Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều địa phương, đặc biệt là tại Nhơn Trạch, nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi Sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang công nghiệp và xây dựng đô thị ngày càng gia tăng Tuy nhiên, việc này cũng dẫn đến thu hồi đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của nhiều người, trong đó không ít người gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.
Nhơn Trạch đang trải qua quá trình đô thị hóa nhanh chóng, dẫn đến việc gia tăng diện tích đất bị thu hồi cho các mục tiêu kinh tế và xã hội Sự thay đổi này đã tạo ra áp lực lớn cho địa phương trong việc giải quyết việc làm cho những người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất.
Tác giả, với kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực đất đai và hiện đang làm việc tại địa phương, đã có những hiểu biết sâu sắc về những thành công và hạn chế trong việc giải quyết việc làm cho những người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại Nhơn Trạch Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai” cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bài viết của tác giả Lương Thị Quyên (2020) trên tạp chí Quản lý nhà nước đã phân tích tình hình việc làm của nông dân bị thu hồi đất tại tỉnh Hải Dương và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này Cụ thể, tác giả nhấn mạnh việc gắn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch sử dụng đất, đồng thời thúc đẩy đào tạo nghề và tạo việc làm mới Đặc biệt, tỉnh Hải Dương cần nhanh chóng phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như một bước đột phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện tình hình việc làm cho nông dân.
Bài viết của Trần Hằng (2019) trên Tạp chí Giáo dục điện tử đã phân tích rằng người lao động bị thu hồi đất thường có trình độ và kỹ năng hạn chế, gây khó khăn trong việc chuyển đổi nghề nghiệp, do đó cần sự hỗ trợ đặc biệt từ chính quyền Tác giả đã đề xuất 6 nhóm giải pháp để giải quyết vấn đề việc làm cho nhóm lao động này, nhưng các giải pháp vẫn còn chung chung vì chưa dựa trên bối cảnh cụ thể của từng địa phương.
Luận án tiến sỹ của Triệu Đức Hạnh (2014) tập trung vào việc nghiên cứu các giải pháp tạo việc làm bền vững cho lao động nông thôn tại tỉnh Thái Nguyên Tác giả đã xây dựng cơ sở lý luận về việc làm và đánh giá thực trạng tạo việc làm bền vững cho lao động nông thôn trong khu vực này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình việc làm cho lao động nông thôn tỉnh Thái Nguyên.
Tác giả Nguyễn Đức Hoàn (2014) trong đề tài “Chính sách tạo việc làm cho người lao động trình đô thị hóa địa bàn Quận Bắc Từ Liêm” đã hệ thống hóa lý luận về việc làm cho người lao động trong bối cảnh đô thị hóa tại Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội Nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích thực trạng đô thị hóa và thu hồi đất, nhấn mạnh yêu cầu cần thiết để giải quyết việc làm cho những người bị thu hồi đất Điều này không chỉ giúp ổn định đời sống của họ mà còn góp phần vào sự ổn định kinh tế - xã hội của địa phương Do đó, việc triển khai các chính sách của Nhà nước cần được tuyên truyền ngay từ giai đoạn đầu của quá trình thu hồi đất.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Diễn (2013) về ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp cho công nghiệp hóa tại tỉnh Hưng Yên đã chỉ ra rằng, mặc dù ngân sách địa phương tăng, hạ tầng nông thôn được cải thiện và thu nhập bình quân đầu người tăng, nhưng việc thu hồi đất cũng tác động tiêu cực đến việc làm của hộ dân Những kết quả này cùng với các nghiên cứu liên quan khác cung cấp tài liệu quý giá cho việc giải quyết vấn đề việc làm cho những người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại Nhơn Trạch.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu lý luận về việc giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất là cần thiết để phân tích và đánh giá thực trạng tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Bài viết sẽ đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm hỗ trợ người dân trong quá trình đô thị hóa, đảm bảo họ có cơ hội việc làm phù hợp sau khi đất đai bị thu hồi.
3.2 Mục tiêu cụ thể: Đề tài cần thiết phải thực hiện được các yêu cầu sau:
Nghiên cứu và hệ thống hóa lý luận về đô thị hóa, thu hồi đất và giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất nhằm rút ra cơ sở lý luận phục vụ cho việc phân tích và đánh giá thực trạng thu hồi đất tại Huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
Phân tích thực trạng việc làm của người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại Nhơn Trạch, Đồng Nai, nhằm đánh giá công tác giải quyết việc làm cho đối tượng này Từ đó, xác định các nguyên nhân chính để đề xuất giải pháp hiệu quả nhằm hỗ trợ việc làm cho các hộ gia đình bị thu hồi đất trong khu vực.
