt Nam còn khá ít, đa phần từ vài chục đến dưới 100 công
ty, rất dễ đưa ra những kết luận sai lệch khi các doanh nghiệp này được lựa chọn một cách chủ quan và khó mang tính đại diện Do vậy, với thị trường chứng khoán còn non trẻ như Việt Nam, việc chọn mẫu nghiên cứu với số lượng doanh nghiệp nhiều hơn là hết sức cần thiết
Trang 33KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương đầu tiên trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây về mô hình
đo lường quản trị lợi nhuận, chủ yếu gồm hai nhóm: mô hình đo lường quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích và mô hình đo lường quản trị lợi nhuận thực Các nghiên cứu trước đây về quyết định của nhà đầu tư và sự ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư cũng được trình bày trong chương 1 này
Ngoài việc số lượng các nghiên cứu có liên quan còn khá ít ỏi, phần lớn các nghiên cứu về đề tài này lại tập trung vào kết quả của quyết định đầu tư thay vì quyết định của nhà đầu tư ngay lúc ban đầu Bằng chứng thực nghiệm trên thế giới cũng khá hạn chế về số lượng doanh nghiệp trong mẫu quan sát Bên cạnh đó, tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu có biến độc lập là quản trị lợi nhuận, và theo khả năng tiếp cận của tác giả thì chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư
Vì vậy, tác giả cho rằng cần có một nghiên cứu định lượng toàn diện về ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu tư, cụ thể là quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư Đồng thời, tác giả tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Việt Nam với số lượng doanh nghiệp quan sát nhiều hơn và đầy đủ hơn
Trang 34CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Tác giả sẽ trình bày một cách tổng quan về các lý thuyết nền tảng cũng như các khái niệm có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở đó và kết quả các nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu, xác định biến phụ thuộc
và các biến độc lập trong mô hình Dựa trên mô hình nghiên cứu này, tác giả cũng
sẽ đưa ra các giả thuyết nghiên cứu tương ứng
2.1 Giải thích một số khái niệm
2.1.1 Quyết định của nhà đầu tư
Trong luận văn này, quyết định của nhà đầu tư được giới hạn ở quyết định mua bán cổ phiếu của nhà đầu tư Theo Nwaobia và các cộng sự (2016, p.141), quyết định của nhà đầu tư thể hiện qua hành động mua bán hay nắm giữ cổ phiếu của một doanh nghiệp, dựa trên kỳ vọng của họ về thu nhập và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai
Quyết định của nhà đầu tư thể hiện “…sự sẵn lòng bán hoặc mua cổ phiếu của một doanh nghiệp…” (Bar-Yosef và Prencipe, 2013, p.295) Cũng vậy, quyết định mua hay bán cổ phiếu của nhà đầu tư phản ánh sự dự đoán của nhà đầu tư dựa trên tình hình kinh doanh thực tế của doanh nghiệp ở hiện tại
2.1.2 Quản trị lợi nhuận
Theo Schipper (1989, p.92), quản trị lợi nhuận là “…sự can thiệp có chủ đích vào quá trình công bố báo cáo tài chính ra bên ngoài, nhằm đạt được một số lợi ích
cá nhân của nhà quản lý”
Quản trị lợi nhuận xảy ra “…khi nhà quản lý tự điều chỉnh báo cáo tài chính
và các giao dịch của công ty để thay đổi thông tin kế toán nhằm đánh lừa các bên có liên quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả các hợp đồng có sử dụng các thông tin kế toán này” (Healy và Wahlen,
1999, p.368)
Trang 35Quản trị lợi nhuận che đậy kết quả kinh doanh thực sự của doanh nghiệp, làm cho thông tin lợi nhuận công bố trở nên không còn hữu ích đối với người sử dụng thông tin (Perotti và Wagenhofer 2014) Rõ ràng, quản trị lợi nhuận làm giảm
đi chất lượng lợi nhuận (Dechow và Schrand, 2004, p.37)
Do lợi nhuận của công ty bao gồm hai thành phần: lợi nhuận thực và lợi nhuận kế toán dồn tích (Dechow và Dichev, 2002), quản trị lợi nhuận cũng chia thành hai nhóm tương ứng: quản trị lợi nhuận thực và quản trị lợi nhuận dồn tích
Quản trị lợi nhuận thực được thực hiện thông qua các giao dịch thực tế phát sinh trong kỳ, như sản xuất vượt công suất, cắt giảm chi phí quá mức, lựa chọn thời điểm thanh lý tài sản cố định,…(Gunny, 2010)
Quản trị lợi nhuận kế toán dồn tích điều chỉnh các khoản mà nhà quản lý có quyền điều chỉnh như các khoản dự phòng, phương pháp khấu hao, vốn hóa chi phí vào tài sản cố định,…(Dechow và Schrand, 2004, pp.40-41)
2.1.3 Chất lượng lợi nhuận
Có nhiều định nghĩa về chất lượng lợi nhuận tùy thuộc vào góc độ của đối tượng quan tâm Dưới góc độ nhà đầu tư, Pratt (2000) định nghĩa chất lượng lợi nhuận là mức độ khác nhau giữa thu nhập thuần được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và thu nhập thực sự của doanh nghiệp
Nếu định nghĩa chất lượng lợi nhuận từ góc nhìn của nhà phân tích thì Dechow và các cộng sự (2010) đã định nghĩa chất lượng lợi nhuận là khả năng cung cấp thông tin hữu ích về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mục tiêu của việc phân tích tài chính là đánh giá được hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong hiện tại lẫn tương lai, cũng như xác định rằng liệu giá cổ phiếu hiện tại của doanh nghiệp
có phản ánh được giá trị nội tại của doanh nghiệp hay không
Chất lượng lợi nhuận phản ánh giá trị thực tế của lợi nhuận doanh nghiệp, cũng như mức độ hữu dụng của thông tin về lợi nhuận trong quá khứ trong việc ước lượng lợi nhuận tương lai (Bellovary và các cộng sự, 2005)
Trang 36Cụ thể hơn, chất lượng lợi nhuận được đo lường chủ yếu bởi các đặc điểm của thông tin kế toán Francis và các cộng sự (2004) sử dụng 7 chỉ tiêu để đo lường chất lượng lợi nhuận: chất lượng dồn tích, tính bền vững, khả năng dự báo, tính làm mượt, tính phù hợp, tính kịp thời và tính thận trọng Một số thuộc tính mà Schipper
và Vincent (2003) dùng để đo lường chất lượng lợi nhuận bao gồm tính phù hợp, tính tin cậy, tính so sánh được, tính nhất quán, tỷ số dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFO) và lợi nhuận ròng, mức thay đổi trong tổng kế toán dồn tích, và tỷ lệ giữa kế toán dồn tích và tiền mặt
2.1.4 Biến kế toán dồn tích
Theo Chuẩn mực kế toán số 01 của Việt Nam (2002), “Mọi nghiệp vụ kinh
tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn
cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai”
Theo đó, kế toán doanh nghiệp được dựa trên cơ sở dồn tích nên lợi nhuận công bố trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là lợi nhuận dồn tích Tuy nhiên, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ lại dựa trên cơ sở tiền, tức căn cứ vào thực tế thu và thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền trong kỳ
kế toán Do vậy, có sự chênh lệch giữa hai con số này và độ lệch này chính là biến
kế toán dồn tích Nói cách khác, biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền trình bày trên báo cáo tài chính (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016)
2.2 Lý thuyết nền tảng liên quan
2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
Lý thuyết đại diện (hay còn gọi là lý thuyết ủy nhiệm) nói rằng, vấn đề đại diện xảy ra mỗi khi có sự mâu thuẫn lợi ích giữa người nắm giữ quyền sở hữu (người ủy nhiệm - principal) và người nắm giữ quyền sử dụng (người đại diện - agent) một tài sản nào đó Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và