Để giải quyết vấn đề việc làm cho những người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai, cần đề xuất các giải pháp phù hợp Những giải pháp này nên dựa trên các phân tích thực trạng và nhu cầu lao động địa phương, nhằm tạo ra cơ hội việc làm bền vững và hỗ trợ người dân chuyển đổi nghề nghiệp Việc phát triển các chương trình đào tạo nghề, khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp mới và cải thiện hạ tầng giao thông sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dùng cách tiếp cận định tính với các phương pháp cụ thể:
- Nghiên cứu tại bàn: tổng hợp, phân tích được sử dụng để nghiên cứu và tổng hợp cho sở lý luận trong chương 1 của đề tài.
Trong chương 2, nghiên cứu sẽ sử dụng số liệu thứ cấp từ các báo cáo và thống kê địa phương để phục vụ cho việc phân tích và đánh giá Bên cạnh đó, số liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn các hộ dân bị thu hồi đất, nhằm tìm hiểu về tình hình việc làm và giải quyết việc làm, từ đó bổ sung cho các phân tích và đánh giá thực trạng của đề tài.
Đề tài đã tiến hành khảo sát 280 người dân bị thu hồi đất tại huyện Nhơn Trạch từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2020, thu được 250 phiếu hợp lệ Kết quả khảo sát cung cấp thông tin quan trọng về nhu cầu và mong muốn của người dân trong việc tìm kiếm việc làm cho bản thân và gia đình sau khi bị thu hồi đất.
Dựa trên quan điểm phát triển của các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương, cùng với việc kế thừa các nghiên cứu trước đây, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho các hộ thu hồi đất tại huyện Nhơn Trạch Phương pháp nghiên cứu này được áp dụng trong chương 3 của đề tài, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn công tác tại địa phương.
Đóng góp của đề tài
Luận văn có những đóng góp sau:
Luận văn đã tổng hợp các vấn đề lý luận về giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa, bao gồm vai trò quan trọng của việc làm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Nó cũng đề cập đến mối liên hệ giữa đô thị hóa, thu hồi đất và giải quyết việc làm, đồng thời nêu rõ đặc điểm của những người lao động bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất, nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết phải hỗ trợ họ trong việc tìm kiếm việc làm trong bối cảnh đô thị hóa.
Luận văn đã phân tích thực trạng thu hồi đất và tình hình giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất tại Nhơn Trạch trong những năm qua, chỉ ra những thành công cũng như hạn chế trong công tác này, đồng thời nêu rõ nguyên nhân dẫn đến các hạn chế đó.
Luận văn đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hỗ trợ việc làm cho những người bị thu hồi đất tại Nhơn Trạch Bên cạnh đó, bài viết cũng nêu ra một số vấn đề liên quan đến chính sách và cách thực hiện chính sách với các cấp trên, nhằm đảm bảo quá trình giải quyết việc làm cho người dân bị ảnh hưởng được diễn ra hiệu quả.
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu bao gồm 3 chương, ngoài phần mở đầu và kết luận, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa.
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Một số giải pháp giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất trong quá trình đô thị hóa tại huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
1.1 Những vấn đề cơ bản về giải quyết việc làm và quá trình đô thị hóa
1.1.1 Việc làm, giải quyết việc làm và vai trò của giải quyết việc làm
1.1.1.1 Khái quát về việc làm và giải quyết việc làm
(I.) Khái quát về việc làm:
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), việc làm được định nghĩa là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật Theo Bộ luật Lao động Việt Nam, việc làm là những hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm và mang lại thu nhập cho người lao động Việc làm không chỉ là nhu cầu và quyền lợi mà còn là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân.
- Làm những công việc mà người lao động khi thực hiện nhận được tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó.
Người lao động có quyền sử dụng và quản lý tư liệu sản xuất cùng sức lao động của mình để tạo ra sản phẩm, từ đó thu lợi nhuận cho bản thân.
Trong quan niệm toàn cầu, công việc được hiểu là hoạt động mà người lao động nhận tiền công, lợi nhuận hoặc hiện vật Tuy nhiên, có những công việc trong hộ gia đình, như của chủ gia đình hoặc chủ sản xuất, không được trả thù lao dưới hình thức tiền công hay lương Những người tham gia vào các hoạt động tự tạo việc làm vì lợi ích gia đình, mặc dù không nhận tiền công hay hiện vật, cũng được xem là có việc làm.
Khái niệm về việc làm ở Việt Nam được hiểu là những người tham gia vào các lĩnh vực và hoạt động hợp pháp, có ích, tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp cho xã hội.
(II.) Phân loại việc làm
Theo mức độ sử dụng lao động, việc làm chính là công việc mà người lao động dành nhiều thời gian và có thu nhập cao nhất, trong khi việc làm phụ là công việc thứ hai mà họ dành thời gian cho nó Việc làm hợp lý là những công việc hợp pháp, phù hợp với năng lực của người lao động, trong khi việc làm hiệu quả là công việc đạt năng suất và chất lượng cao Ở tầm vĩ mô, việc làm hiệu quả còn liên quan đến việc sử dụng hợp lý nguồn lao động, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, đảm bảo chất lượng sản phẩm và tạo ra nhiều cơ hội việc làm để tận dụng hết nguồn nhân lực.
Theo thời gian làm việc, việc làm tạm thời là công việc mà người lao động thực hiện trong quá trình tìm kiếm việc làm phù hợp với chuyên môn của họ Ngược lại, việc làm đầy đủ đáp ứng nhu cầu việc làm cho mọi người có khả năng lao động trong nền kinh tế, dựa trên mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất và thu nhập Để đạt được việc làm đầy đủ, người lao động cần làm việc theo chế độ luật định, với thời gian làm việc hiện tại ở Việt Nam là 8 giờ mỗi ngày và không có nhu cầu làm thêm.
Thiếu việc làm là trạng thái giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp, diễn ra khi người lao động có việc làm nhưng không đủ thời gian làm việc theo quy định hoặc phải làm các công việc có thu nhập thấp Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, thiếu việc làm được chia thành hai dạng: (a) Thiếu việc làm hữu hình, nơi lao động làm việc ít hơn thời gian thường lệ và đang tìm kiếm việc làm thêm, cụ thể ở Việt Nam là làm dưới 40 giờ mỗi tuần hoặc dưới 22 ngày mỗi tháng.
Thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập thực tế thấp hơn Mức lương tối thiểu hiện hành [3].
(III.) Khái niệm giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm không chỉ là tạo ra thêm cơ hội việc làm mà còn là nâng cao chất lượng công việc để thu hút người lao động vào nền kinh tế Điều này thường bị bỏ qua trong các cuộc thảo luận về vấn đề việc làm, khi mà sự chú ý thường chỉ tập trung vào việc tạo ra việc làm mà quên đi tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng việc làm.
Tạo việc làm là quá trình cung cấp cơ hội lao động cho người dân, giúp họ có thu nhập hợp pháp Các nguồn tạo ra việc làm có thể bao gồm Chính phủ với các chính sách hỗ trợ, tổ chức kinh tế như công ty và doanh nghiệp, cũng như cá nhân thông qua việc thuê mướn nhân công.
Quá trình tạo việc làm bao gồm việc sản xuất ra của cải vật chất, bao gồm số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất, cùng với việc phát triển sức lao động về cả số lượng lẫn chất lượng, và các điều kiện kinh tế-xã hội khác.
1.1.1.2 Một số lý thuyết cơ bản về giải quyết việc làm:
Giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động là vấn đề then chốt ảnh hưởng đến kinh tế vĩ mô, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các vấn đề chính trị - xã hội khác Sự quan tâm của các nhà kinh tế học hiện đại đối với vấn đề này đã dẫn đến sự hình thành nhiều lý thuyết quan trọng.
Lý thuyết tạo việc làm bằng sự can thiệp vào đầu tư của Chính phủ trong nền kinh tế trong học thuyết của John Maynard Keynes.
Trong công trình "Lý luận chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ", J.M
Theo Keynes (1936), để thúc đẩy việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp, cần tăng tổng cầu trong nền kinh tế Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tiêu dùng, bao gồm cả tiêu dùng sản xuất và phi sản xuất, thông qua việc tăng chi tiêu công trực tiếp hoặc triển khai các chính sách khuyến khích đầu tư từ khu vực tư nhân và các tổ chức kinh tế xã hội.