Trang 37Meckling (1976) và Ross (1973) (Panda và Leepsa, 2017) Theo thỏa thuận thông qua hợp đồng, người đại diện sẽ đại diện cho người ủy nhiệm để thực hiện một số công việc nhất định, bao gồm cả quyết định đầu tư Người đại diện được kỳ vọng sẽ thực hiện việc tối đa hóa lợi ích của người ủy nhiệm Tuy nhiên, lý thuyết đại diện cho rằng bản thân người đại diện cũng muốn theo đuổi lợi ích riêng của mình và lợi ích của người đại diện có thể mâu thuẫn với lợi ích của người ủy nhiệm Điều này làm phát sinh một khoản chi phí mà bên ủy nhiệm phải chịu do sự khác biệt lợi ích giữa họ và bên được ủy nhiệm Jensen và Mecking (1976) gọi đó là chi phí ủy nhiệm (agency costs) và được chia thành: chi phí giám sát (monitoring costs), chi phí cam kết (bonding costs) và chi phí khác (residual costs)
Mối quan hệ người đại diện – người ủy nhiệm trong lý thuyết đại diện tương ứng với mối quan hệ nhà quản lý – cổ đông trong một công ty cổ phần Cổ đông chính là những người chủ sở hữu doanh nghiệp, ủy thác cho nhà quản lý đại diện họ thực hiện việc điều hành doanh nghiệp Nhà quản lý được kỳ vọng sẽ cố gắng làm tăng giá trị của doanh nghiệp và qua đó tối đa hóa lợi ích của cổ đông Cổ đông sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính cung cấp bởi nhà quản lý
Lý thuyết đại diện là một trong những lý thuyết quan trọng có thể giải thích một cách hợp lý cho các vấn đề liên quan đến chất lượng báo cáo tài chính, đặc biệt
là chất lượng lợi nhuận và quản trị lợi nhuận Những vấn đề này có thể xảy ra trong quá trình trình bày, kiểm toán và cung cấp thông tin kế toán Chính những phúc lợi (lương, thưởng, …) dựa trên kết quả lợi nhuận cũng như áp lực từ cổ đông đối với kết quả kinh doanh trong ngắn hạn đã tạo động cơ để nhà quản lý cố ý tiến hành điều chỉnh thông tin trên báo cáo tài chính Tuy những điều chỉnh này có thể làm được về mặt kế toán, thông tin trên báo cáo tài chính đã trở nên ít tin cậy hơn và ít hữu dụng hơn đối với người sử dụng Những nhà đầu tư trên thị trường có thể sẽ bị sai lầm nếu đưa ra quyết định đầu tư dựa vào thông tin trên các báo cáo tài chính đã
bị cố ý điều chỉnh Do vậy, nhà đầu tư có thể sẽ xem xét chất lượng báo cáo tài
Trang 38chính và đánh giá mức độ quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp trước khi đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp
2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory)
Lý thuyết tín hiệu cho rằng thông tin bất cân xứng hầu như luôn tồn tại giữa người mua và người bán và do vậy người mua sẽ đưa ra quyết định dựa trên tín hiệu hàm ý trong hành động của người bán Nếu người bán chọn bán một sản phẩm có chất lượng rất tốt ở mức giá trung bình hoặc thấp hơn thị trường, người mua sẽ đặt câu hỏi về lý do thực sự ẩn đằng sau quyết định bán này của người bán Người mua biết rằng người bán có nhiều thông tin hơn mình về sản phẩm (Morris, 1987) và do vậy người mua sẽ cảm thấy e ngại mua sản phẩm này
Do thông tin bất cân xứng, nhà đầu tư bên ngoài không có khả năng có nhiều thông tin hơn nhà quản lý doanh nghiệp, và do vậy nhà đầu tư (vai trò là người mua) sẽ quan sát toàn bộ quyết định của nhà quản lý (vai trò người bán) để thu thập tin tức hữu ích về doanh nghiệp Ví dụ, một doanh nghiệp tự nguyện công bố thông tin đầy đủ và toàn diện sẽ gửi tín hiệu tích cực đến thị trường (Campbell và các cộng sự, 2001) Nếu thông tin tài chính được công bố có chất lượng tốt và được chứng minh là đúng thì nhà đầu tư sẽ cảm thấy tự tin hơn với quyết định đầu tư của mình Ngược lại, nếu nhà quản lý bị phát hiện là có tham gia vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận (quản trị lợi nhuận) để làm đẹp lợi nhuận báo cáo, nhà đầu tư rất có thể sẽ cho rằng doanh nghiệp đang gặp khó khăn hoặc sẽ đối mặt với những bất lợi trong tương lai Hành vi quản trị lợi nhuận sẽ gửi tín hiệu tiêu cực đến thị trường và khiến nhà đầu tư e ngại hơn khi đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp
2.3 Mô hình nghiên cứu
2.3.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên các lý thuyết nền tảng vừa nêu và các nghiên cứu trước đây có liên quan, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như trong Hình 2.1 Mục đích của nghiên cứu này là phân tích ảnh hưởng của quản trị lợi nhuận đến quyết định của nhà đầu
tư Do vậy, quyết định của nhà đầu tư được tác giả đưa vào mô hình với vai trò là
Trang 39biến phụ thuộc Quản trị lợi nhuận sẽ là biến độc lập chính yếu mà tác giả quan tâm phân tích Ngoài ra, tác giả cũng đưa vào mô hình 5 biến thuộc đặc điểm của mỗi doanh nghiệp, bao gồm: Tăng trưởng doanh thu, Quy mô tài sản, Đòn bẩy tài chính, Khả năng sinh lời và Loại công ty kiểm toán (tác giả xem đây không phải là biến độc lập chính trong mô hình) và các biến này cũng có khả năng ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 2.3.2 Phát triển giả thuyết nghiên cứu
Nhà đầu tư nói chung e ngại mua cổ phiếu của các doanh nghiệp có biểu hiện thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận, và muốn bán cổ phiếu của các doanh nghiệp
này Theo lý thuyết đại diện, sự e ngại này chủ yếu đến từ việc nhà đầu tư lo lắng
nhà quản lý doanh nghiệp sẽ điều chỉnh lợi nhuận theo hướng có lợi cho các mục tiêu riêng của cá nhân nhà quản lý Khi những lợi ích riêng của nhà quản lý mâu thuẫn với mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp của cổ đông, việc điều chỉnh này
sẽ gây thiệt hại cho giá trị tài sản của nhà đầu tư
Trang 40Theo lý thuyết tín hiệu, nếu nhà quản lý doanh nghiệp bị phát hiện là có tham
gia vào hành vi điều chỉnh lợi nhuận để làm đẹp lợi nhuận báo cáo, thị trường sẽ nhận được tín hiệu tiêu cực từ việc này Nhà đầu tư rất có thể sẽ cho rằng doanh nghiệp đang gặp khó khăn hoặc sẽ đối mặt với những bất lợi trong tương lai nên mới cần điều chỉnh lợi nhuận ở hiện tại Chính vì vậy, tác giả kỳ vọng rằng hành vi quản trị lợi nhuận sẽ có mối tương quan ngược chiều đến mong muốn sở hữu cổ phiếu của nhà đầu tư Nói cách khác, doanh nghiệp có mức độ quản trị lợi nhuận càng cao thì nhà đầu tư quyết định mua càng ít, bán càng nhiều
Tăng trưởng doanh thu và quy mô tài sản của công ty có thể ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Tăng trưởng doanh thu phần nào phản ánh tiềm năng của hoạt động kinh doanh cốt lõi Cổ phiếu của doanh nghiệp càng có tiềm năng phát triển thì càng thu hút nhà đầu tư mua vào (Beyer, 2008) Bên cạnh đó, các công ty quy mô lớn thường được quan sát rất kỹ bởi các bên có liên quan, ví dụ như công đoàn, nhân viên, khách hàng, đối thủ cạnh tranh,…(Dechow et al., 2010; Jensen và Meckling, 1976) Thông tin của các công ty quy mô lớn sẽ nhanh chóng được công khai và minh bạch hơn, và do vậy nhà đầu tư trên thị trường sẽ cảm thấy tự tin hơn khi quyết định mua cổ phiếu của các công ty lớn này
Đòn bẩy tài chính phản ánh rủi ro phá sản của doanh nghiệp Đòn bẩy tài chính càng cao càng làm chùn bước những nhà đầu tư ngại rủi ro Theo lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Modern Portfolio Theory – MPT) của Markowitz (1952), nhà đầu tư có xu hướng ngại rủi ro Tác giả kỳ vọng đòn bẩy tài chính sẽ có mối tương quan ngược chiều với quyết định mua của nhà đầu tư Công ty có đòn bẩy tài chính càng cao thì nhà đầu tư quyết định mua càng ít, bán càng nhiều Tuy vậy, nhà đầu tư cũng đòi hỏi tỷ suất sinh lời cao đối với cổ phiếu của các doanh nghiệp với đòn bẩy tài chính cao, dẫn đến cổ phiếu của các doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao có thể thu hút những nhà đầu tư mạo hiểm ưu thích rủi ro
Quyết định của nhà đầu tư trong việc mua hay bán cổ phiếu rất có thể chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Dechow và Schrand, 2004) Xét